Bạch Dạ Hành - Higashino Keigo - Chương 4.1
1.
Mưa không lớn đến mức cần giương ô, nhưng cũng âm thầm lặng lẽ làm ướt đầu tóc và quần áo. Mưa thu lất phất, tầng mây màu xám lại thi thoảng tách ra, để lộ bầu trời đêm. Ra khỏi ga Shitennoji, Nakamichi Masaharu ngẩng đầu nhìn trời, thầm nghĩ, cáo gả con gái đây. Mẹ đã dạy cho anh ta câu đó. Anh ta để một cái ô gấp trong tủ chứa đồ ở trường đại học, nhưng ra đến cổng mới nhớ ra, bèn từ bỏ luôn ý định quay lại lấy. Anh ta hơi vội. Chiếc đồng hồ thạch anh yêu quý đang chỉ bảy giờ năm phút, có nghĩa là anh ta đã muộn rồi, nhưng người anh ta muốn gặp hẳn sẽ không vì chuyện này mà bực bội. Anh ta vội vã, thuần túy là bởi muốn nhanh chóng đến nơi cần đến. Anh ta dùng tờ báo thể thao mua ở quầy bán lẻ trong nhà ga che mưa để khỏi ướt tóc. Mua báo thể thao vào ngày hôm sau khi đội bóng chày Yakult giành chiến thắng là thói quen của anh ta từ năm ngoái. Sống ở Tokyo đến cấp II nên anh ta là fan hâm mộ đội Yakult từ thời đội còn tên là Sankei Atoms chứ không phải Yakult Swallow. Đội Yakult năm ngoái dưới sự dẫn dắt của huấn luyện viên Hirooka đã giành được ngôi quán quân như một kỳ tích. Giờ này năm ngoái, hầu như ngày nào cũng thấy tin tức về biểu hiện xuất sắc của các tuyển thủ đội Yakult. Thế nhưng, năm nay đội Yakult lại sụt giảm phong độ nghiêm trọng. Từ tháng Chín đến giờ, bọn họ luôn ở cuối bảng xếp hạng, bởi thế cơ hội để Masaharu mua báo thể thao đương nhiên cũng ít đi. Nên hôm nay anh ta mang báo theo người như thế này, có thể nói là may mắn.
Mấy phút sau, Masaharu đến nơi, ấn vào chiếc chuông cửa bên dưới tấm biển tên “Karasawa”.
Cánh cửa lưới mắt cáo ở tiền sảnh mở ra, Karasawa Reiko xuất hiện trong bộ váy liền màu tím, có thể vì chất vải mỏng manh, nên thân hình bà trông gầy yếu khác thường, khiến người ta thấy mà xót xa. Masaharu nghĩ, không biết bao giờ người phụ nữ chớm bước vào tuổi lão niên này mới lại mặc kimono. Hồi tháng Ba, khi anh ta lần đầu đến đây, bà mặc bộ kimono lụa màu xám sậm. Nhưng từ trước đợt mưa dầm, kimono liền đổi thành váy.
“Thầy giáo, thật xin lỗi thầy.” Vừa trông thấy Masaharu bà Reiko đã mở lời xin lỗi, “Vừa nãy Yukiho gọi điện thoại về bảo là phải chuẩn bị cho lễ hội văn hóanên không dứt ra được, sẽ muộn mất khoảng nửa tiếng. Tôi đã bảo nó phải cố về cho nhanh rồi.”
“Vâng.” Masaharu thở phào, “Nghe bác nói vậy thì cháu yên tâm rồi. Cháu đã đi vội vì sợ đến muộn..”
“Thật sự rất xin lỗi thầy.” Ba Reiko cúi đầu.
“Vậy nên làm gì bây giờ nhỉ?” Masaharu nhìn đồng hồ, lẩm bẩm như nói với chính mình.
“Mời thầy vào trong đợi, để tôi chuẩn bị đồ uống lạnh.”
“Bác cứ mặc kệ cháu ạ.” Masaharu cúiđầu chào trước khi vào trong nhà.
Anh ta được dẫn vào phòng khách ở tầng một, nơi này vốn là phòng kiểu Nhật, nhưng lại bày ghế dựa bằng mây tre theo kiểu phương Tây. Anh ta mới chỉ vào gian phòng này một lần, khi tới đây lần đầu tiên.
Từ đó đến nay đã khoảng nửa năm trôi qua.
