Sinh Ra Để Chạy - Christopher McDougall - Chương 27
Tôi gặp Eric năm ngoái, ngay khi vừa chán nản tháo đôi giày chạy và nằm lăn ra mặt sông băng lạnh giá. Tôi lại bị đau lần nữa – và theo như tôi nhớ thì đó chính là lần cuối cùng.
Ngay khi về nhà sau chuyến đi Barrancas, tôi bắt đầu thực hành các bài học của Caballo. Tôi không thể chờ đợi, chỉ muốn xỏ chân vào giày mỗi buổi chiều và cố gắng tìm lại cảm xúc khi ở Creel, khi việc chạy đằng sau Caballo khiến cho chặng đường có vẻ thật dễ dàng, nhẹ nhàng, êm ái, và nhanh tới mức tôi chẳng hề muốn dừng lại. Trong khi chạy, tôi cố gắng chiếu lại đoạn phim hình ảnh Caballo đang chạy được ghi lại trong tâm trí. Tôi cố gắng nhớ lại cách anh lướt lên đồi, như thể đang bị người ngoài hành tinh bắt cóc mà vẫn giữ mọi thứ trên cơ thể được thả lỏng, trừ hai khuỷu tay xương xẩu, liên tục vung mạnh như một con Robot Rock’em-Sock’em. Mặc dù có dáng người cao lòng khòng, nhưng nhìn Caballo chạy trên đường mòn, tôi lại liên tưởng đến Muhammad Ali trên võ đài: lỏng lẻo như cây rong biển bị sóng cuộn nhồi, chỉ có một thoáng dữ dằn sẵn sàng bùng nổ.
Sau hai tháng, tôi đã nâng cự ly lên sáu dặm một ngày và một buổi chạy 10 dặm vào cuối tuần. Tư thế chạy của tôi chưa thể tốt nghiệp cấp độ Trơn tru, nhưng tôi vẫn giữ được ở đâu đó giữa mức Dễ dàng và Nhanh. Mặc dầu vậy, tôi bắt đầu hơi lo lắng; dù hết sức thận trọng, nhưng chân của tôi đã lại bắt đầu nổi loạn; khẩu súng phun lửa trong bàn chân phải của tôi đã bắt đầu đánh lửa và đằng sau bắp vế có cảm giác giật giật, như thể gân gót chân tôi đã bị thay bằng dây đàn piano vậy. Tôi gom được cả đống sách về giãn cơ và nghiêm chỉnh dành ra nửa giờ để thả lỏng sau mỗi buổi chạy, nhưng bóng ma của cây kim tiêm cortisone ở chỗ bác sĩ Torg vẫn theo đuổi tôi.
Đến cuối mùa xuân, đã đến lúc làm thử nghiệm. Nhờ một người bạn kiểm lâm, tôi may mắn có được cơ hội hoàn hảo: một cuộc chạy bộ dài ba ngày, cự ly 50 dặm xuyên qua dòng sông No Return ở bang Idaho, hơn 10.000 km2 đất hoang chưa ai đụng chạm đến của phần nước Mỹ lục địa. Việc bố trí cũng thật hoàn hảo: đồ tiếp tế của chúng tôi sẽ được một con la thồ đi, vì vậy, tất cả những gì tôi và bốn người chạy bộ khác phải làm là vượt qua 15 dặm đường đất mỗi ngày từ điểm cắm trại này sang điểm cắm trại khác.
“Trước khi tới Idaho, tôi gần như không biết gì về rừng rú.” Jenni Blake bắt đầu kể, trong lúc dẫn chúng tôi xuống một dải đường mòn hẹp uốn quanh các cây bách xù. Nhìn cô lướt trên đường mòn như đám thanh niên, thật khó mà tin được rằng cô đã tới đây được 20 năm; ở tuổi 38, Jenni vẫn để tóc mái, cặp mắt xanh màu chiến thắng, chân tay thon gọn và rám nắng như sinh viên năm thứ nhất đang đi nghỉ hè. Điều lạ lùng là cô bây giờ còn vô tư lự hơn cả hồi trẻ.
“Tôi mắc chứng thèm ăn vô độ hồi đại học và rất tự ti về bản thân, cho đến khi tới được nơi này.” Jenni nói. Cô đến đây với tư cách tình nguyện viên mùa hè, và ngay lập tức được người ta đưa cho một chiếc cưa gỗ cùng khẩu phần thức ăn trong hai tuần và giao nhiệm vụ đi tới rừng hoang để dọn dẹp đường mòn. Cô suýt oằn xuống bởi sức nặng của chiếc ba lô, nhưng rồi cố gắng kìm nén những nỗi nghi ngờ và lên đường, một mình, đi vào rừng.
Lúc bình minh, cô xỏ giày thể thao, không mặc gì thêm và bắt đầu chạy xuyên qua rừng cây, dưới ánh mặt trời đang dần sưởi ấm cơ thể trần trụi. “Hồi ấy, tôi ở đây một mình trong nhiều tuần liền.” Jenni giải thích. “Chẳng ai nhìn thấy tôi được, vì vậy, tôi cứ thế đi, đi và đi mãi. Đó là cảm giác tuyệt vời đến mức khó tưởng tượng.” Cô không cần đồng hồ hay một tuyến chạy; cô áng chừng tốc độ bằng cảm giác khi gió thổi trên da, và cứ thế chạy dọc theo các lối mòn đầy lá thông cho tới khi đôi chân và phổi van nài cô quay trở lại chỗ cắm trại.
Jenni trở nên đáng gờm từ khi đó, thường xuyên chạy những cự ly dài ngay cả khi bang Idaho bị tuyết phủ kín. Có thể cô đang cố gắng chống chọi với những vấn đề sâu xa nào đó, nhưng cũng có thể (theo như Bill Clinton) là chẳng có điều gì không ổn với Jenni lại không thể được sửa chữa bằng những gì phù hợp với Jenni.
Thế nhưng, khi cố gắng hoàn thành đoạn xuống dốc cuối cùng ba ngày sau đó, tôi gần như chẳng đi bộ nổi. Tôi tập tễnh bước xuống suối và ngồi luôn ở đó, vừa cáu tiết, vừa không hiểu chuyện gì đang xảy ra với mình. Tôi phải mất ba ngày mới chạy được cùng cự ly đường đua của Caballo, bị rách một bên gân gót chân, có khi là cả hai, và một cảm giác đau ở gót chân mà tôi ngờ rằng chính là loại chấn thương vẫn được coi là vết cắn ma cà rồng trong môn chạy bộ: viêm gân gan bàn chân (PF).
