Chó Sủa Nhầm Cây - Eric Barker - Chương 4.1
Mẹ bảo tôi hãy trở thành “con người của xã hội.” (Nhân đây, xin tiết lộ sự thật: Tôi đã không nghe lời mẹ. Coi nào, tôi đang ngồi đây, một mình, viết quyển sách này mà.)
Ai cũng thích gặp gỡ bạn thân và ai cũng cần vài khoảng thời gian một mình. Đó không phải triết lý gì sâu sắc. Câu hỏi mấu chốt chính là bạn làm thế nào để “sạc” lại năng lượng? Dự một bữa tiệc vui vẻ hay đọc một quyển sách? Bạn thích ở một mình với bạn thân hơn hay “càng đông càng vui”?
Hướng nội/hướng ngoại là một trong những phạm trù được nghiên cứu nhiều nhất trong tâm lý học, nhưng rất nhiều chi tiết cụ thể về nó vẫn còn đang trong vòng tranh cãi. Nhưng ở đây, chúng ta chỉ xem xét khía cạnh xã hội, và không có gì nhiều để tranh luận: Người hướng ngoại rõ ràng nhận được nhiều “giá trị cộng thêm” từ các hoạt động xã hội, cũng như từ việc là trung tâm của sự chú ý hơn.
Vài lý thuyết cho rằng người hướng nội có nhiều suy nghĩ trong đầu hơn. Nói vậy không có nghĩa là người hướng ngoại vô vị (vài suy nghĩ trong đầu người hướng nội có thể khá tiêu cực, như lo sợ chẳng hạn), mà nghĩa là những nơi ồn ào đông đúc sẽ khiến cho người hướng nội rơi vào trạng thái kích thích quá độ, trong khi người hướng ngoại sẽ cảm thấy chán nản khi thiếu sự kích thích. Ví dụ, tôi là người khá hướng nội. Hồi cao học, tôi có cô bạn gái thích đi bar và tiệc tùng, càng náo nhiệt càng tốt. Đối với cô ấy, trò đó rất thú vị. Đối với tôi, nó lại chẳng khác nào tra tấn màng nhĩ. Khi chúng tôi cùng lái xe đường dài, tôi nghe đài và đã thấy hứng thú lắm rồi. Cô ấy thì sụp mắt ngay trong vòng 30 giây. (Tôi chắc là bạn cũng chẳng sốc lắm khi biết rằng chúng tôi đã đường ai nấy đi.)
Giờ quay lại, mẹ tôi bảo phải trở thành “con người của xã hội” là có lý do cả, và cũng có nhiều lý do khiến hướng ngoại là rất tốt. Tương tác với người khác chiếm phần lớn lượng công việc của chúng ta, và chuyện ta có “chơi được” với người khác hay không thường là chìa khóa dẫn đến thành công. Như đã thấy trong Chương 2, Adam Grant và Jeffrey Pfeffer tuy có quan điểm khác nhau về cách xử sự với người khác, nhưng đều không chối cãi rằng đó thường là thành tố quan trọng nhất để tiến lên phía trước.
Vâng, đây là quyển sách nói về thành công, vậy hãy đi cụ thể về vấn đề tiền: Nhiều nghiên cứu đều cho thấy rằng người hướng ngoại kiếm nhiều tiền hơn. Stanford đã tiến hành một nghiên cứu 20 năm về những người tốt nghiệp MBA và nhận ra hầu hết đều thuộc kiểu hướng ngoại điển hình.
Điều này có thể truy ngược từ thời thơ ấu. Một nghiên cứu khác cho thấy “thiên hướng hướng ngoại thời thơ ấu dự báo được […] thành công ngoại sinh.” Một đứa trẻ dịch chuyển từ nhóm 20% kém nổi tiếng nhất lớp trung học lên nhóm 20% nổi tiếng nhất đồng nghĩa với việc đứa trẻ này sẽ tăng 10% thu nhập khi trưởng thành.
Những thành công không phải chỉ về tiền bạc. Muốn thăng chức ư? Một nghiên cứu cho biết “tính hướng ngoại có xu hướng liên quan tích cực đến mức độ hài lòng về sự nghiệp, mức lương, và số lần được thăng chức trong suốt sự nghiệp.”
Thậm chí những thói quen xấu của người hướng ngoại cũng tiết lộ bí mật về thành công tài chính của họ. Nếu bạn thuộc tuýp người thích uống rượu bia và hút thuốc, liệu bạn có kiếm được nhiều tiền hơn? Người uống rượu bia kiếm nhiều tiền hơn. Còn hút thuốc thì không. Dân thích uống kiếm được nhiều hơn 10% so với người kiêng khem. Và những người đàn ông lui tới quán bar ít nhất 1 lần/tháng có thu nhập tăng thêm 7% nữa. Tại sao rượu bia lại khiến cho bạn giàu hơn? Không giống như hút thuốc, uống rượu bia chủ yếu là một hoạt động giao tiếp. Các nhà nghiên cứu nghĩ rằng việc gia tăng hoạt động uống rượu bia sẽ dẫn đến gia tăng “vốn xã hội”: bạn có thể gắn kết với người khác và tạo lập quan hệ.
