Thư viện Online
  • Trang chủ
  • Sách mới cập nhật
  • Trang chủ
  • Sách mới cập nhật

Sinh Ra Để Chạy - Christopher McDougall - Chương 26

  1. Home
  2. Sinh Ra Để Chạy - Christopher McDougall
  3. Chương 26
Prev
Next

Em yêu, thị trấn này đang xé nát thân em;

Đó là một cái bẫy chết người, là một nơi tự sát…

– Bruce Springsteen, Sinh ra để chạy

 

Khuôn mặt Caballo Blanco ửng hồng lên ánh tự hào, vì vậy, tôi cố gắng nghĩ ra câu gì hay ho để khen ngợi.

Chúng tôi vừa tới Batopilas, một thị trấn khai mỏ cũ kỹ nằm sâu hơn 2.400 m dưới miệng của vùng hẻm núi. Thị trấn này được xây dựng từ 400 năm trước, khi các nhà thám hiểm Tây Ban Nha phát hiện ra quặng bạc trong dòng sông đầy đá, và thị trấn này hầu như chẳng thay đổi gì kể từ khi đó. Vẫn là một dãy nhà nhỏ ôm sát bờ sông, nơi lừa thồ nhiều ngang với xe cộ, và chiếc điện thoại có dây đầu tiên được lắp đặt khi thế giới đang bắt đầu lập trình cho iPod.

Để xuống được đây, bạn phải có lá gan thép cùng niềm tin sắt đá đặt vào người bạn đồng hành, người khiến bạn lo lắng lắng nhất chính là tài xế xe buýt. Lối duy nhất để vào Batopilas là một con đường đất uốn lượn quanh bờ vực dựng đứng, và hạ độ cao khoảng 2.100 m chỉ trong vòng chưa đến 10 dặm. Khi chiếc xe buýt oằn mình quanh các khúc cua tay áo, chúng tôi phải bám thật chặt và nhìn xa xuống phía dưới, nơi chất đống những xác xe mà người lái chỉ nhỡ sơ sẩy dăm xentimét. Hai năm sau đó, Caballo cũng tự mình đóng góp vào nghĩa địa thép dưới đó khi chiếc xe bán tải của anh trượt ra ngoài mép vực và lộn xuống. Caballo kịp nhào ra ngoài và chứng kiến chiếc xe bùng cháy tít xa phía dưới. Sau này, những mảnh nhỏ của cái xác xe bị cháy sém vẫn được người ta thu lượm về làm bùa may mắn.

Sau khi chiếc xe buýt dừng lại ngoài rìa thị trấn, chúng tôi leo xuống thật chậm, với khuôn mặt dính bụi và mồ hôi muối đọng như thổ dân vẽ mặt, hệt như mặt của Caballo lần đầu tôi gặp anh. “Đây rồi!” Caballo hú lên. “Chỗ ở của tôi đây.”

Chúng tôi nhìn quanh, nhưng thứ duy nhất đi vào tầm mắt chỉ là tàn tích của một nhà thờ cũ bên kia sông. Mái của nó đã biến mất, và những bức tường đá màu đỏ đang sụp dần vào vách núi màu hồng đỏ, nơi mà từ đó, những bức tường ấy được tạc ra, trông như thể một lâu đài cát đang tan chảy trở lại thành cát. Nó thật hoàn hảo; Caballo đã tìm được chốn lý tưởng cho một hồn ma sống. Tôi chỉ có thể tưởng tượng là sẽ hãi hùng đến mức nào khi đi qua đây vào buổi đêm và nhìn thấy cái bóng ma quái của anh nhảy nhót xung quanh đống lửa, khi anh đi loanh quanh đống đổ nát ấy như gã lùn Quasimodo.

“Ồ, đó thật là, ờ… khác lạ!” Tôi lúng búng.

“Không phải đâu, anh bạn!” Anh nói. “Ở đằng này.” Anh chỉ tay ra đằng sau lưng chúng tôi, về phía một đường mòn mờ nhạt nhỏ bé khuất vào trong đám xương rồng. Caballo bắt đầu leo lên, và chúng tôi bám theo anh, nắm lấy các bụi cây để giữ thăng bằng trong khi vừa mò mẫm leo vừa lê lết lên con đường đá.

“Khỉ thật, Caballo ạ!” Luis nói. “Đây chắc là đường chạy duy nhất trên thế giới cần được đánh dấu và phải có trạm tiếp tế ngay từ dặm thứ hai.”

Sau khoảng 100 m, chúng tôi đến một bụi cây chanh dại và tìm thấy một túp lều nhỏ có tường bằng đất sét. Caballo đã dựng nó bằng cách bê các tảng đá từ dưới dòng sông lên, rồi lộn đi lộn lại quãng đường hiểm trở đó hàng trăm lần với đá cuội lòng sông trơn nhẵn trên tay. Nơi này còn phù hợp để làm chỗ ở cho Caballo hơn cả ngôi nhà thờ đổ nát; ở đây, trong pháo đài cô độc tự tạo này, anh có thể nhìn thấy mọi thứ dưới thung lũng sông mà không hề bị phát hiện.

Chúng tôi bước vào trong và thấy một chiếc giường dã chiến nhỏ, một đống dép thể thao bỏ đi, khoảng ba bốn cuốn sách về Ngựa Điên và những người thổ dân da đỏ Mỹ khác trên một giá sách cạnh chiếc đèn dầu. Tất cả chỉ có vậy; không điện, không nước máy, không nhà vệ sinh. Đằng sau căn lều, Caballo đã dọn quang những cây xương rồng và san phẳng một khoảng đất nhỏ để nghỉ ngơi sau một buổi chạy, hút chút gì đó để thư giãn, và ngắm nhìn cảnh vật hoang sơ thời tiền sử. Dù Ted Chân Đất có rêu rao rằng anh ta là hiện thân của nơi mình ở đến thế nào đi nữa, thì cũng không thể sánh được với sự tương hợp giữa Caballo và túp lều này.

Caballo muốn cho chúng tôi ăn thật nhanh và sau đó rảnh rang đi ngủ. Mấy ngày tới sẽ vắt kiệt sức của tất cả chúng tôi, và cả đám hầu như chưa được nghỉ ngơi mấy kể từ khi tới El Paso. Anh dẫn chúng tôi quay trở lại lối đi bí mật kia và ngược lên con đường để đi tới một cửa hiệu bán hàng qua cửa sổ trước; bạn thò đầu vào cửa sổ đó và nếu người chủ cửa hiệu tên là Mario có thứ bạn muốn, bạn sẽ có được nó. Mario cho chúng tôi thuê vài căn phòng nhỏ ở trên gác với một buồng tắm vòi sen nước lạnh ở cuối hành lang.

