Plato Và Con Thú Mỏ Vịt Bước Vào Quán Bar - Thomas Cathcart & Daniel Klein - Phần 4.1
- Home
- Plato Và Con Thú Mỏ Vịt Bước Vào Quán Bar - Thomas Cathcart & Daniel Klein
- Phần 4.1 - Đạo đức học
Phân định tốt xấu là lĩnh vực của Đạo Đức học. Đó cũng là việc khiến các bậc tu hành, học giả hay những người làm cha mẹ bận rộn. Rủi thay trẻ em và các triết gia cũng bận bịu: họ không ngừng hỏi các vị tu hành, học giả hay những người làm cha mẹ, “Tại sao?”
DIMITRI: Tôi đã suy nghĩ về câu hỏi của cậu, “tốt” nghĩa là gì, và tớ đã có câu trả lời: tốt là hành động theo nguyên tắc đúng.
TASSO: Trời đất, Dimitri, ngạc nhiên quá, cậu bắt đầu nói y như một triết gia thực thụ rồi. Chỉ một câu hỏi cuối cùng nữa: Làm sao cậu xác định được những nguyên tắc đúng?
DIMITRI: À ừ! Thì cũng như mọi người thôi, tôi học chúng từ mẹ.
TASSO (ngoảnh sang bên nói khẽ): Sao Socrates lại có được toàn những môn đệ hạng “A” nhỉ?
xXx
ĐẠO ĐỨC TUYỆT ĐỐI: LUẬT CHÚA
Luật Chúa làm cho vấn đề đạo đức học thành đơn giản: Nếu Chúa bảo cái gì sai thì nó là sai, trọn vẹn và tuyệt đối. Luật chỉ viết có thế. Nhưng ở đây lại nảy sinh vấn đề phức tạp. Trước hết, làm sao chúng ta có thể biết Chúa thật sự nghĩ gì? Những tín đồ chính thống đáp: Kinh Thánh nói vậy. Nhưng làm sao các nhân vật trong Kinh Thánh biết dấu hiệu họ nhận được thật sự là từ Chúa? Abraham nghĩ ông được Chúa kêu gọi hy sinh đứa con trai trên bàn thờ. Abraham suy nghĩ, “Nếu Chúa nói thế, thì mình hãy làm như thế.” Nghi vấn triết học đầu tiên chúng ta đặt ra cho Abraham là, “Ông sao thế, điên à? Ông nghe ‘Chúa’ khiến ông làm chuyện điên rồ, mà thậm chí ông không cần hỏi để biết có thật là Chúa không?”
Một vấn đề khác của việc tuân theo Luật Chúa nằm ở sự diễn dịch. Nên thể hiện lòng tôn kính đối với cha mẹ như thế nào cho phải? Một tấm thiếp nhân Ngày của Mẹ? Hay kết hôn với anh chàng tẻ nhạt con nhà nha sĩ vì cha mẹ đáng kính của bạn muốn bạn làm vậy? Những câu hỏi này hoàn toàn không phải là đi quá sâu vào chi tiết, khi cậu con nhà nha sĩ cao mét rưỡi và nặng tạ hai.
Đặc tính đầu tiên của Luật Chúa là Chúa luôn luôn có tiếng nói cuối cùng.
Moses lê bước từ đỉnh Sinai xuống, bảng đá trong tay, và loan báo với đám đông đang tụ tập: “Ta có tin lành, và cũng có tin dữ. Tin lành là ta đã khiến Người rút xuống còn mười điều răn. Tin dữ là ‘tội ngoại tình’ vẫn còn đó.”
___oOo___
Thánh Augustine trẻ trung và cường tráng rõ ràng đã cố gắng có cuộc thương lượng tương tự khi thốt lên câu nổi tiếng này, “Lạy Chúa, xin hãy ban cho con sự trinh bạch. Nhưng không phải ngay lúc này!” Rõ ràng Augustine đang hơi cố bắt bẻ tỉ mẩn theo kiểu Talmud. “Con muốn nói rằng, Chúa không nói chính xác khi nào thì đừng phạm tội ngoại tình, phải không?” Nghe như truyện tiếu lâm vậy.
