Chó Sủa Nhầm Cây - Eric Barker - Chuowng 5.2
Họ gọi cô là SM-046. Rất ít người biết tên thật của cô. Cô sống một cuộc đời khá bình thường — là mẹ của 3 đứa con trai — nhưng cô không hề biết sợ.
Khi được các nhà nghiên cứu đề nghị mô tả cảm giác sợ hãi hay vẽ một khuôn mặt sợ hãi, cô không thể thực hiện được. Khi họ cố dọa cô sợ, cho cô xem mấy đoạn phim kinh dị, cô lại cảm thấy hứng thú chứ không hề sợ. Thực ra, cô còn đòi xin tên bộ phim để sau đó tìm xem.
Họ dẫn cô đến một cửa hàng thú nuôi kỳ dị và trao vào tay cô những con rắn. Cô bảo, “Ngầu thật đấy!” SM-046 đòi cầm con lớn hơn, độc hơn nữa, trong khi người bán chần chừ bảo rằng không an toàn. Cô cứ đòi lần nữa. Lần nữa. Rồi lần nữa. Cô đòi tận 15 lần. Cô với tay sờ một con nhện tarantula và họ phải ngăn cô lại.
Họ đưa cô đến “bệnh viện bị ma ám đáng sợ nhất thế giới.” Waverly Hills Sanatorium đã được nêu tên trên chương trình Ghost Hunters và hàng tá chương trình khác về hoạt động siêu linh. Trong những năm đầu Thế kỷ XX, đó là bệnh viện dành cho bệnh nhân lao và rất nhiều người đã chết tại đây. Hàng năm, nó biến thành một ngôi nhà bị ám trong lễ Halloween. Những căn phòng tối đen, âm nhạc rùng rợn, và các diễn viên ăn vận như quái vật nhảy bổ ra ở các góc. Họ có dọa được cô không? Không hề. Cô dọa họ thì đúng hơn. Không chỉ không nhảy cẫng lên, cô còn tiến đến các diễn viên hóa trang nói chuyện với họ, và một người trong số đó đã nhảy lên sợ hãi khi cô cố chạm vào mặt nạ của anh ta.
Thế cô bị gì vậy? SM-046 có một rối loạn gene cực hiếm, được biết đến với cái tên Urbach-Wiethe. Chỉ có 400 trường hợp được ghi nhận từ trước đến nay. Người mắc chứng này có bề ngoài và cư xử hầu như bình thường. Bạn có thể chú ý SM-046 có chất giọng đặc khàn hay làn da của cô trông sạm đi, nhưng không có gì bất thường cả. Dù vậy, phần chất xám của cô lại rất khác biệt. Căn bệnh khiến cho một phần não bộ bị vôi hóa; chúng sẽ xơ cứng lại và chết đi. Thường thì đó là khu vực hạch hạnh nhân, phần có liên quan nhiều nhất đến sự sợ hãi. SM-046 có IQ bình thường và có thể cảm nhận được niềm vui, nỗi buồn, và những cảm xúc khác. Nhưng cô không biết sợ.
Cô có thể nhớ đã từng sợ hãi bởi một con chó Doberman hồi còn nhỏ, thật lâu trước khi phần tổn thương não xảy ra. Nhưng khi lớn lên, cô chưa bao giờ sợ hãi cả.
Chứng bệnh này thật sự khiến cô cởi mở và cư xử tốt hơn nhiều. Nghiên cứu cho thấy những chủ thể bị tổn thương hoàn toàn hai bên hạch hạnh nhân đánh giá người lạ dễ tiếp cận và đáng tin hơn hẳn người bình thường.
Giống như cảm giác không thấy đau của Ashlyn, cảm giác không biết sợ vừa là đặc ân, vừa là lời nguyền. SM-046 không có bản năng cẩn trọng như tôi và bạn. Do không biết sợ, cô gặp vấn đề trong việc nhận diện mối nguy.