Caballo muốn chúng tôi bỏ lại đống hành lý và đi kiếm đồ ăn ngay lập tức, nhưng Ted Chân Đất cứ khăng khăng phải thay đồ và vào buồng tắm để gột rửa bụi đường trước. Anh ta chạy ra khỏi buồng tắm, vừa chạy vừa la hét.

“Chúa ơi! Cái vòi sen có dây điện hở. Tôi vừa bị giật bắn cả mình!”

Eric nhìn tôi. “Anh có nghĩ là do Caballo làm không?”

“Cũng chỉ là giết người trong khi tự vệ chính đáng thôi.” Tôi nói. “Chẳng bồi thẩm đoàn nào tuyên bố có tội đâu.” Chiến trường bão tố Ted Chân Đất – Caballo Blanco chưa khá khẩm hơn được chút nào kể từ khi chúng tôi rời khỏi Creel. Trong một lần dừng nghỉ, Caballo trèo khỏi nóc xe và chui xuống tận cuối chiếc xe buýt để trốn. “Gã đó không biết im lặng là gì.” Caballo nổi đóa. “Hắn đến từ L.A, chắc hắn nghĩ là không được để chỗ nào thiếu tiếng ồn.”

Sau khi chúng tôi sắp xếp xong nơi ở, chỗ Mario, Caballo lại dẫn chúng tôi đến một bà Mamá khác. Chúng tôi thậm chí chẳng phải gọi đồ ăn; ngay khi chúng tôi tới, Dona Mila lôi mọi thứ từ trong tủ lạnh ra. Chẳng mấy chốc, các đĩa đồ ăn được bày ra, nào là sốt kem bơ, đậu pinto, xương rồng cắt lát và cà chua dầm dấm thơm, cơm Tây Ban Nha và thịt bò hầm với gan gà thơm phức.

“Ăn nhiều vào nhé!” Caballo nói. “Các bạn sẽ cần chúng vào ngày mai đấy.” Anh bảo sẽ đưa chúng tôi đi leo núi để khởi động. Chỉ là một cuộc dạo chơi lên ngọn núi gần đó để chúng tôi có dịp nếm thử địa hình sẽ phải vượt qua để đến được đường đua. Anh nhắc đi nhắc lại là không có gì ghê gớm đâu, nhưng sau đó lại dặn chúng tôi ăn thật nhiều và đi ngủ sớm. Tôi càng lo lắng hơn sau khi một ông già người Mỹ có mái tóc bạc trắng bước vào và nhập hội.

“Sửa soạn đến đâu rồi, Ngựa?” Ông chào Caballo. Đó là Bob Francis. Ông xuống Batopilas lần đầu tiên vào những năm 60, và một phần con người ông mãi mãi ở lại nơi này. Dù có con cháu ở San Diego nhưng Bob vẫn dành gần hết cả năm lang thang quanh Batopilas, có lúc dẫn đường cho những người leo núi, lúc khác lại đi thăm Patricio Luna, một người bạn Tarahumara, cũng chính là chú của Manuel Luna. Họ gặp nhau 30 năm trước, khi Bob bị lạc trong hẻm núi. Patricio tìm thấy ông, cho ông ăn, và đưa về nghỉ trong hang của nhà mình đêm đó.

Nhờ tình bằng hữu lâu năm với Patricio, mà Bob là một trong số những người Mỹ ít ỏi từng được dự một lễ hội tesgiiinada của người Tarahumara – lễ hội marathon nhậu nhẹt được tổ chức trước các trận bóng và đôi khi còn khiến các trận bóng đó không thể diễn ra. Ngay cả Caballo cũng chưa đạt được mức tin tưởng đó với người Tarahumara, và sau khi nghe những câu chuyện của Bob, anh không dám chắc mình có muốn được như vậy hay không nữa.

“Những người bạn Tarahumara lâu năm, những gã mà tôi vẫn nghĩ là nhút nhát, hiền lành, bỗng nhiên nhảy chồm vào mặt tôi, sấn vào sát ngực tôi, tuôn ra những lời thóa mạ, chực xông vào đánh lộn.” Bob kể. “Cùng lúc đó, vợ họ lại chui vào bụi với những người đàn ông khác, đám con gái mới lớn thì khỏa thân vật lộn. Họ không cho lũ trẻ con tham gia những cuộc tiệc tùng như thế; anh biết lý do rồi đấy.”

Mọi chuyện đều có thể xảy ra trong lễ hội tesgiiinada, Bob giải thích, bởi vì mọi thứ rồi sẽ bị đổ tội hết cho peyote, loại rượu tequila tự chưng cất, và tesgiiino, loại bia ngô rất mạnh. Những bữa tiệc tùng này có thể trở nên rất điên rồ, nhưng thực ra lại có mục đích tốt đẹp và hoàn toàn tỉnh táo: chúng có tác dụng như một cái van xả áp, để giải thoát cho những cảm xúc chỉ muốn bùng nổ. Cũng như chúng ta, người Tarahumara có những ham muốn và nỗi buồn đau giấu kín, nhưng trong một xã hội mà tất cả mọi người đều tin tưởng ở nhau và không có cảnh sát xen vào giữa, thì phải có một cách nào đó để thỏa mãn dục vọng cũng như hận thù. Vậy thì còn điều gì hay hơn một lễ hội nhậu nhẹt chứ? Tất cả mọi người đều chơi bời hết cỡ, đến mức điên loạn, và rồi, sau khi bị trừng phạt bởi những vết thâm tím và cơn say xỉn, họ lại phủi bụi trên mình và tiếp tục sống.

“Tôi hoàn toàn có thể làm đám cưới hoặc bị giết đến 20 lần trước khi buổi đêm chấm dứt.” Bob nói. “Nhưng tôi đã đủ tỉnh táo để bỏ bầu rượu xuống và rời khỏi đó trước khi mấy trò bậy bạ bắt đầu.” Nếu có ai hiểu rõ vùng Barrancas bằng Caballo, thì người đó chính là Bob, và đó là lý do tại sao, mặc dù ông đã có hơi men và có vẻ muốn ba hoa một chút, thì tôi vẫn chú ý kỹ khi ông bắt đầu câu chuyện với Ted.

“Mấy cái thứ chết tiệt kia sẽ tiêu đời vào ngày mai.” Bob nói, và chỉ tay vào đôi giày Five Fingers trên chân Ted.

