Sinh Ra Để Chạy - Christopher McDougall - Chương 22
Jenn và Billy gặp nhau vào mùa hè năm 2002, sau khi Billy học xong năm thứ nhất tại trường Đại học Virginia Commonwealth và trở về nhà làm nhân viên cứu hộ trên bãi biển Virginia. Một buổi sáng, cậu ta đến trạm gác và phát hiện ra thần may mắn lại ra tay. Đồng đội mới của cậu ta như bước ra từ quảng cáo bia Corona, một cô nàng xinh đẹp với điểm số cao nhất trong mọi thang đánh giá của Billy: cô là dân lướt ván, một con mọt sách bí mật, và là dân chơi thứ dữ, đi một chiếc xe Mitsubishi cổ lỗ sĩ với hình nhà văn quái dị Hunter S. Thompson đang cầm một khẩu súng lục Magnum cỡ nòng .44, khắc trên nắp máy.
Nhưng ngay lập tức, Jenn bắt đầu làm khó cậu. Cô cứ quấn lấy chiếc mũ bóng chày Đại học North Carolina (UNC) của Billy và không chịu buông ra. “Anh này!” Jenn nói. “Tôi thích cái mũ đó!” Cô đã học ở UNC một năm rồi bỏ học và chuyển đến San Francisco để làm thơ, vì vậy, nếu có lý lẽ nào trên bờ biển này, thì cô mới là người đáng được đội chiếc mũ Tar Heels đó, chứ không phải gã lướt sóng xinh trai chỉ đội nó để đám tóc mái điệu đàng không vương vào mắt…
“Cũng được!” Billy buột miệng. “Của cô đấy.”
“Ngon!”
“Nếu như,” Billy nói tiếp, “cô chịu khỏa thân chạy dọc bờ biển.”
Jenn cười chế giễu. “Anh được đấy. Ngay sau giờ làm nhé.”
Billy lắc đầu. “Không được. Ngay bây giờ.”
Chỉ lát sau, những tiếng hú hét và reo hò cổ vũ vang lên, làm rung chuyển cả đường lát gỗ bờ biển khi Jenn chạy vọt ra khỏi nhà vệ sinh di động, với bộ đồ cứu hộ nằm vo lại dưới đất. Được rồi, chơi luôn! Cô chạy tới trạm gác tiếp theo cách đó một dãy nhà, quay lại và chạy ngược về đám bà mẹ, trẻ con đáng nhẽ cần được bảo vệ khỏi nhiều thứ, trong đó có lũ sinh viên bỏ học nổi cơn điên chạy khỏa thân. Thật may, Jenn không bị tống giam (sau này thì có, vì tội làm chập động cơ xe tải của đội trưởng đội cứu hộ bằng cách nhét cua sống dưới nắp máy).
Trong những phút yên ả, Jenn và Billy nói chuyện về các con sóng lớn và sách vở. Jenn tôn sùng thơ Beat và cô định học ngành sáng tác ở trường Viết thơ Thoát xác Jack Kerouac, ấy là nếu có lúc nào đó cô muốn đi học lại và lấy một tấm bằng. Sau đó, cô đọc được cuốn sách It’s Not About a Bike (Không chỉ là chiếc xe đạp) của Lance Armstrong và phải lòng với một dòng thơ kiểu chiến binh mới.
Cô nhận ra rằng Lance không phải chỉ là một gã cục súc trên xe đạp; anh là một triết gia, một Beat thế hệ sau, một Dharma Bum (“Phật tử lang thang”) căng buồm lướt trên biển đường nhựa để tìm kiếm cảm xúc và Trải nghiệm Tinh túy. Cô biết Armstrong từng chiến thắng căn bệnh ung thư, nhưng không biết anh đã cận kề với cái chết đến mức nào. Lúc Armstrong được phẫu thuật, các khối u đã lan ra khắp não, phổi, và tinh hoàn. Sau khi điều trị hoá trị liệu, anh yếu tới mức không đi bộ nổi, nhưng lại phải đưa ra một quyết định khẩn cấp: nhận khoản bảo hiểm trị giá 1,5 triệu đô-la hay từ chối nó và xây dựng lại chính mình thành một vận động viên sức bền? Nhận tiền, và anh ta sẽ chẳng phải lo lắng gì cho đến cuối đời. Từ chối khoản tiền và căn bệnh tái phát, anh sẽ tiêu đời; anh sẽ chẳng có tiền, không có bảo hiểm y tế, và chẳng sống nổi đến tuổi 30.