Cô là nạn nhân của rất nhiều vụ phạm tội. Cô bị đâm một con dao vào cổ họng và bị chĩa súng vào người 2 lần. Cô bị đánh đến gần chết bởi người chồng đầu tiên. Thậm chí sau những sự kiện kinh khủng ấy, cô cũng không bao giờ e ngại gì. Báo cáo của cảnh sát có chứng thực về chứng không biết sợ của cô. Cô trở lại công viên nơi mình bị đâm dao ngay ngày hôm sau. Các nhà nghiên cứu nghĩ rằng cô thậm chí không thể bị PTSD (Posttraumatic Stress Disorder — rối loạn căng thẳng sau sang chấn). Không sợ hãi thì không căng thẳng.
Năm 2013, các nhà nghiên cứu đã có thể khiến cô sợ bằng cách cho cô hít hỗn hợp khí CO2 qua mặt nạ oxy. Nhưng việc này diễn ra trong phòng thí nghiệm. Cô vẫn không hề biết sợ ở nơi gọi là đời thực. Đó là lý do chúng ta chỉ biết tên cô là SM-046. Các nhà nghiên cứu cảm thấy danh tính của cô cần được bảo vệ bởi vì cô đơn giản là không có khả năng bảo vệ bản thân.
Vậy là có một lý do không nên không biết sợ. Và một lý do không nên tự tin thái quá. Nhiều điều tệ hại có thể xảy đến. Thường thì trong cuộc sống, tốt hơn là ta nên cảm thấy không chắc chắn một chút.
—
Chúng ta đã biết được mặt hại của sự tự tin: sự chối bỏ thực tại và thái độ khốn nạn. Như Tomas Chamorro-Premuzic lý giải trong một bài viết trên Harvard Business Review, chỉ cần đảo ngược được 2 vấn đề đó cũng có thể mang lại hiệu ứng rất tích cực:
Hạ thấp sự tự tin làm giảm bớt không chỉ khả năng bị xem là kẻ kiêu căng, mà còn giúp ta ít bị u mê hơn. Thực ra, những người có mức tự tin thấp thường có xu hướng hay thừa nhận sai lầm của mình hơn — thay vì đổ thừa cho người khác — và ít khi nhận vơ công trạng của người khác. Đây có lẽ là lợi ích quan trọng nhất của mức độ tự tin thấp bởi vì nó chỉ ra thực tế rằng, ít tự tin một chút có thể mang lại thành công, không chỉ cho cá nhân mà còn cho tổ chức và xã hội.
Điều này đưa ta đến với sức mạnh của việc bớt tự tin đi một chút. Tự tin khiến ta rất khó học hỏi và cải thiện. Khi nghĩ rằng mình biết tất cả câu trả lời, chúng ta sẽ dừng tìm kiếm thêm. Marshall Goldsmith cho biết, “Mặc dù ảo tưởng tự tin có thể giúp ta đạt được nhiều thứ, chúng cũng khiến ta khó thay đổi hơn.”
Khi không chắc chắn, chúng ta sẽ cởi mở với ý tưởng mới, tích cực tìm kiếm những thứ mới mẻ. Khi quá tự tin, chúng ta sẽ không chú tâm đủ vì cảm thấy không cần thiết. Nghiên cứu có tiêu đề “Power, Competitiveness, and Advice Taking: Why the Powerful Don’t Listen” cho thấy chỉ cần làm cho ai đó cảm thấy quyền lực là đủ khiến họ phớt lờ lời khuyên không chỉ của lính mới mà còn của các chuyên gia trong lĩnh vực nữa.
Lắng nghe ý tưởng của người khác giúp gia tăng sức mạnh não bộ. Một nghiên cứu cho thấy những tương tác xã hội thật sự có thể khiến ta thông minh hơn. Nhưng có một điểm cần chú ý: Đến gia tăng khả năng nhận thức, ta phải hiểu quan điểm của người khác. Và bạn không thể nào làm được điều đó nếu như không để tâm.
