Sinh Ra Để Chạy - Christopher McDougall - Chương 7
May thay, tôi đứng gần cửa hơn.
“Này! Ờ…, anh có biết Ángel không?” Tôi lắp bắp khi bước ra đứng chắn giữa Caballo và lối thoát duy nhất của anh ta. “Thầy giáo ở ngôi trường của người Tarahumara? Còn Esidro ở Huisichi? Và, ừm… Luna, Miguel Luna…” Tôi liên tục bắn ra những cái tên, hy vọng anh sẽ nhận ra cái tên nào đó trước khi huých tôi văng vào tường và chạy trốn lên những ngọn đồi phía sau khách sạn. “… À, không phải, là Manuel. Không phải Miguel Luna. Là Manuel. Con anh ta nói rằng anh ta và anh là bạn. Marcelino? Anh biết Marcelino chứ?”
Nhưng tôi càng nói, thì anh càng cau có, cho tới khi trông như muốn đe dọa. Tôi lập tức ngậm miệng. Tôi đã có bài học sau thất bại ở khu nhà của Quimare; có thể anh sẽ dịu bớt nếu tôi giữ im lặng và cho anh cơ hội để đánh giá tôi. Tôi đứng yên trong khi anh ta nheo mắt nhìn tôi dưới viền chiếc mũ rơm của nông dân Mexico, tỏ vẻ nghi ngại và khinh miệt.
“Ờ!” Anh làu bàu. “Manuel là một người bạn. Còn anh thì là thằng quái nào?”
Vì không chắc điều gì đã khiến anh trở thành kẻ bất kham như vậy, nên tôi bắt đầu trình bày rằng tôi không phải là những ai. Tôi bảo mình không phải cảnh sát hay nhân viên Cục Phòng chống Ma túy. Tôi chỉ là một nhà văn và một người chạy bộ dính chấn thương, muốn học hỏi bí quyết của người Tarahumara. Nếu anh là một kẻ đang lẩn trốn, thì đó là việc của anh. Có chăng, điều đó chỉ làm tăng tính tin cậy trong câu chuyện về anh ta mà thôi: bất kỳ ai có thể trốn tránh luật pháp trong suốt chừng ấy năm mà không có bất kỳ phương tiện lẩn trốn nào ngoại trừ đôi chân mình, thì ắt hẳn đã phải học theo người Rarámuri. Tôi có thể bỏ qua các nghĩa vụ của mình với luật pháp đủ lâu để nghe hết câu chuyện lẩn trốn độc nhất trên đời ấy.
Vẻ cau có của Caballo chẳng hề giảm – nhưng anh cũng không cố tránh tôi để đi ra. Mãi sau đó, tôi mới phát hiện ra rằng mình đã vô cùng may mắn chạm trán anh ở một thời điểm lạ kỳ trong cuộc đời kỳ lạ của anh: theo cách của riêng mình, Caballo Blanco cũng đang đi tìm tôi.
“Được rồi, ông bạn!” Anh nói. “Nhưng giờ tôi phải đi kiếm ít đậu đã.”
Anh ta dẫn tôi ra khỏi khách sạn và đi dọc xuống một ngõ hẻm bụi bặm, tới một cánh cửa nhỏ không có biển hiệu gì hết. Chúng tôi bước qua một cậu bé đang chơi với chú mèo con trên bậu cửa và vào một phòng khách nhỏ. Một người phụ nữ lớn tuổi ngước nhìn lên từ một chiếc bếp ga cũ kỹ trong hốc tường kề đó, bà đang khuấy một nồi đậu hầm thơm ngào ngạt.
“Hola, Caballo!” Bà cất tiếng chào.
“¿Cómo está, Mamá?” Caballo đáp lời. Chúng tôi ngồi bên một chiếc bàn gỗ ọp ẹp trong phòng khách. Anh kể mình có “mamá” ở khắp thung lũng, đó là các bà già sẵn lòng cho anh ăn đậu và bánh ngô với giá chỉ vài xu giữa các cuộc chạy lang thang.
Mặc dù Mamá có vẻ bình thản, nhưng tôi có thể hiểu tại sao người Tarahumara lại kinh hãi khi Caballo xuất hiện lần đầu và phóng qua các cánh rừng của họ. Kỳ tích chạy bền không tưởng dưới ánh mặt trời không khoan nhượng đã biến Caballo thành một kẻ hoang dã. Anh cao trên một mét tám, nước da vốn sáng màu nhưng đã bị nắng gió tô vẽ loang lổ thành các sắc khác nhau, từ màu hồng trên mũi cho đến màu hạt dẻ dưới cổ. Với chân tay dài và cơ bắp săn gọn, anh trông như một bộ xương quái thú; quẳng Kẻ hủy diệt vào vạc axit, thì ta sẽ có Caballo bò ra.