“Quên mẹ trò lướt sóng đi!” Billy thốt lên. Cậu ta nhận ra, lựa chọn cuộc sống nhiều rủi ro không phải vì thích sự nguy hiểm. Đó là vì sự tò mò; kiểu tò mò táo bạo, giống như cách mà Lance đã làm khi bị coi là phế nhân và vẫn quyết định thử xem liệu mình có thể xây dựng từ một cơ thể tàn lụi thành một cỗ máy đánh bại cả thế giới. Cách mà Kerouac đã làm, khi quyết định đi theo một con đường và sau đó viết về nó theo từng cơn điên dại, bất cần và nghĩ sẽ chẳng bao giờ in nổi. Nhìn nhận vấn đề theo cách đó, Jenn và Billy có thể lần ra mối liên hệ trực tiếp từ một nhà thơ phong cách Beat tới nhà vô địch xe đạp đua, xuống tới một cặp đôi cứu hộ bờ biển Virginia suốt ngày nốc bia Pabst Blue Ribbon. Chẳng ai trông đợi họ làm nên trò trống gì, nên họ có thể thử làm bất cứ điều gì. Tính bạo gan đang vẫy gọi.
“Em đã bao giờ nghe nói đến Mountain Masochist3 chưa?” Billy hỏi Jenn.
3 Kẻ khổ dâm trên núi (ND)
“Chưa. Đó là ai vậy?”
“Đó là một cuộc đua, đầu đất ạ. 50 dặm trên núi.”
Họ đều chưa từng chạy một giải marathon nào bao giờ. Họ sống ở bãi biển suốt từ nhỏ đến giờ, hầu như chưa từng nhìn thấy núi, chứ đừng nói đến chuyện chạy trên đó. Họ cũng chẳng thể tập luyện nghiêm túc được, vì thứ cao nhất quanh bờ biển Virginia chỉ là một đụn cát. Đối với họ, 50 dặm trên núi là hoàn toàn quá sức.
“Vụ này được đấy!” Jenn nói. “Em sẽ chơi.”
Họ thực sự cần sự trợ giúp, vì vậy, Jenn lại tìm kiếm ở chỗ mà cô vẫn tìm khi cần được chỉ dẫn. Như thường lệ, mấy kẻ nghiện rượu và hút sách mà cô yêu thích luôn là cứu tinh kịp thời. Đầu tiên, cô và Billy nghiên cứu cuốn The Dharma Bums (Phật tử lang thang) và bắt đầu ghi nhớ miêu tả của Jack Kerouac về chuyến đi trên dãy núi Cascadia.
“Hãy thử thiền định trên đường mòn, cứ đi và nhìn xuống lối mòn dưới chân bạn, đừng nhìn quanh và rơi vào trạng thái thôi miên khi mặt đất lướt qua phía dưới.” Kerouac viết. “Những con đường mòn là như vậy: bạn trôi qua nó trong một thiên đường kiểu Arden Shakespeare và trông đợi được nhìn thấy những nàng tiên rừng, những chàng tiên thổi sáo, rồi bất chợt, bạn cố gắng vùng vẫy giữa một mặt trời địa ngục sục sôi trong bụi đất, với những cây tầm ma và cây sồi độc… y như ngoài đời vậy.”