Người giới thiệu công việc gia sư này cho Masaharu là mẹ anh ta. Bà nghe nói cô giáo dạy trà đạo muốn tìm thầy dạy thêm môn Toán cho cô con gái sắp lên lớp mười một, liền giới thiệu ngay con trai mình. Cô giáo dạy trà đạo đó chính là Karasawa Reiko. Masaharu học ngành kỹ thuật ở trường đại học, từ thời cấp III đã hết sức tự tin với môn Toán của mình. Trên thực tế, cho tới mùa xuân năm nay, anh ta vẫn luôn dạy gia sư môn Toán và Lý cho một cậu học sinh cấp III. Nhưng cậu học sinh này đã thi đỗ đại học nên Masaharu cũng cần phải tìm một chỗ dạy kèm khác. Mẹ giới thiệu cho anh ta cơ hội này đúng là cầu được ước thấy. Masaharu rất biết ơn bà. Không phải vì công việc này đảm bảo thu nhập hàng tháng cho anh ta, mà việc đến nhà Karasawa mỗi thứ Ba hàng tuần khiến anh ta mong đợi không thôi. Anh ta ngồi trên ghế mây đợi, không lâu sau bà Reiko bưng khay để cốc thủy tinh đựng trà lúa mạch quay vào. Nhìn thấy trà lúa mạch, Masaharu thở phào nhẹ nhõm. Lần trước vào gian phòng này, chủ nhân tự ý bưng matcha lên, mà anh ta thì hoàn toàn không hiểu quy cách uống món trà ấy, lo đến nỗi mồ hôi lạnh đầm đìa cả người. Reiko ngồi xuống đối diện với anh ta, nói một tiếng “Mời thầy dùng”. Masaharu không khách khí cầm ngay cốc lên, cảm giác được dòng nước trà mát lạnh chảy qua cổ họng khát khô, thật dễ chịu.
“Bắt thầy chờ thế này thật ngại quá. Tôi nghĩ, chẳng qua chỉ là chuẩn bị cho lễ hội văn hóa thôi mà, Yukiho hoàn toàn có thể tìm cơ hội về trước.” Bà Reiko lại xin lỗi lần nữa. Dường như bà rất áy náy.
“Đâu có ạ, cháu không sao đâu. Xin bác đừng bận tâm. Với lại, các hoạt động cùng bạn bè cũng rất quan trọng mà.” Masaharu cố làm ra vẻ già dặn.
“Em nó cũng nói thế. Vả lại, nó nói việc chuẩn bị cho lễ hội văn hóa không phải hoạt động của lớp, mà là ở bên câu lạc bộ, vì vậy các chị lớp mười hai trông rất chặt, khó mà bỏ về trước được.”
“Ồ, ra vậy.” Masaharu nhớ ra, Yukihođang tham gia câu lạc bộ Đàm thoại tiếng Anh ở trường. Anh ta cũng đã nghe cô nói mấy câu tiếng Anh. Không hổ là người đi học thêm lớpgiao tiếp tiếng Anh từ cấp II, cô phát âm rất chuẩn. Anh ta vẫn còn nhớ cách cô uốn lưỡi phát âm mà bản thân không thể nào sánh được.
“Nếu là trường cấp III bình thường, có lẽ học sinh lớp mười hai không còn nhiệt tình với lễ hội văn hóa như thế đâu. Dù sao ở những trường như vậy, học sinh mới có thể nhàn nhã được. Thầy Nakamichi tốt nghiệp trường cấp III có tỷ lệ học sinh vào đại học cao nên lúc lên lớp mười hai, hẳn là chẳng ai có bụng nào mà lo đến lễ hội văn hóa đâu nhỉ?”
Nghe bà Reiko nói vậy, Masaharu cười cười xua tay. “Trường chúng cháu cũng có học sinh lớp mười hai bỏ nhiều công sức cho lễ hội văn hóa lắm. Chắc hẳn có không ít người coi đây là hoạt động giải lao ngoài những lúc chuẩn bị cho kỳ thi. Cháu cũng thế, sang đến mùa thu mà vẫn chưa tập trung vào học thi, hễ có hoạt động gì lập tức đến góp vui ngay.
“Ồ vậy à? Có điều, nhất định là vì thầy học xuất sắc rồi, nên mới có thể thoải mái như thế.”
“Đâu cóạ, làm gì có chuyện ấy, thật đấy ạ.” Masaharu không ngừng xua tay.
Karasawa Yukiho học ở trường nữ Seika, Masaharu nghe nói cô lên thẳng từ phân hiệu cấp II của Seika. Cô còn chuẩn bị lên thẳng luôn hệ đại học của trường này. Nếu thành tích những năm cấp III xuất sắc, cô chỉ cần thi vấn đáp là có thể vào trường đại học nữ Seika. Có điều, cánh cửa vào trường này cũng có thể thu hẹp lại tùy vào khoa cô muốn học. Yukiho muốn vào khoa Văn học Anh, một khoa có tỷ lệ cạnh tranh cao nhất. Để đảm bảo giành được cơ hội lên thẳng đại học, thành tích học tập của cô phải luôn đứng hàng đầu trong suốt cả năm. Hầu như tất cả các môn học của Yukiho đều có kết quả rất xuất sắc, chỉ riêngmôn Toán là hơi yếu. Bà Reiko lo lắng vì điều này, nên mới nghĩ đến việc mời gia sư. Mong rằng có thể duy trì thành tích trongmấy hạng đầu cho đến học kỳ I năm lớp mười hai… Đó là mong muốn bà Reiko đưa ra trong lần gặp mặt đầu tiên. Vì kết quả học tập từ năm lớp mười cho đến học kỳ I năm lớp mười hai đều trở thành tài liệu tham khảo trong trường hợp vào học qua giới thiệu. “Nếu hồi đó tôi cứ để Yukiho học ở trường cấp II công lập như cũ thì có lẽ sang năm học ôn thi đại học càng vất vả hơn. Nghĩ tới chuyện này, tôi cảm thấy lúc bấy giờ cho em nó vào ngôi trường hiện nay là rất đúng.” Karasawa Reiko hai tay nâng cốc thủy tinh lên, bộc bạch.