“Tôi còn chẳng định dùng chúng cơ.” Ted bảo.

“Vậy nghe còn được.” Bob nói.

“Tôi sẽ chạy chân đất.” Ted trả lời.

Bob quay sang Caballo. “Anh ta đang đùa hả Ngựa?”

Caballo chỉ mỉm cười.

Sáng sớm hôm sau, Caballo đến chỗ chúng tôi khi Mặt trời ló rạng trên vùng hẻm núi. “Ngày mai chúng ta sẽ đi về hướng đó.” Caballo nói và chỉ tay qua cửa sổ phòng tôi, về phía một ngọn núi đang lùi tít đằng xa. Giữa chúng tôi và ngọn núi đó là cả một biển những ngọn đồi thấp, với cây cối mọc um tùm tới mức khó mà tưởng tượng được lại có một lối mòn đi xuyên qua. “Sáng nay, chúng ta sẽ chạy trên một trong những ngọn núi nhỏ đó.”

“Cần khoảng bao nhiêu nước nhỉ?” Scott hỏi.

“Tôi chỉ mang từng này thôi.” Caballo nói và vung vẩy cái chai nhựa nửa lít. “Có thể lấy thêm nước từ một con suối ở trên đỉnh.”

“Còn thức ăn?”

“Không cần!” Caballo nhún vai và cùng Scott đi gọi những người khác. “Chúng ta sẽ trở lại trước bữa trưa thôi.”

“Tôi vẫn sẽ mang túi nước to này.” Eric nói với tôi, và đổ đầy vào ba lô nước ba lít. “Và tôi nghĩ anh cũng nên làm vậy.”

“Thật sao? Caballo nói chúng ta chỉ đi khoảng 10 dặm thôi.”

“Mang nhiều nước cũng chẳng hại gì khi đến nơi hoang vắng.” Eric nói. “Ngay cả khi không cần dùng đến, thì vẫn có thể coi như đang luyện tập. Và anh cũng không thể chắc là không có chuyện gì xảy ra, nhỡ đâu anh phải ở lại ngoài đó lâu hơn anh tưởng.”

Tôi bỏ chai nước cầm tay xuống và với lấy ba lô nước. “Nhớ mang theo các viên i-ốt trong trường hợp anh cần làm sạch nước để uống. Và cứ mang theo ít gel nhé.” Eric thêm vào. “Trong một ngày chạy giải, anh sẽ cần khoảng 200 calo mỗi giờ. Mẹo hay ở đây là học cách nạp ít một mỗi lần, sao cho anh được cung cấp năng lượng vừa đủ đều đặn mà không làm cho dạ dày mình quá tải. Đây sẽ là bài tập tốt đấy.”

Chúng tôi đi bộ dọc theo thị trấn Batopilas, qua những người bán hàng đang dùng tay vẩy nước lên các tảng đá để không cho bụi bặm bốc lên. Bọn trẻ con đang đến trường trong những chiếc áo trắng tinh, mái tóc đen đẫm nước, dừng tán chuyện với nhau để chào hỏi chúng tôi: “Buenos días.”

“Hôm nay chắc sẽ nóng.” Caballo nói, khi chúng tôi chui vào một cửa hàng không có biển hiệu phía trước. “¿Hay teléfono?” Anh hỏi người phụ nữ vừa bước ra chào. Điện thoại có hoạt động không đấy?

“Todavía no!” Cô ta nói và lắc đầu vẻ khổ sở. Vẫn chưa. Clarita vận hành hai chiếc điện thoại công cộng duy nhất ở Batopilas, nhưng đường dây đang gặp sự cố suốt ba ngày qua, khiến cho radio sóng ngắn trở thành phương tiện truyền thông duy nhất. Đây là lần đầu tiên tôi nhận ra chúng tôi đang bị cô lập đến mức nào; chúng tôi không có cách nào biết được về những việc đang xảy ra ở thế giới bên ngoài, hoặc cho thế giới bên ngoài biết về những gì đang xảy ra với mình. Chúng tôi đã hết sức tin tưởng vào Caballo, và một lần nữa, tôi lại tự hỏi mình; dù Caballo có hiểu biết vùng này đến mức nào, thì vẫn quá điên rồ khi trao mạng sống vào tay một gã không có vẻ quan tâm lắm đến mạng sống của chính mình.

Nhưng lúc này, tiếng sôi ùng ục của dạ dày tôi cùng với mùi thơm từ đồ ăn sáng do Clarita chuẩn bị đã dẹp hết những ý nghĩ đó qua một bên. Clarita mang lên những đĩa to đựng huevos rancheros, món trứng rán được phủ sốt salsa tự chế với rau mùi tươi mới băm, xếp lên trên bánh ngô tortilla đầy đặn làm bằng tay. Thức ăn quá ngon khiến chúng tôi không thể ăn ngốn ngấu, mà buộc phải nán lại, rót thêm cà phê vài lần trước khi đứng dậy sẵn sàng lên đường. Eric và tôi học theo Scott và nhét thêm tortilla vào túi để ăn sau.

Mãi đến khi ăn xong, chúng tôi mới nhận ra rằng hai Nhóc Tiệc Tùng vẫn chưa xuất hiện. Tôi kiểm tra đồng hồ; đã quá 10 giờ sáng.

“Bỏ chúng lại thôi!” Caballo nói.

“Để tôi chạy về gọi họ!” Luis đề nghị.

“Thôi!” Caballo ngăn lại. “Chắc mấy đứa ấy vẫn còn ngủ. Ta phải đi ngay nếu muốn tránh cái nóng buổi chiều.”

Có lẽ như thế là tốt hơn cả; họ có thể nghỉ ngơi một ngày để bù nước cho cơ thể và lấy lại sức cho chuyến đi ngày mai. “Dù thế nào cũng không được cho chúng đi theo chúng tôi.” Caballo dặn cha của Luis, người không đi cùng sáng nay. “Nếu chúng bị lạc ngoài đó, thì sẽ không bao giờ tìm thấy được. Tôi không nói đùa đâu.”

Eric và tôi siết chặt ba lô nước, tôi quấn khăn trên đầu. Đầu tôi bắt đầu nóng bốc hơi. Caballo luồn qua một kẽ hở trên bức tường ngăn và dò đường qua các tảng đá lớn để đi tới bờ sông. Ted Chân Đất chạy dấn lên trước để đi cùng anh, thể hiện rằng mình có thể nhảy nhót từ tảng đá này sang tảng đá khác khéo léo thế nào bằng chân đất. Nếu Caballo thấy thán phục, thì anh ta cũng vờ như không biết.