Một khi con ma PF cắm răng nanh vào gót chân bạn, thì bạn có nguy cơ chịu trận đến hết đời. Chỉ cần xem bất kỳ diễn đàn nào về chạy bộ, đảm bảo là bạn sẽ tìm thấy một đống mục trao đổi của những người dính phải PF khẩn thiết cầu xin phương thuốc cứu chữa. Mọi người đều nhiệt tình đưa ra những phương pháp chữa trị như – bó chân buổi đêm, tất đàn hồi, sóng siêu âm, sốc điện, cortisone, miếng lót chỉnh hình – nhưng các tin nhắn như vậy vẫn tiếp tục xuất hiện bởi vì có vẻ như mọi biện pháp trên đều không có hiệu quả.
Vậy thì làm thế nào Caballo có thể lao được xuống những con dốc còn dài hơn cả Grand Canyon chỉ bằng đôi xăng đan cũ nát, trong khi tôi chẳng thể chạy tổng quãng đường ít ỏi trong vài tháng mà không gặp rắc rối lớn? Wilt Chamberlain 60 tuổi, cao hơn 2,3 m, nặng gần 125 kg, lại chẳng hề hấn khi chạy hết cuộc đua siêu dài cự ly 50 dặm, sau khi đầu gối ông đã trải qua cả sự nghiệp chơi bóng rổ. Chưa hết, một thủy thủ Na Uy tên là Mensen Ernst thậm chí chẳng nhớ rõ đất liền là thế nào khi lên bờ vào năm 1832, thế nhưng vẫn chạy hết quãng đường từ Paris đến Moscow và thắng cược, trung bình chạy hơn 200 km mỗi ngày trong 14 ngày, mà chẳng biết mình đã xỏ loại giày quê kệch nào, và chạy trên những loại mặt đường nào.
Và đó mới chỉ là lần tập dượt của Mensen, trước khi anh thực sự nghiêm túc: sau này, anh ta chạy từ Constantinople đến Calcutta, nhẹ nhàng vượt qua 90 dặm mỗi ngày trong suốt hai tháng liền. Như vậy không phải là chẳng hề hấn gì với anh ta; Mensen phải nghỉ hẳn ba ngày trước khi… chạy 5.400 dặm ngược trở về nhà. Vậy tại sao Mensen lại chẳng bao giờ bị viêm gân gan bàn chân? Anh chẳng thể bị nổi, vì chân anh vẫn trong tình trạng tuyệt vời một năm sau đó, khi bỏ mạng vì bệnh lị trên chặng đường chạy đến tận đầu nguồn sông Nile.
Bất kỳ nơi đâu, tôi cũng gặp một lô những người chạy bộ siêu phàm xuất hiện ra từ bóng tối. Chỉ cách chỗ tôi ở vài dặm ở Maryland, cô bé Mackenzie Riford 13 tuổi đã vui vẻ chạy hết giải JFK 50 dặm cùng với mẹ (“Cháu thấy vui lắm!”), trong khi Jack Kirk – người được mệnh danh là “Quái vật Dipsea” – vẫn chạy giải Dipsea Trail Race khủng khiếp ở tuổi 96. Giải đua này bắt đầu với đoạn lên dốc trên vách đá cao 671 bậc, nghĩa là một người già gần bằng nửa nước Mỹ đã leo lên cầu thang cao 50 tầng trước khi chạy vào rừng. “Bạn không ngừng chạy khi già đi.” Quái vật nói. “Bạn già đi vì bạn ngừng chạy.”
Vậy thì tôi đã bỏ sót điều gì? Tình trạng của tôi lúc này còn tệ hơn cả lúc tôi bắt đầu; tôi không chỉ không thể chạy đua được với những người Tarahumara, mà tôi ngờ rằng bàn chân với chứng viêm gân PF sẽ còn khiến tôi không thể đến nổi vạch xuất phát.
___________________
“Anh giống y như những người khác.” Eric Orton bảo tôi. “Anh chẳng hiểu mình đang làm gì hết.”
Vài tuần sau thất bại ê chề ở Idaho, tôi đi phỏng vấn Eric theo yêu cầu của một tạp chí. Là một huấn luyện viên thể thao mạo hiểm ở Jackson Hole, Wyoming, và từng phụ trách lĩnh vực thể thao cho Trung tâm Khoa học Y tế của Đại học Colorado, chuyên môn của Eric là bóc tách các môn thể thao sức bền tới từng chuyển động cơ bản nhất để tìm ra kỹ năng có thể áp dụng sang môn thể thao khác. Anh nghiên cứu môn leo núi để tìm ra kỹ thuật về vai, áp dụng cho người chèo thuyền kayak, và áp dụng cơ chế lực đẩy mượt mà của môn trượt tuyết kiểu Nordic cho môn xe đạp địa hình. Điều mà anh đang thực sự tìm kiếm chính là những nguyên tắc thiết kế cơ bản nhất; anh tin rằng tiến bộ vĩ đại tiếp theo trong thể dục thể thao sẽ không phải về luyện tập hay công nghệ, mà là kỹ thuật – vận động viên tránh được chấn thương sẽ chiến thắng trong các cuộc thi đấu.
Anh đã đọc bài báo của tôi về Caballo cùng người Tarahumara, và đặc biệt tò mò muốn nghe thêm về họ. “Những gì người Tarahumara đang làm chính là nghệ thuật của cơ thể.” Anh nói. “Không ai trên Trái đất này tạo lập được đức tính tốt dựa trên động lực tự thân như vậy.” Eric bị người Tarahumara cuốn hút từ khi một vận động viên mà anh huấn luyện để tham gia giải Leadville trở về với những câu chuyện lạ kỳ về đám thổ dân siêu đẳng chạy như bay trong hoàng hôn Druidic, mặc áo choàng, chân đi dép xăng đan. Eric đã mày mò trong thư viện để tìm tài liệu về người Tarahumara, nhưng tất cả chỉ là vài tài liệu nhân chủng học từ những năm 50 cùng một ghi chép không chuyên của cặp vợ chồng đi du lịch xuyên Mexico trên xe thùng cắm trại. Đó rõ ràng là một lỗ hổng kỳ dị trong tư liệu thể thao. Chạy đường dài là môn thể thao được nhiều người chơi nhất thế giới, nhưng hầu như không có tài liệu nào ghi chép về những người chơi môn thể thao này giỏi nhất.
“Ai cũng nghĩ mình biết cách chạy, nhưng thực ra nó phức tạp chẳng kém các môn khác.” Eric bảo tôi. “Cứ hỏi hầu hết mọi người thì sẽ thấy, họ đều nói rằng ‘ai chả chạy như nhau.’ Thật nực cười! Có phải ai cũng bơi giống nhau đâu?” Với các môn thể thao khác, phần dạy cách chơi rất quan trọng; bạn không thể cứ ra sân rồi cầm gậy golf quật túi bụi, hoặc trượt xuống sườn núi với dụng cụ trượt tuyết, mà phải được ai đó dạy cho từng bước một, và hướng dẫn tư thế đúng. Nếu không, chắc chắn là hiệu quả sẽ không cao và chuyện bị chấn thương là khó tránh khỏi.
