Thư viện Online
  • Trang chủ
  • Sách mới cập nhật
  • Trang chủ
  • Sách mới cập nhật

Bàn Cờ Lớn - Zbigniew Brzezinski - Chương 1.2

  1. Home
  2. Bàn Cờ Lớn - Zbigniew Brzezinski
  3. Chương 1.2 - Một định nghĩa mới về bá quyền
Prev
Next

CƯỜNG QUỐC THẾ GIỚI ĐẦU TIÊN

Sự sụp đổ của đối thủ đã đưa Hoa Kỳ lên vị trí độc tôn, đồng thời thực sự trở thành cường quốc ở tầm vóc thế giới đầu tiên và duy nhất. Chưa dừng lại đó, vị thế thống trị toàn cầu của Mỹ trên một vài phương diện làm liên tưởng đến các đế chế trước đây, tuy phạm vi khu vực của chúng hạn chế hơn. Quyền lực của những đế chế này dựa trên hệ thống phân cấp các nước chư hầu, triều cống, bảo hộ và thuộc địa, những nước bề ngoài được xem là kém văn minh hơn. Ở một mức độ nào đó, thuật ngữ lỗi thời này không hẳn không phù hợp với một số quốc gia hiện đang trong vòng ảnh hưởng của Mỹ. Như trong quá khứ, việc thể hiện sức mạnh “đế quốc” của Mỹ phần lớn bắt nguồn từ sự tổ chức vượt trội, từ khả năng huy động kịp thời các nguồn lực kinh tế và kỹ thuật to lớn cho các mục đích quân sự, từ sự hấp dẫn văn hóa của lối sống Mỹ, dù không nói rõ ràng nhưng gây chú ý, từ sự năng động không giới hạn và năng lực cạnh tranh vốn có của giới tinh hoa chính trị xã hội Mỹ.

Các đế chế trước đó cũng có phần nào các đặc tính này. La Mã là nước đầu tiên. Đế chế La Mã được thành lập trong khoảng hơn hai thế kỷ rưỡi thông qua việc mở rộng lãnh thổ bền vững về phía bắc và sau đó về cả phía tây và đông nam, cũng như thông qua việc khẳng định quyền kiểm soát hàng hải trên toàn bộ bờ biển Địa Trung Hải. Trong phạm vi địa lý, nó đạt đến đỉnh cao vào khoảng năm 211 (xem bản đồ ở trang 32). Đế chế La Mã là một chính thể tập quyền, với nền kinh tế tự cung tự cấp đơn nhất. Quyền lực đế chế được thực thi có chủ ý và chủ đích thông qua một hệ thống tổ chức chính trị và kinh tế phức tạp. Một hệ thống đường bộ và đường biển được thiết kế theo chiến lược, xuất phát từ thủ đô, cho phép tái triển khai hay tập trung nhanh chóng các quân đoàn La Mã đóng quân tại nhiều nước chư hầu và các tỉnh lỵ triều cống trong trường hợp an ninh bị đe dọa.

Ở đỉnh cao của đế chế, các quân đoàn La Mã được triển khai ở nước ngoài có không dưới ba trăm ngàn người, một lực lượng ấn tượng, ngày càng trở nên nguy hiểm hơn nhờ vượt trội về chiến thuật và vũ khí cũng như khả năng chỉ đạo tái triển khai tương đối nhanh chóng của trung ương. (Điều đáng chú ý là vào năm 1996, cường quốc tối cao vô cùng đông dân, Mỹ, đang bảo vệ những vùng bên ngoài chịu ách thống trị của nó bằng cách đưa 296.000 binh sĩ chuyên nghiệp đóng quân ở hải ngoại.)

Tuy nhiên, uy lực của Đế chế La Mã cũng bắt nguồn từ một thực tại tâm lý không kém phần quan trọng. Civis Romanus sum – “Tôi là công dân La Mã” – là định nghĩa bản thân cao quý nhất, một niềm tự hào, và là khát vọng đối với nhiều người lúc bấy giờ. Dần được trao cho cả những người không phải người La Mã, địa vị công dân La Mã cao quý là biểu thị sự vượt trội về văn hóa, cái khẳng định sứ mệnh của uy quyền đế quốc. Nó không chỉ hợp pháp hóa quyền thống trị của La Mã, mà còn khiến cho những nước lệ thuộc nó mong muốn được đồng hóa và hòa nhập vào cấu trúc đế quốc. Sự ưu việt về văn hóa, được xem là do những người cai trị ban cho và được bên chịu khuất phục thừa nhận, do đó củng cố thêm cho quyền lực đế quốc.

