Thư viện Online
  • Trang chủ
  • Sách mới cập nhật
  • Trang chủ
  • Sách mới cập nhật

Tứ Đại Quyền Lực: Giải Mã Gien Đột Phá Của Amazon, Apple, Facebook và Google - Scott Galloway - Chương 6

  1. Home
  2. Tứ Đại Quyền Lực: Giải Mã Gien Đột Phá Của Amazon, Apple, Facebook và Google - Scott Galloway
  3. Chương 6 - Nói một đàng, làm một nẻo
Prev
Next

Ăn cắp chính là năng lực cốt lõi của các công ty công nghệ phát triển nhanh. Chúng ta không muốn tin điều đó khi doanh nhân giữ một vị trí đặc biệt, được ca tụng trong nền văn hóa Mỹ. Họ là những chiến binh dũng mãnh, giao đấu với những gã khổng lồ, thành lập ra những doanh nghiệp lớn, thần Prometheuses quần jeans, áo thun, đã mang ngọn lửa thần công nghệ trao cho nhân loại. Nhưng thực tế thì không lãng mạn như vậy.

Tất nhiên, những chàng kỵ binh không bao giờ khởi đầu như những con cá mập thống trị thế giới. Họ bắt đầu bằng những ý tưởng, trong gara nhà ai đó, hay trong phòng ký túc xá đại học. Con đường của họ trông rất hiển nhiên, ngay cả khi không tránh khỏi ngộ nhận, nhưng hầu như luôn luôn là một chuỗi hành động ngẫu hứng, chứ không hề tính toán trước. Với cách làm của một vận động viên chuyên nghiệp, chúng ta chỉ tập trung vào những câu chuyện của một vài người thành công mà thôi – chứ không đếm xỉa đến hàng ngàn người khác “thua ngay từ vòng gửi xe”. Những công ty lớn, nhiều tiền nổi lên theo cách thường không giống các công ty startup hung hăng, nung nấu ý tưởng trong gara hàng năm trời – đặc biệt, dưới bàn tay phù phép của bộ phận PR, những câu chuyện thần thoại được ra đời.

Nhưng thay đổi là không thể tránh khỏi, một phần bởi vì thị trường luôn luôn thay đổi, vì vậy các doanh nghiệp phải thích ứng hoặc chết, và cũng bởi vì những doanh nghiệp non trẻ không có gì để mất, nên họ dễ dàng thỏa hiệp với lừa dối, ăn cắp ý tưởng và làm điều sai trái công khai mà các doanh nghiệp có tiếng tăm, có thị phần và tài sản ít khi dám làm liều. Chưa đề cập đến chuyện bộ Tư pháp Mỹ thường không quan tâm đến những công ty nhỏ cho đến khi họ đủ mạnh để làm ảnh hưởng thị trường. Khi lịch sử được viết xuống bởi những người chiến thắng, những thuật ngữ như “tạo cảm hứng bởi” hay “đánh dấu cột mốc” sẽ thay thế những thuật ngữ ít nồng nàn hơn.

Tội lỗi của những kỵ binh này rơi vào một trong hai trường hợp. Trường hợp thứ nhất là “lấy đi” – thường có nghĩa là đánh cắp quyền sở hữu trí tuệ từ những công ty khác và sử dụng lại để kiếm lời, họ chỉ ra sức bảo vệ những quyền trí tuệ đó khi họ đã tích lũy được khá nhiều bằng sáng chế. Trường hợp thứ hai là “kiếm lợi lộc” từ những tài sản do người khác tạo dựng nên nhưng bằng một cách khác với người tạo dựng đầu tiên. Trong trường hợp thứ nhất, họ không dựa vào sự khéo léo bản năng để tạo ra những ý tưởng sáng tạo đó mà dùng luật sư để đấu với các đối thủ cũng “chôm chỉa” tương tự để chứng minh sẽ không bị trở thành nạn nhân. Trường hợp thứ hai là một sự nhắc nhở, lợi thế của người đề xuất đầu tiên thường không phải là một lợi thế thật sự. Những người tiên phong thường bị kết thúc với những mũi tên cắm vào ngực. Trong khi đó, những kỵ binh này đến sau (Facebook có sau Myspace, Apple sau người sản xuất PC đầu tiên, Google có sau những máy tìm kiếm trước đó, Amazon không phải là công ty bán hàng trực tuyến đầu tiên), dùng những xác chết của người tiền nhiệm để gia tăng sức mạnh nhờ việc tránh được những sai lầm của họ, mua tài sản và lấy luôn khách hàng của họ.