Hầu hết mọi người nghĩ các nhà lãnh đạo là người hướng ngoại. Nhận thức đó dần trở thành một lời tiên tri tự ứng nghiệm. Muốn trở thành CEO ư? Muốn là kẻ đầu đàn ư? Trong một cuộc nghiên cứu 4.000 nhà quản lý, những người đạt thang điểm “rất cao” về hướng ngoại chiếm đa số. Và thứ bậc càng cao, số lượng người hướng ngoại càng tăng. Xét tổng dân số nói chung, chỉ 16% người đạt mức hướng ngoại “rất cao,” trong khi có đến 60% những nhà quản lý hàng đầu thuộc nhóm này.
Vậy lý do là gì? Câu trả lời quả thật có chút đáng sợ. Nghiên cứu cho thấy bạn không cần hiểu biết nhiều để được xem là lãnh đạo. Chỉ cần phát biểu đầu tiên và phát biểu thường xuyên — hành vi cực kỳ hướng ngoại — là đã đủ được xem là sếp. Trong khi đó, những nghiên cứu khác cũng cho thấy những ai ban đầu cư xử nhút nhát trong nhóm sẽ bị người khác xem là kém thông minh. Như Pfeffer đã chỉ ra, để vượt lên, bạn cần phải tự đề bạt bản thân. Điều này sẽ diễn ra khá tự nhiên với người hướng ngoại, và nó thật sự quan trọng hơn năng lực khi xét về phương diện “có dáng lãnh đạo.”
Còn nếu bạn đang suy xét giữa nhiều công việc khác nhau, hay đang tìm kiếm một đồng cỏ khác xanh hơn thì sao? Một lần nữa, người hướng ngoại lại có ưu thế hơn. Công trình đột phá của Mark Granovetter về tầm quan trọng của “những mối quan hệ yếu” (weak ties) cho thấy bạn thường sẽ không tìm ra cơ hội tuyệt vời ấy từ bạn thân. Bạn có xu hướng nghe được những tin tức tương tự bạn thân của mình. Những người có nhiều bạn “quen sơ sơ” thường kết nối và biết được nhiều cơ hội mới hơn. Việc có một mạng lưới quan hệ rộng cũng thường phát huy tác dụng khi bạn cần một công việc cụ thể nào đó. Một nghiên cứu đã nhận ra, “Phân tích nhiều cấp độ cho thấy hoạt động gầy dựng mạng lưới quan hệ (networking) có mối tương quan thuận với tiền lương hiện tại, đồng thời cũng có liên quan đến tốc độ tăng trưởng tiền lương theo thời gian.”
Trên thực tế, có thể lập luận rằng các công ty nên xem quy mô mạng lưới quan hệ của ứng viên là một tiêu chí tuyển dụng, bởi vì nó có thể ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh. Nghiên cứu của MIT cho thấy rằng, “Nhân viên IBM càng quan hệ xã hội nhiều, kết quả kinh doanh của họ càng tốt. Họ thậm chí còn định lượng được mức độ khác biệt: Tính trung bình, mỗi email liên hệ tương đương với 948 đô la doanh thu tăng thêm.”
Thật khó mà coi thường giá trị của một mạng lưới lớn. Ví dụ nhé: Hãy thư giãn một chút và cùng nghĩ về kèo kinh doanh thuộc hàng sinh lợi nhất nhì thế giới — đồng thời rủi ro cũng cực kỳ cao: buôn thuốc phiện. Mặt lợi lớn, mặt hại khủng.
Vâng, nghiên cứu cho thấy việc sở hữu mạng lưới lớn là vô cùng quan trọng với những ngành nghề trái pháp luật. Hài hước thay, lời khuyên mà hầu hết dân buôn thuốc tuân theo chính là “làm nhỏ thôi” để tránh bị hốt. Nhưng nghiên cứu từ Đại học Simon Fraser lại cho thấy rằng việc sở hữu mạng lưới rộng lớn giúp dân buôn hàng trắng kiếm được nhiều tiền và có nhiều khả năng tránh vào tù hơn. Quy mô của tổ chức tội phạm không có ảnh hưởng gì. Là một tay cò con góc đường hay một đại ca sừng sỏ trong hội Call không quan trọng. Thứ quan trọng nằm ở chỗ tay buôn thuốc đó quen biết bao nhiêu người trong ngành:
Kết quả của các nghiên cứu này rất rõ: Những tay tội phạm gầy dựng và kiểm soát mạng lưới của mình tốt hơn sẽ kiểm ăn nhiều hơn hắn so với kẻ khác… Quy mô mạng lưới quan hệ của một tay buôn thuốc liên quan mật thiết đến khả năng sinh tồn. Và nó cũng được xem như một yếu tố bảo vệ: Quy mô mạng lưới của kẻ nào càng lớn, kẻ đó sẽ tôn tại càng lâu.