Thế lực đế quốc tối cao đó, trong phần lớn thời gian không bị ai tranh giành, kéo dài khoảng ba trăm năm. Ngoại trừ một thời kỳ khó khăn do Đế chế Carthage gần đó và Đế chế Parthia ở rìa phía đông gây ra, thế giới bên ngoài phần lớn đều thấp kém hơn, không được tổ chức tốt, chỉ có khả năng tấn công lẻ tẻ trong suốt hầu hết thời gian, sự yếu kém rõ ràng về mặt văn hóa. Chừng nào đế chế còn có thể duy trì sức mạnh và sự thống nhất bên trong thì thế giới bên ngoài không thể cạnh tranh được.

Ba nguyên nhân chính dẫn đến sự sụp đổ hoàn toàn của Đế chế La Mã. Đầu tiên, đế chế trở nên quá lớn nên một trung ương duy nhất khó có thể cai trị toàn bộ, nhưng khi chia nó thành hai nửa tây và đông thì chính là tự động phá hủy tính độc quyền của nó. Thứ hai, song song đó, sự cao ngạo đế quốc kéo dài đã khởi phát chủ nghĩa hưởng lạc ăn vào văn hóa, dần dần phá vỡ quyết tâm đạt đến sự vĩ đại của tầng lớp chính trị. Thứ ba, lạm phát kéo dài làm suy yếu khả năng tự duy trì của hệ thống không cần sự hy sinh xã hội, điều mà các công dân không còn sẵn sàng thực hiện. Suy đồi văn hóa, phân chia chính trị và lạm phát tài chính kết hợp với nhau, khiến cho La Mã dễ dàng bị tổn thương trước sự tấn công của những đội quân bên ngoài.

Theo tiêu chuẩn hiện đại, La Mã không thực sự là một cường quốc thế giới nhưng lại là một cường quốc khu vực. Tuy nhiên, vào thời điểm ý thức độc lập đang lan rộng khắp các lục địa khác nhau trên toàn cầu, uy thế khu vực của nó lại khép kín và biệt lập, không nằm sát cạnh hoặc thậm chí còn ở xa đối thủ. Do đó, Đế chế La Mã là một thế giới riêng biệt, sự ưu việt về tổ chức chính trị và văn hóa biến nó trở thành tiền thân của các hệ thống đế quốc có phạm vi địa lý thậm chí còn lớn hơn.

Mặc dù vậy, Đế chế La Mã không phải là duy nhất. Đế chế La Mã và Đế chế Trung Quốc xuất hiện gần như cùng lúc, dù không biết gì đến nhau. Đến năm 221 TCN (thời Chiến tranh Punic giữa Đế chế La Mã và Đế chế Carthage), Tần Thủy Hoàng – bấy giờ thống nhất bảy quốc gia, hình thành nên Đế chế Trung Quốc đầu tiên – đã thúc đẩy việc xây dựng Vạn lý trường thành ở phía bắc, cô lập vương quốc bên trong với thế giới man di bên ngoài. Tiếp đến, nhà Hán, thành lập năm 140 TCN, thậm chí còn có phạm vi và tổ chức hùng mạnh hơn. Tính đến khi thời đại Kitô giáo bắt đầu, không dưới 57 triệu người phải chịu uy quyền của Đế chế Trung Quốc. Con số khổng lồ vừa nêu là bằng chứng cho thấy một chính quyền cai trị trung ương vô cùng hiệu quả, thực thi thông qua một bộ máy quan liêu chuyên quyền và hà khắc. Nhà Hán cai trị một đế quốc trải dài đến tận bán đảo Triều Tiên, chiếm một phần Mông Cổ và hầu hết vùng duyên hải Trung Quốc ngày nay. Tuy nhiên, giống như La Mã, nhà Hán cũng đau đầu vì các vấn đề nội bộ, và cuối cùng nhanh chóng tan rã thành ba nhà nước độc lập vào năm 220 (thời Tam Quốc).