Trường hợp 1: Đánh cắp và bảo vệ

Các công ty lớn thường dựa vào một số hình thức dối trá hoặc đánh cắp quyền sở hữu trí tuệ để tích lũy giá trị với một tốc độ và qui mô không thể tưởng tượng nổi, và bộ tứ quyền lực này cũng không có gì khác. Hầu hết họ đều nuôi dưỡng một ý định không thật thà, chống lại các công ty khác, hoặc chính phủ, để nhận được sự trợ cấp, giúp đỡ, sau đó đột ngột thay đổi cán cân quyền lực về phía họ (thử quan sát Tesla trong vài năm nữa khi họ cố gắng giành được trợ giúp của chính phủ cho lĩnh vực sản xuất xe hơi chạy bằng điện và điện mặt trời). Nhưng khi họ lớn mạnh thành chàng kỵ binh, bất ngờ họ chống lại những hành động trợ cấp này và tìm mọi cách bảo vệ thành trì của mình.

Điều này có thể nhìn thấy rõ ràng hơn ở bình diện quốc gia. Trong ngữ cảnh địa chính trị, chỉ có một chàng kỵ binh, đó là Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, lịch sử của họ đã chứng minh điều chúng ta vừa mô tả ở trên. Ngay sau cuộc cách mạng Mỹ, họ chỉ là một start-up, có rất nhiều cơ hội nhưng lại ít khả năng thực hiện. Tại châu Âu, cuộc cách mạng công nghiệp đã làm châu lục này đơm hoa kết trái trong suốt một khoảng thời gian khá hòa bình. Lúc đó, những nhà sản xuất Mỹ khó lòng cạnh tranh được. Đặc biệt, ngành dệt may bị người Anh thống trị, sử dụng những khung cửi hiện đại (thật ra họ sao chép từ người Pháp) và những công nghệ xử lý vải khác. Anh quốc tìm cách bảo vệ ngành dệt may với những luật lệ cấm xuất khẩu thiết bị, xuất khẩu bản thiết kế thiết bị, ngay cả cấm những thợ lành nghề sang Mỹ thiết kế và vận hành máy dệt.

Vì vậy, người Mỹ chỉ còn cách đánh cắp công nghệ. Bộ trưởng tài chính Mỹ, Alexander Hamilton đưa ra một bản phúc trình kêu gọi hấp thụ công nghệ các ngành công nghiệp châu Âu thông qua cái gọi là “những điều kiện hợp lý và chấp nhận đau thương”, tức là chấp nhận vi phạm luật cấm của Anh quốc về cấm xuất khẩu. Bộ Tài chính Mỹ đã đưa ra những đề nghị hào phóng cho các thợ châu Âu sẵn sàng nhập tịch Mỹ, vi phạm trực tiếp luật di dân của các quốc gia châu Âu. Luật sáng chế của Mỹ điều chỉnh năm 1793, hạn chế bảo vệ sáng chế cho công dân Mỹ, vì thế tước đoạt khả năng pháp lý của các thợ châu Âu sang Mỹ thiết kế những loại máy móc này.

Từ những nguồn gốc này, nền công nghiệp của Mỹ mau chóng phát triển. Hạt Lowell, bang Massac husetts, nổi tiếng là cái nôi của cuộc cách mạng công nghiệp Mỹ, được hình thành bởi hậu duệ của Francis Cabot Lowell, người đã bỏ ra vài năm đến thăm những nhà máy dệt bên Anh quốc và ghi nhớ, học hỏi những thiết kế của những nhà máy này. Khi ông ấy trở về Mỹ, Lowell đã thành lập công ty Boston Manufacturing và xây dựng nhà máy dệt đầu tiên của Mỹ – với công nghệ mới nhất mà ông học lõm được ở châu Âu. Sau đó, Boston Manufacturing trở thành công ty đầu tiên trong lịch sử lên sàn chứng khoán Mỹ. Sự đánh cắp này còn tạo ra một ngành nghề mới trị giá hàng tỷ đô la: nghề tư vấn. Mỹ trở thành quốc gia có những công ty tư vấn tốt nhất thế giới – đánh cắp đã nằm trong máu của họ.

Ngày nay, Mỹ đã là một gã khổng lồ về công nghiệp và tất nhiên, họ phải ra sức bảo vệ những lợi thế công nghệ riêng và thị trường của mình. Trong lúc chúng ta ca ngợi Alexander Hamilton trên sân khấu kịch Broadway, luật pháp Mỹ đã lẩn tránh thái độ vô tình của ông ấy đối với quyền sở hữu trí tuệ. Giờ đây, Mỹ lại là người hăng hái đề xướng việc bảo vệ quyền sáng chế và thương hiệu. Nếu bạn là một chính khách Mỹ, bạn cũng sẽ chỉ trích Trung Quốc đánh cắp công nghệ Mỹ. Và cũng không có lý do gì, Trung Quốc, đang hăm hở muốn trở thành chàng kỵ binh của thế giới, lại không gửi những Francis Lowell của họ sang Mỹ, bằng người hay thông qua môi trường Internet, để chộp lấy bất cứ thứ gì có thể làm cho con đường đi đến giàu sang ngắn nhất. Trong khi đó, sau hàng thập kỷ đánh cắp bản quyền trên thế giới, Trung Quốc đã cảm thấy đủ mạnh trong vấn đề sở hữu trí tuệ cho nên họ cũng đã bắt đầu lớn tiếng ủng hộ việc bảo vệ bản quyền.