“Toàn bộ cách tiếp cận với chạy đường mòn của chúng tôi đều bắt nguồn từ cuốn sách ấy.” Billy sau này kể lại với tôi. Còn về cảm hứng, thì họ lấy từ Charles Bukowski: “Nếu bạn định thử, thì hãy làm hết sức.” Theo Barfly (Kẻ lang thang quán rượu). “Không có cảm xúc nào khác giống được như thế. / chỉ còn có bạn và các vị thần / và những bóng đêm sẽ bùng cháy… bạn sẽ lướt trên cuộc đời thẳng tới / nụ cười hoàn hảo, đó là / cuộc chiến duy nhất xứng đáng.”
Chẳng bao lâu sau, dân lướt sóng để ý thấy nhiều chuyện kỳ cục vào các buổi tối khi Mặt trời lặn trên Đại Tây Dương. Những lời tụng kinh vang vọng khắp các đụn cát – “Ảo mộộộộnnngggg! Điềềềmmmm báo! Ảảảảoooo giácccc!” – sau đó, một quái vật bốn chân nửa người nửa thú sẽ xuất hiện, nhảy nhót, hú hét. Khi nó tới gần, họ có thể nhận ra đó thực ra là hai người, chạy sóng vai nhau. Một cô gái trẻ mảnh mai với chiếc khăn quấn “Gay Pride” trên đầu và một con dơi hút máu xăm trên cánh tay, còn người kia, thì họ chỉ có thể đoán, là một võ sĩ người sói dưới ánh trăng.
Trước khi bắt đầu buổi chạy tối, Jenn và Billy nhét băng ghi âm Allen Ginsberg đọc tập thơ Howl (Tiếng hú) vào máy Walkman. Họ thống nhất với nhau là khi nào chạy bộ không còn hào hứng bằng lướt sóng nữa, thì họ sẽ từ bỏ. Vì vậy, để có được cảm giác lướt đi và dâng trào như khi lướt sóng, cảm giác như được nâng lên và cuốn theo, họ chạy theo nhịp của những vần thơ Beat.
“Những phép màu! Ngất ngây! Trôi theo dòng sông nước Mỹ!” Họ hò hét trong khi chạy dọc theo mép nước.
“Những tình yêu mới! Thế hệ điên khùng! Lăn xuống theo những tảng đá của thời gian!”
Tại giải Old Dominion 100 vài tháng sau đó, các tình nguyện viên tại trạm tiếp tế ở giữa chặng đường nghe thấy tiếng hét vọng qua những cánh rừng. Chỉ lát sau, một cô gái tóc tết bím chạy ào ra khỏi những rặng cây. Cô lộn nhào trồng cây chuối, rồi đứng lên trở lại và bắt đầu đấm bốc với khoảng không.
“Mày chỉ có vậy thôi sao, Old Dominion?” Cô hét lên khi tung các nắm đấm vào không khí. Là thành viên duy nhất trong đội hỗ trợ của Jenn, chàng Billy đứng đợi cùng đồ ăn ưa thích của cô: nước ngọt có ga Mountain Dew và bánh pizza pho mát. Jenn ngừng nhảy nhót, tiến vào và bắt đầu chén một lát pizza.
Các tình nguyện viên tại trạm tiếp tế trợn tròn mắt. “Cưng ơi!” Một trong số họ cảnh báo. “Em nên chạy chậm bớt đi. Chưa tới 20 dặm cuối thì chưa tính là đã chạy được nửa của 100 dặm đâu.”
“Được rồi!” Jenn nói. Sau đó, cô lau cái miệng đầy mỡ bằng chiếc áo lót thể thao, ợ lên một hơi Mountain Dew và chạy khỏi đó.
“Cậu phải bảo cô ta chạy chậm bớt đi.” Một trong những tình nguyện viên tại trạm tiếp tế nói với Billy. “Cô ấy đang chạy nhanh hơn kỷ lục của giải những ba giờ đấy.” Vượt qua 100 dặm trên núi không giống chạy giải marathon trong thành phố; nếu gặp vấn đề gì trong bóng tối, thì phải may mắn lắm bạn mới quay trở ra được.