Lịch sử lâu đời của Trung Quốc liên quan đến chu trình tái thống nhất và bành trướng, tiếp đó là suy tàn và tan rã. Trung Quốc từng nhiều lần thiết lập thành công các hệ thống đế chế tự chủ, độc lập và không bị bất kỳ tổ chức thù địch bên ngoài nào can dự. Thế chân vạc Tam Quốc đã thay đổi hoàn toàn vào năm 589, với sự tái xuất hiện của một cái gì đó tương tự một hệ thống đế chế. Nhưng thời kỳ Trung Quốc tự khẳng định là đế chế vĩ đại nhất lại diễn ra dưới thời người Mãn cai trị, đặc biệt là vào đầu triều đại nhà Thanh. Đến thế kỷ 18, một lần nữa, Trung Quốc trở thành một đế chế thực thụ, bao quanh vùng trung tâm là các nước chư hầu và triều cống mà ngày nay là toàn bộ bán đảo Triều Tiên, các nước Đông Dương, Thái Lan, Miến Điện và Nepal. Do đó, Trung Quốc chi phối một lãnh thổ trải dài từ vùng Viễn Đông của Nga hiện nay xuống đến phía nam, băng ngang miền Nam Siberia đến tận hồ Baikal, vào lãnh thổ hiện thuộc về Kazakstan, sau đó xuống phía nam đến Ấn Độ Đương, vòng sang hướng đông ngang qua Lào và miền Bắc Việt Nam (xem bản đồ trang 36).

Cũng như trường hợp La Mã, Đế chế Trung Quốc là một tổ chức tài chính, kinh tế, giáo dục và an ninh phức tạp. Việc kiểm soát cả một vùng lãnh thổ rộng lớn với hơn 300 triệu dân sinh sống được triển khai thông qua tất cả các phương thức, trong đó đặc biệt chú trọng vào bộ máy chính trị tập quyền trung ương, được hỗ trợ bởi một hệ thống sứ giả truyền tin và chỉ dụ vô cùng hữu dụng. Toàn bộ đế chế được phân ra thành bốn khu vực, kéo dài từ Bắc Kinh và phân chia giới tuyến các khu vực để tin tức có thể đến được tương ứng trong vòng một tuần, hai tuần, ba tuần hay bốn tuần. Một bộ máy quan liêu tập quyền – được tuyển lựa qua thi cử, được đào tạo chuyên nghiệp và cạnh tranh – chính là rường cột cho một khối thống nhất.

Sự thống nhất đó được củng cố, hợp thức hóa và duy trì – một lần nữa, như trong trường hợp của La Mã – nhờ nhận thức mãnh liệt vốn đã ăn sâu vào gốc rễ về nền văn hóa ưu việt; niềm tin này nhờ có Nho giáo – một hệ thống triết lý phủ khắp đế chế, nhấn mạnh vào sự hài hòa, phân cấp và kỷ luật – mà càng in dấu ấn đậm nét và được củng cố thêm. Trung Quốc – đế chế của Thiên tử – được xem như là trung tâm của vũ trụ, những kẻ ở ngoại vi và xa hơn thế nữa chỉ được xem là man di. Là người Trung Quốc có nghĩa là có học thức, và vì lý do đó, phần thế giới còn lại có nghĩa vụ tôn kính Trung Quốc. Ý thức thống trị đặc biệt đó thấm sâu vào lối hành xử của Hoàng đế Trung Quốc khi trả lời thư của vua George III, Vương quốc Anh – ngay cả trong giai đoạn Trung Quốc đang ngày càng suy yếu vào cuối thế kỷ 18, khi mà các sứ giả Anh đã cố gắng thuyết phục Trung Quốc tham gia giao thương với nước họ và tặng kèm cho Hoàng đế của Đế quốc Trung tâm một số sản phẩm công nghiệp Anh xem như là quà thiện chí:

Chúng ta, nhờ ân sủng của Thiên tuế, Hoàng đế, chỉ thị cho Vua nước Anh phải lưu ý đến bổn phận của mình:

Thiên quốc, cai trị tất cả bốn vùng biển… không coi trọng những thứ quý hiếm… chúng ta cũng không có chút nhu cầu nào với các kỹ nghệ của đất nước ngươi…

Do đó, chúng ta… đã hạ lệnh cho sứ thần cống nạp của ngươi trở về nhà an toàn. Còn ngươi, nhà vua, chỉ cần hành động tuân theo ý muốn của chúng ta với lòng trung thành tuyệt đối và nguyện phục tùng suốt đời.

