Plato Và Con Thú Mỏ Vịt Bước Vào Quán Bar - Thomas Cathcart & Daniel Klein - Phần 4.2
- Home
- Plato Và Con Thú Mỏ Vịt Bước Vào Quán Bar - Thomas Cathcart & Daniel Klein
- Phần 4.2 - Đạo đức học
ĐẠO ĐỨC HỌC ỨNG DỤNG
Ngay khi các suy tưởng siêu đạo đức học về ý nghĩa của ngôn từ “tốt” bắt đầu mất dần sức lôi cuốn, thì thi hành đạo đức một lần nữa trở nên hợp mốt, và các triết gia lại lần nữa viết về những hành động cụ thể nào là tốt. Đạo đức sinh học, đạo đức nữ quyền, và đạo đức về đối xử đúng đắn với động vật đã trở thành bắt buộc.
Một kiểu mẫu đạo đức ứng dụng rất phát triển ở thế kỷ hai mươi là đạo đức nghề nghiệp, chính là các chuẩn tắc điều chỉnh mối quan hệ của những người làm nghề đối với khách hàng và bệnh nhân.
Sau hội nghị đạo đức nghề nghiệp, bốn bác sĩ tâm thần cùng nhau bước ra. Một người nói, “Mọi người lúc nào cũng mang theo gánh nặng tội lỗi và âu lo của họ đến với chúng ta, còn chúng ta chẳng có ai để bày tỏ những vấn đề của mình cả. Sao lúc này chúng ta không dành chút thời gian để lắng nghe nhau thổ lộ nhỉ?” Ba người kia nhất trí.
Bác sĩ tâm thần thứ nhất thú nhận, “Tôi gần như không thể nào kiểm soát nổi ý muốn giết bệnh nhân của mình.”
Bác sĩ tâm thần thứ hai nói, “Tôi luôn tìm cách lừa tiền bệnh nhân khi có dịp.”
Người thứ ba, “Tôi dính vào buôn bán ma túy và thường nhờ bệnh nhân bán hộ.”
Đến lượt bác sĩ tâm thần thứ tư thú nhận, “Các ông biết không, dù cố đến mấy, tôi hầu như không cách nào giữ kín được một bí mật.”
Mỗi chuyên ngành y khoa phát huy những nguyên tắc đạo đức riêng của mình.
Bốn thầy thuốc cùng nhau đi săn vịt trời: một bác sĩ gia đình, một bác sĩ phụ khoa, một nhà phẫu thuật, một nhà bệnh lý học. Khi một con chim bay qua trên đầu, bác sĩ gia đình định bắn nhưng lại thôi vì ông không chắc liệu nó có phải là chim vịt không. Bác sĩ phụ khoa cũng định bắn nhưng lại hạ súng xuống khi nhận ra ông không biết con chim vịt này là trống hay mái. Trong khi đó bác sĩ phẫu thuật đã kịp bắn chết con chim và quay sang nói với nhà bệnh lý học, “Ông đi xem liệu nó có phải con vịt không.”
Thậm chí các luật sư cũng có đạo đức nghề nghiệp. Khi một khách hàng nhầm lẫn trả cho luật sư 400$ thay vì 300$ theo hóa đơn, tự nhiên sẽ nảy sinh vấn đề đạo đức là luật sư có nên nói cho khách hàng biết điều đó không.
Không có gì đáng ngạc nhiên khi giới tăng lữ cũng có đạo đức nghề nghiệp hay đạo đức của họ đi kèm với sự trừng phạt của thánh thần.
Một giáo sĩ Do Thái trẻ rất mê chơi golf. Thậm chí vào ngày lễ Yom Kippur thiêng liêng nhất trong năm mà anh ta cũng lén đi làm một ván chín lỗ chớp nhoáng. (Còn gọi là Ngày Chuộc tội, một trong những ngày lễ thiêng liêng nhất của người Do Thái, diễn ra sau lễ Rosh Hashanah, kéo dài 25 giờ, chủ yếu là ăn chay và tập trung cầu nguyện, thường ở giáo đường.)
Khi anh phát bóng lỗ cuối cùng thì một cơn gió cuốn quả bóng đến ngay trên miệng lỗ và thả nó vào lỗ.
Một thiên thần chứng kiến phép lạ đó phàn nàn với Chúa, “Hắn chơi golf trong ngày lễ Yom Kippur mà Người lại giúp hắn ăn cú một gậy trúng lỗ ư? Đây có phải là hình phạt không?”
“Tất nhiên rồi,” Chúa mỉm cười nói. “Hắn còn dám hé răng với ai về chuyện này nữa?”