“NÀY CÁC ANH! CHỜ VỚI!” Jenn và Billy đang chạy ào xuống từ con phố phía sau chúng tôi. Billy còn đang cầm áo trên tay, còn dây giày của Jenn thì chưa buộc.

“Các bạn có chắc là muốn đi cùng không đấy?” Scott hỏi khi họ sửa soạn xong trang phục. “Các bạn còn chưa ăn gì cơ mà.”

Jenn bẻ một phong PowerBar làm đôi và đưa cho Billy một nửa. Mỗi người bọn họ mang theo một chai nước nhỏ, chắc không chứa quá sáu ngụm. “Bọn tôi ổn mà!” Billy nói.

Chúng tôi đi theo bờ sông ngổn ngang đá khoảng một dặm, rồi rẽ vào một rãnh khô. Chúng tôi không hẹn mà cùng ngẫu hứng chuyển sang chạy chậm. Cái rãnh đó rộng rãi và nhiều cát, đủ khoảng trống để Scott và Ted Chân Đất chạy bên cạnh Caballo thành hàng ba.

“Nhìn bàn chân họ kìa!” Eric bảo tôi. Mặc dù Scott đi đôi giày chạy đường mòn Brooks mà anh hỗ trợ thiết kế còn Caballo thì đi xăng đan, nhưng họ đều lướt bàn chân trên mặt đất giống y như Ted làm đối với đôi chân trần, bước chạy của họ đồng bộ hoàn hảo. Cứ như xem một đội ngựa xiếc Lipizzaner chạy trên sân khấu.

Sau khoảng một dặm, Caballo rẽ sang một lối đi dốc lên do nước xói mòn tạo thành và lổn nhổn đá dẫn lên ngọn núi. Eric và tôi nhả bớt tốc độ và chuyển sang đi bộ, tuân theo tín điều của dân chạy siêu dài: “Nếu bạn không nhìn thấy được đỉnh, thì hãy đi bộ.” Khi chạy quãng đường 50 dặm, chẳng lợi lộc gì khi cố sức leo lên dốc để rồi phải lê lết khi đi xuống; bạn chỉ thiệt vài giây nếu đi bộ, và sau đó có thể giành lại thời gian bằng cách đổ nhanh xuống dốc. Eric tin rằng đó là một trong những lý do tại sao những người chạy bộ siêu dài không dễ bị chấn thương và hầu như không bao giờ bị kiệt sức: “Họ biết cách tập luyện, mà không làm hỏng chuyện.”

Trong lúc đi bộ, chúng tôi đã bắt kịp Ted Chân Đất. Anh ta đã phải chậm lại để tìm chỗ đặt chân trên những tảng đá sắc nhọn, to bằng nắm tay. Tôi nheo mắt nhìn lên lối mòn phía trước: chúng tôi còn ít nhất một dặm đường đá vụn nữa trước khi đường mòn hết dốc, và hy vọng sẽ phẳng phiu hơn.

“Ted, đôi Five Fingers của anh đâu rồi?” Tôi hỏi.

“Tôi chẳng cần giày.” Anh ta nói. “Tôi đã đánh cược với Caballo rằng nếu tôi hoàn thành được buổi leo núi này, anh ta sẽ không được cáu kỉnh khi tôi chạy chân đất nữa.”

“Anh ta gài bẫy anh trong lần cá cược này rồi!” Tôi bảo. “Thế này thì khác gì chạy trên đá dăm.”

“Con người không phát minh ra nền đất thô ráp, Oso ạ!” Ted nói. “Chúng ta sáng chế ra mặt đường phẳng mịn. Chân anh hoàn toàn thoải mái khi nó thay đổi hình dáng để áp lên các hòn đá. Tất cả những gì anh cần làm là thư giãn và để chân thả lỏng. Như đi massage chân vậy. Ơ, này!” Anh ta gọi với theo khi tôi và Eric bứt lên phía trước. “Tôi bày cho anh một mẹo tuyệt vời nhé. Lần sau, nếu bàn chân anh bị đau, hãy đi bộ trên những hòn đá trơn nhẵn trong lòng suối nước lạnh. Kỳ diệu lắm!”

Eric và tôi bỏ mặc Ted ba hoa một mình, vừa nhảy nhót vừa chạy. Ánh nắng hắt lên từ những hòn đá loang loáng và nhiệt độ tăng dần, khiến chúng tôi có cảm giác như đang leo thẳng lên Mặt trời. Và theo cách nào đó, chúng tôi đúng là đang làm như vậy thật; sau khoảng hai dặm, tôi kiểm tra độ cao bằng đồng hồ và nhận ra đã leo hơn 300 m. Nhưng không lâu sau, đường mòn trở nên bằng phẳng, mặt đường cũng mềm hơn, từ đá sỏi chuyển thành đường đất mòn dấu vết chân.

Những người khác đang ở trước chúng tôi vài trăm mét, nên Eric và tôi bắt đầu chạy để thu ngắn khoảng cách. Trước khi chúng tôi bắt kịp họ, Ted Chân Đất đã lao vụt qua. “Đến lúc uống nước rồi!” Anh ta nói, vung vẩy chai nước rỗng. “Tôi sẽ đợi các anh ở chỗ con suối.”

Đường mòn bất ngờ lại rẽ ngoặt lên cao, khúc khuỷu hình chữ chi. 450 m… 600 m… Chúng tôi rạp người xuống con dốc, cảm giác như chỉ tiến được vài xentimét mỗi bước. Sau ba tiếng đồng hồ và sáu dặm leo dốc mệt nhọc, chúng tôi vẫn chưa tới được con suối; và cũng chẳng thấy bóng cây nào từ khi rời khỏi bờ sông.

“Thấy chưa?” Eric vung vẩy vòi uống của ba lô nước. “Mấy người kia chắc phải khát khô rồi.”

“Và đói meo nữa!” Tôi vừa đế thêm vào, vừa xé một phong hạt và ngũ cốc tổng hợp granola không qua chế biến.

Ở độ cao khoảng hơn 1.600 m, chúng tôi tìm thấy Caballo và những người còn lại trong nhóm đứng đợi trong hốc rỗng dưới một cái cây bách. “Có ai cần viên i-ốt không?” Tôi hỏi.

“Tôi nghĩ là không.” Luis nói. “Anh nhìn mà xem.”

Dưới gốc cây có một bồn đá tự nhiên được tạo thành nhờ dòng suối mát mẻ, nhỏ giọt qua nhiều thế kỷ. Chỉ có điều, lúc này ở đó không có nước.