Sự suy tàn và tan rã của rất nhiều “phiên bản” Đế chế Trung Quốc chủ yếu đều đến từ căn nguyên nội bộ. Mông Cổ và sau đó là “quân man di” phương Tây thắng thế do đế chế đã kiệt quệ, suy đồi, do chủ nghĩa hưởng lạc từ bên trong, do thiệt hại về kinh tế cũng như thiếu sáng tạo quân sự đã làm hao mòn rồi nhanh chóng dẫn đến sụp đổ cả một ý chí Trung Quốc. Các cường quốc bên ngoài lợi dụng những bất ổn của nội bộ Trung Quốc-Anh trong Chiến tranh nha phiến (1839-1842), Nhật Bản một thế kỷ sau đó; điều này làm hình thành nên một thức cảm sâu sắc về một sự sỉ nhục văn hóa, cái đã thôi thúc người Trung Quốc trong suốt thế kỷ 20; cái “quốc sỉ” này gay gắt hơn tất cả do được dấy lên từ xung đột giữa ý thức văn hóa ưu việt đã ăn sâu vào tâm trí với thực tại chính trị yếu kém thời hậu kỳ đế quốc.

Giống như trường hợp của La Mã, Đế chế Trung Quốc ngày nay sẽ được xếp thành một cường quốc khu vực. Nhưng vào thời hoàng kim của mình, Trung Quốc không có đối thủ nào cùng đẳng cấp trên thế giới, có nghĩa là không có một cường quốc nào có thể thách thức vị thế đế quốc hoặc thậm chí chống lại sự bành trướng của nó nếu nó muốn. Hệ thống của Trung Quốc tự chủ, tự cường, chủ yếu dựa trên bản sắc dân tộc phổ quát được triều đình áp đặt lên các dân tộc ngoại lai và các nước triều cống lân cận, với mức độ khá là hạn chế.

Bản chất thống trị và cốt lõi của việc tự xem mình là lớn đã giúp Trung Quốc định kỳ tự khôi phục chất đế quốc của nó. Ở khía cạnh đó, Trung Quốc hoàn toàn không giống các đế chế khác, tuy nhỏ xét theo số lượng nhưng người dân lại có động lực bá chủ mạnh mẽ, trong một thời gian ngắn, có thể áp đặt và giữ vững ách thống trị lên các dân tộc ngoại lai đông dân hơn. Tuy nhiên, một khi sự thống trị của các đế chế “cỡ nhỏ” suy tàn, khôi phục đế chế là việc không tưởng.

Để tìm một cái gì đó tương đối thích hợp cho việc đối chiếu với định nghĩa ngày nay về một đế quốc toàn cầu, chúng ta phải chuyển sang một trường hợp ngoại lệ: Mông Cổ. Đế chế này được hình thành thông qua cuộc đấu tranh khốc liệt với các đối thủ lớn mạnh và có tổ chức. Trong số những nhà nước bị đánh bại có Vương quốc Ba Lan và Hungary, quân đội của Đế chế La Mã Thần thánh, nhiều công quốc thuộc Nga và vùng Rus, Nhà nước Hồi giáo Baghdad, và sau đó là thôn tính cả Trung Quốc dưới triều đại nhà Tống.