___oOo___
Điều khiến đạo đức học ứng dụng trở nên thú vị, nhưng cũng đánh đố, là các quyết định đạo đức thường rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan, loay hoay lựa chọn giữa hai điều tốt: “Tôi phải dành cho gia đình bao nhiêu thời gian thay vì cho công việc của tôi? Cho các con tôi thay vì cho bản thân tôi? Cho đất nước tôi thay vì cho nhân loại?” Chính những song đề đạo đức học ứng dụng này đã đem lại công việc bận rộn cho Abby và Ann Lander suốt nhiều năm và giờ đây đang tiếp tục cung cấp tư liệu cho mục “Nhà đạo đức học” của Randy Cohen trên tờ The New York Times.
Câu hỏi đặt ra dưới đây, Cohen viết cách đây không lâu trên trang slate.com, là một trong mười câu hỏi hay nhất mà chưa từng có ai đặt ra với ông:
“Mặc dù ta hạnh phúc với công việc hiện nay của mình, gần đây ta mới được phong tước (tôi là Phó vương mới của Cawdor), nhưng điều đó không đủ với vợ ta vì nàng luôn khao khát ta tiến xa hơn. Ta không nói rằng ta thiếu tham vọng, nhưng ta miễn cưỡng làm những việc cần làm để có thể leo cao hơn – những giờ khắc đăng đẳng, những vụ giết người đẫm máu. Vả lại, liệu ta có cái nghĩa vụ đặc biệt phải lưu tâm đến những khát vọng của vợ ta không? Dù sao hai chúng ta cũng là một gia đình.”
MACBETH xứ SCOTLAND
***
Macbeth, hay Vở bi kịch về Macbeth là vở bi kịch ngắn nhất của William Shakespeare được cho là viết vào khoảng 1603 và 1607, Macbeth – ngay khi đang tỏa sáng trong vinh quang, danh vọng đã nghe những lời tiên tri ghê gớm của ba mụ phù thủy về một tương lai với vinh quang và danh vọng còn to lớn hơn. Lời tiên tri rằng Macbeth sẽ sở hữu ngai vàng đã đánh thức trong Macbeth tham vọng quyền lực dữ dội. Cùng với sự thúc giục và khuyến khích của vợ, Macbeth phạm tội sát nhân khi vua Duncan (vua nước Anh) đến thăm lâu đài của hắn. Sau đó Macbeth đã lên ngôi vua theo đúng lời tiên tri, nhưng luôn phải cố sức giữ ngôi vua, liên tục gặp ác mộng, hồn ma hiện hình, hình ảnh con dao găm nhuốm máu lơ lửng trong tâm hồn, và cuối cùng bị giết chết.
TÁC ĐỘNG CỦA PHÂN TÂM HỌC ĐẾN ĐẠO ĐỨC HỌC TRIẾT HỌC
Sigmund Freud, mặc dù không phải triết gia, nhưng đã có ảnh hưởng lớn tới triết học đạo đức với tuyên bố rằng thật ra chính những thôi thúc sinh học vô thức xác định hành vi của con người chứ không phải những phân biệt tỉnh táo, lý trí và tốt đẹp. Dù chúng ta có cố gắng đến mấy để khép cuộc sống của mình vào vòng kiểm soát của lý trí theo lời khuyên của các triết gia đạo đức học, thì vô thức vẫn luôn đột phá. Chẳng hạn sự lỡ lời kiểu Freud – là tình trạng khi chúng ta “nhầm lẫn” nói điều gì đó bộc lộ mong muốn từ vô thức, ví dụ ông ủy viên hội đồng thành phố giới thiệu vị chủ tịch xinh đẹp của mình là “một nữ công bộc xuất sắc”. (Nguyên văn: “a great public servant” – nghĩa là “một viên chức xuất sắc” cũng có thể hiểu theo cách khá là khiếm nhã, vì trong tiếng Anh, “public house” nghĩa là “nhà chứa”).
Nhà trị liệu tâm thần hỏi bệnh nhân về cuộc viếng thăm mẹ của ông ta. Bệnh nhân nói, “Tệ quá. Tôi bị lỡ lời quá kinh khủng kiểu Freud.”
“Thật ư?” nhà trị liệu hỏi. “Ông đã nói gì?”
“Tôi định nói, ‘Đưa hộ con lọ muối’, nhưng tôi lại nói ra thành, ‘Đồ chó! Bà đã làm hỏng cả cuộc đời tôi!’ ”
Theo Freud, toàn bộ triết học đạo đức trên thế giới chủ yếu nói với chúng ta về một giấc mơ đẹp hơn là về những kiểm soát vô thức có thật điều khiển hành vi của chúng ta.