“Đúng đấy ạ, thi cử càng ít càng tốt.” Masaharu nói. Đây cũng là điều anh ta vẫn thường nghĩ, và từng nói với những phụ huynh học sinh mà mình phụ đạo từ bấy đến giờ. “Vì vậy, gần đây ngày càng có nhiều bố mẹ ngay từ giai đoạn con vào cấp I đã chọn trường dân lập trực thuộc đại học.”
Bà Reiko nghiêm trang gật đầu. “Đúng vậy, làm thế là chuẩn nhất, tôi cũng nói thếvới đám cháu đấy. Việc thi cử của con trẻ, tốt nhất là giải quyết một lần từ sớm đi. Càng về sau, muốn vào trường tốt lại càng khó khăn.”
“Bác nói không sai chút nào.” Masaharu gật đầu, nhưng ngay sau đó lại thấy hơi nghi hoặc, bèn hỏi lại, “Yukiho đi học cấp I ở trường công lập ạ, khi đó em ấy không tham gia thi ạ?”
Bà Reiko nghiêng đầu như thể đang suy nghĩ, rồi trầm ngâm một hồi, vẻ hơi do dự. Không lâu sau, bà ngẩng đầu lên. “Nếu khi ấy em nó ở với tôi, tôi nhất định sẽ khuyên như thế, nhưng bấy giờ tôi còn chưa gặp em nó. So với Tokyo, ở Osaka còn ít cha mẹ có ý tưởng cho con vào trường tư thục. Quan trọng nhất là dù có muốn vào trường tư thục, hoàn cảnh của con bé lúc đó cũng không cho phép.”
“Ồ, ra là thế…” Masaharu hơi hối hận, có lẽ anh đã động đến một vấn đề nhạy cảm. Lần đầu khi nhận công việc này, anh ta đã nghe nói Yukiho không phải con gái ruột của Karasawa Reiko. Nhưng cô trở thành con gái nuôi trong trường hợp nào thì không ai nói cho anh ta biết cả, trước đây ba Reiko cũng chưa từng đề cập đến. “Cha ruột của Yukiho có thể coi như em họ của tôi, có điều hồi em nó còn nhỏ chú ấy không may gặp nạn qua đời, vì vậy gia đình cũng khá khó khăn vềtiền bạc. Vợ chú ấy tuy có ra ngoài làm việc, nhưng một người đàn bà phải nuôi con gái một mình, thực sự không dễ dàng chút nào.”
“Mẹ ruột em ấy sao rồi ạ?”
Masaharu vừa hỏi, nét mặt Reiko lại càng thêm u uất. “Cô ấy cũng chết vì tai nạn, tôi nhớ đó là hồi Yukiho vừa lên lớp sáu. Hình như là… tháng Năm thì phải.”
“Tai nạn giao thông ạ?”
“Không phải, là trúng độc khí gas.”
“Khí gas…”
“Nghe nói cô ấy bật bếp đun nấu, nhưng lại ngủ thiếp đi mất. Sau do nước canh trào ra làm tắt mất ngọn lửa, cô ấy đang ngủ nên không phát hiện, vậy là trúng độc. Tôi nghĩ nhất định là cô ấy mệt mỏi quá.” Bà Reiko tỏ vẻ buồn rầu, hàng lông mày mỏng mảnh chau lại.
Masaharu nghĩ, chuyện này rất có thể. Gần đây, các nhà trong thành phố đã dần chuyến sang dùng khí thiên nhiên, bình thường không còn xảy ra hiện tượng trúng độc ô xít các bon do khí gas tạo thành nữa, nhưng trước đây thường xuyên xảy ra những tai nạn tương tự.
“Thảm thương nhất là, người phát hiện ra cô ấy đã chết chính là Yukiho. Hễ cứ nghĩ khi ấy em nó phải chịu đựng nỗi kinh hãi lớn chừng nào, lòng tôi lại thấy xót xa…” Bà Reiko đau đớn lắc đầu.
“Tự em ấy phát hiện ra ạ?”
“Không. Nghe nói là cửa phòng bị khóa, nó nhờ nhân viên quản lý khu nhà đến mở cửa, tôi nghĩ là em nó và người nhân viên quản lý kia cùng phát hiện ra.”
“Ồ.” Masaharu nghĩ, người kia đúng là gặp phải tai bay vạ gió, lúc phát hiện ra xác chết, nhất định sợ đến tái mét mặt. “Chính vì tai nạn ấy mà Yukiho thành ra không nơi nương tựa ạ?”
“Đúng thế, tôi cũng có mặt trong tang lễ, Yukiho ôm lấy quan tài khóc lóc thảm thiết. Nhìn thấy cảnh ấy, cả người lớn chúng tôi cũng nát lòng theo…”
Dường như lại hình dung thấy tình cảnh lúc ấy, bà Reiko chớp chớp mắt liên tục.
