Plato Và Con Thú Mỏ Vịt Bước Vào Quán Bar - Thomas Cathcart & Daniel Klein - Phần 3.1
- Home
- Plato Và Con Thú Mỏ Vịt Bước Vào Quán Bar - Thomas Cathcart & Daniel Klein
- Phần 3.1 - Nhận thức luận: Luận về tri thức
Làm sao anh biết rằng anh biết thứ mà anh nghĩ là anh biết? Loại bỏ phương án trả lời “Đơn giản là tôi biết!” những gì còn lại là nhận thức luận.
DIMITRI: Giờ tôi thấy dễ chịu rồi, Tasso ạ. Nuốt trôi xong được món logic, phần còn lại xem ra sẽ chỉ là một chuyến dạo chơi trong Acropolis.
TASSO: Acropolis nào?
DIMITRI: Kia kìa! Ngay trước mặt đấy! Có lẽ cậu nên làm một ly ouzo cho dịu đầu óc, bạn ạ.
TASSO: Nhưng đó là Acropolis hay chỉ là thứ mà cậu tin là Acropolis? Làm sao cậu biết được nó là thật? Mà trong chuyện này, làm sao cậu biết được một cái gì đó là thật?
DIMITRI: Đấy, cậu lại thế.
xXx
LÝ TÍNH ĐỌ VỚI THIÊN KHẢI
Vậy làm sao ta biết rằng mình biết điều gì đó, nếu quả thực ta biết điều gì đó?
Suốt thời Trung cổ, câu hỏi này đã dẫn đến niềm tin coi thiên khải vượt trên lý tính, là nguồn gốc của tri thức con người, hoặc ngược lại.
Một người trượt chân rơi xuống giếng sâu, lao thẳng đến mấy chục mét mới dừng lại nhờ níu được vào một đoạn rễ cây nhỏ. Nhưng bàn tay nắm đoạn rễ cứ yếu dần, yếu dần, anh ta tuyệt vọng kêu lên, “Có ai ở trên đó không?”
Anh ta nhìn lên, chỉ thấy một mảnh trời tròn. Đột nhiên, những đám mây rẽ ra, rồi một tia sáng chói lòa chiếu thẳng xuống anh ta. Một giọng trầm sâu rền vang, “Ta, Đức Chúa Trời đây. Con hãy buông tay khỏi cái rễ cây, ta sẽ cứu.”
Anh chàng gặp nạn thoáng nghĩ trong tích tắc rồi gào lên, “Có ai khác ở trên đó không?”
Bị treo trên một cái rễ cây, người ta dễ có xu hướng nghiêng cán cân về phía lý tính.
Ở thế kỷ mười bảy, René Descartes đã chọn lý tính thay vì thần linh là nguồn gốc của tri thức. Điều này sẽ được nhận rõ khi đặt Descartes trước nguồn gốc ấy.
Có lẽ Descartes ước gì ông chưa từng nói “Cogito ergo sum” (Tôi tư duy vậy tôi tồn tại), bởi vì đó là tất cả những gì mà mọi người nhớ về ông – câu nói đó và chuyện ông đã thốt ra nó khi đang ngồi trong một lò bánh mì. Dường như thế còn chưa đủ tệ, mà “cogito” (tôi tư duy) của ông thường xuyên bị hiểu sai thành Descartes tin tư duy là đặc tính căn bản của con người. Phải, thực sự ông đã tin như thế, nhưng điều đó không liên quan đến cogito ergo sum. Descartes đi đến cái cogito thông qua một thử nghiệm hoài nghi triệt để nhằm phát hiện liệu có cái gì mà ông có thể tin chắc; tức là, một cái gì mà ông không thể nghi ngờ. Ông khởi đầu bằng cách nghi ngờ sự tồn tại của thế giới bên ngoài. Điều đó khá dễ dàng. Có lẽ ông đang mơ màng hay đang bị ảo giác. Rồi ông thử nghi ngờ sự tồn tại của chính ông. Nhưng khi ông hoài nghi, ông vấp phải thực tế rằng để hoài nghi cần có kẻ hoài nghi. Đó là chính ông! Ông không thể hoài nghi chính sự hoài nghi của mình. Lẽ ra ông đã có thể tránh được nhiều diễn giải sai lạc nếu chỉ nói, “Dubito ergo sum.” (Tôi hoài nghi vậy tôi tồn tại).