Sự kiêu căng có tác dụng cực xấu: Khiến cho bạn luôn chắc rằng mình đúng mà không thèm lắng nghe, và trong thời gian dài, sẽ không ai muốn đụng vào, chứ đừng nói là bất đồng với bạn. Khi bạn ngã sấp mặt, mọi người sẽ rất vui mừng vỗ tay. Thậm chí Machiavelli, người không hay khuyên răn người khác nên thấu cảm, cũng cảnh báo rằng các lãnh đạo cần có những người thật thà bên cạnh nếu không muốn kết cục bị vây quanh bởi bè lũ xu nịnh. James Baldwin từng viết, “Không phải bất cứ thứ gì ta đối mặt đều có thể được thay đổi, nhưng không thứ gì có thể thay đổi cho đến khi ta đối mặt với nó.”
Tomas Chamorro-Premuzic cho rằng có 2 loại ích lợi khi cư xử khiêm nhường: (1) nó giúp ta thực tế hơn, và (2) giúp ta không kiêu ngạo. Ông tranh luận rằng tính khiêm nhường thật sự có thể thôi thúc khả năng tự cải thiện bởi vì ta có thể thấy được khoảng cách giữa con người hiện tại và con người mình muốn trở thành. Với lại, thà có thực tài hơn mức người khác nghĩ còn hơn là thùng rỗng kêu to.
Thậm chí ép buộc người ta khiêm nhường cũng có những hiệu quả đáng kinh ngạc. Các bác sĩ thường rất kiêu ngạo. Khi một bệnh viện muốn giảm thiểu tỷ lệ nhiễm trùng ở bệnh nhân, họ quy định tất cả đội ngũ y khoa phải tuân theo một danh sách việc cần làm trước khi tiến hành khám chữa bệnh. Tuy có một chút hạ thấp các bác sĩ, nhưng giới quản lý rất nghiêm túc — nghiêm túc đến nỗi họ trao thẩm quyền can thiệp cho các y tá (với sự cho phép của nhóm chóp bu) nếu bác sĩ không tuân theo tất cả các bước. Kết quả? “Tỷ lệ nhiễm trùng giảm từ 11% xuống 0%.” Các bác sĩ kiêu ngạo thường bỏ qua các bước, nhưng khi bị buộc phải làm đúng luật, hiệu quả vô cùng mạnh mẽ. Cuộc thử nghiệm trong một bệnh viện kéo dài 15 tháng đã giúp cứu sống 8 sinh mạng và tiết kiệm được 2 triệu đô la.
Vậy hạ thấp bản thân mình một chút có thể là việc tốt, miễn là nó không phá chệch đường đi của bạn. Tomas Chamorro-Premuzic nói:
Sự tự tin thấp có thể biến bạn trở thành người bi quan, nhưng khi chủ nghĩa bi quan phối hợp với tham vọng, nó thường tạo ra kết quả rất ấn tượng. Để trở nên thật đỉnh ở mọi thứ, bạn cần phải trở thành kẻ phê bình bản thân khắc nghiệt nhất, và điều này gần như không thể xảy ra khi xuất phát điểm của bạn là sự tự tin cao chót vót.
À à. Sự tiêu cực cũng có ích. Nó không hoàn toàn tệ như bị thủng bánh xe. Tiếp cận vấn đề với con mắt phê bình có thể khiến ta nản chí với những lỗi lầm, nhưng nó đồng thời cũng là tiền đề cho sự cải thiện. Nghiên cứu tâm lý học cho thấy rằng cảm xúc tiêu cực tạo động lực học hỏi. Nếu bạn đạt điểm A trong bài kiểm tra, bạn chỉ cười và sống tiếp. Nhưng nếu bạn đạt điểm F, bạn sẽ muốn tìm hiểu xem tại sao mình lại làm tệ đến vậy. Một nghiên cứu khác có tiêu đề “Tell Me What I Did Wrong” cho thấy rằng có một sự thay đổi trên con đường đến với sự thành thạo. Lính mới thường tìm kiếm và rất cần phản hồi tích cực bởi vì nó giúp cho họ tiếp tục làm thứ mà họ không giỏi lắm. Nhưng có một điểm tới hạn. Khi đã trở thành chuyên gia, họ nên tìm kiếm những phản hồi tiêu cực để biết cách tiếp tục cải thiện, bởi vì các sai sót của họ nay đã ít hơn và khó nhận thấy hơn nhiều.