Ánh nắng chói chang trên sa mạc làm mắt anh thường xuyên nheo lại, khiến gương mặt anh chỉ có hai trạng thái biểu cảm: hoài nghi hoặc thích thú. Dù nói bất kỳ điều gì trong phần còn lại của buổi tối hôm đó, thì tôi cũng không thể biết anh nghĩ tôi hài hước hay toàn nói nhăng nói cuội. Một khi Caballo chú ý đến bạn, anh thực sự rất chú tâm; anh chăm chú nghe như người thợ săn đang theo dấu con mồi, như thể cố gắng đọc ra điều gì từ chính giọng bạn chứ không phải chỉ từ lời lẽ bạn đang nói. Mặc dầu vậy, kỳ lạ là khả năng nghe giọng địa phương của anh vẫn dở tệ hại – sau hơn một thập kỷ ở Mexico, tiếng Tây Ban Nha của anh vẫn bập bẹ như đang phát âm từ thẻ tập đọc.
“Tôi bực anh vì…” Caballo bắt đầu nói, nhưng đột nhiên dừng lại, mắt lồi lên vẻ đói khát, khi thấy Mamá đặt mấy cái bát lớn trước mặt chúng tôi và loay hoay thêm vào đó rau mùi, ớt xanh jalapeños và vài vắt chanh. Cái nhìn hầm hè mà anh tặng tôi lúc ở khách sạn không phải vì tôi đang đứng chắn giữa anh và tự do; mà là vì tôi đang chắn giữa anh và đồ ăn. Sáng hôm đó, Caballo định thực hiện một chuyến leo núi ngắn tới hồ nước nóng tự nhiên trong rừng, nhưng ngay khi nhìn thấy một vệt đường mòn xuyên qua rặng cây mà trước đây anh chưa từng thấy, thì vụ leo núi và hồ nước nóng lập tức bị lãng quên. Anh bắt đầu chạy, và chạy mãi nhiều giờ sau đó. Anh đụng một quả núi, nhưng thay vì quay lại, anh lại gò lưng leo lên độ cao gần một cây số, tương đương với việc leo lên đỉnh tòa nhà Empire State hai lần liền. Cuối cùng, anh cũng tới được lối quay về Creel, và buổi ngâm mình thư giãn trong nước nóng đã biến thành một cuộc chạy marathon đường mòn gian khổ. Lúc bị tôi tóm trong khách sạn, anh chưa ăn chút gì từ lúc Mặt trời mọc và sắp lả đi vì đói.
“Tôi luôn bị lạc và phải trèo dốc dựng đứng, với chai nước cắn giữa hai hàm răng, và lũ chim ó lượn vòng trên đầu.” Anh nói. “Thật tuyệt.” Một trong những điều đầu tiên và quan trọng nhất mà anh học được từ người Tarahumara là khả năng vọt chạy đi bất kỳ lúc nào, giống như việc con sói sẽ làm khi đánh hơi được một con thỏ. Đối với Caballo, chạy bộ đã trở thành cách di chuyển ưu tiên số một, như dân ngoại thành lái ô tô; đến bất kỳ nơi nào, anh cũng bước đi với tâm trạng phấn chấn, lên đường và mang theo rất ít đồ đạc, như những thợ săn thời Đá mới và chẳng quan tâm đến chuyện sẽ đi tới điểm nào hoặc xa tới tận đâu.
“Nhìn này!” Anh nói, chỉ tay vào cái quần leo núi cũ mèm và đôi xăng đan Teva đáng vứt vào thùng rác từ lâu. “Tôi chỉ ăn mặc như vậy thôi, và tôi luôn luôn mặc như vậy đó.”
Anh ngừng lại, xúc món đậu cay đổ vào miệng, và nhồi đám thức ăn đó xuống bằng cách tu một hơi dài từ chai Tecate. Caballo đánh sạch một bát và được Mamá tiếp thêm nhanh tới mức anh chẳng chậm lại một nhịp, đưa tay từ bát, lên miệng, tới chai bia với hiệu suất tối ưu, như thể bữa tối này không phải là điểm kết thúc của một buổi tập dài, mà là phần tập luyện tiếp theo vậy. Âm thanh mà anh phát ra từ phía bên kia bàn nghe như tiếng bơm xăng vào bình xăng xe: xúc, nhồm nhoàm, nhồm nhoàm, ừng ực, xúc, nhồm nhoàm, nhồm nhoàm, ừng ực…
Thỉnh thoảng, anh lại ngẩng đầu lên và kể tiếp một đoạn ngắn theo mạch câu chuyện, sau đó lại cắm đầu vào bát. “Đúng rồi, anh bạn, tôi từng là võ sĩ, hạng năm trên thế giới.” Rồi lại quay lại với cái thìa. “Anh làm tôi nổi cáu vì thình lình từ đâu chui ra. Ở đây có đủ các vụ bắt cóc và giết người. Toàn những vụ bẩn thỉu dính đến ma túy. Một người quen của tôi bị bắt cóc, vợ anh ta trả một khoản tiền chuộc lớn, song anh ta vẫn bị giết. Tởm lắm. May là tôi chẳng có gì hết. Tôi chỉ là gã lạ mặt lang thang, chạy bộ cùng người Rarámuri khiêm nhường.”