Tình bạn mật thiết giúp cho dân buôn thuốc tránh phải ở tù, còn “những mối quan hệ yếu” cung cấp cho họ cơ hội làm ăn.
Vậy đã khá rõ phe nào thắng trong cuộc chiến hướng ngoại/hướng nội. Nhưng sẽ ra sao nếu ta bước khỏi nơi làm việc và nhìn vào cuộc sống bên ngoài?
Bạn còn nhớ nghiên cứu về vận may của Richard Wiseman không? Bạn biết gì không: Ông cũng phát hiện ra người hướng ngoại may mắn hơn. Một phần lớn thứ tạo ra sự may mắn chính là việc gặp được những cơ hội mới. Việc sở hữu mạng lưới rộng lớn không chỉ mở ra những cơ hội nghề nghiệp mới, nó còn giúp bạn tiếp xúc với mọi loại cơ hội mới khác nữa. Đó chính là lý do tại sao những tay giao dịch chứng khoán hướng ngoại, giàu có luôn túc trực trên điện thoại.
Người hướng nội bị dồn vào góc đài vùi dập. Đã đến lúc tung ra đòn kết liễu. Người hướng ngoại còn hạnh phúc hơn người hướng nội. Và chi tiết sau đây không hề nhỏ đầu: “Mối quan hệ giữa hướng ngoại và hạnh phúc hay sự an lạc chủ quan (subjective well-being — SWB) là một trong những phát hiện ổn định và xuất hiện lặp đi lặp lại trong các tài liệu về SWB.” Thực tế là người hướng ngoại thậm chí còn hạnh phúc hơn người hướng nội khi ở một mình, và một nghiên cứu còn ghi nhận khi người hướng nội tỏ ra hướng ngoại, họ cũng hạnh phúc hơn.
Èo.
Người hướng ngoại kiểm nhiều tiền hơn, được thăng tiến nhiều hơn, có xu hướng trở thành lãnh đạo hơn, kiếm việc mới nhanh hơn, và đều may mắn lẫn hạnh phúc hơn. Đó là những bằng chứng thật đắng lòng. Nhưng sau tất cả, một câu hỏi lại hiện ra: Thế quái nào mà có người lại muốn làm người hướng nội chứ?
—
Được rồi, hãy nói về hướng nội nào. (Không sao đâu. Dân hướng ngoại có lẽ đã dùng đọc từ sau Chương 2 và đi quẩy với bạn bè rồi.) Có câu, “Chính gã im lặng mới là kẻ đáng dè chừng.”
Chúng ta đã biết về Paul Erdos, người nổi tiếng vì quen biết hết tất thảy mọi người trong giới toán học và quen luôn cả chị em của họ. Nhưng liệu một nhà khoa học có thể thành công mà hầu như không quen biết một ai không? Thực ra là có. Chúng ta chưa ghi nhận đầy đủ công lao của Isaac Newton. Đây chính là người viết lại các quy luật của cả vũ trụ. Và ông làm tất cả điều đó hoàn toàn một mình.
Aristotle, Kepler, Galileo… đều đóng góp nhiều, nhưng Newton chính là người cho chúng ta một bản đồ tích hợp rõ ràng về cách thế giới vận hành. Ông đưa chúng ta từ thời đại ma thuật sang thời đại khoa học. Trước thời ông, việc dự đoán sự vật chuyển động thế nào giống đoán mò hơn là tính toán. Sau thời ông, chúng ta biết vũ trụ hoạt động theo các định luật. James Gleick mô tả Newton như “kiến trúc sư trưởng của thế giới hiện đại.”
Không ai đạt được tầm ảnh hưởng to lớn như Newton cho đến khi Einstein xuất hiện, gần 200 năm sau. Và tuy rằng Einstein đã thay đổi cách giới khoa học suy nghĩ về các định luật vũ trụ, nhưng ông không hề thay đổi cách một người bình thường nhìn nhận thế giới trong cuộc sống hàng ngày. Newton chính là người thay đổi luật chơi cho tất cả chúng ta.