Các quan tòa ở tòa án hình sự Mỹ luôn yêu cầu bồi thẩm đoàn áp dụng phương pháp tìm kiếm độ xác tín của Descartes bằng cách xem xét bằng chứng kết tội bị cáo dựa trên tiêu chuẩn khắt khe gần như ngang với Descartes. Yêu cầu dành cho bồi thẩm đoàn không giống như dành cho Descartes; quan tòa không quan tâm liệu bồi thẩm đoàn có bất kỳ nghi ngờ nào về tội trạng của bị cáo, mà quan tâm đến những nghi ngờ xác đáng. Nhưng thậm chí tiêu chuẩn thấp hơn ấy cũng đòi hỏi bồi thẩm đoàn phải tiến hành những thử nghiệm trí não tương tự, và gần như triệt để không kém Descartes.
Một bị cáo hầu tòa vì tội giết người. Các chứng cứ buộc tội anh ta trong vụ án đã rất rõ ràng, nhưng không có xác chết. Kết thúc phần tranh biện của mình, vị luật sư bào chữa quyết định phải dùng mẹo. “Kính thưa quý bồi thẩm đoàn,” ông ta nói. “Tôi có một điều ngạc nhiên dành cho tất cả quý vị – trong vòng một phút nữa, người bị cho rằng đã chết sẽ bước vào phòng xử án này.”
Ông ta ngó ra cửa phòng xử án. Các vị hội thẩm sửng sổt, cũng hăm hở ngó ra. Một phút trôi qua. Không có gì xảy ra. Cuối cùng, luật sư nói, “Nói thật là tôi đã bịa ra chuyện người chết sẽ bước vào. Nhưng tất cả quý vị đều nhìn ra cửa chờ đợi. Vậy, tôi có thể nói với các vị rằng trong vụ này có một nghi ngờ hợp lý, rằng có phải có người đã bị giết hay không, do đó tôi phải yêu cầu các vị quay lại phán quyết ‘vô tội.’ ”
Bổi thẩm đoàn giải lao để cân nhắc. Vài phút sau, họ trở lại và ra phán quyết “có tội.”
“Nhưng sao các vị có thể làm thế?” viên luật sư gầm lên. “Chắc chắn các vị đã nghi ngờ. Tôi thấy tất cả các vị đều nhìn chằm chằm ra cửa.”
Chủ tịch bồi thẩm đoàn trả lời, “Ồ, chúng tôi đã nhìn, nhưng thân chủ của ông thì không.”
CHỦ NGHĨA KINH NGHIỆM
Theo triết gia kinh nghiệm chủ nghĩa người Ireland thế kỷ mười tám, giám mục George Berkeley, thì “Esse est percipi” (“Tồn tại là được tri giác”), hay nói cách khác thì cái gọi là thế giới khách quan chỉ ở trong trí óc của chúng ta. Berkeley lập luận rằng chúng ta chỉ nhận được tri thức về thế giới này thông qua các giác quan của mình. (Các nhà triết học gọi loại thông tin này là “dữ liệu giác quan.”) Vượt khỏi các dữ liệu giác quan này, Berkeley nói, ta không thể suy đoán được bất cứ điều gì khác, chẳng hạn như sự tồn tại của các vật chất ngoài kia đang phát ra những rung động kích thích các giác quan của chúng ta. Nhưng vị giám mục đáng kính này lại tiếp tục suy luận rằng những dữ liệu giác quan phải đến từ nơi nào đó, do đó nơi nào đó phải là Chúa. Về cơ bản, tư tưởng của Berkeley là Chúa ở trên kia đang gõ những dữ liệu giác quan lên một Website vũ trụ mà tất cả chúng ta đều cập nhật được 24/7. (Thế mà chúng ta cứ nghĩ Chúa chỉ làm việc 24/6!)
George Berkeley (1685-1753): giám mục Ireland, nhà thần học và triết gia đề xướng thuyết duy tâm chủ quan cực đoan với luận điểm nổi tiếng: “Esse est percipi aut percipere” (Sự tồn tại của các đối tượng là cái được tri giác, còn sự tồn tại của các chủ thể là sự tri giác.)