“Chạy bộ cũng vậy thôi.” Eric giải thích. “Nếu học sai cách, bạn sẽ không bao giờ biết được rằng chơi môn này thích đến thế nào.” Anh gặng hỏi tôi từng chi tiết về cuộc đua mà tôi được xem ở trường học của người Tarahumara. (“Trận bóng gỗ nhỏ.” Anh trầm tư. “Họ tập chạy bằng cách chơi đá bóng; chuyện đó không thể là tình cờ.”) Rồi anh đề nghị; rằng sẽ giúp tôi sẵn sàng cho cuộc đua của Caballo, và đổi lại, tôi phải bảo lãnh cho anh ta với Caballo.
“Nếu cuộc đua này diễn ra thật, chúng ta nhất định phải có mặt.” Eric giục giã. “Đó sẽ là cuộc đua chạy bộ siêu dài vĩ đại nhất.”
“Tôi không nghĩ mình sinh ra để chạy 50 dặm.” Tôi nói.
“Ai cũng được sinh ra để chạy bộ hết.” Anh trả lời.
“Cứ mỗi lần tăng cự ly lên, tôi lại bị chấn thương.”
“Lần này sẽ khác.”
“Tôi có nên dùng miếng lót chỉnh hình không?
“Quên mấy thứ đó đi.”
Tôi vẫn bán tín bán nghi, nhưng sự tự tin tuyệt đối của Eric đã chiến thắng. “Chắc tôi phải giảm cân trước để giảm tải cho chân nhỉ.”
“Chế độ ăn uống của anh sẽ tự động thay đổi thôi. Cứ chờ xem!”
“Thế còn yoga thì sao? Sẽ có ích chứ?”
“Quên yoga đi. Tất cả những vận động viên chạy bộ tập yoga mà tôi biết đều bị chấn thương hết.”
Nghe thấy những điều này, tôi phấn chấn hơn hẳn. “Anh thực sự nghĩ rằng tôi làm được à?”
“Tôi nói thật nhé.” Eric bảo. “Anh sẽ không được phép có sai sót. Nhưng anh sẽ làm được.” Tôi phải quên tất cả những gì từng biết về chạy bộ và bắt đầu lại từ đầu.
“Hãy sẵn sàng để quay ngược về quá khứ.” Eric nói. “Anh sẽ trở về với thời kỳ bộ lạc.”
Vài tuần sau, một người đàn ông với cái chân phải vẹo vọ từ dưới đầu gối trở xuống lết đến gặp tôi và mang theo một sợi dây thừng. Anh ta buộc sợi dây đó quanh hông tôi và kéo thật chắc. “Đi nào!” Anh ta hét.
Tôi gập nghiêng người ra trước để kéo căng sợi thừng, ra sức khua chân để kéo người kia về phía trước. Anh ta buông dây, và tôi phóng vọt đi. “Tốt!” Anh ta nói. “Cứ khi nào chạy, hãy nhớ lại cảm giác bị ghìm bởi sợi dây. Nó sẽ giúp anh giữ bàn chân ở dưới cơ thể, người anh sẽ hướng thẳng về phía trước, và anh sẽ không dùng đến gót chân nữa.”
Eric đã chỉ cho tôi cách biến đổi thành thổ dân bộ lạc bằng việc đi xuống bang Virginia để theo học Ken Mierke, một nhà sinh lý học thể dục và là một vận động viên ba môn phối hợp từng vô địch thế giới, gặp chứng bệnh loạn dưỡng cơ nên tìm mọi cách để có được cách chạy bộ hiệu quả nhất. “Tôi là bằng chứng sống về óc hài hước của Chúa trời.” Ken thường hay nói. “Tôi từng là đứa trẻ bị quá cân với một chân bị tật nhưng lại có người cha sống bằng thể thao. Vì vậy, là một đứa nhóc béo phì bị teo cơ, tôi chậm hơn rất nhiều so với đối thủ. Tôi đã học cách nghiên cứu mọi thứ và tìm ra cách tốt hơn.”
Trong môn bóng rổ, Ken không thể dốc bóng, nên anh tập luyện ném bóng ba điểm và tập thành thục cú ném bóng một tay giơ cao. Anh không thể đuổi kịp một thủ quân hay chạy thoát ăn điểm ở môn bóng bầu dục, nhưng lại nghiên cứu các góc của cơ thể, các đường tấn công và trở thành hậu vệ trái đáng gờm. Anh không thể đuổi kịp một cú vô lê chéo sân, nên khi chơi tennis, anh luyện một cú giao bóng và trả bóng dữ dội. “Nếu tôi không thể chạy đuổi kịp anh, thì tôi sẽ thắng anh bằng cái đầu.” Anh ta nói. “Tôi sẽ tìm ra điểm yếu của anh và biến nó thành thế mạnh của tôi.”
Vì cơ bắp vế chân phải bị teo nên khi bắt đầu thi đấu ba môn phối hợp, Ken chỉ có thể chạy được với một chiếc giày nặng trịch tự chế từ giày trượt pa-tanh và lò xo lá. Thứ đó khiến cho anh gặp bất lợi về cân nặng so với các vận động viên cụt chi trong nhóm vận động viên khuyết tật, vì vậy, việc nâng cao hiệu suất sử dụng năng lượng để bù đắp cho đôi giày nặng hơn 3 kg ấy sẽ mang lại thay đổi vô cùng to lớn.
Ken có cả đống băng quay các vận động viên chạy bộ người Kenya và anh xem kỹ từng khung hình một. Sau nhiều giờ nghiên cứu, anh đột nhiên phát hiện ra: những vận động viên marathon giỏi nhất thế giới chạy giống y như trẻ con học mẫu giáo. “Hãy nhìn lũ trẻ con chạy nhảy ngoài sân chơi. Chân chúng tiếp đất thẳng dưới thân người, và chúng đạp đẩy mạnh ra phía sau.” Ken nói. “Các vận động viên Kenya cũng làm giống hệt như vậy. Cách họ chạy chân đất từ khi còn nhỏ giống y như cách họ chạy bây giờ, khác hoàn toàn với cách người Mỹ chạy bộ.” Cầm giấy bút, Ken ngồi xem lại các đoạn băng và ghi chép lại tất cả những yếu tố quan trọng trong bước chạy của người Kenya. Sau đó anh bắt đầu đi tìm kiếm chuột bạch để thí nghiệm.