Thậm chí cách hiểu “chuyển dịch ý thức hệ” vẫn chưa thể hiện đúng mức tầm ảnh hưởng của Newton. Einstein gặp khó khăn và cuối cùng đã thất bại trong việc đưa ra lý thuyết trường thống nhất — lý thuyết sẽ giải thích cách tất cả những ý tưởng về vật lý có thể kết nối thành một thể thống nhất. Newton thì chỉ nói, “Đây là cách thế giới vận hành,” và trình bày rõ cả một hệ thống gần như hoàn chỉnh.
Ông phát triển lĩnh vực vi tích phân, quang học, và các hiểu biết về trọng lực khi vẫn còn ở tuổi đôi mươi. Và không có một công nghệ hiện đại nào trợ giúp. Để hiểu về quang học, ông đã từng cố đâm một cây kim vào mắt. Còn về vụ trọng lực? Trước thời Newton, chúng ta không hiểu được nó. Người ta biết rằng vật thể sẽ rơi xuống trái đất và Galileo đã thả vài thứ xuống từ tháp nghiêng Pisa, nhưng đó không phải là một quy luật rõ ràng. Galileo hiểu được cách gia tốc hoạt động — nhưng ông không có ý tưởng gì về chuyện tại sao nó hoạt động.
Thêm nữa, Newton còn làm gần như tất cả mọi thứ một mình. Ông từng nói, “Nếu tôi nhìn được xa hơn, đó là nhờ đứng trên vai những người khổng lồ,” nhưng sự thật cho thấy trong suốt cuộc đời mình, ông có rất ít mối quan hệ, dù là lớn hay nhỏ.
Nếu muốn tìm hình mẫu một giáo sư thơ thẩn, đó hẳn phải là Newton. Đôi khi ông không rời khỏi phòng ngủ trong vài ngày. Ông tự lầm bầm và vẽ các phương trình lên nền đất bằng một cành cây trong khi đi dạo một mình. Thiên tài cô độc? Khó mà nghĩ ra ví dụ nào phù hợp hơn. Không có các công cụ toán học để làm sáng tỏ cách thế giới vận hành, thế nên ông tạo ra các công cụ ấy. Mớ công thức mà chúng ta từng vật lộn ở trường trưng học, bạn nhớ không? Chính do ông sáng tạo ra. Một mình. Ông có ít bạn bè, và liên hệ qua thư thường là cách thức giao tiếp duy nhất. Ông chưa từng kết hôn. Thực tế, nhiều người còn nghi ngờ ông mất khi vẫn còn zin.
Chúng ta đều biết vụ trái táo rớt trúng đầu Newton, thế nhưng chuyện đó chắc là không có thật. Mà nếu có thật đi nữa, chắc khi đó ông đang ở nhà một mình, với cánh cửa đóng kín. Người ta có thể dễ dàng tưởng tượng cảnh Newton như một ông hàng xóm điên rồ cứ la hét bọn trẻ nhà bên liệu mà tránh ra khỏi bãi cỏ nhà mình. Nhưng Newton thậm chí còn chẳng quen biết hàng xóm nữa. Khi rời Trinity năm 1696, ông chẳng lưu luyến gì lắm. Dầu đã sống trong thành phố này 35 năm, ông không có bất kỳ một người bạn nào.
Như James Gleick đã viết trong quyển tiểu sử Isaac Newton, “Ong sinh ra trong một thế giới của sự tối tăm, mờ mịt, và ma thuật; sống một cuộc đời thuần khiết kỳ lạ và đầy ám ảnh, thiếu vắng cha mẹ, tình yêu, và bè bạn; tranh cãi kịch liệt với những con người vĩ đại chạm trán trên đường; ít nhất một lần đến gần với bờ vực điên loạn; che giấu công việc của mình trong bí mật; thế mà vẫn khám phá ra nhiều kiến thức cốt yếu cho nhân loại hơn bất kỳ ai trước và sau thời của mình.”
Nếu bạn buộc ai đó làm việc như cái cách mà Newton đã làm, bạn sẽ bị đánh giá là vô nhân đạo. Nhưng đó là một sự đơn độc tự tạo, và ông cũng không hề nghĩ như vậy. Pascal từng nói, “Tất cả nỗi bất hạnh của một người bắt nguồn từ một điều duy nhất: Rằng anh ta không thể ở yên trong phòng của mình.” Sir Isaac Newton dường như là một bằng chứng theo hướng tích cực cho câu nói này.
Nếu bạn là sếp của Paul Erdos, hãy cho càng nhiều người thông minh ở quanh ông càng tốt, và cấp cho ông ngân sách ngao du không giới hạn. Nếu bạn là sếp của Newton, cho ông thật nhiều ngân sách và thiết bị có lẽ là một ý hay, và quy tắc quan trọng nhất để đảm bảo cho thiên tài này vẫn tiếp tục thực hiện được những điều đáng kinh ngạc và đổi thay thế giới cũng rất rõ ràng: để Cho ông ta yên.