Thành Cát Tư Hãn và những người kế vị, bằng cách đánh bại các địch thủ trong khu vực, đã thiết lập chính phủ chuyên chế trên lãnh thổ mà sau này đã được các học giả địa chính trị xác định là trung tâm toàn cầu, hay trục quyền lực thế giới. Đế chế trên lục địa Á-Âu của họ trải dài từ bờ biển Trung Quốc đến Anatolia ở Tiểu Á và đến vùng Trung Âu (xem bản đồ ở trang 39). Mãi cho đến thời kỳ hoàng kim của khối Xô-Trung theo chủ thuyết Stalin, Đế chế Mông Cổ trên lục địa Á-Âu cuối cùng cũng hợp nhất, đến mức phạm vi kiểm soát của nhà nước tập quyền là trên khắp vùng lãnh thổ tiếp giáp.

Các đế chế La Mã, Trung Quốc và Mông Cổ là những tiền thân mang tính khu vực của những nước tham vọng trở thành cường quốc toàn cầu tiếp sau đó. Trong trường hợp của La Mã và Trung Quốc, như đã đề cập ở trên, các mô hình đế chế của họ phát triển vượt bậc, cả về chính trị và kinh tế, trong khi việc chấp nhận rộng rãi sự vượt trội về văn hóa của trung tâm có chức năng thực thi vai trò gắn kết quan trọng. Ngược lại, Đế chế Mông Cổ duy trì quyền lực chính trị hoàn toàn dựa vào những cuộc chinh phạt, nối tiếp là sự thích nghi (thậm chí là đồng hóa) với các điều kiện địa phương.

Uy lực của Đế chế Mông Cổ chủ yếu dựa trên sức mạnh quân sự vượt trội. Họ áp dụng xuất sắc lẫn tàn nhẫn các chiến thuật quân sự ưu việt, có khả năng chuyển quân thần tốc đáng kinh ngạc kết hợp với sự tập trung kịp thời, nhờ vậy nền cai trị của Mông Cổ không đòi hỏi hệ thống kinh tế hoặc tài chính có tổ chức, tương tự, chính quyền Mông Cổ không cần phải bắt rễ vào bất kỳ thức nhận văn hóa ưu việt kiên định nào. Lực lượng cai trị Mông Cổ rất mỏng về số lượng nên không thể đại diện cho giai cấp thống trị tự phục hưng, và cũng thiếu đi nhận thức rõ ràng cùng mối quan tâm về văn hóa hoặc thậm chí ưu thế sắc tộc đã lấy đi tinh thần tự tin chủ quan cần có của đế chế tinh nhuệ này.

Trên thực tế, dần dà, những người cai trị Mông Cổ dễ bị đồng hóa vào những dân tộc có nền văn hóa tiến bộ hơn sống ở vùng đất mà họ đã chinh phục. Do đó, một trong những cháu trai của Thành Cát Tư Hãn, người đã trở thành hoàng đế trên phần lãnh thổ Trung Quốc thuộc vương quốc của Đại Hãn, trở thành nhà truyền bá nhiệt thành của Nho giáo; một người khác trở thành tín đồ Hồi giáo sùng đạo với vai trò là quốc chủ (sultan) của các nước Hồi giáo thuộc Ba Tư; và người thứ ba trở thành người cai trị xứ Ba Tư ở Trung Á, hoàn toàn theo nghĩa văn hóa.

Hiện tượng những người bị trị đồng hóa giới cai trị vốn không có một nền văn hóa chính trị vượt trội kết hợp với việc không giải quyết được vấn đề kế vị sau Đại Hãn, người đã xây dựng nên Đế chế Mông Cổ, dẫn đến kết cục sau cùng như ta đã biết. Lãnh thổ đế quốc trở nên quá lớn, khiến cho một trung ương độc nhất không còn khả năng cai trị bao trùm, nhưng giải pháp thử nghiệm – chia cắt đế chế thành nhiều vùng tự trị – lại thúc đẩy sự đồng hóa cục bộ diễn ra nhanh hơn và đẩy nhanh sự tan rã của nó. Sau hai thế kỷ tồn tại, từ năm 1206 đến năm 1405, đế chế trên đất liền lớn nhất thế giới biến mất không một dấu vết.