“Vì vậy, ừm, bác quyết định nhận nuôi em ấy?”
“Vâng.”
“Có phải vì bác và gia đình em ấy qua lại thân thiết nhấtkhông ạ?”
“Nói thực lòng, tôi với mẹ để của Yukiho không qua lại gì mấy. Hai nhà tuy ở khá gần nhau, nhưng cũng không phảikhoảng cách có thể đi bộ được. Có điều, từ trước khi cô Fumiyo qua đời, tôi và Yukiho đã thường xuyên gặp nhau rồi. Con bé thường tới chỗ tôi chơi.”
“Ồ…”
Masaharu cảm thấy khó hiểu là tại sao Yukiho lại tựmình chạy đến nhà một người họ hàng không hề qua lại thân thiết với mẹ mình để chơi? Có lẽ thấy suy nghĩ đó lộ rõ trên gương mặt anh nên bà Reiko bèn nói rõ hơn, “Tôi và Yukiho gặp nhau lần đầu tiên vào ngày giỗ thứ bảy của bố con bé. Chúng tôi có nói chuyện một lúc, con bé hình như vô cùng hứng thú với chuyện tôi dạy trà đạo, háo hức hỏi rất nhiều vấn đề. Tôi liền nói, nếu cháu hứng thú như thế thì đến nhà bác chơi đi. Chuyện này chắc là khoảng một, hai năm trước khi mẹ đẻ em nó qua đời. Sau đó chẳng bao lâu, em nó tìm đến nhà làm tôi hơi ngạc nhiên, vì lúc đấy chỉ thuận miệng nói thế thôi. Có điều, hình như em nó thật lòng muốn học trà đạo, mà tôi lại đang cô đơn vì sống có một minh, bèn coi đó như một trò chơi, dạy cho em nó. Vậy là, hầu như tuần nào em nó cũng tự ngồi xe buýt đến, uống trà tôi pha, kể cho tôi những chuyện xảy ra ở trường. Không lâu sau, những buổi đến chơi của em nó trở thành chuyện tôi mong chờ nhất. Khi nào em nó bận không đến được, tôi lại thấy rất buồn.”
“Vậy Yukiho đã bắt đầu học trà đạo từ lúc ấy ạ?”
“Phải. Có điều, không lâu sau em nó cũng bắt đầu hứng thú với nghệ thuật cắm hoa. Lúc tôi cắm hoa, em nó sẽ ở bên cạnh hào hứng quan sát, có lúc cũng góp một tay cho vui, lại xin tôi dạy cho em nó cách mặc kimono nữa.”
“Cứ như là lớp học cô dâu ấy nhỉ?” Masaharu cười cười nói.
“Chính là cảm giác ấy đấy. Có điều, vì em nó còn nhỏ, hẳn nên gọi là chơi đồ hàng thôi, con bé ấy, lại còn học cách nói chuyện của tôi nữa chứ. Tôi có bảo rằng em nó đừng học theo, tôi xấu hổ lắm, nhung em nó lại nói ở nhà nghe mẹ nói chuyện, ngôn ngữ của mình cũng trở nên thô tục, vì vậy muốn sửa đổi thông qua chỗ tôi.”
Đến giờ anh ta mới hiểu, những cử chỉ cao nhã hiếm thấy ở nữ sinh cấp III của Yukiho thì ra đã đượcbồi dưỡng từ khi đó. Đương nhiên, bản thân cô phải muốn trước đã. “Bác nói vậy cháu mới nhớ, Yukiho nói chuyện đúng là không có chút giọng Kansai nào cả.”
“Tôi giống thầy giáo Nakamichi, hồi trước vẫn sống ở vùng Kanto, gần như không nói được tiếng Kansai, nhưng em nó lại bảo nói như vậy mới hay.”
“Cháu nói tiếng Kansai cũng không giỏi lắm đâu.”
“Vâng, Yukiho bảo nói chuyện với thầy giáo Nakamichi rất thoải mái. Nếu phải nói chuyện với người nào có khẩu âm Osaka nặng quá, còn phải cẩn thận đề phòng bị ảnh hưởng, nên nói chuyện rất mệt.”
“Ồ, nhưng rõ ràng em ấy sinh ra và lớn lên ở Osaka mà.”
“Em nó nói, em nó cũng ghét cả điều ấy đấy.”
“Thật ạ?”
“Vâng.” Người phụ nữ vừa bước vào tuổi lão niên ấy bặm môi gật đầu, rồi lại hơi nghiêng đầu, “Chỉ là, có điều này làm tôi hơi lo lắng. Con bé ấy vẫn luôn sống cùng một người lớn tuổi như tôi nên tôi sợ em nó sẽ thiếu sự hoạt bát của các cô gái trẻ bây giờ. Nếu em nó hư đốn quá tôi cũng sẽ đau đầu, nhưng nó lại ngoan quá, tôi thậm chí cảm thấy em nó có quậy phá một chút cũng không làm sao cả. Thầy giáo Nakamichi, nếu tiện, xin nhờ thầy dẫn em nó ra ngoài chơi nhé.”