“Ở đây đang bị hạn hán.” Caballo nói. “Tôi quên béng mất.”

Nhưng có khả năng, một dòng suối khác vẫn chảy ở độ cao khoảng vài chục mét phía trên núi. Caballo tình nguyện chạy lên đó kiểm tra. Jenn, Billy và Luis đã quá khát nên không thể chờ được nữa và đi theo anh. Ted đưa chai nước của mình cho Luis nhờ lấy hộ và ngồi đợi trong bóng cây cùng chúng tôi. Tôi cho anh uống vài ngụm từ ba lô nước của mình, còn Scott thì chia cho anh một ít bánh mì pita và sốt hummus.

“Anh không dùng gel à?” Eric hỏi.

“Tôi thích đồ ăn thật hơn.” Scott trả lời. “Nó cũng dễ mang theo và ta nạp được calo thực, chứ không phải thứ năng lượng bị tiêu nhanh.” Là một vận động viên đỉnh cao được các công ty lớn tài trợ, Scott có thể dễ dàng chọn đồ ăn tùy thích trên khắp thế giới, nhưng sau khi thử nghiệm với tất cả các loại – mọi thứ, từ thịt hươu tới Happy Meals và các phong thức ăn hữu cơ không qua chế biến – cuối cùng anh ta lại chọn lối ăn uống rất giống với người Tarahumara.

“Lớn lên ở Minnesota nên trước đây tôi ăn uống rất lộn xộn.” Anh kể. “Bữa trưa thường là hai suất gà rán McChicken và phần khoai tây chiên to.” Hồi còn chơi môn trượt tuyết kiểu Nordic và chạy việt dã ở trường trung học, các huấn luyện viên thường xuyên bảo rằng anh cần rất nhiều thịt nạc để tái tạo cơ bắp sau một bài tập nặng, thế nhưng càng nghiên cứu sâu về các vận động viên sức bền truyền thống, Scott càng tìm thấy nhiều người ăn chay hơn.

Cũng giống như các Nhà sư Marathon ở Nhật Bản mà anh vừa đọc được; họ chạy một cuộc siêu marathon mỗi ngày trong bảy năm liền, với cự ly tổng cộng khoảng 25.000 dặm mà không ăn gì khác ngoài xúp đậu tương miso, đậu phụ và các loại rau. Còn Percy Cerutty, thiên tài điên rồ người Úc, đã từng huấn luyện nhiều vận động viên siêu dài vĩ đại nhất mọi thời đại thì sao? Cerutty tin rằng thức ăn thậm chí còn không nên nấu, chứ đừng nói đến chuyện giết mổ: ông bắt các học trò trải qua ba bữa ăn hằng ngày toàn yến mạch, trái cây, các loại hạt sống và pho mát. Ngay cả Cliff Young, người nông dân 63 tuổi đã làm chấn động cả nước Úc năm 1983 khi đánh bại cả những vận động viên chạy bộ siêu dài cừ khôi nhất nước trong cuộc đua 507 dặm từ Sydney tới Melbourne, cũng chỉ ăn toàn đậu, yến mạch và bia trong suốt cuộc đua (“Tôi từng cho lũ bê con ăn bằng tay và chúng nghĩ tôi là mẹ chúng.” Young nói. “Tôi không thể ngủ ngon nổi trong những đêm đó khi biết rằng chúng sẽ bị giết.” Ông chuyển sang ăn các loại hạt, khoai tây và ngủ ngon hơn rất nhiều. Và ông cũng chạy rất giỏi nữa.)

Scott cũng không rõ tại sao chế độ dinh dưỡng không có thịt lại hiệu quả với những người chạy bộ vĩ đại, nhưng anh nghĩ nên tin vào kết quả trước và tìm hiểu nguyên nhân sau. Từ đó, anh không cho bất cứ sản phẩm gì từ động vật vào miệng nữa – cả trứng, pho mát, thậm chí cả kem – anh giảm bớt cả đường, bột mì. Anh không mang theo Snicker và PowerBar trong các cuộc chạy dài nữa; thay vào đó, anh lại nhét vào túi các món bánh burrito gạo, bánh mì pita nhồi sốt hummus và quả ô liu Kalamata, cùng với bánh mì tự nướng phủ đậu đỏ và phết hạt diêm mạch. Thời gian bị lật cổ chân, anh tránh dùng ibuprofen và phụ thuộc hoàn toàn vào ấu tàu và ăn thật nhiều tỏi, gừng.

“Tất nhiên là tôi cũng nghi ngờ.” Scott nói. “Mọi người đều bảo tôi sẽ yếu đi, tôi có thể sẽ không phục hồi nổi giữa các bài tập, tôi sẽ bị rạn xương do áp lực và thiếu máu. Nhưng sự thực là tôi lại thấy dễ chịu hơn, vì đang ăn đồ ăn với chất lượng dinh dưỡng cao hơn. Và sau khi chiến thắng ở giải Western States, tôi không bao giờ quay trở lại chế độ ăn lúc trước nữa.”

Bằng cách áp dụng chế độ ăn uống dựa trên hoa quả, rau và các loại thức ăn nguyên hạt, Scott thu nạp được lượng dinh dưỡng tối đa từ lượng calo thấp nhất có thể, vì vậy, cơ thể anh không bị buộc phải mang theo hoặc xử lý những khối thức ăn vô bổ. Và vì carbohydrate được dọn khỏi dạ dày nhanh hơn protein, nên anh có nhiều thời gian tập luyện trong ngày hơn, vì không phải ngồi chờ một cục thịt nào đó tiêu hóa hết. Rau, các loại hạt và đậu chứa tất cả các axit amin cần thiết để tạo cơ bắp. Giống như một người chạy bộ Tarahumara, anh luôn sẵn sàng chạy bất kỳ cự ly nào, vào bất kỳ lúc nào.

Tất nhiên, là trừ khi anh ta bị hết nước.

“Không ổn rồi, các anh ạ!” Luis kêu lên khi chạy ngược trở xuống. “Con suối trên đó cũng cạn khô.” Anh bắt đầu lo lắng; anh vừa thử đi tiểu tiện, và sau bốn giờ liền đổ mồ hôi dưới cái nóng đến 35 độ, nước tiểu của anh trông cứ như cà phê mua ở cửa hàng tiện tích vậy. “Tôi nghĩ là chúng ta nên cố chạy về thôi.”

Scott và Caballo đồng ý. “Nếu chúng ta dốc sức, thì chỉ khoảng một giờ là xuống đến nơi thôi.” Caballo nói. “Oso!” Anh ta hỏi tôi. “Anh ổn chứ?”