Sau đó, châu Âu trở thành trung tâm quyền lực thế giới cũng như nơi tập trung các cuộc xung đột lớn giành quyền lực tối cao. Thật vậy, trong khoảng ba thế kỷ, vùng ngoại vi tây bắc nhỏ bé của lục địa Á-Âu – thông qua kế hoạch cường quốc hóa lĩnh vực hàng hải – lần đầu tiên đã thực sự thao túng được toàn cầu khi các cường quốc của nó vươn ra và khẳng định chính mình trên mọi châu lục thế giới. Đáng chú ý là ở Tây Âu có số lượng đế quốc không nhiều, đặc biệt là khi so với số thuộc địa. Tuy nhiên, vào đầu thế kỷ 20, bên ngoài Tây Bán cầu (mà hai thế kỷ trước đó vẫn còn chịu sự kiểm soát của Tây Âu và là nơi sinh sống chủ yếu của dân di cư châu Âu và con cháu họ), chỉ có Trung Quốc, Nga, Đế chế Ottoman và Ethiopia không chịu sự chi phối của Tây Âu (xem bản đồ trang 41).

Thế nhưng, ưu thế quyền lực đó không đồng nghĩa với việc Tây Âu trở thành cường quốc thế giới. Thực tế quan trọng cần nhìn nhận ở đây là uy lực toàn cầu của nền văn minh châu Âu và sự phân mảnh quyền lực ngay trên chính châu lục này. Không giống như cuộc chinh phục vùng trung tâm lục địa Á-Âu của người Mông Cổ hoặc của Đế quốc Nga sau đó, chủ nghĩa đế quốc ở nước ngoài của châu Âu có được là nhờ vào những cuộc thám hiểm xuyên đại dương không ngừng và mở rộng thương mại hàng hải. Tuy vậy, quá trình này kéo theo xung đột không ngừng giữa các quốc gia hàng đầu châu Âu, nó không chỉ vì các thuộc địa ở nước ngoài mà còn vì quyền bá chủ trong chính châu Âu. Sự thật quan trọng về mặt địa chính trị đó là quyền bá chủ toàn cầu của châu Âu không xuất phát từ quyền bá chủ ở châu Âu của bất kỳ cường quốc châu Âu đơn lẻ nào.

Nói rộng ra, cho đến giữa thế kỷ 17, Tây Ban Nha là cường quốc hàng đầu châu Âu. Đến cuối thế kỷ 15, nó cũng đã là một cường quốc đế quốc ở nước ngoài đang ấp ủ tham vọng toàn cầu. Bấy giờ, tôn giáo đóng vai trò như là giáo lý gắn kết và là một nguồn truyền đi nhiệt huyết của đế quốc. Thật vậy, cần phải có phán xử của Giáo hoàng giữa Tây Ban Nha và đối thủ hàng hải của họ, Bồ Đào Nha, để quyết định ranh giới chính thức xem lãnh thổ thuộc địa nào thuộc Tây Ban Nha, cái nào thuộc Bồ Đào Nha trong các Hiệp ước Tordesilla (1494) và Saragossa (1529). Tuy nhiên, khi đối mặt với những thách thức từ Anh, Pháp và Hà Lan, Tây Ban Nha không bao giờ có thể khẳng định uy quyền thực sự, cả ở Tây Âu lẫn trên khắp các đại dương.

Thế thượng phong của Tây Ban Nha dần dần nhường lại cho Pháp. Cho đến năm 1815, Pháp trở thành cường quốc thống trị châu Âu, mặc dù liên tục bị cản trở bởi các đối thủ ở chính châu Âu, cả trên lục địa và ở hải ngoại. Dưới thời Napoleon, Pháp tiến gần hơn cả đến việc thiết lập quyền bá chủ thực sự ở châu Âu. Nếu thành công, nó cũng đã có thể giành được vị thế cường quốc thống trị toàn cầu. Tuy nhiên, thất bại của nó trước một liên minh châu Âu đã tái thiết lập cán cân quyền lực trên lục địa.

Trong thế kỷ tiếp theo tính cho đến khi Thế chiến thứ nhất diễn ra, Vương quốc Anh thao túng hàng hải toàn cầu khi London trở thành trung tâm tài chính và thương mại chủ chốt của thế giới còn Hải quân Anh “thống trị những ngọn sóng”. Vương quốc Anh hoàn toàn nằm ngoài biển, nhưng giống như những nước châu Âu khao khát trở thành bá chủ toàn cầu trước đó, Vương quốc Anh không thể một mình thống trị châu Âu. Thay vào đó, Anh trông cậy vào nền ngoại giao có cán cân quyền lực phức tạp và cuối cùng là dựa vào Hiệp ước thân thiện Anh-Pháp để ngăn chặn quyền thống trị trên lục địa của cả Nga và Đức.