“Cháu? Có được không ạ?”
“Tất nhiên thầy giáo Nakamichi thì tôi yên tâm lắm.”
“Vâng. Vậy thìđể lần sau cháu thử rủ em ấy ạ.”
“Xin thầy hãy làm thế, tôi nghĩ em nó nhất định sẽ rấtvui.”
Lời này của bà Reiko dường như đã kết thúc câu chuyện, Masaharu lại đưa tay cầm cái cốc thủy tinh lên. Vì đang muốn tìm hiểu thêm về Yukiho nên anh ta không hề thấy cuộc đối thoại này khô khan nhạt nhẽo. Thế nhưng, Masaharu cho rằng người mẹ nuôi này dường như cũng không hoàn toàn hiểu cô. Cô bé Karasawa Yukiho, không cổ hủ như bà Reiko nghĩ, mà cũng không phải quá ngoan ngoãn. Có một chuyện đã để lại ấn tượng sâu sắc cho anh ta. Hồi tháng Bảy, sau khi kết thúc buổi học kéo dài hai tiếng như thường lệ, anh ta uống cà phê được bưng lên, nói chuyện phiếm với Yukiho. Chủ đề câu chuyện khi ấy chắc chắn có liên quan đến cuộc sống ở trường đại học, vì anh ta biết cô thích nghe chuyện này. Bọn họ nóichuyện được chừng năm phút thì có điện thoai gọi đến. Bà Reiko lên gọi, bảo là, “Một người ở ban tổ chức cuộc thi hùng biện tiếng Anh tìm con.”
“Vâng, con biết rồi.” Yukiho gật đầu, đi xuống dưới nhà. Masaharu uống nốt cốc cà phê, rồi đứng dậy.
Lúc anh ta xuống nhà, Yukiho đang đứng bên cạnh chiếc điện thoại đặt ngoài hành lang nói chuyện. Nét mặt cô thoạt trông có vẻ căng thẳng. Nhưng khi anh ta giơ tay ra hiệu với cô, ý bảo mình đi về, cô lại nhoẻn miệng cười chào rồi nhẹ nhàng vẫy tay.
“Yukiho giỏi thật, còn tham gia thi hùng biện tiếng Anh nữa.” Masaharu nói với bà Reiko lúc bà tiễn anh ta ra ngoài tiền sảnh.
“Tôi không biết. Tôi không nghe nó nhắc gì cả.” Bà Reiko nghiêng đầu nói.
Sau khi rời nhà Karasawa, Masaharu vào một quán mì sợi bên cạnh ga Shitennoji, ăn bữa tối muộn, chuyện này đã trở thành thói quen mỗi thứ Ba của anh ta. Anh ta vừa ăn há cảo và cơm rang, vừa xem ti vi trong quán, nhưng lúc vô tình nhìn qua cửa kính ra ngoài, anh ta chợt trông thấy một cô gái trẻ rảo chân bước nhanh ra phố lớn. Masaharu lập tức trợn to mắt, vì đó không phải ai khác, mà chính là Yukiho. Có thể là chuyện gì? Từ nét mặt của cô anh ta cảm giác được sự việc không phải đơn giản. Ra đến đường lớn, cô vội vội vàng vàng bắt tắc xi. Kim đồng hồ chỉ mười giờ. Dù nghĩ thế nào, cũng chỉ có một kết luận, nhất định là có chuyện đột xuất gì đó. Masaharu rất lo lắng, bèn dùng diện thoại ở quán mì gọi đến nhà Karasawa. Sau khi chuông đổ mấy lần, bà Reiko bắt máy.
“Ồ, thầy Nakamichi. Có chuyện gì vậy?” Nghe thấy giọng anh ta, bà ngạc nhiên hỏi, hoàn toàn không có cảm giác lo lắng.
“Xin hỏi… cô Yukiho ở nhà không ạ?”
“Yukiho? Để tôi gọi em nó xuống nghe điện.”
“Ơ? Em ấy đang ở cạnh bác ạ?”
“Không, ở trong phòng. Em nó nói ngày mai ở câu lạc bộ có chuyện, phải tập hợp từ sáng sớm, muốn đi ngủ sớm một chút. Có điều chắc em nó vẫn còn tỉnh đấy.”
Vừa nghe thấy những lời này, Masaharu lập tức nhận ra mình đã làm một chuyện không nên. “À, vậy không cần đâu ạ. Để lần sau tới nhà cháu trực tiếp nói với em ấy, cũng không phải chuyện gấp gì.”
“Ồ? Nhưng mà…”
“Thật sự không sao đâu ạ, xin cứ để em ấy ngủ ạ.”
“Ồ. Vậy để sáng mai tôi bảo em nó là thầy Nakamichi có gọi điện tìm nó.”