***
ĐẠO ĐỨC KIỂU PLATO
Trong tác phẩm trứ danh của mình, Cộng hòa, Plato viết “Nhà nước chính là một linh hồn”. Bởi vậy để bàn về đức hạnh cá nhân, ông đã viết một đoạn đối thoại về phẩm hạnh của nhà nước lý tưởng. Ông gọi các nhà lãnh đạo của nhà nước này là các đấng Quân vương Triết gia, điều này cho thấy tại sao Plato rất được các triết gia ưa thích. Những ông Vua Triết gia ấy dẫn dắt quốc gia như Lý trí dẫn dắt linh hồn con người. Đức hạnh hàng đầu, của cả Vua Triết gia và Lý trí, là Thông tuệ – theo Plato định nghĩa là hiểu được ý niệm về tính Thiện. Tuy nhiên, tính thiện của người này lại là mồi ngon của người khác.
Trong cuộc họp khoa của trường đại học, bỗng có một thiên sứ xuất hiện, nói với ông trưởng Khoa Triết: “Tôi sẽ ban cho ngài một trong ba điều ước để lựa chọn: Sự Thông tuệ, sắc đẹp hoặc mười ngàn đô la.”
Vị giáo sư lập tức chọn Thông tuệ.
Một ánh chớp lóe lên và vị giáo sư dường như đã biến đổi, nhưng ông vẫn ngồi đấy, đăm chiêu nhìn xuống bàn. Một trong những đồng nghiệp của ông thì thầm, “ông nói cái gì đi chứ.”
Vị giáo sư nói, “Lẽ ra tôi nên chọn đô la.”
THUYẾT KHẮC KỶ
Vấn đề đạo đức mà những nhà khắc kỷ ở thế kỷ thứ tư trước Công nguyên quan tâm là phải phản ứng thế nào với xu thế thống trị của thuyết định mệnh, vốn là đặc trưng cho cuộc sống trong một đế chế bị kiểm soát ngặt nghèo. Họ không thể thay đổi bất kỳ điều gì trong cuộc sống hằng ngày, nên quyết định thay đổi thái độ đối với chính cuộc sống. Họ chỉ còn có cách kiểm soát cá nhân. Phái Khắc kỷ lựa chọn chiến lược tách cảm xúc khỏi cuộc sống. Họ gọi thái độ của họ là apathia (vô cảm xúc), và đối với người khắc kỷ, vô cảm xúc là đức hạnh, mặc dù điều đó biến họ thành trò cười trong các quán rượu địa phương. Những người khắc kỷ tự nguyện chối bỏ một số khoái lạc (tình dục, ma túy, và rượu chè) để tránh những điều bất hạnh mà những đam mê của bản thân mang lại (bệnh tình dục, say xỉn, và nói năng bừa bãi). Họ chỉ hành động theo lý trí, không bao giờ theo đam mê, và coi mình là những người duy nhất thực sự hạnh phúc – mặc dù điều này chỉ nói lên rằng họ không-bất-hạnh.
Trong câu chuyện sau đây, ông Cooper thể hiện một dạng khắc kỷ hiện đại: khắc kỷ qua ủy nhiệm.
Vợ chồng nhà Cooper tới tiệm nha khoa, ở đây ông Cooper cho biết ông đang rất vội. “Khỏi cần dùng mấy thứ rườm rà đó, bác sĩ ạ!” ông yêu cầu. “Không gây tê, không tiêm hay gì gì hết, ông cứ nhổ cái răng ra là được rồi.”
“Ước gì tôi có nhiều bệnh nhân khắc kỷ như ông nhỉ,” nha sĩ thán phục thốt lên. “Đâu, ông nhổ chiếc răng nào?”
Ông Cooper quay sang vợ. “Há miệng ra đi cưng.”
___oOo___
G K. Chesterton từng viết: “Từ ‘tốt’ có nhiều nghĩa. Chẳng hạn, nếu một gã sắp bắn mẹ của hắn từ khoảng cách năm trăm mét, tôi có thể gọi hắn là một tay súng tốt, nhưng không nhất thiết là con người tốt.” Cái hạn định “nhất thiết” kia chứng tỏ Chesterton sử hữu bộ óc triết học thực thụ.
Gilbert Keith Chesterton (1874-1936): nhà văn, nhà thơ, triết gia người Anh.