May sao, lúc đó Ken hiện đang thực hiện thử nghiệm sinh lý học trên các vận động viên ba môn phối hợp. Đây là công việc nằm trong các nghiên cứu vận động học của anh tại Đại học Virginia Polytechnic, vì vậy anh được tiếp cận với rất nhiều vận động viên. Các vận động viên chạy bộ thường dễ phản kháng lại những ai muốn đụng chạm đến bước chạy của mình, nhưng các Ironman thì lại sẵn sàng thử mọi thứ. “Các vận động viên ba môn phối hợp thường có tư duy cấp tiến.” Ken giải thích. “Đây là một môn thể thao trẻ tuổi, nên nó không bị sa lầy trong các truyền thống cũ. Hồi năm 1988, các vận động viên ba môn phối hợp bắt đầu dùng giá tì tay khí động học trên xe đạp, và các vận động viên đua xe đạp đã chế nhạo họ không thương tiếc – cho tới khi Greg Lemond dùng một bộ giá như vậy và giành chức vô địch Tour de France với chênh lệch sít sao là tám giây.”
Vật thí nghiệm đầu tiên của Ken là Alan Melvin, một vận động viên ba môn phối hợp đẳng cấp thế giới đã vào độ tuổi hơn 60. Trước tiên, Ken đặt ra ngưỡng luyện tập bằng cách để Melvin chạy 400 m hết sức. Sau đó anh cài một máy gõ nhịp lên áo của ông.
“Cái này để làm gì vậy?”
“Ông đặt nó ở ngưỡng 180 nhịp/phút, rồi chạy theo nhịp nhé.”
“Tại sao?”
“Các vận động viên Kenya có tốc độ guồng chân siêu nhanh.” Ken nói. “Thu ngắn bước chân lại, tăng tốc độ guồng chân và chạy nhẹ nhàng hơn thì có hiệu quả cao hơn các bước dài và gắng sức.”
“Tôi không hiểu.” Alan nói. “Sải bước dài thì phải lợi hơn sải bước ngắn chứ?”
“Tôi hỏi ông nhé.” Ken đáp. “Ông đã bao giờ trông thấy mấy gã chạy chân đất trong các cuộc đua 10.000 km chưa?”
“Rồi. Họ khua chân cuống quýt như đang chạy trên than nóng.”
“Thế ông đã thắng được gã nào chạy chân đất như vậy chưa?”
Alan ngẫm nghĩ. “Cũng có lý.”
Sau khi tập luyện năm tháng, Alan trở lại để kiểm tra. Ông chạy bốn quãng lặp dài một dặm, và mỗi vòng trong sân vận động lần này đều nhanh hơn kỷ lục cá nhân cự ly 400 m của ông trước đây. “Đây là một người đã từng chạy bộ 40 năm trời và đã nằm trong 10 người đứng đầu nhóm tuổi.” Ken chỉ ra. “Đây không phải là tiến bộ của một người mới tập. Trên thực tế, là một vận động viên 62 tuổi, đáng nhẽ ông ta phải yếu đi mới đúng.”
Ken cũng thí nghiệm trên cả bản thân mình. Anh chạy kém tới mức trong lần đạt thành tích tốt nhất ở cuộc đua ba môn phối hợp, anh dẫn đầu sau khi hoàn thành phần đạp xe, nhanh hơn người kế tiếp 10 phút, để rồi vẫn thua cuộc. Chỉ sau một năm kể từ khi sáng tạo ra kỹ thuật mới vào năm 1997, Ken đã trở nên bất bại. Anh giành chức vô địch thế giới ở hạng mục của vận động viên khuyết tật trong hai năm liên tiếp. Khi tin đồn rằng Ken đã tìm ra được cách chạy không chỉ nhanh mà còn nhẹ nhàng cho đôi chân, các vận động viên ba môn phối hợp khác bắt đầu thuê anh làm huấn luyện viên. Từ đó, Ken huấn luyện cho 10 vận động viên giành được chức vô địch quốc gia và lập kế hoạch cho hơn 100 vận động viên khác.
Tin rằng đã tìm lại được thứ nghệ thuật cổ xưa, Ken đặt tên phương pháp của mình là Evolution Running (Chạy bộ tiến hóa). Thật tình cờ, hai trường phái chạy chân đất khác cũng nổi lên cùng thời gian đó. “Chi Running” (Chạy bộ khí công), dựa trên sự cân bằng và tối thiểu hóa của thái cực quyền, rộ lên ở San Francisco, còn ở Florida, Tiến sĩ Nicholas Romanov, một nhà sinh lý học thể dục, lại dạy phương pháp POSE. Làn sóng tối thiểu hóa không dựa vào sự sao chép hay lai tạp, mà dường như là lời kinh cứu rỗi đáp lại nhu cầu cấp bách muốn đối phó với căn bệnh truyền nhiễm mang tên chấn thương trong chạy bộ. Tối thiểu hóa cũng chính là logic cơ học thuần túy của cái mà Ted Chân Đất gọi là “nghệ thuật ứng tác từ những thứ có sẵn của trường phái chân đất” – cách gọi tao nhã của phương thuốc ít-chính-là-nhiều.
Nhưng một hệ thống đơn giản lại chưa chắc dễ học, đây là điều tôi phát hiện ra khi xem lại đoạn băng Ken Mierke quay tôi chạy. Trong đầu tôi vẫn hình dung ra cảm giác Dễ dàng, Nhẹ nhàng và Trơn tru, nhưng đoạn băng lại cho thấy tôi vẫn nảy lên xuống và khom người tới trước như bị hút vào tâm bão. Ken giải thích rằng việc tôi thấy dễ dàng áp dụng phong cách của Caballo, chính là sai lầm của tôi.
“Khi tôi dạy kỹ thuật này cho một ai đó rồi hỏi họ cảm thấy thế nào, nếu họ trả lời ‘Tuyệt!’ thì tôi sẽ nói ‘Hỏng rồi!’ Điều đó có nghĩa là họ chưa thay đổi gì hết. Sự thay đổi đáng lẽ phải tạo ra sự gượng gạo. Sẽ có giai đoạn, anh thấy mình không còn dễ dàng chạy theo cách cũ, nhưng lại chưa cảm thấy thoải mái khi chạy theo cách mới. Anh sẽ không chỉ thích nghi về kỹ năng, mà phải thích nghi đến tận các mô; anh đang kích hoạt những cơ bắp ngủ quên suốt cuộc đời mình.”
Eric có cách để tránh được hoàn toàn các lỗi sai khi dạy kỹ năng này.