Điều này liên quan đến những gì chúng ta đã biết về chủ nghĩa lạc quan và lòng quyết tâm. Niềm tin tích cực giữ cho bạn đi tiếp nhưng ở một mức độ nào đó, nó lại là ảo tưởng. Những người tuyệt vọng mới chính là những người nhìn nhận thế giới chính xác hơn. Nghiên cứu cho thấy dân kinh doanh theo chủ nghĩa bi quan thành công hơn, dân đánh bạc lạc quan thua tiền nhiều hơn, và những luật sư giỏi nhất đều là người bi quan. Chúng ta cần tinh thần lạc quan và sự tự tin để có thể đi tiếp và thuyết phục người khác đi theo, nhưng tính tiêu cực và bi quan lại giúp ta thấy được vấn đề để giải quyết. Vâng, sự lạc quan dễ chịu hơn, nhưng cả hai thứ đều cần thiết.
Abraham Lincoln là ví dụ điển hình. Ông là hiện thân của rất nhiều ưu điểm xuất phát từ mức độ tự tin thấp. Ông cởi mở với các ý tưởng và dành phần lớn thời gian tại phòng điện tín của Bộ Chiến tranh để nắm những chiến lược đang được đề xuất. (Thực tế là, Lincoln rất bị thu hút bởi những ý tưởng mới, ông là Tổng thống Mỹ duy nhất được cấp bằng sáng chế.)
Lincoln còn thực thi một chính sách mở cửa. Donald T. Phillips, tác giả của quyển Lincoln on Leadership, cho biết Lincoln có lẽ là tổng thống dễ tiếp cận nhất trong lịch sử đất nước. Ông dành hơn 75% thời gian của mình gặp gỡ mọi người. Người ta tin rằng ông đã gặp qua tất cả những người lính Liên bang nhập ngũ sớm trong Nội chiến Mỹ.
Liệu ông có là một kẻ hung hăng ức hiếp người? Không hề. Lincoln giống một người bạn trong hoạt động kết nối mạng lưới. Ông không hề ép buộc hay đe dọa ép người khác theo ý mình. Ông từng nói, “Đối với con người, nếu muốn thuyết phục một người đi theo lý tưởng của mình, trước tiên hãy thuyết phục họ rằng bạn là một người bạn chân thành.” Vậy ông đối phó với những đối tượng hoàn toàn thù địch thế nào? “Tôi hủy hoại kẻ thù khi tôi biến được họ thành bè bạn.”
Vậy ông có khiêm nhường? Hẳn rồi. Ông không có vấn đề gì khi thừa nhận mình sai. Trong một bức thư gửi đến Ulysses s. Grant, ông đã rất thẳng thắn: “Tôi xin thừa nhận rằng ngài đã đúng, và tôi đã sai.”
Nghiên cứu cho thấy sự khiêm nhường sẽ được đền đáp. Những vị sếp tỏ ra yếu đuối và đánh giá thấp bản thân lại dễ được lòng nhất. Frank Flynn từ Stanford nhận ra những người biết thừa nhận lỗi lầm được đồng sự đánh giá là lãnh đạo tốt. Nghiên cứu từ Hải quân Mỹ cũng cho thấy các nhà lãnh đạo được yêu mến có tinh thần dân chủ và kỹ năng lắng nghe rất tốt. Thời gian duy nhất mà đội ngũ muốn một nhà lãnh đạo đưa ra quyết định không cần thông qua mọi người chính là trong lúc khủng hoảng (giống như giới cướp biển vậy).