“Vâng, vậy nhờ bác chuyển lời giúp cháu. Cháu xin lỗi, muộn như vậy rồi mà còn làm phiền bác.” Masaharu vội vàng dập máy, hai bên nách ướt sũng mồ hôi. Có lẽ Yukiho đã giấu mẹ lén lút trốn ra ngoài. Chắc hẳn có liên quan đến cuộc điện thoại lúc nãy. Mặc dù rất tò mò muốn biết cô đi đâu, nhưng anh ta không muốn cản trở cô. Chỉ mong lời nói dối của Yukiho sẽ không vì cú điện thoại của mình mà bị lộ, anh ta thầm nghĩ. Ngày hôm sau, nỗi lo lắng của anh ta đã được xua tan. Yukiho gọi điện thoại cho anh ta.
“Thầy ạ, mẹ em bảo tối qua thầy gọi điện cho em. Em xin lỗi, sáng sớm nay em có buổi luyện tập ở câu lạc bộ nên tối qua đi ngủ rất sớm.”
Nghe cô nói vậy, Masaharu liền biết lời nói dối của cô không bị lộ. “Cũng không có gì, chỉ là không biết xảy ra chuyện gì nên tôi hơi lo lắng thôi.”
“Không biết xảy ra chuyện gì là sao ạ?”
“Tôi thấy em lo lắng ngồi lên tắc xi.”
Ynhư rằng, cô lặng thinh trong mấy giây, sau đó mới thấpgiọng hỏi, “Thầy trông thấy ạ?”
“Tôi ngồi trong quán mì.” Masaharu cười cười nói.
“Ra vậy, có điều, thầy đã giúp em giữ bí mật với mẹ cóphải không ạ?”
“Vì nếu bị mẹ em biết, có vẻ sẽ gay đấy.”
“Vâng, đúng thế, sẽ hơi gay ạ.” Cô cũng cười.
Từ phản ứng của cô, Masaharu suy đoán sự việc cũng không nghiêm trọng đến mức ấy. “Rốt cuộc xảy ra chuyện gì vậy? Tôi đoán chắc là có liên quan đến cuộc điện thoại trước đó.”
“Thầy tinh thật, không sai chút nào.” Nói đoạn, cô hạ giọng. “Là bạn em tự sát không thành.”
“Hả? Tự sát?”
“Hình như do sốc vì bị bạn trai đá. Thế nên mấy đứa bạn thân chúng em vội vàng chạy đến chỗ cậu ấy. Nhưng mà, chuyện này không thể nói với mẹ được.”
“Đúng vậy. Thế bạn em sao rồi?”
“Ừm, ổn rồi ạ. Sau khi thấy bọn em, cậu ấy đã trở lại bình thường.”
“Vậy thì tốt rồi.”
“Cậu ấy đúng là ngốc quá, chẳng qua chỉ là đàn ông thôi mà, việc gì phải tìm đến cái chết như vậy.”
“Đúng thế.”
“Thế nên là,” Yukiho cởi mở tiếp lời, “chuyện này phiền thầy giữ bí mật giùm em.”
“Được, tôi biết rồi.”
“Vậy, tuần sau gặp thầy nhé.” Cô gác máy.
Nhớ lại câu chuyện lúc ấy, đến nay Masaharu vẫn không khỏi cười thiểu não. Anh ta không thể ngờ lại nghe thấy một câu kiểu “chẳng qua chỉ là đàn ông thôi mà” từ miệng cô. Anh ta nhận thức một cách sâu sắc, nội tâm của các cô gái trẻ thực sự là thứ người khác không thể nào tưởng tượng nổi.
Bác không cần lo lắng, thiên kim tiểu thư nhà bác không non nớt như bác nghĩ đâu… anh ta rất muốn nói với người phụ nữđang ngồi trước mặt mình như thế. Lúc anh ta uống hết trà, ngoài tiền sảnh vẳng lên tiếng mở cửa.
“Hình như về rồi.” Bà Reiko đứng dậy.
Masaharu cũng rời khỏi chỗ ngồi, liếc nhanh vào cái bóng phản chiếu trên cửa kính hướng ra sân, kiểm tra xem đầu tóc có rối không.
Thằng ngốc này, hồi hộp gì cơ chứ! Masaharu thầm thóa mạ cái bóng trên cửa kính.
2.
Nakamichi Masaharu là người của phòng nghiên cúu số 6 bộ môn Kỹ thuật điện thuộc khoa Kỹ thuật trường đại học Kitaosaka, đề tài nghiên cứu tốt nghiệp mà anh ta lựa chọn là điều khiển người máy bằng phương pháp sử dụng lý thuyết đồ thị. Nói cụ thể tức là làm cho máy tính có thể phán đoán được hình dạng lập thể của sự vật chỉvới nhận thức thị giác đơn hướng. Anh ta đang ngồi trước bàn sửa chữa mã lệnh chương trình thì nghiên cứu sinh Minobe gọi. “Này, Nakamichi, đến xem cái này này.”