Đế quốc của người Anh ở bên kia đại dương ban đầu có được nhờ thám hiểm, giao thương và xâm lăng. Nhưng giống như các Đế chế La Mã và Trung Quốc trước đó hoặc các đối thủ Pháp và Tây Ban Nha, nó cũng có được quyền lực lâu dài bắt nguồn từ ý thức về nền văn hóa Anh ưu việt. Ưu thế đó không chỉ là tính kiêu ngạo của bản thân tầng lớp đế quốc thống trị mà còn là cách nhìn nhận chung của nhiều chủ thể không phải người Anh. Theo lời của tổng thống da đen đầu tiên của Nam Phi, Nelson Mandela: “Tôi được nuôi dạy tại một trường học ở Anh và vào thời điểm đó Anh là nơi có mọi thứ tốt nhất trên thế giới. Tôi không chối bỏ tầm ảnh hưởng mà Anh và lịch sử và văn hóa Anh đã tác động lên chúng tôi.” Sự vượt trội về văn hóa, được khẳng định hoàn toàn và được thừa nhận trong lặng lẽ, có tác dụng làm giảm sự phụ thuộc vào lực lượng quân sự hùng mạnh để duy trì quyền lực là một đế quốc trung tâm. Đến năm 1914, chỉ có vài ngàn quân nhân và công chức người Anh kiểm soát khoảng 11 triệu dặm vuông và gần 400 triệu người không phải người Anh (xem bản đồ ở trang 46).

Tóm lại, La Mã thể hiện quyền thống trị của mình chủ yếu thông qua tổ chức quân đội ưu việt và hấp dẫn về văn hóa. Trung Quốc phụ thuộc rất nhiều vào hiệu quả của bộ máy quan liêu để cai trị một đế chế dựa trên bản sắc dân tộc chung, củng cố quyền lực của mình thông qua nhận thức sâu sắc về nền văn hóa ưu việt. Đế chế Mông Cổ kết hợp các chiến thuật quân sự tiên tiến nhằm chinh phục và theo khuynh hướng đồng hóa làm cơ sở cai trị. Anh quốc (cũng như Tây Ban Nha, Hà Lan và Pháp) giành được ưu thế khi ngọn cờ của họ theo sau thương mại, quyền lực của họ cũng được củng cố nhờ vào tổ chức quân sự vượt trội và sự khẳng định về văn hóa. Nhưng không một đế chế nào thực sự mang tính toàn cầu. Ngay cả Vương quốc Anh cũng không phải là một cường quốc toàn cầu. Nó không kiểm soát mà chỉ làm cân bằng châu Âu. Một châu Âu ổn định rất quan trọng đối với sự thống trị thế giới của Anh và sự sụp đổ của châu Âu chắc chắn đánh dấu chấm hết quyền bá chủ của Anh.

Ngược lại, ngày nay, phạm vi và tầm ảnh hưởng của quyền lực toàn cầu Mỹ là độc nhất. Hoa Kỳ không chỉ kiểm soát tất cả đại dương và biển trên thế giới, mà còn phát triển lực lượng quân sự cứng rắn nhằm kiểm soát bờ biển khu vực đổ bộ, cho phép thể hiện sức mạnh chính trị của họ trên đất liền. Các binh đoàn hải ngoại Mỹ đóng cố định ở cực tây và cực đông lục địa Á-Âu, kiểm soát cả Vịnh Ba Tư. Trong số các nước và vùng lãnh thổ lệ thuộc vào Mỹ, một số nằm rải rác trên toàn bộ lục địa Á-Âu, như bản đồ ở trang 48, cho thấy mong mỏi được chấp thuận thiết lập mối quan hệ chính thức hơn với Washington.