***
THUYẾT VỊ LỢI
Tất cả chúng ta đều biết lãnh tụ nổi tiếng thể kỷ hai mươi Vladimir Lenin từng nói, “Mục đích biện minh cho phương tiện.” Thật trớ trêu, câu này khá gần với quan điểm của một trong những triết gia yêu thích của nhóm vận động theo Đảng Cộng hòa, John Stuart Mill. Mill và những nhà vị lợi chủ nghĩa đề xuất một thứ đạo đức học “vị kết quả”: Sự đúng đắn về mặt đạo đức của một hành động chỉ được xác định bằng kết quả của nó.
Nhân vật chính trong câu chuyện sau đây rõ ràng là một người vị lợi:
Bà O’Callahan đề nghị ông họa sĩ đã vẽ xong chân dung mình vẽ thêm đôi vòng vàng trên hai cổ tay, một chuỗi hạt trân châu quanh cổ, đôi bông tai hồng ngọc, và một mũ miện bằng kim cương.
Họa sĩ lưu ý bà rằng làm thế khác nào nói dối.
Bà O’Callahan nói, “Anh biết không, chồng tôi đang chạy theo một cô ả tóc vàng. Sau khi tôi chết, tôi muốn nó phát rồ lên mà đi tìm những món châu báu này.”
Lối biện minh này có thể khiến chúng ta thỏa hiệp với những vấn đề nghiêm trọng, nếu cảm thấy kỳ vọng được vào những kết quả đủ “tốt”.
Bà quả phụ Brevoort đang dạo vẩn vơ bên hồ bơi ở câu lạc bộ thì trông thấy một anh chàng đẹp trai đang tắm nắng. Bà rụt rè đến gần anh ta và thốt lên, “Ồ, tôi không nghĩ mình đã từng trông thấy anh ở đây.”
“Có lẽ vậy, người kia nói. “Tôi đã ở tù ba mươi năm.”
“Thật không? Vì tội gì?”
“Tôi giết vợ.”
“A!” bà Brevoort vui mừng. “Có nghĩa là anh đang độc thân!”
Triết gia vị lợi đương đại nổi tiếng Peter Singer thường so sánh để tìm sự giống nhau giữa các quyết định mà chúng ta đều đồng ý là dẫn đến hậu quả khủng khiếp và các quyết định có vẻ nhân từ hơn – về mặt đạo đức ông cho rằng chúng như nhau. Trong một tiểu luận, ông đặt ra tình huống trong đó một người có thể kiếm tiền mua ti vi mới bằng cách bán một đứa trẻ vô gia cư cho một nghiệp đoàn thu mua nội tạng để cấy ghép. Khủng khiếp, tất cả chúng ta đều nhất trí. Nhưng Singer lại lập luận tiếp, rằng khi một người lại đi mua ti vi mới thay vì góp số tiền đó cho quỹ từ thiện bảo vệ trẻ em vô gia cư, về bản chất hành động của anh ta là y hệt người kia. Bạn có thấy ghét khi ông ấy nói như vậy không? Đó là một lập luận loại suy đi từ trường hợp kịch tính cá biệt đến một tuyên bố đạo đức chung, giống như trong truyện cười kinh điển sau đây:
Chàng: Em có chịu ngủ với anh lấy một triệu đô la không?
Nàng: Một triệu đô ư? Chà! Em nghĩ là có.
Chàng: Thế hai đô la thì sao?
Nàng: Biến đi, ông kễnh! Anh nghĩ tôi là hạng người nào chứ?
Chàng: Hạng người nào thì chúng ta đã xác định xong rồi. Bây giờ chỉ là thỏa thuận xem giá cả thế nào thôi.
MỆNH LỆNH TUYỆT ĐỐI TỐI CAO VÀ QUY TẮC VÀNG CỔ XƯA
Nguyên tắc bao quát của Kant, tiêu chuẩn cho tất cả các châm ngôn đạo đức khác, là cái mà ông gọi là “mệnh lệnh tuyệt đối tối cao”. Thoạt nghe qua, mệnh lệnh này có vẻ như phiên bản tân trang của một quy tắc vàng cổ xưa.
Quy tắc vàng: “Hãy làm cho người khác điều mà anh muốn người khác làm cho anh.”