Không nghi ngờ gì nữa, Newton chính là người đang nắm giữ danh hiệu Người-thông-minh-nhất-từ-trước-đến-nay. Khi bạn thông minh đến mức không ai có thể hiểu nổi, cần giúp đỡ chi nữa? Những kẻ ngu muội như chúng tôi sẽ chỉ khiến bạn chậm chân. Nhưng ngoài phần thông minh cực đỉnh đó, liệu có thứ gì chúng ta có thể học hỏi từ cuộc đời cực đoan của Newton không?
Còn nhớ thuyết 10.000 giờ chuyên gia không? Vâng, khi không có ai làm phiền, bạn sẽ có rất nhiều thời gian để luyện thật giỏi một thứ gì đó. Trong thời đại xao nhãng hiện tại, tất cả chúng ta đều có thể học hỏi từ Newton. Đúng là người hướng ngoại có thể tận dụng nguồn lực từ một mạng lưới khủng, nhưng nó cũng khiến họ không có nhiều thời gian cho một thứ cũng rất quan trọng: quá trình khổ công luyện tập một mình. Bạn thấy đó, siêu năng lực của người hướng nội chính là họ có nhiều khả năng trở thành chuyên gia trong lĩnh vực của mình.
Khả năng ấy nhiều đến đâu? Đây là một câu nói trích từ một nghiên cứu dành cho bạn: “Hướng ngoại tương quan nghịch với độ thành thạo cá nhân.” Nói cho dễ hiểu thì câu này có nghĩa là gì? Càng hướng ngoại bao nhiêu, trong công việc bạn càng tệ bấy nhiêu. Như đã thấy, chuyện có rất nhiều bạn bè có những lợi ích rõ ràng… Nhưng cũng có thể phiền hà kinh khủng.
Khi nghĩ về vận động viên, ta thường mường tượng ra hình ảnh người đội trưởng đội bóng bầu dục nổi tiếng trong trường trung học. Hay có thể là anh cầu thủ bóng chày đầy sức hút đang bảo bạn hãy mua dao cạo râu trên đài quảng cáo. Nghĩ họ là người hướng ngoại thích tiệc tùng cũng là chuyện tự nhiên thôi. Nhưng bạn đã lầm to. Tác giả (kiêm vận động viên đạt huy chương vàng Olympic) David Hemery kể rằng 9/io vận động viên hàng đầu là người hướng nội. “Một điểm đặc biệt rất đáng chú ý chính là có một tỷ lệ lớn, đến 89% những vận động viên đạt thành tích cao, tự xếp mình là người hướng nội… Chỉ có 6% trong số họ cảm thấy mình là người hướng ngoại và 5% còn lại thì cảm thấy mình ở Lưng chừng con đường.”
Các vận động viên môn thể thao đồng đội phần lớn thời gian thường bị vây quanh bởi nhiều người, nhưng đó hiếm khi là thứ giúp cho họ trở nên vĩ đại. Thứ quan trọng chính là khoảng thời gian một mình khổ luyện. Ném rổ 3 điểm hết cú này đến cú khác cho đến khi cánh tay không thể nhấc lên. Bỏ vài bữa tiệc để chạy thêm vài lần nữa trước khi mặt trời lặn.
Còn những nhạc sĩ ưu tú thì sao? Y vậy. Khi K. Anders Ericsson hỏi các nghệ sĩ violin hàng đầu rằng những hoạt động hàng ngày nào ảnh hưởng nhất đến việc phát triển kỹ năng của họ, 90% trả lời là, “Tập luyện một mình.” Điều gì giúp dự đoán chính xác nhất trình độ của một kỳ thủ? “Tự nghiên cứu nghiêm túc một mình.” Thực tế là, với những kỳ thủ lớn tuổi, đó là chỉ báo duy nhất có ý nghĩa thống kê.
Muốn biết ai sẽ thể hiện tốt nhất ở trường hay thật sự có nhiều kiến thức hơn? Đừng căn cứ vào IQ. Việc sở hữu tính cách hướng nội ảnh hưởng đến điểm số nhiều hơn trí thông minh. Trong quyển Quiet, Susan Cain ghi nhận:
ở cấp độ đại học, tính hướng nội tác động đến kết quả học tập rõ ràng hơn khả năng nhận thức. Một nghiên cứu kiểm tra kiến thức của 141 sinh viên vè 20 môn học khác nhau — từ nghệ thuật, thiên văn học, cho đến thống kê — nhận thấy dân hướng nội hiếu biết nhiều hơn dân hướng ngoại ở mọi môn học. Người hướng nội chiếm số lượng áp đảo trong nhóm những người sở hữu bằng sau đại học, nhóm nhận Học bổng National Merit, cũng như nhóm thành viên Hội Phi Beta Kappa.