Billy nhún vai. Sau một năm lãng mạn với Jenn, cậu ta đã hiểu được rằng cô có khả năng làm bất cứ điều gì, ngoại trừ giảm tốc độ. Ngay cả khi cô muốn kiểm soát bản thân, thì bất kỳ điều gì đang trào dâng trong cô – tình cảm, cảm hứng, cơn bực bội hay niềm vui – cũng sẽ tuôn chảy ra ngoài. Dù sao đi nữa, đây cũng là cô gái đã tham gia đội bóng bầu dục của UNC và lập ra một kỷ lục mà trước đó vẫn được coi là không thể đạt được trong suốt chiều dài lịch sử 170 năm của môn thể thao này: Quá quậy trong các Bữa tiệc Bóng bầu dục. “Cô ấy điên cuồng tới mức, đám con trai trong đội bóng nam phải vật ngã cô và khiêng về phòng.” Jessie Polini, bạn thân nhất của cô ở UNC kể. Jenn luôn luôn lao hết tốc lực, và chỉ nghĩ cách đối phó với những bức tường đá sau khi va phải chúng.
Lần này, bức tường đá trở lại để báo thù tại mốc 75 dặm. Lúc đó là sáu giờ tối. Mặt trời đã lặn từ khi Jenn bắt đầu chạy vào khoảng năm giờ sáng, và cô còn cả một cuộc marathon phía trước. Lần này, khi lết vào trạm tiếp tế, Jenn không còn biểu diễn quyền anh với khoảng không nữa. Cô đứng trước bàn để đồ ăn, ngẩn người vì mỏi mệt, mệt đến mức không ăn nổi và đầu óc đã quá mụ mị để quyết định xem nên làm gì khác. Cô chỉ biết một điều duy nhất, là nếu ngồi xuống, cô sẽ không thể đứng lên được nữa.
“Đi thôi nào!” Ai đó la lên.
Billy vừa tới nơi và bắt đầu cởi áo khoác. Bên trong, cậu ta mặc quần đùi lướt ván và một chiếc áo phông hình ban nhạc rock, với tay áo đã bị xé bỏ. Một số vận động viên marathon cảm thấy hứng khởi khi có một người bạn chạy dẫn tốc độ giúp họ trong khoảng hai, ba dặm cuối; còn Billy thì đang nhảy vào chơi nguyên một cự ly marathon. Jenn cảm thấy phấn chấn. Gã Đầu Đất này. Đáng mặt lắm!
“Em ăn thêm một ít pizza nhé?” Billy hỏi.
“Ui, chịu thôi!”
“Cũng được. Sẵn sàng chưa?”
“Chơi luôn.”
Hai người bọn họ lại chạy xuống đường mòn. Jenn chạy trong im lặng, vẫn cảm thấy rất tệ hại và đấu tranh tư tưởng với ý muốn quay về trạm tiếp tế và bỏ cuộc. Billy đi cùng và hỗ trợ cô bằng cách ở kề bên. Jenn vật vã qua một dặm, thêm một dặm nữa, và rồi điều kỳ lạ bắt đầu xuất hiện: nỗi tuyệt vọng của cô nhường chỗ cho sự hãnh diện, bởi cảm giác rằng thật tuyệt biết bao khi lang thang trong chốn hoang vu diệu kỳ này, dưới ánh hoàng hôn thiêu đốt, cảm thấy tự do và trần trụi, thấy mình đang lướt nhanh, những cơn gió nhẹ trong rừng giúp làn da đẫm mồ hôi trở nên mát mẻ.