“Xin lỗi!” Tôi định mở lời, nhưng thấy anh đã cắm mặt vào món đậu.
Tôi chưa muốn làm Caballo khó chịu với những câu hỏi, dù nghe anh kể chuyện chẳng khác nào đi xem một bộ phim nghệ thuật tua nhanh; những tổn thương, những chuyện đùa, ảo tưởng, những hồi tưởng, hận thù, tội lỗi từ những hận thù đó, những mảnh tri thức cổ xưa luôn ám ảnh – tất cả đều tuôn ra vừa mờ ảo vừa chóng vánh khó mà nắm bắt hết được. Anh kể một câu chuyện, rồi lại nhảy sang câu chuyện khác, rồi bỏ qua và chuyển sang câu chuyện thứ ba, quay trở lại để sửa một chi tiết trong câu chuyện thứ nhất, phàn nàn về một gã trong câu chuyện thứ hai, rồi lại xin lỗi vì đã phàn nàn về gã kia bởi vì, gã đã dành cả cuộc đời mình để kiểm soát cơn giận dữ, và đó lại là cả một câu chuyện khác…
Tên anh là Micah True, theo lời anh kể, đến từ bang Colorado. À, mà thực ra là California. Và nếu như tôi thực sự muốn hiểu được người Rarámuri, tôi đáng nhẽ phải có mặt ở đây khi một ông già 95 tuổi leo 25 dặm qua một ngọn núi. Biết tại sao ông ấy có thể làm được điều đó không? Vì chẳng ai từng nói là ông không thể làm được. Chưa từng ai nói với ông rằng ông nên chờ chết trong một trại dưỡng lão. Anh bạn ạ, hãy sống như chính mình mong đợi. Giống như lúc anh tự đặt tên mình theo con chó cưng. Cái tên “True” thực ra bắt nguồn từ đó, tên con chó già của anh. Anh chẳng bao giờ xứng với con chó già ngoan ngoãn tên True, nhưng đó cũng lại là một câu chuyện khác…
Tôi chờ đợi, cào cào móng tay lên nhãn chai bia, và băn khoăn liệu anh có lúc nào dịu bớt xuống để tôi kịp hiểu anh đang nói gì. Dần dần, tay thìa của Caballo cũng chậm lại và dừng hẳn. Anh tu hết chai bia Tecate thứ hai và ngồi ngả ra, thỏa mãn.
“Guadajuko!” Anh cười nhe răng và nói. “Từ đó đáng để học đấy. Theo tiếng Rarámuri, nó nghĩa là ‘ngầu’.”
Tôi đẩy tiếp chai Tecate thứ ba sang phía bên kia bàn. Anh nheo mắt nhìn vẻ nghi ngại, như dưới ánh mặt trời chói chang vậy. “Tôi không chắc đâu!” Anh đáp. “Cả ngày đã chẳng ăn gì rồi. Tôi không bền sức được như người Rarámuri đâu.”
Nhưng anh cầm chai bia lên rồi nhấp một ngụm. Leo trèo khát khô cả ngày lên đỉnh núi cao vút. Anh tu ừng ực một hơi dài, rồi ngả người thư giãn trên ghế, gác chân lên và đan tay trước cái bụng phẳng lì của mình. Có điều gì đó vừa lóe lên trong đầu anh; tôi có thể cảm nhận được trước khi anh tiếp tục nói. Có vẻ như anh cần nốt chỗ bia cuối cùng để thả lỏng, hoặc cần phải xả nốt chút cảnh giác cuối cùng trước khi đi vào câu chuyện chính.
Vì khi Caballo mở miệng lần này, tôi như bị mê hoặc. Anh nói chuyện đến tận khuya, kể một câu chuyện kinh ngạc trải suốt 10 năm từ khi anh biến mất khỏi thế giới bên ngoài, trong đó có bao nhiêu nhân vật kỳ dị, những chuyến phiêu lưu sửng sốt, và những trận so găng quyết liệt. Và, ở cuối câu chuyện đó, là một kế hoạch. Một kế hoạch táo bạo.
Một kế hoạch, mà tôi dần dần nhận ra, là có cả tôi trong đó.