“Hãy tưởng tượng con anh chạy ra phố và anh phải tăng tốc đuổi theo bằng chân đất.” Eric bảo tôi sau khi tôi xong phần việc với Ken. “Anh sẽ tự động chuyển sang tư thế hoàn hảo – chạy bằng phần trước bàn chân, với lưng thẳng, đầu ổn định, cánh tay vung cao, khuỷu tay vung trước sau, và bàn chân chạm đất nhanh gọn ở phần trước, sau đó chân đạp ra sau, vung cao về phía mông.”
Sau đó, để cho bước chạy nhẹ nhàng như lời thì thầm ngấm vào cơ bắp, Eric lên chương trình luyện tập, trong đó có rất nhiều bài chạy lặp lên dốc. “Anh sẽ không thể chạy lên dốc mạnh mẽ với một tư thế xấu được.” Eric giải thích. “Thực sự không thể được. Nếu anh cứ cố tiếp đất bằng gót với chân duỗi thẳng, thì anh sẽ bị ngã ngửa ra sau.”
Eric bắt tôi mua thiết bị đo nhịp tim để tôi có thể sửa được lỗi phổ biến thứ hai trong môn chạy bộ: tốc độ. Chúng ta hầu như chẳng biết gì về tốc độ hay dáng chạy. “Hầu hết người chạy bộ đều chạy các bài tập chậm với tốc độ quá nhanh, và chạy các bài tập nhanh với tốc độ quá chậm.” Ken Mierke nói. “Vì thế họ đều tập cho cơ thể đốt đường, đó là điều không vận động viên chạy đường dài nào muốn cả. Anh có đủ mỡ dự trữ để chạy tới tận California, vì vậy, anh càng tập cho cơ thể quen với việc đốt mỡ thay cho đốt đường nhiều hơn, thì phần dự trữ đường ít ỏi trong anh càng trụ được lâu hơn.”
Cách để kích hoạt hệ thống đốt mỡ trong cơ thể là duy trì cơ thể ở dưới ngưỡng hiếu khí – ngưỡng thở khó nhọc – trong bài chạy sức bền. Trước khi giày đế êm và nền đường lát phẳng ra đời, việc duy trì tốc độ dưới ngưỡng này dễ hơn nhiều; cứ thử lao nhanh trên đường mòn đầy đá vụn với đôi xăng đan hở ngón mà xem, bạn sẽ thấy hết muốn tăng tốc ngay. Khi bàn chân không được bảo vệ bằng các sản phẩm nhân tạo, bạn buộc phải chú ý và điều chỉnh tốc độ: khi liều lĩnh chạy nhanh và ẩu, cơn đau dẫn lên từ xương ống chân sẽ làm bạn phải chậm bớt.
Tôi háo hức muốn chơi hết cỡ kiểu Caballo, thay giày chạy bằng xăng đan, nhưng Eric cảnh báo rằng tôi sẽ rước về một vết rạn xương nếu thình lình thay đổi sau khi để bàn chân nghỉ ngơi 40 năm qua. Vì mục tiêu số một là chuẩn bị cho 50 dặm đường mòn, tôi không có thời gian tập luyện sức mạnh bàn chân trước khi tập luyện chính thức. Bắt đầu từ việc bảo vệ bản thân, tôi thử nghiệm một số loại giày đế thấp trước khi dùng một mẫu giày cũ trên eBay: đôi Nike Pegasus8 tồn kho từ năm 2000, loại giày cho cảm giác đế bệt như đôi Cortez ngày xưa.
8. Chính sách của Nike, cứ 10 tháng lại rút các đôi giày bán chạy nhất khỏi kệ hàng, tạo cảm hứng cho vài bản trường ca tục tĩu trên một số diễn đàn. Ví dụ, đôi Nike Pegasus, bán ra vào năm 1981, được tôn sùng bởi thiết kế xù xì nhưng đẹp mắt năm 1983, và mặc dù trở thành đôi giày chạy bộ phổ biến nhất mọi thời đại, vẫn bị ngừng sản xuất vào năm 1998, rồi lại xuất hiện như một con quái vật mới vào năm 2000. Tại sao lại như vậy? Chẳng phải để cải tiến giày, như một cựu chuyên gia thiết kế giày cho Nike, người từng làm việc với đôi Pegasus đầu tiên, nói với tôi, mà là để tăng doanh số; Nike nhằm vào việc tăng gấp ba doanh số bán hàng bằng cách dụ dỗ người chạy bộ mua hai, ba, thậm chí năm đôi giày mỗi lượt, để phòng trường hợp họ không được nhìn thấy đôi giày yêu thích của mình nữa.
Đến tuần thứ hai, Eric đã bắt tôi chạy các bài tập dài hai giờ đồng hồ, lời khuyên duy nhất của anh là tập trung vào tư thế chạy, và giữ tốc độ thoải mái tới mức thỉnh thoảng có thể ngậm mồm mà vẫn thở được. (50 năm trước, Arthur Lydiard đã đề ra một mẹo tương tự nhưng cách làm ngược lại để kiểm soát nhịp tim và tốc độ: “Chỉ chạy ở tốc độ có thể nói chuyện được.”) Tới tuần thứ tư, Eric bắt đầu đưa thêm các bài tập tốc độ: “Anh chạy được thoải mái ở tốc độ càng cao,” anh dạy tôi, “thì càng tốn ít năng lượng hơn. Chạy nhanh đồng nghĩa với việc thời gian nện chân xuống đường sẽ ngắn hơn.” Chưa tới tám tuần tập theo chương trình của anh, mỗi tuần tôi đã chạy được nhiều dặm hơn và chạy được với tốc độ nhanh hơn so với trước đây.
Đó là lúc tôi quyết định ăn gian. Eric đã hứa rằng chế độ ăn uống của tôi sẽ tự điều chỉnh khi tổng số dặm chạy được của tôi tăng lên, nhưng tôi vẫn nghi ngờ nên không muốn chỉ ngồi đợi. Tôi có một người bạn là vận động viên xe đạp, anh này có thói quen vứt các chai nước trước khi đạp lên dốc; vậy nếu 350 ml nước có khả năng làm anh ta chậm lại, thì chẳng khó để tính toán xem khoảng 13 cân nặng thừa có thể ảnh hưởng tới tôi như thế nào. Nhưng nếu tôi định đụng chạm đến chế độ ăn uống của mình chỉ vài tháng trước cuộc đua 50 dặm, tôi cần phải thực hiện một cách thận trọng khi làm theo kiểu Tarahumara: Tôi cần phải vừa khỏe mạnh lên vừa phải gầy bớt đi.