Có câu chuyện rằng người cùng thời với Berkeley là tiến sĩ Samuel Johnson, khi biết đến luận điểm “Esse est percipi”, đã đá vào một cái cột và la lên, “Tôi bác bỏ giám mục Berkeley như thế đấy!”
Đối với Berkeley, câu chuyện đó hẳn giống như một trò cười. Cú đá ấy và ngón chân bị đau sau cú đá chỉ chứng tỏ rằng Chúa vẫn đang bận rộn với nhiệm vụ của ngài là gửi các dữ liệu giác quan đã được định vị đến với tiến sĩ Johnson: đầu tiên là cảm giác cử động của chân bị chặn, và ngay sau đó là cảm giác đau.
Tình huống phức tạp hơn nhiều khi nguồn gốc dữ liệu giác quan của chúng ta là một người khác:
Một người đàn ông lo vợ mình nghễnh ngãng bèn tìm đến bác sĩ. Bác sĩ khuyên ông ta thực hiện một bài kiểm tra đơn giản ở nhà như sau: đứng phía sau vợ hỏi một câu gì đó, đầu tiên cách sáu mét, rồí ba mét, và cuối cùng đứng sát sau lưng.
Người đàn ông đi về nhà, thấy vợ đang đứng nấu nướng, quay mặt vào bếp lò.
“Tối nay nhà ta có món gì thế bà?” ông ta hỏi từ ngoài cửa.
Không có câu trả lời.
Tiến lên cách vợ ba mét, ông ta nhắc lại câu hỏi, “Tối nay nhà ta có món gì thế bà?”
Vẫn không có câu trả lời.
Cuối cùng, ông ta đứng sát sau lưng vợ và hỏi, “Tối nay nhà ta có món gì thế bà?”
Đến lúc này, bà vợ mới quay lại đáp, “Tôi bảo ông đến lần thứ ba rồi đấy nhé – gà!”
A, đôi vợ chồng này đúng là có rắc rối lớn với việc diễn giải dữ liệu giác quan.
PHƯƠNG PHÁP KHOA HỌC
Ngày nay, có lẽ không cần thông minh lắm ta cũng biết rằng toàn bộ tri thức về thế giới bên ngoài đều được lĩnh hội thông qua các giác quan của chúng ta. Nhưng xưa kia thì không phải lúc nào cũng vậy. Trong quá khứ, nhiều triết gia cho rằng có những ý niệm bẩm sinh hiện hữu trong trí óc chúng ta là tiên nghiệm (a priori) – tức là có trước kinh nghiệm. Một số triết gia coi các ý niệm của chúng ta về Chúa là bẩm sinh; nhiều người khác khẳng định rằng tư tưởng của chúng ta về tính nhân quả cũng là bẩm sinh.
Thậm chí bây giờ, khi ai đó nói, “Mọi sự xảy ra đều có lý do”, hay “Tôi tin vào sự đầu thai”, thì mệnh đề anh ta nêu lên đều không thể khẳng định hay phủ định bằng kinh nghiệm. Nhưng phần lớn chúng ta thừa nhận rằng bằng chứng xác tín nhất về tình trạng thế giới bên ngoài là kinh nghiệm thuộc cảm giác, và theo nghĩa đó tất cả chúng ta đều là những nhà chủ nghĩa kinh nghiệm. Tất nhiên, trừ phi chúng ta là vua nước Ba Lan, một ngoại lệ chứng minh cho nguyên tắc sau:
Đức vua Ba Lan cùng đoàn tùy tùng toàn các vị vương hầu bá tước vào rừng săn nai. Đoàn săn hoàng gia vừa đến gần khu rừng, bỗng từ sau một thân cây có gã nông nô chạy vụt ra, vẫy tay rối rít và la lên, “Tôi không phải là một con nai!”
Nhà vua bèn rút cung tên, bắn thủng tim gã nông nô, giết chết hắn trong tích tắc.
“Tâu bệ hạ,” một công tước thưa, “sao ngài tại làm thế? Hắn đã kêu rằng hắn không phải là nai kia mà.”
“Trời ơi,” nhà vua đáp. “Thế mà ta cứ tưởng hắn nói hắn là một con nai.”
Thôi được, giờ ta sẽ so sánh ông vua ấy với một nhà khoa học có đẳng cấp.