Minobe đang ngồi trước chiếc máy tính cá nhân hiệu HP, mắt nhìn chăm chăm vào màn hình. Masaharu đến đứng sau lưng đàn anh, nhìn vào màn hình đen trắng, trên đó hiển thị ba hình vuông nhỏ và một hình vẽ trông giống như chiếc tàu ngầm. Anh ta nhận ra màn hình này, đó là trò chơi được bọn họ gọi là “Submarine”, cách chơi là nhanh chóng đánh chìm tàu ngầm của kẻ địch đang lặn sâu dưới đáy biển. Dựa vào mấy số liệu của ba tọa độ được đưa ra để suy đoán vị trí kẻ địch, chính là niềm vui của trò chơi này. Đương nhiên, nếu chỉ lo tấn công, sẽ bị địch phát hiện vị trí của bên mình, dẫn đến bị phản kích bằng ngư lôi. Trò chơi này do các sinh viên và nghiên cứu sinh của phòng nghiên cứu số 6 tranh thủ khoảng thời gian rảnh rỗi làm ra. Việc lập trình và nhập liệu đều tiến hành chung, có thể nói là đề tài nghiên cứu tốt nghiệp không công khai của bọn họ.
“Có gì không ổn ạ?” Masaharu hỏi.
“Cậu nhìn kỹ xem, có chút khác biệt so với Submarine của chúng ta.”
“Ồ!”
“Chẳng hạn như cách thức hiển thị tọa độ này, và cả hình dạng tàu ngầm cũng hơi khác.”
“Ơ?” Masaharu quan sát kỹ những phần đó, “Đúng rồi.”
“Kỳ lạ lắm phải không?”
“Vâng ạ, có người sửa chương trình ạ?”
“Nhưng, không phải vậy.”
Minobe khởi động lại máy tính, ấn nút chiếc máy cát xét đặt bên cạnh, lấy cuộn băng bên trong ra. Chiếc máy cát xét này không phải loại dùng để nghe nhạc, mà là thiết bị lưu trữ bên ngoài của máy tính cá nhân. Mặc dù hãng IBM đã công bố phương thức lưu trữ sử dụng đĩa từ, nhưng thiết bị lưu trữ bên ngoài của máy tính cá nhân đa số vẫn là băng cát xét.
“Tôi bỏ cái này vào, khởi động xong liền hiện lên như vừa rồi.” Minobe đưa băng cát xét cho Masaharu. Nhãn trên cuộn băng chỉ đề “Marine Crash”, là kiểu chữ in chứ không phải viết tay.
“Marine Crash? Đây là cái gì?”
“Cậu Nagata bên phòng 3 cho tôi mượn đấy.” Minobe nói. Phòng 3 là cách nói tắt của Phòng nghiên cứu số 3.
“Sao anh ấy lại có thứ này?”
“Vì cái này.” Minobe lấy vé tháng trong túi quần bò, rút ra một tờ giấy đã gấp nhỏ, chắc là cắt từ tạp chí. Anh ta mở tờ giấy đó ra. Bán các loại trò chơi máy tính cá nhân qua đường bưu điện… một hàng chữ đập vào mắt. Bên dưới còn có tên 150 sản phẩm và giới thiệu đơn giản về trò chơi, cùng với bảng giá. Sản phẩm tổng cộng có ba mươi loại, giá rẻ thì khoảng hơn một nghìn yên, đắt thì chừng hơn năm nghìn yên. Marine Crash nằm ở khoảng giữa của bảng giá, nhưng kiểu chữ đậm hơn các trò khác, còn phụ chú thêm, “Mức độ hấp dẫn ★★★★★”. Ngoài ra, còn có ba trò chơi khác cũng dùng kiểu chữ đậm, nhưng chỉ có trò này được đánh dấu bốn sao, vừa nhìn đã biết là bên bán đang ra sức giới thiệu. Bên bán là một công ty tên “Kế hoạch Vô hạn”, cái tên Masaharu chưa từng thấy cũng chưa từng nghe ai nhắc đến bao giờ.
“Đây là cái gì? Lại có cả người làm nghiệp vụ bán hàng qua bưu điện này ư?”
“Gần đây thỉnh thoảng tôi cũng thấy, nhưng không để ý, có điều Nagata bên phòng 3 nói cậu ta đã biết từ lâu rồi. Thấy nội dung của trò Marine Crash này rất giống với Submarine của chúng ta, cậu ta cũng lấy làm lạ. Sau đấy, cậu ta có người bạn đặt mua đồ ở đây, liền đi mượn xem thế nào. Kết quả như cậu đã thấy đấy, nội dung giống hệt. Cậu ta giật nẩy mình, liền chạy đến báo cho tôi.”
“Chậc…” Masaharu như người lạc giữa sương mù.
“Chuyện này là sao?”
“Submarine,” Minobe vừa nói vừa dựa lưng vào ghế, tiếng kim loại bị đè xuống kêu ken két, “là tác phẩm của chúng ta sáng tạo ra. Thật ra, nói chính xác hơn, là chúng ta dựa trên cơ sở trò chơi các sinh viên học viện Kỹ thuật Massachusetts tạo ra, nhưng mà, thứ này được triển khai nhờ ý tưởng sáng tạo của chúng ta, điểm này thì không có gì để nghi ngờ nữa. Không thể tồn tại một sự ngẫu nhiên là một người hoàn toàn không liên quan, ở một nơi hoàn toàn không liên quan cũng có cùng ý tưởng sáng tạo như vậy, lại còn thực hiện một cách cụ thể ra nữa, đúng không?”