Một anh chàng lao bổ vào phòng khám của bác sĩ tâm thần lắp bắp xin lỗi đã đến muộn vì ngủ dậy trễ.
“Nhưng trong mơ tôi đã có một bước đột phá không thể tin nổi,” anh ta hổn hển kêu lên. “Tôi đang nói chuyện với mẹ thì bỗng dưng bà ấy biến thành ông! Đúng lúc đó tôi thức giấc, mặc quần áo, tợp vội một lon Coca với cái bánh rán rồi lao đến đây ngay.”
Bác sĩ tâm thần nói, “Một lon Coca và cái bánh rán? Anh gọi thế là một bữa sáng đấy à?”
Mặt khác, ngay cả Freud cũng thừa nhận rằng việc hạ thấp hành vi của con người xuống thành những thôi thúc vô thức đôi khi có thể bỏ qua những sự thật hiển nhiên. Ông có một câu nổi tiếng, “Đôi khi điếu xì gà chỉ đơn giản là một điếu xì gà.”
Một anh chàng đang cạo râu chợt con dao tuột khỏi tay rơi xuống tiện đứt mất của quý. Anh ta nhặt của quý lên, nhét vào túi, lao ra đường chặn một chiếc taxi, bảo lái xe chở gấp đến phòng cấp cứu.
Tại đó, anh ta kể lại sự việc với bác sĩ phẫu thuật. Bác sĩ nói, “Cần phải làm thật nhanh. Đưa nó đây cho tôi.”
Anh ta thọc tay vào túi và trao vật nằm trong túi vào tay bác sĩ.
“Nhưng đây là điếu xì gà, có phải dương vật đâu!” bác sĩ phẫu thuật nói.
“Ôi Chúa ôi,” anh ta rên lên, “chắc tôi đã hút hết nó trong taxi rồi.”
ĐẠO ĐỨC HỌC TÌNH HUỐNG
Thập niên 1960 bỗng trở nên xôn xao với cái gọi là “đạo đức học tình huống”. Những người đề xuất trào lưu tuyên bố rằng hành vi đạo đức thực hiện trong bất kỳ tình huống nào cũng phụ thuộc vào sự pha trộn đặc thù của các nhân tố trong tình huống đó. Những người cụ thể nào chịu sự tác động của tình huống? Họ có cái lý gì khi gây ra kết quả của tình huống? Kết quả ảnh hưởng thế nào đển các tình huống tương lai? Và nói cho cùng thì ai đang đặt ra những câu hỏi này? Chẳng hạn trong trường hợp ngoại tình, bên cạnh các thứ khác, các nhà đạo đức học tình huống sẽ quan tâm đến tình trạng hôn nhân và có thể đi tới những đánh giá trái ngược, tùy thuộc vào việc cuộc hôn nhân có diễn ra suôn sẻ hay không. Những người phản đối đạo đức học tình huống tỏ ra bất bình, họ cảm thấy lối lập luận như thế có thể được dùng để biện hộ cho bất cứ chuyện gì người ta muốn làm. Một số người phản đối giữ lập trường cực đoan: bội tín luôn luôn sai, bất kể trong hoàn cảnh nào.
Nhưng thật nghịch lý, đôi khi vì lờ đi hoàn cảnh đặc thù, chúng ta đã tạo cơ hội cho những hành động ích kỷ.
Bọn cướp có vũ trang đột nhập vào một ngân hàng, bắt toàn bộ nhân viên cùng khách hàng đứng dựa vào tường và bắt đầu lột ví tiền, đồng hồ, nữ trang của họ. Hai kế toán của ngân hàng đứng trong hàng người chờ bị cướp. Một người đột nhiên dúi thứ gì đó vào tay người kia. Người kia thì thầm hỏi, “Cái gì thế?” Người thứ nhất thì thầm đáp, “Đây là năm chục đô tôi nợ ông.”
xXx
DIMITRI: Tôi vẫn không chắc cái gì là đúng cái gì là sai, nhưng có một việc tôi biết chắc – điều quan trọng trong cuộc sống là khiến thần linh hài lòng.
TASSO: Như Zeus và Apollo.
DIMITRI: Đúng. Hoặc vị thần yêu thích của tôi: Aphrodite.
TASSO: Ồ, cũng là vị thần tôi thích… nếu nàng tồn tại.
DIMITRI: Nếu nàng tồn tại ư? Tốt nhất là cậu hãy thôi bẻm mép đi, Tasso ạ. Tôi đã chính mắt trông thấy có những người bị sét đánh tan thây vì nói thế.