“Ừ, tôi không sao.” Tôi trả lời. “Và chúng tôi vẫn còn nước đây.”

“Được rồi, vậy thì cùng làm thôi.” Ted Chân Đất nói.

Chúng tôi bắt đầu chạy thành hàng xuống đường mòn, Caballo và Scott chạy đầu tiên. Ted Chân Đất quả là đáng nể; anh ta chạy nhanh xuống dốc sát ngay sau Luis và Scott, hai trong số những người đổ dốc giỏi nhất trong môn thể thao này. Khi những tay cừ khôi nhất rượt đuổi nhau thì tốc độ trở nên rất dữ dằn. “YEEEEAAAHHH, PHÊ CHƯA!” Jenn và Billy hú lên.

“Chậm bớt lại!” Eric bảo tôi. “Chúng ta sẽ ngã nếu cứ cố bám theo họ.”

Chúng tôi chạy chậm bớt, tụt sâu lại đằng sau trong khi những người còn lại chạy vắt từ bên nọ sang bên kia trên con đường hình chữ chi. Chạy đổ dốc có thể làm tan nát cơ tứ đầu đùi của bạn, chưa kể bạn có thể bị lật cổ chân nữa. Vì vậy, mẹo ở đây là phải giả như bạn đang chạy lên dốc: guồng bàn chân thẳng dưới cơ thể như một người thợ xẻ đang lăn một cây gỗ, rồi kiểm soát tốc độ bằng cách ngả người ra sau, và thu ngắn các bước chạy.

Đến giữa buổi chiều, cái nóng trong vùng hẻm núi lên đến đỉnh điểm, gần tới 38 độ. Những người khác đã ra khỏi tầm mắt nên Eric và tôi cứ thong thả, chạy chậm rãi, thường xuyên uống nước từ hai ba lô nước đang cạn đi rất nhanh. Chúng tôi dò dẫm cẩn thận tìm lối đi xuống giữa một mạng lưới lằng nhằng các lối mòn mà không để ý rằng khoảng một giờ trước đó, Jenn và Billy đã biến mất.

“Máu dê cũng ngon đấy!” Billy khăng khăng. “Chúng ta có thể uống máu, rồi ăn thịt. Thịt dê cũng ngon nữa.” Cậu ta đã đọc một cuốn tự truyện của người đàn ông đã thoát chết trên sa mạc Arizona nhờ dùng đá đập chết một con ngựa hoang và hút máu từ cổ nó. Geronimo cũng đã dùng cách đó. Billy nghĩ. Gượm đã, có thể là Kit Carson mới đúng…

Uống máu ấy à? Jenn, với cái cổ quá khát khô không nói chuyện nổi, chỉ biết trừng mắt nhìn Billy. Cậu ta mất trí rồi, cô nghĩ. Hai người bọn họ còn chẳng đi bộ nổi, gã Đầu Đất này lại nói đến chuyện giết một con dê mà họ không thể bắt nổi bằng một con dao, thậm chí giờ này dao cũng chẳng có. Cậu ta còn tệ hơn cả mình. Cậu ta…

Đột nhiên, bụng cô quặn thắt lại đến mức không thở nổi. Cô đã hiểu ra. Billy không phải đang hóa dại vì sức nóng. Cậu ta nói năng điên rồ như vậy là vì chuyện duy nhất không điên rồ để nói bây giờ lại là điều mà cậu ta không muốn thừa nhận: họ không có cách nào thoát được khỏi đây.

Vào một ngày bình thường, không ai trên đời này có thể bỏ rơi Jenn và Billy trong một cuộc chạy đường mòn vẻn vẹn sáu dặm, nhưng hôm nay lại là một ngày tệ hại. Cái nóng, cơn say váng vất, và hai cái bụng trống không đã bắt kịp họ khi mới xuống núi được nửa đường. Họ đã lạc mất Caballo sau một lối ngoặt gấp, rồi họ gặp phải một ngã ba trên đường mòn. Và sau đó, họ nhận ra mình hoàn toàn cô độc.

Mất phương hướng, Jenn và Billy lang thang ra khỏi ngọn núi và lọt vào một mê cung đá với những lối đi chằng chịt tỏa ra khắp hướng. Những bức tường đá hắt nhiều nhiệt ra tới mức, Jenn ngờ rằng cô và Billy chỉ đang đi theo bất kỳ hướng nào trông có vẻ đỡ nắng hơn. Jenn thấy chóng mặt, như thể tâm trí cô đang trôi nổi tự do ra khỏi cơ thể. Họ chưa ăn gì sau khi chia nhau phong PowerBar sáu giờ trước, và chưa được uống ngụm nước nào từ giữa trưa. Ngay cả cơn sốc nhiệt không quật ngã họ, thì Jenn biết rằng họ vẫn nguy to: cái nóng gần 38 độ đó sẽ sụt giảm, nhưng sau đó nó sẽ giảm tiếp. Đến khi Mặt trời lặn, họ sẽ run rẩy trong cái lạnh buổi đêm, chỉ mặc độc quần đùi lướt ván và áo phông, chết vì khát và phơi nhiệt tại một trong những nơi khó tiếp cận nhất của Mexico.

Họ sẽ biến thành hai cái xác kỳ dị, Jenn nghĩ trong khi họ lê bước bên nhau. Bất kỳ ai tìm thấy họ sau này sẽ phải băn khoăn tại sao hai người cứu hộ bờ biển 22 tuổi mặc đồ lướt sóng lại xong đời dưới đáy vực ở Mexico, cứ như có một con sóng quái gở từ tận Baja quăng họ đến đây. Jenn chưa từng cảm thấy khát đến thế; cô đã từng sụt hơn năm cân sau một cuộc đua 100 dặm nhưng cũng không cảm thấy mệt mỏi vô vọng như lúc này.

“Nhìn kìa!”

“Khát nước gặp mưa rào!” Jenn kinh ngạc. Dưới một gờ đá, Billy tìm thấy một vũng nước. Họ chạy về phía đó, luống cuống vặn mấy cái nắp chai, rồi khựng lại.