Tới 10 giờ 30 phút đêm đó, Jenn và Billy đã vượt qua tất cả các vận động viên khác trong rừng, trừ một người duy nhất. Jenn không chỉ về đích; cô đã về đích thứ nhì chung cuộc, và là nữ vận động viên chạy giải này nhanh nhất, phá vỡ kỷ lục cũ với ba giờ cách biệt (tới ngày hôm nay, kỷ lục 17 giờ 34 phút của cô vẫn được giữ nguyên). Khi bảng xếp hạng toàn quốc được công bố vài tháng sau đó, Jenn phát hiện ra cô nằm trong ba vận động viên chạy 100 dặm hàng đầu nước Mỹ. Và chẳng lâu sau đó, cô đạt kỷ lục thế giới: thành tích 14 giờ 57 phút tại giải Rocky Raccoon 100 vẫn là thành tích tốt nhất trên đường mòn nền đất cự ly 100 dặm của vận động viên nữ trên toàn thế giới.
Mùa thu năm đó, một bức ảnh xuất hiện trên tạp chí UltraRunning. Bức ảnh có hình Jenn hoàn thành một cuộc đua 30 dặm đâu đó trong một khu rừng xa xăm ở bang Virginia. Không có gì ngạc nhiên trong thành tích của cô ở giải này (về đích thứ ba) hay quần áo của cô (quần ngắn màu đen, áo lót thể thao màu đen đơn giản), hoặc tính nghệ thuật của bức ảnh (thiếu sáng, và bị cắt xén thô bạo). Jenn chẳng phải đang chiến đấu đến một kết cục cay đắng, hay sải chân trên đỉnh núi với hàm răng nghiến chặt như một người mẫu của Nike, hoặc cố gắng vươn tới vinh quang với vẻ mặt nhăn nhó thể hiện quyết tâm đến nghẹt thở. Tất cả những gì cô đang làm là… chạy. Chạy, và mỉm cười.
Nhưng nụ cười đó lại gây xúc động lạ thường. Bạn có thể nhận ra ngay rằng cô đang bùng nổ hết cỡ, như thể cô chẳng muốn làm bất kỳ điều gì khác trên đời hơn là việc đang làm ngay lúc ấy, ở nơi đây, trên một đường mòn bị quên lãng giữa vùng Appalachian hoang dã. Mặc dù chỉ chạy dài hơn bốn dặm so với một cuộc marathon, cô trông vẫn nhanh nhẹn và vô lo, với cặp mắt lấp láy, mái tóc đuôi ngựa đung đưa quanh đầu như tấm áo tung bay trên tay một cầu thủ bóng đá Brazil đang ăn mừng thắng lợi. Niềm vui sướng mộc mạc của cô là thứ hiển hiện; nó toát ra từ nụ cười trên môi, thật thà và không chút è dè, đến mức như thấy cô đang đắm chìm cảm hứng nghệ thuật vậy.
Có thể đúng là như vậy. Mỗi khi một hình thức nghệ thuật nào đó mất đi ngọn lửa, khi nó bị suy yếu bởi sự pha tạp của tri thức và những nguyên tắc căn bản mờ dần thành truyền thống cũ rích, thì lại có một nhóm nổi loạn cấp tiến nào đó thổi bùng nó lên và xây dựng lại từ đống đổ nát. Những vận động viên chạy bộ siêu dài thuộc thế hệ Những Tay Súng Trẻ giống như những nhà văn trong Thế hệ Bỏ đi vào những năm 20, các nhà thơ Beat những năm 50, và các nhạc sĩ dòng nhạc rock vào những năm 60: họ nghèo khó và bị lờ đi, và không bị vướng bận bởi những kỳ vọng hay kìm hãm. Họ là những họa sĩ vẽ trên cơ thể, chơi đùa với những bảng màu là sức chịu đựng của con người.
“Vậy tại sao không phải là các cuộc đua marathon?” Tôi hỏi Jenn trong một cuộc điện thoại để phỏng vấn cô về thế hệ Những Tay Súng Trẻ. “Cô có nghĩ mình vượt qua được vòng tuyển chọn Olympic?”