Muốn biết được ai sẽ trở thành thiên tài sáng tạo sau này ư? Hãy chọn những gã kỳ quặc trong lớp:
… sự tập trung toàn tâm vào thứ sẽ trở thành niềm đam mê của cuộc đời là dấu hiệu điển hình của những người cực kỳ sáng tạo. Theo nhà tâm lý học Mihály Csikszentmihalyi — người đã nghiên cứu cuộc đời của 91 người sáng tạo xuất chúng trong các lĩnh vực nghệ thuật, khoa học, kinh doanh, và chính trị từ năm 1990-1995 — rất nhiều đối tượng nghiên cứu bị xem như kẻ ngoài rìa xã hội trong suốt thời thanh thiếu niên, phần lớn bởi vì “trí tò mò mãnh liệt hoặc niềm hứng thú tập trung của họ trông rất kỳ quặc với bạn bè đồng trang lứa.” Những thanh thiếu niên quá ham thích tụ tập mà không chịu dành thời gian một mình thường thất bại trong việc nuôi dưỡng tài năng “bởi vì việc luyện nhạc hay học toán đòi hỏi một sự cô độc đáng kinh sợ.”
Còn những chuyên gia ngân hàng đầu tư hàng đầu thì sao? Cũng là những người hướng nội cảm xúc ổn định. Trong những lĩnh vực khác, như lập trình máy tính hay quần vợt chuyên nghiệp, những người hết sức kém hòa đông thường có thu nhập cao hơn.
Nghiên cứu cũng cho thấy người hướng nội còn thành công ở những lĩnh vực mà ta luôn tưởng rằng người hướng ngoại chiếm ưu thế. Cũng như lầm tưởng về vận động viên chuyên nghiệp, ta thường cho rằng lãnh đạo nên là kiểu người hướng ngoại được mọi người yêu mến. Và như đã thấy ở phần trước, nghiên cứu cho thấy người hướng ngoại có xu hướng trở thành lãnh đạo và được cảm nhận là làm việc hiệu quả hơn. Nhưng liệu có đúng như vậy? Khi Adam Grant xem xét về khả năng lãnh đạo, anh nhận ra một điều hết sức thú vị. Việc người hướng nội hay hướng ngoại lãnh đạo tốt hơn còn tùy thuộc vào những người dưới trướng. Khi nhân viên thụ động, một người hướng ngoại sung mãn, giao tiếp tốt sẽ tỏa sáng. Nhưng khi phải đối mặt với những nhân viên hết sức năng động, người hướng nội sẽ làm tốt hơn bởi vì họ biết cách lắng nghe, giúp đỡ, và tránh sang một bên.
Tuy người hướng ngoại vốn được xem là có tố chất lãnh đạo với khả năng hoạt ngôn tự nhiên và áp đảo trong giao tiếp, nghiên cứu lại cho thấy chuyện sẽ không kéo dài lâu. Điểm yếu về kỹ năng lắng nghe của người hướng ngoại dần hiện rõ sau khi họ được tôn lên vị trí lãnh đạo, và họ thường mất đi vị thế của mình trong mắt đồng sự.
Có thể thấy, trong một số lĩnh vực, chúng ta đã đánh giá quá cao người hướng ngoại. Thực ra, có rất nhiều khuyết điểm liên quan đến hướng ngoại mà chúng ta ít được nghe. Trước khi bắt đầu cầu nguyện cho con minh trở thành người hướng ngoại, hãy nhớ tính hướng ngoại cũng thường gắn liền với hành vi phạm tội, ngoại tình, tai nạn xe cộ, tự cao, và rủi ro tài chính. Điều này có thể nghe hơi sốc. Chúng ta luôn được bảo rằng sẽ thật tốt nếu là “con người của xã hội” đấy thôi.
Tại sao chúng ta không được nghe bất cứ thứ gì bất lợi về tính hướng ngoại? Thật lòng mà nói, đó là do marketing. Có nhiều người hướng ngoại hơn người hướng nội. Người hướng ngoại lại có nhiều bạn bè, và cũng nói nhiều hơn. Như Susan Cain đã chỉ ra, thiên kiến hướng ngoại đã ăn sâu vào nơi làm việc, trường học, và nền văn hóa của chúng ta, đặc biệt là ở Mỹ.
Vậy ta đã biết có nhiều người hướng nội lẫn hướng ngoại thành công, và thế giới cần cả hai, nhưng rất có khả năng, bạn chẳng thuộc nhóm nào. Vâng, 1/3 dân số là người hướng nội hay hướng ngoại rặt, nhưng 2/3 còn lại là dạng tạm gọi là hướng trung (ambivert). Họ nằm đâu đó ở vùng giữa phổ.