Một nhà khoa học cùng vợ chạy xe về nông thôn. Cô vợ nói, “Ô, anh nhìn kìa! Lũ cừu đã được xén lông.”
“Ừ,” nhà khoa học đáp. “Phía bên này thôi.”
Thoạt tiên chúng ta có thể nghĩ rằng người vợ chỉ nói ra một ý kiến dựa trên kinh nghiệm thông thường, còn nhà khoa học thì nêu quan điểm cẩn trọng và mang tính khoa học hơn, từ chối sử dụng bằng chứng không có trong cảm giác của bản thân. Nhưng chúng ta đã lầm. Thật ra chính câu nói của người vợ mới là định thức được đa số các nhà khoa học coi là giả thuyết mang tính khoa học hơn. “Kinh nghiệm” của nhà kinh nghiệm chủ nghĩa không hạn chế trong kinh nghiệm cảm giác trực tiếp. Các nhà khoa học dùng những kinh nghiệm trước đó của mình để tính toán các khả năng và suy ra những nhận định tổng quát hơn. Điều mà người vợ nói thật ra là, “Thứ tôi nhìn thấy là những con cừu đã được xén lông, ít nhất là từ phía bên này. Từ kinh nghiệm trước đây tôi biết rằng người nuôi cừu thường không xén lông cừu chỉ một bên hông, và ngay cả khi họ làm như thế, thì khả năng để lũ cừu tự sắp xếp trên sườn đồi sao cho phần đã xén lông của chúng quay ra đường là vô cùng nhỏ. Nên tôi cảm thấy chắc chắn khi nói rằng, “Lũ cừu kia đã được xén sạch lông.”
Chúng tôi đồ rằng nhà khoa học trong truyện cười này thuộc loại ngộ chữ. Hoặc nói rõ hơn, chúng tôi cho rằng một người không thể suy luận bằng kinh nghiệm sẵn có của mình thì thật tối dạ, hay đúng là một Sardar – theo cách nói của người Ấn Độ.
(Sardar là tước vị phổ biến trong cộng đồng người Sikh (Ấn Độ). Trước khi người Anh chiếm Punjab vào năm 1849, Sardar được dùng để gọi các thủ lĩnh quân sự và đại diện tầng lớp phong kiến người Sikh. Khi châm biếm, hài hước, Sardar đồng nghĩa với “tối dạ, ngốc…”)
Một cảnh sát New Delhi tiến hành sát hạch ba Sardar được huấn luyện làm thám tử. Để khảo sát kỹ năng nhận diện kẻ tình nghi của bọn họ, anh ta cho Sardar thứ nhất xem một bức ảnh trong năm giây rồi giấu đi. “Đây là một kẻ tình nghi. Anh nhận ra hắn bằng cách nào?”
Anh chàng Sardar đáp, “Rất dễ, chúng ta sẽ tóm được hắn ngay vì hắn chỉ có một mắt!”
Viên cảnh sát nói, “Anh đúng là Sardar! Đó là bởi vì bức ảnh tôi cho anh xem là hình chụp nghiêng.”
Sau đó, viên cảnh sát lại giơ bức ảnh ra trong năm giây và hỏi Sardar thứ hai, “Đây là một kẻ tình nghi. Anh nhận ra hắn bằng cách nào?”
Sardar thứ hai mỉm cười và nói, “Ha! Bắt hắn quá dễ, vì hắn chỉ có một tai.”
Viên cảnh sát giận dữ, “Hai người các anh làm sao thế? Tất nhiên chỉ có một mắt và một tai lộ ra, vì đây là hình trông nghiêng của hắn! Đó là câu trả lời hay ho nhất mà các anh có được đấy rồi sao?”
Hết sức thất vọng, viên cảnh sát giơ bức ảnh cho Sardar thứ ba, hỏi bằng giọng gay gắt, “Đây là một kẻ tình nghi. Anh nhận ra hắn bằng cách nào?”
Sandar thứ ba nhìn bức ảnh chăm chú một lát rồi nói, “Kẻ tình nghi này mang kính áp tròng.”