“Cái anh này, thật là…” Cô nói. “Thời gian đạt tiêu chuẩn là 2 giờ 48 phút. Ai mà chả làm được.” Jenn có thể chạy một cuộc marathon dưới ba giờ trong bộ bikini buộc dây, nốc một vại bia ở dặm thứ 23 – và sẵn sàng làm được như vậy, chỉ năm ngày sau khi hoàn thành cuộc đua 50 dặm đường mòn ở dãy núi Blue Ridge.
“Nhưng sau đó thì sao?” Jenn tiếp. “Tôi ghét cách người ta cường điệu hóa marathon. Có gì bí hiểm đâu nhỉ? Tôi biết một cô gái tập luyện cho đợt tuyển chọn và cô ta lập kế hoạch từng bài tập cho tận ba năm liền! Cô ta tập tốc độ trên đường chạy sân vận động gần như hai ngày một lần. Tôi không làm nổi. Có lần, đáng nhẽ phải chạy cùng cô ta vào lúc sáu giờ sáng, tôi đã gọi cho cô ta lúc hai giờ đêm để nói rằng tôi đang say bét vì uống margarita, và chắc là không đến được.”
Jenn chẳng có huấn luyện viên hay chương trình tập luyện; cô thậm chí còn chẳng có nổi một cái đồng hồ. Cô chỉ bò ra khỏi giường vào mỗi sáng, xực một chiếc bánh kẹp chay, và sau đó chạy xa đến đâu và nhanh tới mức nào tùy thích, mà thông thường là khoảng 20 dặm. Sau đó cô sẽ nhảy lên ván trượt pa-tanh thay vì mua vé đỗ xe tháng, và trượt ván tới lớp ở Old Dominion, nơi cô mới quay lại để tiếp tục học và liên tục đạt điểm A.
“Tôi thực ra chẳng bao giờ nói chuyện này với ai, vì nghe có vẻ vờ vịt, nhưng tôi đã bắt đầu chạy siêu dài để trở thành một con người tốt hơn trước.” Jenn nói với tôi. “Tôi đã nghĩ, nếu có thể chạy được 100 dặm, bạn sẽ ở trạng thái thiền định. Bạn sẽ trở thành Phật, mang lại hòa bình và nụ cười đến cho thế giới. Có vẻ không đúng với trường hợp của tôi – tôi vẫn là cái đồ quậy phá như trước – nhưng vẫn hy vọng nó có thể làm con người trở nên tốt đẹp hơn, hiền hòa hơn.
“Khi tôi chạy đường dài,” cô nói tiếp, “lúc đó, điều quan trọng duy nhất trên đời là hoàn thành cuộc chạy. Chỉ có lúc ấy, đầu tôi mới không phát hỏa. Mọi thứ trở nên tĩnh lặng, và tôi như đang thuần túy trôi đi. Chỉ có tôi với từng cử động và chuyển động. Tôi yêu thích điều đó – trở thành giống người man rợ, chạy xuyên qua rừng.”
Nghe Jenn nói, tôi cảm tưởng như đang nói chuyện với bóng ma của Caballo Blanco. “Cô nói chuyện giống một gã tôi gặp ở Mexico đến lạ lùng.” Tôi bảo. “Vài tuần nữa, tôi sẽ xuống đó để tham dự một cuộc đua của anh ta với người Tarahumara.”
“Không thể nào!”
“Scott Jurek có thể cũng đến nữa.”
“Anh… đang… đùa tôi!” Cô Phật nhỏ gào lên. “Thật sao? Tôi với bạn tôi tham gia được không? Ôi, không. Chết tiệt! Chúng tôi phải thi giữa kỳ vào tuần đó. Tôi phải bàn với bạn tôi ngay mới được. Cho tôi đến mai để trả lời nhé, được chứ?”
Sáng hôm sau, như đã hứa hẹn, Jenn gửi tôi một tin nhắn:
Mẹ tôi nghĩ anh là một kẻ giết người hàng loạt, và sẽ giết chúng tôi trong sa mạc. Cũng đáng để liều đấy. Vậy, chúng tôi sẽ gặp các anh ở đâu?