Chúng ta nghĩ rằng các nhà lãnh đạo có xu hướng ái kỷ, và như đã biết, người ái kỷ đúng là dễ trở thành lãnh đạo hơn, nhưng họ không thể thăng hoa ở vị trí này. Kết quả thể hiện của người ái kỷ có tương quan đến lượng cơ hội để họ thể hiện sự ngầu lòi. Điều này tạo ra một tác động rất tiêu cực: Khi mọi chuyện diễn biến xấu và mọi người cần lãnh đạo hơn bao giờ hết, thì người ái kỷ lại ít muốn nhúng tay vào.
Thực ra, nếu như bạn muốn chọn một người có tính cách “tồi” nhưng là CEO giỏi, đừng chọn người ái kỷ — thay vào đó, hãy chọn một con nghiện. David J. Linden, giáo sư về thần kinh học tại Đại học Johns Hopkins, lý giải rằng bản chất nghiện của họ có thể khiến họ làm việc điên cuồng khi cần:
Những tính cách thích rủi ro, ham khám phá, và cuồng si thường gặp ở người nghiện có thể được khai thác rất hiệu quả ở nơi làm việc. Đối với rất nhiều lãnh đạo, không phải là họ thành công dù đang bị nghiện; trái lại, chính cơ chế não bộ và hóa học khiến cho họ bị nghiện cũng trao cho họ những đặc điểm hành vi có lợi ấy.
Bạn đã nghe từ cả 2 phía: Tự tin thái quá khiến cho bạn cảm thấy thật tuyệt vời, cho bạn quyết tâm, và gây ấn tượng đến người khác — nhưng cũng có thể khiến bạn biến thành gã khốn kiêu căng, xa lánh mọi người, không thể tiến bộ, và có thể mất tất cả bởi thói chối bỏ thực tại. Cư xử ít tự tin hơn cho bạn động lực và công cụ để trở thành chuyên gia và khiến cho mọi người yêu thích… Nhưng cũng khiến bạn không vui vẻ cho lắm và có thể phát tín hiệu rằng bạn không có năng lực.
Nghe oải thật, đúng không? Dường như chả có câu trả lời nào dễ dàng. Bạn có thể chọn gây ấn tượng với người khác và khiến họ ghét; hoặc chọn khiến họ thích nhưng không tôn trọng mình. Thật là bế tắc. Thế còn như vầy thì sao: Sẽ ra sao nếu như bạn quăng mớ mô hình tự tin này vô thùng rác?
Khoan chửi tôi vội. Rất nhiều nghiên cứu chứng tỏ rằng nhìn sự việc qua lăng kính tự trọng chính là nguyên nhân thật sự khiến cho cuộc tranh cãi về tự tin lại khó nhọc như vậy. Nhưng còn giải pháp nào thay thế sự tự tin? Giáo sư Kristin Neff tại Đại học Texas cho biết đó chính là “tự cảm thông” (self-compassion). Từ bi với bản thân khi phạm phải sai lầm đồng nghĩa với việc bạn không cần phải cư xử như gã khốn ảo tưởng để thành công, và bạn cũng không phải cảm thấy thiếu năng lực khi cần tiến bộ. Bạn sẽ thoát khỏi mớ kỳ vọng ngớ ngẩn và dằn vặt bản thân khi không đạt được các kỳ vọng ấy. Bạn sẽ dừng lừa dối chính mình rằng bạn quá tuyệt vời. Thay vì vậy, bạn chỉ tập trung vào tha thứ cho bản thân khi bạn chẳng may không được tuyệt cho lắm.