Và nằm ở giữa không có nghĩa là bạn không có siêu năng lực. Kỳ lạ thay, người hướng trung lại chính là những nhân viên bán hàng đỉnh nhất. Người hướng ngoại, người mà bạn nghĩ sẽ chiếm ưu thế, thường nói quá nhiều hay quá độc đoán. Người hướng nội thì lắng nghe tốt hơn nhưng lại thiếu động lực xã hội. Khi Adam Grant nghiên cứu về nhân viên bán hàng, anh nhận ra những người đứng đầu lại rơi vào vùng giữa phổ hướng nội/hướng ngoại.
Đây chính là nơi bài học thật sự xuất hiện. Nếu bạn không thể chịu nổi một giây phút nào ở một mình, hãy lấy tấm bằng MBA rồi theo đuổi vị trí lãnh đạo của một tập thể thụ động. Bạn được sinh ra là dành cho nó. Nếu loài người làm cho bạn điên lên, hãy đắm chìm trong đam mê, đạt lấy 10.000 giờ, và nổi lên với tư cách kẻ đứng đầu lĩnh vực của mình. Những người còn lại — những người ở giữa — cần phải biết khi nào nên về phe hướng ngoại để xây dựng mạng lưới và khi nào thì nên đóng cửa để phát triển kỹ năng. Như Adam Grant phát biểu trên The Wall Street Journal, “Hãy xem xét từng tình huống kỹ càng và tự hỏi bản thân, ‘Tôi cần làm gì ngay lúc này để hạnh phúc hay thành công nhất?'”
Bên hướng nội thì khá rõ ràng: bỏ thời gian. Nhưng dân hướng nội và hướng trung sẽ gặp khó khăn trong việc xây dựng mạng lưới. Thậm chí chính từ ngữ này cũng hàm chứa nghĩa tiêu cực, nghe không thành thật và giả tạo sao đó. Nghe như chiêu mà đám chính trị gia Mỹ thân thiện giả tạo và nhân viên bán xe cũ gian xảo thi triển.
Nhưng đây là tin tốt: Tuy là dân hướng ngoại có thể có tài năng thiên bẩm trong việc xây dựng mạng lưới, đó là một kỹ năng mà bất kỳ ai cũng đều có thể rèn luyện mà không cảm thấy mình quá thô thiển hay giả tạo. Như đã thấy trong nghiên cứu, dù cho bạn đang tìm kiếm một công việc hợp pháp hay đang cố bán vài cân thuốc phiện, việc sở hữu một mạng lưới vẫn cực kỳ cần thiết.
Dường như trảng bom sẽ chẳng bao giờ kết thúc. Trong lúc Thế chiến II leo thang, cả Vương quốc Anh bị nghiền nát bởi lực lượng không quân Luftwaffe của Hitler. Những người Anh đang bí mật phát triển một loại vũ khí có khả năng xoay chiều cục diện: một loại radar mới.
Đã có nhiều pha tấn công và phản công trong quá trình phát triển radar. Quân Đức định hướng các đợt ném bom tấn công nước Anh bằng radar. Để đáp trả, người Anh đã phát triển một phương pháp ngày càng tinh vi hơn để làm nhiễu tín hiệu. Cuộc chiến chạy đua công nghệ này từng được gọi là “Cuộc chiến của những chùm tia” (Battle of the Beams).
Và hiện tại quân Anh đã có cú đột phá với một thứ được gọi là ống magnetron. Từ này tuy nghe có vẻ giống như tên nha sĩ của siêu người máy Optimus Prime, nhưng đó chính là thứ mà hầu hết chúng ta đều có trong nhà bếp ngày nay: lò vi sóng. Radar vi sóng sẽ giúp giảm kích thước máy móc đi rất nhiều lần. Thay vì phải cố định trên những ngọn tháp khổng lồ, giờ đây chúng có thể được gắn trên mọi máy bay của quân Anh.
Tuy quân Anh đã giải đáp được vấn đề tạo lập công nghệ, chuyên sản xuất hàng loạt với quy mô và tốc độ đủ để phòng vệ đất nước vẫn không khả thi. Phải gánh chịu những đợt ném bom không ngừng của quân phát- xít, nước Anh không thể nào có đủ nguồn lực để sản xuất hàng nghìn thiết bị radar vi sóng trong thời gian ngắn.
Nhưng vẫn còn một giải pháp khác. Công nghệ radar đã được hưởng lợi từ sự hợp tác của phe Đồng minh; có thể một lần nữa sự hợp tác này sẽ cứu được Vương quốc Anh. Năm 1940, các nhà lãnh đạo quân đội Anh mang ống magnetron sang Mỹ và trình diễn khả năng của nó. Người Mỹ ấn tượng và cam kết sẽ tận dụng nguồn lực phát triển và sản xuất của họ để hiện thực hóa giấc mơ này.