“Nói như vậy…”
“Khả năng duy nhất, chính là trong số chúng ta có người tiết lộ mã lệnh chương trình của Submarine cho cái công ty Kế hoạch Vô hạn này.”
“Không thể nào chứ?”
“Cậu nghĩ ra được khả năng khác không? Có quy định là chỉ những người làm mới có chương trình Submarine trong tay, nếu không phải trường hợp đặc biệt thì cũng không được tùy tiện cho người khác mượn.”
Masaharu im lặng trước câu hỏi của Minobe. Đúng vậy, anh ta thực sự không nghĩ ra khả năng nào khác. Sự thực đã bày ra trước mắt, trò chơi rất giống Submarine của bọn họ đang được bán thông qua đường bưu điện.
“Có cần tập hợp mọi người lại không ạ?” Masaharu đề nghị.
“Cần đấy. Sắp nghỉ trưa rồi, bảo mọi người ăn cơm xong tập trung ở đây đi. Hỏi tất cả mọi người, có thể sẽ có đầu mối. Đương nhiên, với điều kiện là người đó không nói dối.” Minobe nhếch mép, dùng đầu ngón tay đẩy gọng kính vàng.
“Em thực khó lòng tưởng tượng nổi có người nào lại phản bội mọi người, đem thứ đó bán cho người ngoài.”
“Nakamichi, cậu tin mọi người thì tùy cậu thôi nhưng rõ ràng có người đã phản bội.”
“Cũng chưa chắc đã là cố tình đúng không?”
Nghe Masaharu nói vậy, Minobe nhướng mày lên. “Cậu nói thế là có ý gì?”
“Cũng có thể người đó đã bị trộm mất mã lệnh chương trình mà không hay biết.”
“Ý cậu là, thủ phạm không phải thành viên, mà là ngườiquen của các thành viên sao?”
“Đúng.” Mặc dù không thích cách nói “thủ phạm” này nhưng Masaharu vẫn gật đầu.
“Dù thế nào, cũng cần phải hỏi tất cả mọi người trong nhóm.” Nói đoạn, Minobe khoanh hai tay trước ngực.
Tổng cộng có sáu người, bao gồm cả Minobe, tham gia nghiên cứu làm ra Submarine. Trong giờ nghỉ trưa, tất cả đều tập trung tại phòng nghiên cứu số 6. Minobe thuật lại toàn bộ sự việc nhưng tất cả đều khăng khăng nói mình hoàn toàn không hay biết.
“Thứ nhất, nếu làm chuyện đó, chắc chắn sẽ có lúc lòi đuôi ra. Làm gì có người nào ngu đến mức không nghĩ đến vấn đề này chứ.” Một sinh viên năm thứ tư nói với Minobe.
Một người khác lại nói, “Nếu đã muốn bán, đương nhiên phải thương lượng với mọi người xong rồi chúng ta tự bán chứ, như vậy đảm bảo kiếm được nhiều tiền hơn.”
“Có ai từng đem mã lệnh chương trình cho người khác mượn không?” Minobe đưa ra câu hỏi.
Có ba sinh viên trả lời, từng cho bạn mượn chơi, nhưng đều là khi bọn họ có mặt tại đấy, ai nấy đều đảm bảo bạn mình không có thời gian sao chép lại mã lệnh.
“Nói như vậy, chắc là có người tự tiện mang mã lệnh chương trình ra ngoài rồi.” Minobe nói rồi yêu cầu mỗi người phải trình bày rõ cách quản lý băng cát xét ghi lại mã lệnh chương trình. Nhưng, không ai nói là đã đánh mất cả.
“Mọi người thử nghĩ lại xem. Nếu không phải chúng ta, thì tức là bên cạnh chúng ta có người tự tiện đem Submarine đi bán cho người khác, mà người bỏ tiền ra mua ấy, lại công nhiên mang đi chào bán khắp nơi.” Minobe đau khổ nói rồi lần lượt đưa mắt nhìn chằm chằm từng người trong bọn.
Sau khi giải tán, Masaharu trở về chỗ ngồi, lục lọi ký ức xác nhận thêm lần nữa. Kết luận cuối cùng là ít nhất thì cuộn băng cát xét của anh ta không có khả năng bị người khác lấy trộm. Bình thường, anh ta đều cất băng cát xét lưu trữ các số liệu khác và băng chứa Submarine trong ngăn kéo bàn học ở nhà. Nhũng lúc mang ra ngoài cũng luôn cầm trên tay không rời ra phút nào, thậm chí còn chưa từng để cuộn băng lại phòng nghiên cứu. Nói cách khác, đồ vật tuyệt đối không thể bị trộmtừ chỗ anh ta được. Dù vậy, nhưng chuyện này đã khiến anh ta có một cảm tưởng hoàn toàn khác. Anh ta không thể ngờđược chương trình họ tạo ra với mục đích tiêu khiển lại có thể trở thành hàng hóa. Có khi, đây sẽ là một cơ hội kinh doanh hoàn toàn mới mẻ…