Tôi đã lần tìm ra được Tony Ramirez, người thợ làm vườn ở Laredo, thị trấn biên giới Mexico, đã từng vào ra vùng đất của người Tarahumara suốt 30 năm qua và giờ đang trồng giống ngô cổ truyền của người Tarahumara, tự xay pinole cho mình. “Tôi thích món pinole. Mê mẩn luôn ấy.” Tony bảo tôi. “Đó là một loại protein không đầy đủ, nhưng khi kết hợp với đậu hạt, nó còn giàu dinh dưỡng hơn cả một miếng bít tết xương chữ T. Họ thường hòa lẫn món này với nước và uống, nhưng tôi lại thích ăn khô hơn. Nó có vị như ngô bung xay nát.
“Anh có biết chất phenol không?” Tony nói thêm. “Đó là các hợp chất tự nhiên trong thực vật có tác dụng kháng bệnh. Chúng có khả năng tăng cường hệ miễn dịch.” Khi các nhà nghiên cứu ở Đại học Cornell thực hiện phân tích so sánh giữa lúa mì, lúa mạch, ngô và gạo để xem loại nào có lượng phenol cao nhất, thì ngô vượt trội hơn hẳn. Và vì là thực phẩm ít béo, chế biến từ thức ăn nguyên hạt, nên pinole còn làm giảm nguy cơ tiểu đường và một loạt bệnh ung thư liên quan đến đường tiêu hóa – trên thực tế là giảm nguy cơ của mọi loại bệnh ung thư. Theo lời Tiến sĩ Robert Weinberg, một giáo sư nghiên cứu về ung thư tại MIT và là người phát hiện ra loại gien đầu tiên có khả năng áp chế khối u, thì cứ bảy ca tử vong vì bệnh ung thư lại có một ca có nguyên nhân từ mỡ thừa trong cơ thể. Mọi sự rất rõ ràng: giảm mỡ, là giảm được nguy cơ ung thư.
Vì vậy, điều kỳ diệu của người Tarahumara, khi nói đến ung thư, thì thực ra chẳng có gì bí ẩn cả. “Thay đổi phong cách sống, bạn sẽ giảm nguy cơ ung thư từ 60 đến 70%.” Tiến sĩ Weinberg nói. Ông chỉ ra rằng ung thư ruột kết, tuyến tiền liệt và ung thư vú hầu như chưa hề có ở Nhật Bản, cho tới khi người Nhật bắt đầu ăn uống theo kiểu Mỹ; chỉ trong vài thập kỷ, tỷ lệ tử vong của họ do ba loại bệnh này bỗng chốc tăng vọt. Hiệp hội Ung bướu Hoa Kỳ đã thực hiện so sánh giữa người gầy và người béo trong năm 2003, kết quả còn đáng lo ngại hơn cả mức họ dự tính: cả đàn ông và phụ nữ quá cân đều có nguy cơ tử vong cao hơn hẳn vì (ít nhất) 10 loại bệnh ung thư khác nhau.
Vì vậy, bước đầu tiên hướng tới việc loại bỏ hẳn căn bệnh ung thư theo kiểu của người Tarahumara, đơn giản là ăn ít đi. Bước thứ hai, về lý thuyết thì cũng dễ dàng không kém, nhưng khi thực hiện lại khó khăn hơn, đó là ăn uống tốt hơn. Cùng với việc tập thể dục nhiều hơn, theo như lời Tiến sĩ Weinberg, chúng ta cần xây dựng chế độ ăn uống dựa trên hoa quả và các loại rau thay vì thịt đỏ và carbohydrate đã qua chế biến. Bằng chứng thuyết phục nhất đến từ việc quan sát cách các tế bào ung thư chiến đấu để sinh tồn: sau khi các khối u di căn bị loại bỏ bằng phẫu thuật, chúng có nguy cơ phát triển trở lại ở các bệnh nhân có “chế độ dinh dưỡng truyền thống kiểu phương Tây” cao hơn đến 300% so với những bệnh nhân ăn nhiều trái cây và rau cỏ. Đây là kết quả dựa trên một báo cáo năm 2007 của Tạp chí Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ. Tại sao lại như vậy? Bởi vì những tế bào ung thư còn sót lại sau phẫu thuật có vẻ như bị protein động vật kích thích. Loại bỏ các loại thức ăn đó khỏi chế độ ăn, và các khối u thậm chí chẳng xuất hiện ngay từ đầu. Huấn luyện viên Joe Vigil vẫn thường nói: ăn như một người nghèo khổ, bạn sẽ chỉ gặp bác sĩ ngoài sân golf mà thôi.
“Các món ăn của người Tarahumara đều có thể kiếm được dễ dàng.” Tony bảo tôi. “Chủ yếu bao gồm đậu thận, quả bí, ớt, rau xanh dại, món bột ngô nấu đường – pinole, và rất nhiều hạt chia. Ngay cả món pinole cũng chẳng khó kiếm như mọi người thường nghĩ đâu.” Trang web Nativeseeds.org vẫn bán thứ thực phẩm này cùng các hạt giống thụ phấn mở trong trường hợp bạn muốn tự trồng ngô và làm món pinole bằng máy pha cà phê. Protein không thành vấn đề; theo một nghiên cứu năm 1979 trong Tạp chí Dinh dưỡng Y khoa Hoa Kỳ, chế độ dinh dưỡng truyền thống của người Tarahumara còn vượt qua ngưỡng khuyến nghị hằng ngày của Liên hợp quốc đến hơn 50%. Về canxi giúp xương chắc khỏe, nó lọt từ đá vôi vào món tortilla và pinole, khi phụ nữ Tarahumara dùng loại đá này làm mềm hạt ngô.
“Vậy còn bia thì sao?” Tôi hỏi. “Liệu có ích lợi gì khi uống như người Tarahumara không?”
“Có và không.” Tony nói. “Món tesguino của người Tarahumara chỉ được lên men rất ít, do đó có độ cồn rất thấp và giàu dinh dưỡng.” Vì vậy, món bia của người Tarahumara lại là một nguồn thực phẩm bổ dưỡng – như món đồ uống xay từ thực phẩm nguyên hạt vậy – trong khi bia của chúng ta lại chỉ là nước đường. Tôi có thể tự ủ được thứ đồ uống gần giống bia từ ngô tại nhà, nhưng Tony còn có một ý tưởng hay hơn. “Hãy trồng phong lữ dại!” Anh gợi ý. “Hoặc mua bột bán sẵn trên mạng.” Phong lữ là thần dược của người Tarahumara. Theo Tạp chí Hóa học Nông nghiệp và Thực phẩm, nó có tác dụng không thua kém rượu vang đỏ trong việc trung hòa các yếu tố căn nguyên gây bệnh tự do. Như một tác giả đã viết, phong lữ dại là thuốc “chống mọi thứ – chống viêm nhiễm, chống vi rút, chống vi khuẩn, chống oxy hóa.”