Vũng nước đó không hẳn là nước. Nó là bùn đen có váng màu xanh lục, đầy ruồi nhặng vo ve và bị lũ dê, lừa khuấy lên. Jenn cúi xuống nhìn kỹ hơn. Ôi chao! Mùi kinh tởm tới mức họ biết ngay là nếu uống một ngụm nước trong đó thì sẽ ra sao; đến đêm, họ sẽ trở nên yếu nhớt vì cơn sốt và tiêu chảy đến mức không lê lết nổi, hoặc bị nhiễm khuẩn tả, trùng roi hay giun chỉ, thứ bệnh chỉ có thể chữa bằng cách từ từ lôi những con giun dài gần một mét ra khỏi cục áp xe nổi lên trên da hay trong hốc mắt của bạn.

Nhưng họ cũng biết điều gì sẽ xảy ra nếu không uống ngụm nước ấy. Jenn vừa mới đọc câu chuyện về hai người bạn thân bị lạc trong một vùng hẻm núi ở New Mexico và hóa điên vì nắng sau cả một ngày không được uống nước, để rồi một trong hai người đâm người kia tới chết. Cô cũng nhìn thấy những bức ảnh của người leo núi được tìm thấy ở Thung lũng Chết với miệng đầy đất, vì trong những khoảnh khắc sống sót cuối cùng, họ đã cố gắng tìm cách hút lấy hơi ẩm từ những đụn cát khô cằn. Cô và Billy có thể tránh cái vũng nước đó rồi chết khát, hoặc đánh liều nuốt vài ngụm rồi chết vì nguyên nhân khác.

“Cứ tạm nhịn đã!” Billy nói. “Nếu không thể tìm thấy đường sau một giờ nữa, thì ta sẽ quay lại chỗ này.”

“Được. Đường này nhé?” Cô nói, và chỉ tay theo một hướng còn đi xa hơn khỏi Batopilas và dẫn thẳng tới vùng hoang vu trải dài 400 dặm ra tận biển Cortez.

Billy nhún vai. Sáng nay họ đã quá vội vã và còn chuếnh choáng nên chẳng hề chú ý xem đang đi về hướng nào, mà thực ra cũng chẳng quan trọng lắm: nhìn phía nào thì cảnh vật trông cũng giống y hệt. Vừa đi Jenn vừa nhớ lại lúc cô chế giễu mẹ mình đêm hôm trước khi cô cùng Billy đến El Paso. “Jenn.” Mẹ cô van nài. “Con đâu có biết những người này. Làm sao con biết họ có chăm lo cho con không nếu có chuyện gì tồi tệ xảy ra?”

Khốn kiếp thật! Jenn nghĩ. Mẹ nói đúng.

“Được bao lâu rồi nhỉ?” Cô hỏi Billy.

“Khoảng 10 phút.”

“Em chẳng đợi được nữa đâu. Mình quay lại đi.”

“Thôi được.”

Khi họ tìm lại được vũng nước nọ, Jenn đã sẵn sàng quỳ sụp xuống và vục mồm uống luôn, nhưng Billy đã giữ cô lại. Cậu ta gạt đám váng xanh ra, lấy tay bịt miệng hở của cái chai, rồi vục nó sâu xuống và lấy nước từ đáy vũng, với hy vọng nhỏ nhoi rằng nước ở dưới lớp váng bẩn sẽ ít vi khuẩn hơn. Cậu ta đưa cái chai cho Jenn, rồi cũng lấy nước vào chai của cô theo cách đó.

“Em vẫn biết là sẽ có ngày anh giết em mà.” Jenn nói. Họ cụng chai, nói “Chúc sức khỏe” rồi bắt đầu uống, cố gắng để không nôn ra.

Họ uống cạn chai, rồi lấy thêm đầy nước, bắt đầu đi về phía tây vào vùng hoang vu. Trước khi kịp đi xa, họ nhận ra những cái bóng đổ đang bắt đầu trải dài ra phía bên kia hẻm núi.

“Chúng ta phải lấy nhiều nước hơn.” Billy nói. Cậu ta ghét phải quay lại, nhưng cơ hội duy nhất để họ sống sót được qua đêm nay là trở về vũng nước và trụ lại đó tới bình minh. Có thể sau khi họ uống ba chai nước đầy, họ sẽ đủ sức leo lên núi một lần nữa để nhìn được quang cảnh xung quanh trước khi bóng tối sập xuống.

Rồi sau đó, họ quay lại, một lần nữa, đi vào sa mạc đá.

“Billy ơi!” Jenn nói. “Chúng ta gặp rắc rối to rồi.”

Billy không trả lời. Cậu ta đang đau đầu muốn chết, và không hiểu sao một dòng thơ trong bài Tiếng hú cứ giáng những nhịp quặn đau vào sọ cậu:

… những ai biến mất vào núi lửa ở Mexico chẳng để lại bất cứ thứ gì ngoài đống quần áo vải thô, với dung nham và tro tàn của thi ca…

Biến mất ở Mexico, Billy nghĩ. Chẳng để lại gì.

“Billy.” Jenn lặp lại. Trước đây cô và Đầu Đất từng gây ra cho nhau nhiều đau khổ, nhưng họ đã tìm ra cách để không còn làm tan vỡ trái tim nhau và trở thành bạn thân. Cô đã lôi Billy vào chuyện này, và cảm thấy khổ sở vì những gì sẽ xảy ra cho cậu hơn là với cô.

“Là thật đấy, Billy.” Jenn nói. Nước mắt bắt đầu chảy xuống khuôn mặt cô. “Chúng ta sẽ chết ở đây. Hôm nay chúng ta sẽ chết.”

“IM ĐI!” Billy hét lên, cậu ta bị kích động khi trông thấy những giọt nước mắt của Jenn tới mức nổi cơn điên chẳng ra dáng Đầu Đất ngày thường nữa. “IM NGAY ĐI NÀO!”

Cơn nóng giận làm cả hai khựng lại, lặng im. Và trong khoảnh khắc đó, họ nghe thấy một tiếng động: tiếng đá lăn lạo xạo đâu đó phía sau lưng.

“Ê!” Jenn và Billy đồng thanh hét. “Ê NÀY! NÀY!”

Họ vùng chạy trước cả khi nhận ra mình hoàn toàn không biết là đang chạy đến cái gì. Caballo đã cảnh báo cho họ rằng nếu có thứ gì còn nguy hiểm hơn cả bị lạc ở nơi này, thì chính là bị tìm thấy.

Jenn và Billy khựng lại, cố gắng nhìn vào các vùng bóng tối phía dưới đỉnh thung lũng. Liệu có phải là người Tarahumara không? Một thợ săn Tarahumara sẽ vô nhân ảnh, Caballo đã nói vậy; anh ta sẽ quan sát từ xa, và nếu như không thích thứ mình nhìn thấy, anh ta sẽ biến mất vào rừng sâu. Nhỡ là bọn canh gác cho các băng đảng ma túy thì sao? Dù đó là ai đi nữa thì họ vẫn phải liều thôi.