Nghiên cứu cho thấy việc gia tăng mức độ tự cảm thông sẽ mang lại mọi lợi ích của sự tự tôn — nhưng không kèm theo mặt trái của nó. Bạn có thể thấy thoải mái và đạt kết quả làm việc tốt mà không cần phải hóa thành một gã khốn hay không thể cải thiện bản thân mình. Không giống như sự tự tin, sự tự cảm thông không dẫn đến ảo tưởng. Thực ra, một nghiên cứu có tựa đề “Self-Compassion and Reactions to Unpleasant Self-Relevant Events: The Implications of Treating Oneself Kindly” đã thể hiện rằng những người mang tính cách này sẽ suy nghĩ thông suốt hơn. Họ nhìn nhận bản thân và thế giới chính xác hơn, đồng thời cũng không quá dằn vặt khi thất bại. Trong khi đó, những người tập trung vào tính tự tôn thường cảm thấy cần phải lừa dối bản thân và phủi sạch các phản hồi tiêu cực (nhưng hữu ích) để thấy thoải mái về chính mình. Họ mãi bám vào những lý thuyết tự nghĩ ra thay vì nhìn ra thế giới thực. Điều này đưa đến tính kiêu căng và ái kỷ. Khi kiểm tra số liệu, có một sự tương quan khá rõ giữa tự tôn và ái kỷ, trong khi mối liên hệ giữa tự cảm thông và ái kỷ gần như bằng 0.
Điều gì xảy ra khi bạn cảm nhận tốt về bản thân và năng lực của mình mà không hề thổi phồng cái tôi? Người ta sẽ thích bạn. Khoa học thần kinh chỉ ra rằng sự tự cảm thông sẽ dẫn đến sự cảm thông với cả những người khác, chứ không mất đi sự cảm thông như trong trường hợp tự tin thái quá. Dưới kết quả chụp MRI, những người tự tha thứ cho bản thân có vùng sáng được kích hoạt tương tự như khi chúng ta lo lắng cho người khác. Với những cặp đôi yêu nhau, sự tự cảm thông là chỉ báo tốt hơn sự tự tôn trong việc dự đoán xem người đó có phải là người bạn đời tốt hay không.
Như đã bàn trong chương này, sự tự tin chắc chắn khiến cho bạn hạnh phúc hơn. Nhưng đoán xem? Tự cảm thông cũng làm được như thế, nhưng không đi kèm với những mặt tiêu cực: “Nghiên cứu cho rằng tự cảm thông có mối liên quan mạnh mẽ đối với trạng thái tâm lý khỏe mạnh, bao gồm sự gia tăng niềm hạnh phúc, lạc quan, sự chủ động cá nhân và sự kết nối, đồng thời giảm thiểu cảm giác lo lắng, trầm cảm, bệnh cầu toàn, và tình trạng cứ day dứt nghĩ đi nghĩ lại chuyện buồn.”
Khá là ấn tượng hả? Vậy tại sao tự cảm thông lại ngon lành, trong khi tự tôn lại không? Bởi vì sự tự tôn luôn mang tính chất ảo tưởng hay mơ hồ, và cả hai thứ này đều không mang đến chuyện tốt. Để luôn cảm thấy mình vô đối, ta cần phải tách biệt bản thân khỏi thực tế, hoặc phải ở trên một guồng quay không ngừng chứng tỏ bản thân. Sẽ đến lúc ta không còn đủ sức, dẫn đến lòng tự tôn bị tổn thương. Đó là còn chưa kể đến việc liên tục khẳng định bản thân sẽ khiến ta kiệt quệ và bất ổn. Tự cảm thông cho phép ta nhìn thấy sự thật và chấp nhận rằng mình không hoàn hảo. Như nhà tâm lý học nổi tiếng Albert Ellis từng nói, “Tự tôn là căn bệnh kinh điển nhất từng được biết đến ở con người, bởi vì nó là căn bệnh có điều kiện.” Những người có tính tự cảm thông sẽ không cảm thấy cần phải chứng tỏ bản thân, và nghiên cứu cũng cho thấy họ ít khi cảm nhận mình là “kẻ thua cuộc.”
Tôi biết vài người trong các bạn đang nghĩ rằng: Liệu luôn tha thứ cho bản thân có khiến cho tôi thụ động? Liệu tôi có mất đi động lực và sự sắc sảo nếu tôi không lo lắng về việc duy trì lòng tự tôn?