Phòng thí nghiệm Bức xạ tại MIT (Radiation Laboratory) tham gia giúp đỡ dự án. (Tên của họ đã được cố tình biến đổi để che giấu mục đích nhiệm vụ. Sau đó họ được đặt một biệt danh hơi bị ngầu: “Rad Lab.”) 3.500 người đã được Rad Lab thuê làm việc, bao gồm cả những bộ não hàng đầu thế hệ. 9 người sau đó đã đạt giải Nobel cho những công trình khác.
Bước tiến của họ vô cùng ngoạn mục. Một trong những hệ thống đó đã được sử dụng trực tiếp cho hệ thống phòng không của Anh và giúp giảm đến 85% lượng bom bay V-l của Đức, thứ vốn đang nghiền nát London. Một loại radar khác nhạy đến độ có thể phát hiện được những chiếc kính tiềm vọng trên tàu ngầm Đức Quốc xã, cho phép quân Đồng minh chiếm ưu thế ở mặt trận trên biển.
Nhưng trước khi những thành công vang dội đó ghi dấu trên chiến trường, Rad Lab đã phải đối mặt với một vấn đề to lớn: Mớ thiết bị chết tiệt ấy không hoạt động. Ít nhất là hoạt động không ổn định. Khi chạy thử radar mới trên sông Charles ở Cambridge, họ liên tục thất bại. Hết lần này đến lần khác, khi những tưởng đã nắm bắt mọi yếu tố khoa học, khi đã kiểm tra hết mọi lỗi sai, mọi vấn đề, thiết bị ấy lại cứ chết dí. Mọi chuyện không thể lý giải. Cảm tưởng như thể Chúa không muốn họ thành công, như một thế lực siêu nhiên nào đó đang tích cực chống lại họ vậy.
Họ đã đúng. Nhưng không phải do Chúa. Mà là do Harvard.
MIT không hề biết là, Phòng thí nghiệm Nghiên cứu Vô tuyến tại Đại học Harvard (Radio Research Laboratory) đã nhận hàng triệu đô la từ chính phủ Mỹ để bí mật phát triển công nghệ nhiễu sóng radar, thứ đang được họ thử nghiệm bên kia bờ sông Charles. (Người Mỹ lẽ ra nên học hỏi người Anh về sức mạnh của sự hợp tác.) Nỗ lực của Harvard hiệu quả đến nỗi họ có lần đã phá sập cả hệ thống liên lạc của Phòng Cảnh sát Boston, vô tình làm nhiễu sóng hệ thống radio trong xe hoi cảnh sát trên toàn thành phố.
May mắn thay, trước khi các nhà nghiên cứu ở MIT hóa điên, “kẻ địch” vô tình bên kia bờ Sông Charles đã lộ diện, để rồi sau đó một cuộc hợp tác mạnh mẽ kiểu mới bắt đầu: một cuộc cạnh tranh lành mạnh.
MIT nỗ lực gấp đôi để vượt qua công nghệ nhiễu sóng của Harvard và Harvard đáp trả bằng phương pháp hiệu quả hơn đánh bại hệ thống radar của MIT. Kết quả thu được từ hai gã khổng lồ nghiên cứu thật đáng kinh ngạc.
Với “sự giúp đỡ” của Harvard, radar của MIT trở nên cực khủng:
Tháng 11/1942, lực lượng tàu U-boat tuyên bố đã hạ 117 tàu của quân Đồng minh. Chưa đến 1 năm sau đó, trong vòng 2 tháng 9-10/1943, chỉ có 9 tàu Đồng minh bị hạ, trong khi tổng cộng 25 tàu U-boat đã bị hủy diệt bởi lực lượng không quân trang bị radar ASV.
Và với “sự hỗ trợ” của MIT, công nghệ nhiễu sóng của Harvard đã khiến quân phát-xít rơi vào hoảng loạn:
Hệ thống nhiễu sóng của quân Đồng minh làm giảm hiệu quả hệ thống phòng không của quân Đức đến 75%. Nó hiệu quả đến nỗi tính đến thời điểm cuộc chiến kết thúc, gần 90% số chuyên gia sóng vô tuyến tần số cao ở Đức — khoảng 7.000 người — đã được điều động từ những công việc cấp thiết khác sang giải quyết một nhiệm vụ duy nhất là tìm cách ngăn cho hệ thống radar Đức khỏi bị nhiễu.
Rất nhiều người ngày nay tin rằng thiết bị radar đó chính là thứ mang đến thắng lợi trong cuộc chiến.
Khi chúng ta hợp tác — bao gồm cả việc cạnh tranh lành mạnh — thành quả có thể lớn gấp nhiều lần. Khi ta không giao tiếp với nhau, kết cục có thể không đạt được lợi ích như trên mà còn “làm nhiễu” nỗ lực của hai bên.
—