Tôi bắt đầu tích trữ pinole và hạt chia, và đặt mua cả vài loại hạt ngô giống của người Tarahumara để trồng ở vườn sau: hạt cocopah, mayo yellow chapalote và pinole maiz. Nhưng, suy nghĩ một cách thực tế, tôi hiểu rằng sau chẳng bao lâu, tôi sẽ chán ngấy đám hạt cũng như ngô sấy khô, và rồi lại nhồi hamburger trở lại. Thật may là tôi đã nói chuyện với Tiến sĩ Ruth Heidrich trước.
“Anh đã bao giờ thử ăn sáng bằng xa-lát chưa?” Bà hỏi tôi. Tiến sĩ Ruth là vận động viên ba môn phối hợp từng hoàn thành cuộc đua Ironman sáu lần, và theo như tạp chí Living Fit, thì bà là một trong 10 phụ nữ có cơ thể khỏe mạnh nhất nước Mỹ. Theo lời bà kể thì bà trở thành vận động viên và Tiến sĩ trong ngành giáo dục y khoa sau khi mắc bệnh ung thư vú, từ 24 năm trước. Việc tập thể dục đã cho thấy khả năng giảm đến 50% tỷ lệ tái phát ung thư vú, vì vậy, ngay khi chỉ khâu sau phẫu thuật vẫn còn nằm trên ngực, Tiến sĩ Ruth đã bắt đầu luyện tập để tham gia cuộc đua ba môn phối hợp đầu tiên. Bà cũng bắt đầu nghiên cứu chế độ ăn uống của các nền văn hóa không bị mắc bệnh ung thư, và dần trở nên tin rằng cần phải ngay lập tức thay đổi từ chế độ ăn truyền thống của Mỹ – mà bà vẫn gọi là SAD (Standard American Diet) – và ăn uống giống với người Tarahumara hơn.
Tình trạng sức khỏe của tôi chẳng khác nào có khẩu súng chĩa vào đầu.” Tiến sĩ Ruth kể. “Tôi rất sợ hãi, tôi đã phải mặc cả với quỷ dữ. Để rồi sau khi so sánh, tôi thấy rằng bỏ ăn thịt cũng chẳng phải là chuyện ghê gớm lắm.” Bà có một quy tắc đơn giản: nếu thức ăn đó đến từ cây cỏ, thì bà sẽ ăn; nếu nó đến từ động vật, bà sẽ không ăn. Tiến sĩ Ruth có nhiều thứ để mất hơn tôi nhiều nếu như bà sai lầm, nhưng gần như ngay lập tức, bà cảm nhận được sự cải thiện về sức khỏe.
Sức bền của bà tăng nhanh tới mức chỉ trong vòng một năm, bà đã chuyển từ chạy 10K lên marathon và tham gia Ironman. “Ngay cả chỉ số cholesterol của tôi cũng giảm từ 230 xuống 160 chỉ trong 21 ngày.” Bà nói thêm. Khi tuân theo cách ăn uống của người Tarahumara, bữa trưa và tối của bà chủ yếu dựa vào hoa quả, đậu, khoai lang, thức ăn nguyên hạt, các loại rau, còn bữa sáng thường là xa-lát.
“Nếu ngay từ buổi sáng, anh đưa rau xanh vào cơ thể đầu tiên, anh sẽ giảm cân rất tốt”. Bà hối thúc tôi. Vì một bữa xa-lát đầy đủ sẽ chứa rất nhiều carbohydrate giàu dinh dưỡng và ít chất béo, nên tôi có thể ăn thật nhiều và không bị đói hay nôn nao khi cần tập luyện. Hơn nữa, các loại rau xanh chứa sẵn nước, nên chúng rất phù hợp để tiếp nước cho cơ thể sau giấc ngủ dài buổi đêm. Và chẳng còn cách nào khác hay hơn để nhồi đủ năm loại rau vào bụng mỗi ngày, là tống chúng vào hết trong một lượt.
Vì vậy, ngay sáng hôm sau, tôi thử luôn. Tôi đi quanh bếp với một bát to để trộn thức ăn, và cho vào đó nửa quả táo mà con gái tôi ăn dở, một ít đậu thận hơi cũ, một nhúm rau chân vịt, và một đống súp lơ xanh băm vụn, hy vọng nó sẽ có hương vị giống xa-lát bắp cải. Tiến sĩ Ruth thường làm phong phú món xa-lát của mình bằng cách thêm mật mía, nhưng tôi nghĩ rằng như vậy sẽ nạp thêm chất béo và đường, nên tôi tăng độ lên một chút, và gia giảm món xa-lát bằng nước sốt làm từ hạt hoa anh túc ngon tuyệt.
Chỉ sau hai miếng, tôi đã bị tẩy não. Tôi vui mừng phát hiện ra rằng, bữa sáng xa-lát cũng đồng thời mang lại cảm giác như ăn món sốt ngọt rưới thêm, giống như bánh kếp (pancake) và si-rô vậy. Món này ăn dễ chịu hơn nhiều so với bánh quế đông lạnh, và hơn hết là tôi có thể nhồi rau đến xanh ruột mà vẫn đủ sức lao ra ngoài để tập luyện chỉ một giờ sau đó.
___________________
“Người Tarahumara không phải là những người chạy bộ tuyệt vời.” Eric nhắn tin khi tôi bước sang tháng tập luyện thứ hai. “Họ là những vận động viên vĩ đại, và hai khái niệm này rất khác nhau.” Người chạy bộ cũng giống như công nhân trong dây chuyền sản xuất; họ giỏi trong một nghề và lặp đi lặp lại hành động đó đến nát cả máy móc. Các vận động viên thì khác. Họ giống như Tarzan. Tarzan bơi lội, vật lộn, nhảy nhót và đu dây. Anh ta khỏe mạnh và có sức bùng nổ. Bạn sẽ không thể biết trước được Tarzan sẽ làm gì tiếp theo, đó chính là lý do tại sao anh ta không bị chấn thương.
“Cơ thể anh cần phải bị sốc để có được sức đàn hồi.” Eric giải thích. Cứ lặp đi lặp lại thời gian biểu hằng ngày, thì hệ cơ xương sẽ nhanh chóng tìm ra cách để thích nghi và trở nên quen thuộc. Nhưng nếu bạn làm cho nó bất ngờ với những thử thách mới – nhảy qua một con suối, bò trườn kiểu đặc công dưới một khúc gỗ, hoặc chạy hết tốc lực tới khi phổi muốn nổ tung ra – thì một loạt dây thần kinh và bó cơ phụ trợ sẽ đột ngột bị kích hoạt vận động.