Mệnh lệnh tuyệt đối tối cao: “Hãy chỉ hành động theo châm ngôn nào mà anh đồng thời có thể muốn nó trở thành quy luật phổ quát.”
Tất nhiên, diễn đạt của Kant nghe nhất định là lạnh lùng hơn. Bản thân thuật ngữ “mệnh lệnh tuyệt đối tối cao” nghe đầy chất Đức. Nhưng Kant không làm khác được, ông là người Đức.
Tuy nhiên, mệnh lệnh tuyệt đối và quy tắc vàng thực sự có chung một lãnh địa khá rộng lớn trong triết học:
Cả hai đều không phải là quy tắc cho bất cứ hành động cụ thể nào, chẳng hạn như “Hãy kính trọng cha mẹ!” hay “Hãy ăn rau chân vịt!”
Thay vào đó, cả hai cung cấp các nguyên tắc trừu tượng để xác định hành động cụ thể nào là đúng và hành động nào là sai.
Trong cả hai trường hợp, các nguyên tắc trừu tượng này nêu quan điểm mọi người đều giá trị ngang với bạn và tôi, do đó, về mặt đạo đức nên đối xử với tất cả mọi người như đối với bạn và tôi… đặc biệt là như đối với tôi.
Nhưng giữa mệnh lệnh tuyệt đối và quy tắc vàng có một khác biệt cơ bản – và nó đã được lột tả rất xuất sắc trong câu chuyện cười ngắn sau đây:
Kẻ bạo dâm là một kẻ khổ dâm tuân theo nguyên tắc vàng.
Khi làm đau người khác, kẻ khổ dâm chỉ thực hiện điều mà nguyên tắc vàng đòi hỏi: làm cho người khác điều y muốn người khác làm cho y, với một ngọn roi thì càng thích. Nhưng Kant có lẽ sẽ nói rằng khó có kẻ khổ dâm nào dám thành thực tuyên bố rằng mệnh lệnh đạo đức “làm đau người khác”, có khả năng trở thành nguyên tắc chung cho một thế giới đáng để sống. Thậm chí người khổ dâm cũng thấy điều đó là phi lý.
Những kiến giải tương tự đã dẫn nhà soạn kịch người Anh George Bernard Shaw đến chỗ giễu nhại quy tắc vàng như sau:
“Đừng làm cho người khác điều mà anh muốn người khác làm cho anh; họ có thể có sở thích khác.”
___oOo___
Những biến thể của quy tắc vàng được bắt gặp không chỉ ở Kant, mà cả trong nhiều truyền thống tôn giáo trên khắp thế giới:
HINDU GIÁO (khoảng thế kỷ mười ba trước C.N):
Đừng làm cho kẻ khác những gì mình không muốn kẻ khác làm cho mình… Đây là toàn bộ Dharma (Pháp). Hãy nhớ kỹ.
Mahabharata
Trong triết học Ấn Độ, Dharma (Pháp – luật và giáo pháp nói chung) có nhiều tầng ý nghĩa, được hiểu và giải thích từ những góc độ khác nhau. Theo truyền thống Hindu giáo, một người thực hành đúng Pháp là thực hành theo những gì đã được quy định trong các thánh điển. Trong Mahabharata, thực hành Pháp là thực hành theo tám nguyên tắc: sùng kính thần linh, học hỏi, bố thí, khổ hạnh, chân thật, tha thứ, từ mẫn và không tham lam..
DO THÁI GIÁO (khoảng thế kỷ mười ba trước C.N):
Điều ngươi không ưa thì chớ làm cho người bên cạnh; đó là toàn bộ Torah (Năm quyển đầu của bộ Kinh Thánh Do Thái, thường gọi là Luật Giao Ước hay Ngũ Kinh của Moses); phần còn lại đều là bình chú; hãy học lấy điều này.
Talmud Babylone
HỎA GIÁO (khoảng thế kỷ mười hai trước C.N):
Bản tính con người chỉ là thiện khi không gây cho kẻ khác bất kỳ điều gì không là thiện đối với chính mình.
Dadistan-i-Dinik
PHẬT GIÁO (khoảng thể kỷ sáu trước C.N):
Đừng gây cho người khác nỗi đau mà chính anh cảm thấy là đau đớn.