Nền kinh tế năng động của Mỹ là tiền tố cần thiết cho việc thực hiện bá quyền toàn cầu. Ban đầu, ngay sau Thế chiến thứ hai, nền kinh tế Mỹ đứng tách biệt với tất cả những nước khác, chiếm hơn 50% GNP thế giới. Sự phục hồi kinh tế của Tây Âu và Nhật Bản, tiếp sau là hiện tượng tăng trưởng kinh tế thần tốc của châu Á làm cho tỷ lệ GNP toàn cầu của Mỹ dần thu hẹp lại, với mức sống cao không tương xứng với thời kỳ ngay sau hậu chiến. Tuy nhiên, trước khi Chiến tranh Lạnh chấm dứt, GNP toàn cầu của Mỹ, và cụ thể hơn là phần sản lượng sản xuất thế giới của nó, ổn định ở mức khoảng 30% – chuẩn mực trong suốt thế kỷ đó, trừ một vài năm đặc biệt ngay sau Thế chiến thứ hai.

Quan trọng hơn, Mỹ duy trì, thậm chí còn mở rộng vị thế đứng đầu trong việc khai thác những phát minh khoa học mới nhất cho mục đích quân sự, do đó tạo nên nền tảng quân sự có một không hai về công nghệ, thứ duy nhất có thể tạo tầm ảnh hưởng khắp toàn cầu. Đồng thời, nó vẫn duy trì lợi thế cạnh tranh mạnh mẽ trong những ngành công nghệ thông tin mang tính quyết định đối với nền kinh tế. Ưu thế của Mỹ trong các lĩnh vực hàng đầu của nền kinh tế tương lai cho thấy, có lẽ sự vượt trội về công nghệ của Mỹ không thể sớm bị “soán ngôi”, đặc biệt là trong các lĩnh vực quan trọng đối với kinh tế. Người Mỹ vẫn đang duy trì hoặc thậm chí nới rộng lợi thế của mình trong hoạt động sản xuất trước các đối thủ Tây Âu và Nhật Bản.

Tất nhiên, Nga và Trung Quốc là những cường quốc không bằng lòng với vị thế vượt trội này của Mỹ. Đầu năm 1996, họ cùng phát biểu như vậy trong chuyến thăm Bắc Kinh của Tổng thống Nga, Boris Yeltsin. Hơn nữa, họ sở hữu kho vũ khí hạt nhân có thể đe dọa lợi ích sống còn của Hoa Kỳ. Nhưng sự thật phũ phàng là vào thời điểm hiện tại và trong thời gian tới, mặc dù có thể khởi xướng cuộc chiến tranh hạt nhân tự sát nhưng không ai trong số họ có thể giành chiến thắng. Thiếu khả năng triển khai lực lượng từ xa để áp đặt ý chí chính trị và nền kỹ thuật công nghệ đang lạc hậu hơn nhiều so với Mỹ, họ không có phương tiện để duy trì cũng như không thể nhanh chóng có được quyền lực chính trị trên phạm vi toàn thế giới.

Tóm lại, Mỹ đứng hàng đầu trong bốn lĩnh vực quyết định nên vị thế cường quốc toàn cầu: về mặt quân sự, nó có phạm vi hoạt động chưa từng có trên thế giới; về kinh tế, là đầu tàu chủ chốt đối với tăng trưởng toàn cầu, bất chấp việc bị Nhật và Đức thách thức ở một vài lĩnh vực (cả hai đều không có được những đặc điểm để trở thành cường quốc toàn cầu khác); về mặt công nghệ, Mỹ vẫn giữ được vị trí dẫn đầu trong các lĩnh vực sáng tạo vượt trội; và về mặt văn hóa, dù có chút khiếm nhã nhưng nó vẫn sở hữu sức hấp dẫn không có đối thủ, đặc biệt là trong mắt giới trẻ. Tất cả những điều đó mang lại cho Hoa Kỳ uy lực chính trị không một nước nào khác có thể sánh được. Sự kết hợp của cả bốn yếu tố đó khiến Mỹ trở thành siêu cường quốc toàn diện duy nhất trên thế giới.

Prev
Next

Có thể bạn muốn đọc thêm

nhung-tu-nha-cua-dia-ly-tim-marshall
Những Tù Nhân Của Địa Lý – Tim Marshall
April 15, 2022

ThuVienOnline © 2026