Đối với người Tarahumara, đó lại là đời sống hằng ngày. Người Tarahumara phải đối mặt với những điều không lường trước mỗi khi rời hang động, bởi vì họ chẳng bao giờ biết rằng mình phải chạy nhanh tới mức nào để đuổi theo một con thỏ, hay sẽ phải mang bao nhiêu củi về nhà, và chuyến leo núi sẽ khó khăn thế nào trong một cơn bão mùa đông. Thử thách đầu tiên mà họ phải đối mặt từ khi còn nhỏ là sống sót trên rìa một vách đá; trò chơi đầu tiên và cũng là trò mà họ chơi suốt cả đời là môn bóng chạy, một môn thể thao biến động khôn lường. Bạn không thể đưa quả bóng gỗ qua một đám đá lổn nhổn nếu không sẵn sàng khuỵu gối, tâng bóng, dẫn bóng lùi, chạy nước rút, nhảy vào và nhảy ra khỏi các rãnh.
Trước khi người Tarahumara chạy đường dài, họ đã trở nên mạnh mẽ. Và nếu tôi muốn giữ mình khỏe khoắn, Eric đã căn dặn, thì tốt nhất là tôi cũng làm giống như họ. Vì vậy, thay vì giãn cơ trước khi chạy, tôi phải vào bài tập ngay. Khuỵu gối, hít đất, nhún đầu gối giậm nhảy, gập bụng; cứ hai ngày một lần, Eric lại bắt tôi dành nửa giờ tập các bài sức mạnh thô và gần như tất cả các bài đó đều thực hiện trên một quả bóng yoga để nâng cao khả năng thăng bằng và kích hoạt các nhóm cơ phụ trợ. Ngay khi vừa xong, tôi phải chạy lên dốc. “Anh không thể leo uể oải lên một con dốc được.” Eric chỉ ra. Các lượt leo dốc dài vừa sốc vừa mệt, và ép tôi phải chú ý vào tư thế chạy, thay đổi các nhóm cơ như các tay đua Tour de France đổi đĩa và líp. Frank Shorter vẫn thường nói: “Bài tập dốc chính là bài tập tốc độ ẩn mình.”
Đó là năm mà thị trấn quê nhà tôi ở Pennsylvania dính một trận bão nhiệt đúng vào dịp Giáng sinh. Vào ngày đầu năm mới, tôi mặc quần soóc và áo giữ nhiệt để chạy năm dặm trên đường mòn, chỉ là một bài tập nhẹ để giãn cơ trong ngày nghỉ. Tôi chạy xuyên qua khu rừng trong nửa giờ, rồi rẽ qua một cánh đồng cỏ khô héo bởi mùa đông và quay trở về nhà. Ánh mặt trời ấm áp cùng hương thơm của cỏ bị ánh nắng hun chiếu thật là xa xỉ, khiến tôi cứ chậm bớt lại, và cố kéo dài dặm chạy cuối cùng lâu hết mức có thể.
Khi chỉ còn cách nhà khoảng 100 m, tôi dừng lại, cởi bỏ chiếc áo giữ nhiệt, và quay lại để chạy thêm một lượt xuyên qua đồng cỏ khô. Tôi chạy hết lượt đó, rồi lại bắt đầu thêm một lượt nữa, và cởi bỏ luôn cả áo phông. Tới vòng thứ tư, cả tất và giày chạy của tôi cũng nằm chung trong đống áo, bàn chân trần của tôi được nâng niu bởi cỏ khô và lớp đất ấm áp. Tới vòng thứ sáu, tôi sờ tay xuống chun quần, rồi quyết định không đụng tới chiếc quần soóc khi nghĩ đến người hàng xóm 82 tuổi. Cuối cùng thì tôi cũng lấy lại được cảm giác khi chạy cùng Caballo – cảm giác Dễ dàng, Nhẹ nhàng, Trơn tru và Nhanh, như thể tôi có thể chạy nhanh hơn quầng sáng Mặt trời mọc, và rồi sẽ chạy tiếp được trong cả buổi sáng nữa.
Cũng như Caballo, bí quyết của người Tarahumara bắt đầu có hiệu quả với tôi trước cả khi tôi hiểu được nó. Vì ăn uống nhẹ nhàng hơn và không bị gián đoạn bởi chấn thương, nên tôi có thể chạy được nhiều hơn; và vì chạy nhiều hơn, tôi ngủ ngon hơn, thoải mái hơn, nhịp tim khi nghỉ ngơi cũng chậm lại. Thậm chí tính cách của tôi cũng thay đổi: thói nóng nảy mà tôi vẫn coi là một phần của gien Ailen-Ý trong mình đã giảm xuống, tới mức vợ tôi đã phải lên tiếng. “Này, nếu đây là kết quả của chạy siêu dài, thì từ giờ em sẽ buộc dây giày cho anh.” Tôi biết các bài tập ngưỡng aerobic là thuốc chống trầm cảm, nhưng chưa từng nhận ra nó có khả năng giúp ổn định cảm xúc, và – tôi ghét phải dùng từ này – đúng là nó có tính thiền định. Nếu không tìm ra được câu trả lời cho những khó khăn của mình sau một buổi chạy kéo dài bốn giờ đồng hồ, thì chắc là bạn sẽ chẳng bao giờ tìm thấy đâu.
Tôi vẫn chờ đợi những bóng ma của quá khứ ồ ạt kéo đến – gân gót chân rên xiết, gân kheo thét gào, và gân gan bàn chân ám ảnh. Tôi bắt đầu mang điện thoại di động trong các buổi chạy dài hơn, tin rằng một ngày nào đó, tôi sẽ lại phải lết bên mép đường. Mỗi khi thấy một cảm giác nhói, tôi lại rà một lượt:
Lưng đã thẳng chưa? Xong.
Đầu gối gập và đưa ra phía trước? Xong.
Gót chân vung ra sau?… À, đây rồi. Mỗi khi tôi thực hiện điều chỉnh, điểm nhói đó lại dịu đi và biến mất. Tới khi Eric nâng bài tập chạy của tôi lên năm giờ vào tháng cuối cùng trước cuộc đua, tất cả các bóng ma đó, cùng với chiếc điện thoại di động đều đã bị lãng quên.
Lần đầu tiên trong đời, tôi hồi hộp chờ đợi các cuộc chạy siêu dài, không với cảm giác sợ sệt, mà là mong mỏi. Ted Chân Đất đã mô tả thế nào nhỉ? Như cá trườn về với nước. Đúng là vậy. Tôi cảm thấy mình sinh ra để chạy.
Và theo ba nhà khoa học khác thường, thì đúng là như vậy.