“NÀY!” Họ hô lên. “AI ĐẤY?”

Họ lắng nghe cho tới khi tiếng vọng cuối cùng của chính họ tan biến. Rồi một cái bóng tách ra từ hẻm núi, tiến dần về phía họ.

“Anh nghe thấy chứ?” Eric hỏi tôi.

Phải mất hai giờ chúng tôi mới xuống được tới chân núi. Chúng tôi liên tục mất dấu của lối mòn, phải dừng lại, đi ngược lên và lật lại trí nhớ để tìm dấu vết trước khi tiếp tục. Đám dê hoang đã biến ngọn núi thành một mạng lưới chằng chịt các lối mòn mờ nhạt, và Mặt trời thì đang lặn qua mép đỉnh hẻm núi, khiến việc định hướng trở nên khó khăn hơn.

Cuối cùng chúng tôi phát hiện ra một lòng suối cạn phía xa bên dưới mà tôi tin chắc sẽ dẫn đến dòng sông. Cũng vừa kịp lúc; tôi vừa uống hết nước nửa giờ trước và bắt đầu thấy khô miệng. Tôi chuyển sang chạy, nhưng Eric đã gọi giật lại. “Phải kiểm tra cho chắc đã.” Anh ta bảo. Anh ta leo ngược lên mép vực đá để xem lại hướng đi và vị trí.

“Có vẻ ổn đấy!” Anh gọi vọng xuống. Anh bắt đầu leo xuống – và ngay lúc đó đã nghe thấy tiếng vọng đến từ đâu đó trong những rãnh đá. Anh ta gọi tôi lên, và hai chúng tôi bắt đầu đi theo tiếng vọng. Một lát sau, chúng tôi tìm thấy Jenn và Billy. Jenn vẫn đang nước mắt giàn giụa. Eric đưa nước cho họ, còn tôi cho họ mấy gói gel cuối cùng.

“Các bạn thực sự đã uống nước ở kia à?” Tôi hỏi và nhìn bãi phân lừa nằm trong vũng nước, vẫn hy vọng rằng họ nhầm với một vũng nước khác.

“Đúng vậy!” Jenn nói. “Chúng tôi vừa quay lại để lấy thêm đây.”

Tôi lôi máy ảnh ra chụp để đề phòng sau này một chuyên gia về bệnh truyền nhiễm muốn nhìn rõ xem thứ gì đã chui vào bụng họ. Dù kinh tởm tới đâu đi nữa, thì vũng nước đó cũng đã cứu mạng họ: nếu Jenn và Billy không quay lại để lấy thêm nước đúng vào thời khắc ấy, thì hẳn là họ vẫn đang đi sâu hơn nữa vào vùng đất hoang vu, với những bức tường đá của vùng hẻm núi khép lại sau lưng.

“Cô còn chạy thêm được chút nữa không?” Tôi hỏi Jenn. “Tôi nghĩ là chúng ta không xa ngôi làng lắm đâu.”

“Được.” Jenn trả lời.

Chúng tôi bắt đầu chạy chậm rãi, nhưng có vẻ như nước và gel đã giúp Jenn và Billy hồi sinh, họ bắt đầu chạy với một tốc độ mà tôi gần như không thể theo nổi. Một lần nữa, tôi lại kinh ngạc với sức hồi phục của họ sau khi cận kề cõi chết. Eric dẫn chúng tôi xuống lòng suối cạn, rồi tìm thấy một chỗ quành ở một rãnh đá mà anh nhận ra. Chúng tôi rẽ ngoặt sang trái, và ngay cả khi ánh sáng đang dần dần yếu đi, tôi vẫn có thể nhận ra đám bụi đất trước mặt có dấu chân người. Khoảng một dặm rưỡi sau đó, chúng tôi ra khỏi rãnh đá và thấy Scott cùng với Luis đang sốt ruột ngồi đợi ngoài rìa Batopilas.

Chúng tôi mua bốn lít nước từ một cửa hàng tạp hóa và bỏ vào cả nắm i-ốt. “Tôi chẳng biết thế này có tác dụng gì không,” Eric nói, “nhưng may ra các bạn có thể tống được đám vi khuẩn đã nuốt vào.” Jenn và Billy ngồi bên lề đường, bắt đầu nốc ừng ực. Trong khi họ uống nước, Scott giải thích rằng không ai nhận ra Jenn và Billy đã biến mất cho tới khi cả đám còn lại đã xuống núi. Đến lúc đó, mọi người đều đã mất nước trầm trọng tới mức việc quay lại để tìm kiếm chỉ làm cho tất cả cùng gặp nguy hiểm. Caballo cầm lấy một chai nước và đi một mình, dặn dò những người còn lại ở yên tại chỗ; anh không muốn đám khách của mình lại tỏa đi khắp nơi trong vùng hẻm núi vào buổi đêm.

Khoảng nửa giờ sau, Caballo chạy trở lại Batopilas, mặt đỏ lựng và đẫm mồ hôi. Anh đã không gặp chúng tôi ở mấy lối rẽ vào các rãnh đá, và khi nhận ra rằng việc đi tìm một mình như vậy là vô vọng đến mức nào, anh quay trở lại thị trấn để tìm sự giúp đỡ. Anh nhìn Eric và tôi – mệt mỏi nhưng vẫn đứng vững – rồi nhìn hai người chạy siêu dài trẻ tuổi, kiệt sức và thẫn thờ bên lề đường. Tôi đã đoán được Caballo đang nghĩ gì trước cả khi anh nói ra.

“Bí quyết của anh là gì vậy?” Anh ta hỏi Eric, hất hàm về phía tôi. “Anh đã sửa chữa anh ta như thế nào vậy?”

Prev
Next

Có thể bạn muốn đọc thêm

le-phai-cua-phi-ly-tri-dan-ariely
Lẽ Phải Của Phi Lý Trí – Dan Ariely
March 29, 2022
doi-ngan-dung-ngu-dai-robin-sharma
Đời Ngắn Đừng Ngủ Dài – Robin Sharma
June 1, 2023
kiep-nao-ta-cung-tim-thay-nhau-brian-weiss
Kiếp Nào Ta Cũng Tìm Thấy Nhau – Brian L Weiss
September 9, 2022
hoan-thanh-moi-viec-khong-he-kho-david-allen
Hoàn Thành Mọi Việc Không Hề Khó – David Allen
September 20, 2023

ThuVienOnline © 2026