Dhamamapada Tây Tạng (Kinh Pháp Cú)
KHỔNG GIÁO (khoảng thế kỷ sáu trước C.N):
Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân (Điều gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác).
Khổng Tử (Luận Ngữ)
HỒI GIÁO (khoảng thế kỷ bảy):
Không ai trong các ngươi thành tín đồ được cho tới khi các ngươi muốn cho người khác những gì các ngươi muốn cho chính mình.
“Sunnah”, trích Hadith
BAHÁ’Í (khoảng thế kỷ mười chín):
Chớ gây cho bất kỳ ai khác điều ngươi sẽ không tự gây ra cho chính mình, và chớ nói với bất kỳ ai điều ngươi sẽ không nói với mình. Đây là mệnh lệnh của ta dành cho ngươi, hãy tuân thủ.
Bahá’u’lláh, Ẩn Ngữ
THUYẾT SOPRANO (thế kỷ hai mươi mốt)
Hãy nện gã bên cạnh anh với lòng kính trọng mà anh muốn được hưởng khi bị nện, hiểu chưa?
Câu thoại của nhân vật Tony Soprano
[Một tên tội phạm người Mỹ gốc Ý trong bộ phim truyền hình nổi tiếng The Sopranos (đạo diễn David Chase)].
***
Ý CHÍ QUYỀN LỰC
Triết gia Đức thế kỷ mười chín Friedrich Nietzsche liều lĩnh tuyên bố rằng ông đang bắt đạo đức Cơ Đốc truyền thống phải dỏng tai lên. Ông đã bắt đầu nhỏ nhẹ, bằng cách loan báo cái chết của Chúa. Chúa trả đũa bằng cách loan báo, trên những bức tường ngăn vệ sinh nam trong khu đại học, cái chết của Nietzsche. Điều Nietzsche muốn nói qua cái chết của Chúa là nền văn hóa phương Tây đã lớn vượt lên những giải thích siêu hình về thế giới cũng như nền đạo đức Cơ Đốc song hành. Ông gọi giáo lý Cơ Đốc là “luân lý bầy đàn”, bởi vì nó truyền dạy một thứ “đạo đức phi tự nhiên” – rằng làm một con đực số một thống trị bầy đàn là tồi tệ. Ông thay thế đạo đức Cơ Đốc bằng thứ đạo đức sức mạnh đã được khẳng định bởi cuộc sống, mà ông gọi là ý chí quyền lực. Cá nhân kiệt xuất, Übermensch hay siêu nhân, đứng trên đạo đức bầy đàn và hoàn toàn xứng đáng tự do thể hiện sức mạnh tự nhiên và sự vượt trội của mình đối với bầy đàn. Khi vấn đề liên quan đến quy tắc vàng, Friedrich rõ ràng là thành viên của trường phái Tony Soprano. Hệ lụy là Nietzsche bị gán trách nhiệm cho đủ thứ, từ chủ nghĩa quân phiệt cho đến món dưa bắp cải Đức:
Vấn đề của thực phẩm Đức là, dù bạn ăn bao nhiêu đi chăng nữa, sau một giờ bạn đã đói quyền lực.
CHỦ NGHĨA DUY CẢM
Đến giữa thế kỷ hai mươi, phần lớn các khuynh hướng triết đạo đức học đều là siêu đạo đức học. Thay vì hỏi, “Hành động nào tốt?” giờ đây các triết gia hỏi, “Nói một hành động là tốt có nghĩa là gì? Có phải ‘x tốt’ chỉ có nghĩa là ‘tôi tán thành x’? Hay phải chăng ‘x tốt’ biểu thị một cảm xúc mà tôi có khi quan sát x hoặc nghĩ về x?” Quan điểm cuối này, được biết dưới tên gọi chủ nghĩa duy cảm, biểu hiện qua câu chuyện sau đây:
Một người viết một bức thư cho Sở Thuế rằng: “Tôi mất ngủ khi biết mình gian lận thuế thu nhập cá nhân. Tôi đã giấu giếm bớt thu nhập chịu thuế của mình nên gửi kèm theo đây tờ séc 150$. Nếu vẫn mất ngủ, tôi sẽ gửi tiếp số còn lại.”