Viên cảnh sát giật mình, vì chính anh ta cũng không biết kẻ tình nghi có mang kính áp tròng hay không. “Hay lắm, thật là câu trả lời thú vị,” anh ta nói. “Anh đợi đây một lát để tôi kiểm tra lại hồ sơ của hắn, rồi sẽ thông báo kết quả.”
Anh ta về phòng làm việc của mình, kiểm tra hồ sơ của kẻ tình nghi trong máy tính, rồi quay lại mỉm cười. “Chà! Không thể tin được. Đúng thế đấy! Kẻ tình nghi này quả nhiên có mang kính áp tròng. Giỏi lắm! Làm sao anh có thể quan sát sắc sảo thế?”
“Dễ ợt,” Sardar trả lời. “Hắn không thể đeo kính thường bởi vì hắn chỉ có một mắt và một tai.”
Sự thắng thế của chủ nghĩa kinh nghiệm trong nhận thức luận phương Tây được phản ánh qua thực tế rằng chúng ta mặc nhiên coi nó là phương pháp kiểm tra mà mọi người đều sử dụng:
Ba phụ nữ đang thay quần áo trong phòng thay đồ để chuẩn bị chơi bóng vợt (Racquetball) thì có một người đàn ông trần truồng trùm mỗi cái bao trên đầu chạy qua. Bà thứ nhất nhìn mẩu xúc xích của anh ta và nói, “Không phải chồng tôi.” Bà thứ hai nói, “Không, không phải đâu.” Bà thứ ba nói, “Hắn thậm chí không phải thành viên câu lạc bộ này.”
Tuy vậy, bất chấp sự thắng thế của chủ nghĩa kinh nghiệm và khoa học, nhiều người vẫn tiếp tục lý giải các sự kiện khác thường như là những phép lạ chứ không phải là kết quả của những nguyên nhân tự nhiên. David Hume, triết gia kinh nghiệm chủ nghĩa hoài nghi Anh, phát biểu rằng niềm tin vào phép lạ có thể có cách giải thích hợp lý duy nhất nếu tất cả những phương án khác còn khó tin hơn. Chẳng hạn, một người khăng khăng cho rằng anh ta có cây cọ cảnh biết hát những khúc aria trong vở Aida của Verdi. Điều nào khó tin hơn đây: cây cọ cảnh có khả năng phá vỡ quy luật tự nhiên hay anh chàng này điên, bịa tạc, hoặc ăn phải nấm độc? Câu trả lời của Hume: “Vớ vẩn!” (Chỗ này chúng tôi quả tình có hơi xuyên tạc lời ông ấy!) Do khả năng người kể chuyện bịa đặt hoặc thổi phồng sự thật cao hơn nhiều so với khả năng cây cọ phá vỡ quy luật tự nhiên, Hume hẳn không thấy có cái lý nào để kết luận rằng đã có một phép lạ xảy ra. Ngoài ra, hầu như ai cũng biết cây cọ cảnh thích Puccini hơn Verdi.
Thật thú vị, trong câu chuyện dưới đây, Bill, một người có vẻ giống môn đệ của Hume, đã thẩm định cả điều coi là phép lạ, nhưng rốt cuộc thì đi đến kết luận rằng phương án giải thích khác thậm chí còn khó tin hơn:
Một hôm Bill than phiền với người bạn rằng khuỷu tay anh ta rất đau. Người bạn khuyên anh ta đến gặp vị đạo sư sống trong một cái hang gần đó. “Cậu chỉ việc để lại chút nước tiểu ở ngoài cửa hang, ông ấy sẽ quán tưởng về nó, sẽ chẩn đoán chuẩn xác bệnh của cậu, và nói cho cậu biết phải làm gì. Chỉ mất có mười đô la thôi.”
Bill nghĩ cũng chẳng tốn kém mấy, nên lấy một ít nước tiểu vào bình rồi đặt ngoài cửa hang cùng tờ mười đô la. Hôm sau, anh quay lại, ở đó đã có mẩu giấy viết sẵn cho anh: “Anh bị đau khuỷu tay. Hãy ngâm cánh tay bằng nước ấm. Tránh nâng vật nặng. Sau hai tuần sẽ đỡ.”