Thật ra không tự cảm thông mới khiến bạn trở nên thụ động. Khi tự tin, bạn phớt lờ các phản hồi không khớp với thực tại trong đầu mình, đúng không? Vậy thì khi đó bạn không cần thay đổi. Khi thiếu tự tin, bạn có thể nhìn thấy vấn đề nhưng có thể không đủ gan để vượt qua. Tự cảm thông sẽ cho phép bạn nhìn nhận vấn đề và làm được chút gì đó. Nghiên cứu cho biết việc tiếp cận theo hướng tha thứ sẽ khiến ta chịu trách nhiệm nhiều hơn và ít buồn bã hơn. Các tài liệu khác cũng cho thấy, bởi vì những người có tính tự cảm thông không tự giày vò mình, họ sẽ ít sợ thất bại hơn, từ đó ít chần chừ cũng như cảm thấy quyết tâm hơn.
Tha thứ cho bản thân cũng dễ dàng hơn là cứ cố duy trì cảm giác tự tin. Bạn không cần liên tục chỉnh sửa câu chuyện thổi phồng tự kể và cũng không cần phải giết một con rồng mỗi ngày để chứng tỏ mình. Nghiên cứu cho thấy điều có lẽ khá rõ ràng: Chúng ta thích nghe điều tốt về bản thân mình, nhưng đồng thời cũng thích nghe sự thật. Lý do rất khó để gia tăng lòng tự tôn chính là, buồn thay, chúng ta không phải khi nào cũng làm được cả 2 điều trên cùng lúc. Sự tự cảm thông sẽ bảo với ta rằng: Không sao đâu.
Vậy làm thế nào để tự cảm thông? Nó bắt đầu với một thứ mà ta đã thấy ở người lính Navy SEAL James Waters: trò chuyện với chính mình. Nhưng thay vì tự đút cho mình những câu chuyện truyền động lực không thể tin được, hay những lời tán dương không đúng sự thật, chỉ cần nói với bản thân mình một cách từ tốn, nhẹ nhàng, như bà tâm sự với cháu vậy. Đừng hạ bệ hay chỉ trích bản thân khi chuyện không như ý muốn. Nhà nghiên cứu Kristin Neff lý giải, “Ai là người duy nhất trong đời thường trực 24/7 để quan tâm tử tế đến bạn? Là chính bạn đó thôi.”
Bạn cũng đồng thời muốn chấp nhận tính người của mình. Bạn dễ mắc sai lầm. Bạn không cần lúc nào cũng phải hoàn hảo như Batman. Mà bạn cũng không thể. Không ai có thể. Cứ cố hoàn hảo thì thật là phi lý, và đó chính là thứ đưa đẩy đến những cảm xúc khó chịu kia.
Cuối cùng, hãy thừa nhận sai lầm và thất bại của bản thân mà không chối bỏ hay xem đó như ngày tận thế. Đừng cố hợp lý hóa, cũng đừng kịch hóa nó lên. Sau đó, hãy bắt tay hành động. Nghiên cứu cho thấy việc dành thời gian để ghi lại những suy nghĩ tốt đẹp cho bản thân, rằng mình cũng là con người, cũng dễ sai lầm, rằng mình có thể nhìn thẳng vào vấn đề mà không biến nó thành thảm họa cảm xúc, tất cả những điều đó sẽ làm ta thoải mái hơn và gia tăng sự tự cảm thông. Thiền định và chánh niệm cũng phát huy tác dụng. Hãy kết hợp những thứ ấy để có kết quả tốt hơn.
Liệu làm xong hết những thứ này có giúp ta cải thiện cuộc đời chỉ sau một đêm? Ồ, không đâu. Nhưng theo thời gian, cách này rất khả quan so với phương pháp tự tin/không tự tin đã nói lúc nãy, thứ luôn đi kèm với tác dụng phụ.
Được rồi, đã đến lúc tổng kết lại mọi thứ chúng ta học được về thế lưỡng nan của sự tự tin, rút ra vài mẹo vặt hữu dụng, và tìm hiểu thêm một điều cực kỳ đáng kinh ngạc nữa về sự tự cảm thông.
—