Tối muộn hôm đó Bill mới sực nghi ngờ rằng “phép lạ” của đạo sư chỉ là trò bịp do anh bạn kia bày đặt ra, có thể chính anh ta đã viết mẩu giấy và để ngoài cửa hang. Nghĩ vậy, Bill bèn quyết định chơi lại anh bạn kia. Anh khoắng một chút nước vòi (robinet), một chút phân chó, cùng nước tiểu của vợ và con trai. Anh hoàn tất bằng cách thêm vào đó chút chất thải của chính mình rồi để hỗn hợp trước cửa hang cùng tờ mười đô la. Xong xuôi, anh mới gọi người bạn để bảo anh gặp vài vấn đề nữa về sức khỏe và đã để một mẫu khác cho đạo sư.
Hôm sau, anh quay trở lại hang và thấy một mẩu giấy khác ghi rằng, “Nước vòi nhà anh quá nhiều tạp chất. Hãy kiếm một chiếc máy lọc. Con chó của anh có giun. Cho nó uống thuốc. Con trai anh đã dính cocain. Đưa nó đi cai nghiện. Vợ anh có song thai, con gái. Chúng không phải con anh. Tìm một luật sư. Còn anh nếu không chấm dứt tự sướng, cái tay đau sẽ không bao giờ khỏi.”
Nhưng thông thường trong truyện cười cũng như trong triết học, những lý giải gây hoài nghi vẫn phổ biến hơn.
Ông lang già Bloom, chủ một tiệm đồ sắt trong vùng, nổi tiếng trị bệnh viêm khớp rất thần tình, bệnh nhân xếp hàng dài chờ ngoài cửa, trong đó có một bà già lưng còng, chống gậy lê từng bước.
Khi đến lượt, bà già bước vào phòng, nửa giờ sau đã bước ra, và thật kinh ngạc, lưng thẳng băng, đầu ngẩng cao.
Một bà đang đợi đến lượt mình kêu lên, “Kỳ diệu quá! Bà vào đây lưng còng mà sau nửa giờ bước ra lưng lại thẳng. Thầy lang đã làm gì vậy?”
Bà già đáp, “Ông ấy cho tôi cái gậy dài hơn.”
Một người mù đương nhiên cũng có thể là người kinh nghiệm chủ nghĩa, như anh chàng sau đây, mặc dầu dữ liệu thị giác không có trong kinh nghiệm của anh ta:
Hôm ấy là lễ Quá hải, một người Do Thái đang dùng bữa trưa trong công viên. Chợt một người mù ngồi xuống bên cạnh, người Do Thái bèn mời người mù chia sẻ đồ ăn với mình – một miếng bánh không men. Người mù đón lấy miếng bánh, sờ sẩm một lát rồi hỏi, “Ai viết nhăng cuội gì thế này?”
* Bánh không men (matozh) mỏng như giấy, do cách nướng đặc biệt nên nổi sần lên thành hàng như những hàng chữ khiến người mù tưởng là chữ nổi.
Còn anh chàng trong câu chuyện dưới đây mắc sai lầm ngớ ngẩn khi tưởng rằng người mù không thể kiểm tra thông tin khi sử dụng những giác quan khác:
Một người dắt chó vào quán bar gọi đồ uống. Người pha rượu nói, “Ông không được mang con chó đó vào đây!” Người kia không hề bối rối, đáp, “Nó là con chó dẫn đường của tôi đấy.”
“Ồ, tôi xin lỗi!” người pha rượu nói. “Đây, ly thứ nhất tôi mời nhé.” Người kia cầm lấy ly rượu đến ngồi xuống một bàn gần cửa.
Lại có người nữa dắt chó đi vào quán bar. Người dắt chó lúc nãy ngăn anh ta lại khẽ nhắc, “Anh không được dắt chó vào đây đâu, trừ phi anh bảo với anh ta nó là chó dẫn đường.” Người thứ hai nhã nhặn cám ơn, tiếp tục đi đến quầy và gọi đồ uống. Người pha rượu nói, “Này, ông không được mang con chó đó vào đây!”
Người đàn ông đáp, “Đây là con chó dẫn đường của tôi.”
Người pha rượu nói, “Không, tôi không nghĩ thế. Không ai dùng Chihuahua làm chó dẫn đường cả.”
Người đàn ông thoáng khựng lại nửa giây rồi kêu lên, “Hả?!?! Họ đưa cho tôi một con Chihuahua?!?”