Có lẽ, tên trộm nổi tiếng nhất trong lịch sử công nghệ không ai khác hơn là Apple, khi Steve Jobs biến dự án chưa hoàn thành của Xerox về ý tưởng điều khiển máy tính bằng chuột, thay vì là bàn phím, tạo ra giao diện đồ họa trên máy tính để bàn, áp dụng vào chiếc máy tính Macintosh làm thay đổi cả một ngành công nghệ.

Cũng giống như Lowell và những người đương thời, những người đã cải tiến những thiết kế của Anh quốc và thổi vào những chiếc máy đó bằng nguồn lực trẻ trung và lớn mạnh của Mỹ, Steve Jobs đã nhìn thấy tiềm năng to lớn về giao diện đồ họa của Xerox để làm bùng nổ thị trường máy tính để bàn, vượt xa ngay cả thành công của chiếc Apple II đã đạt được. Giao diện đồ họa có thể tạo ra, như câu nói nổi tiếng của Apple “Chiếc máy tính cho tất cả mọi người”. Đây là điều mà Xerox chưa bao giờ làm được, không đủ khả năng làm – về mặt chiến lược, triết lý và cả tổ chức sản xuất.

Apple chỉ đơn thuần là lấy những sáng chế được phát triển đâu đó và sử dụng khả năng tiếp thị tốt hơn. Tất nhiên, Apple đã mua hoặc được phép sử dụng khá nhiều các công nghệ nền móng làm nên vị trí dẫn đầu của họ, từ giao diện đồ họa Xerox đến màn hình cảm ứng Synaptics, đến các loại chip hiệu suất năng lượng cao của hãng bán dẫn P. A. Semi. Vấn đề không phải những công ty trẻ chỉ “đánh cắp” công nghệ là có thể trở thành ông lớn, họ phải nhìn ra được giá trị mà người khác không thấy, hoặc có thể trích giá trị ở đâu mà người khác không biết. Và họ đã làm được điều đó bằng bất cứ cái gì có thể làm.

Trường hợp 2: Không đánh cắp, chỉ mượn tạm

Một cách khác mà bộ tứ này phỉnh thiên hạ đó là chỉ mượn thông tin của bạn rồi sau đó bán nó lại cho bạn. Google là một ví dụ điển hình.

Google được hình thành nhờ vào sự thấu hiểu về cấu trúc của web và bản chất của tìm kiếm thông tin, nhưng Google trở thành chàng kỵ binh nhờ vào sự thấu hiểu của người sáng lập (và cả Eric Schmidt) rằng thông tin chẳng đáng một đồng xu đối với người này nhưng vô cùng có giá trị đối với người khác. Marissa Mayer đứng nói trước Quốc hội Mỹ và chủ yếu là những người đàn ông trung niên da trắng rằng báo chí và tạp chí có bổn phận đương nhiên là để cho thông tin được đánh dấu, cắt mỏng, truy vấn và tìm kiếm… bởi Google. Cô ấy nói những bài báo được Google News cung cấp, được sắp xếp không theo một mục đích chính trị hay tư tưởng gì cả, và người sử dụng có thể chọn lựa dựa trên quan điểm của mình. Cô ta ngụ ý rằng hàng ngàn bông hoa có thể nở trên bầu trời quang đãng và người Mỹ có sẵn gien sáng tạo từ trong máu. Hành động này giống như đài truyền hình PBS dùng con chim Big Bird trong show truyền hình Sesame Street để xin chính phủ tiếp tục tái ký hợp đồng tài trợ. Vì Big Bird quá dễ mến, ai mà nở giết chứ?

Thực chất, Mayer muốn chứng minh Google cung cấp một dịch vụ miễn phí có giá trị cho các tờ báo điện tử, đặc biệt bằng cách dẫn dắt những độc giả yêu thích vào trang báo. Cô ấy tỏ ra không hài lòng khi tờ New York Times và Chicago Tribune không biết ơn Google vì những việc làm đó. Có lẽ bởi vì “dịch vụ miễn phí có giá trị” của Google, trên thực tế, đang rút ruột mảng quảng cáo của truyền thông Mỹ và chuyển tất cả doanh thu về cho Google.

Chưa hề tỏ ra sợ sệt, Mayer nói trước Quốc hội Mỹ, Google cũng có dịch vụ giá trị nhưng không miễn phí. Những nhà xuất bản, những người càng ngày càng phụ thuộc vào lưu lượng của Google, có thể tham gia vào Google AdSense để giúp tạo doanh thu từ những nội dung của họ.

Tất nhiên, thực tế là trong kỳ bầu cử 2016, thông tin đã bị phân hóa bằng thuật toán để xác định cái gọi là “quan điểm chính trị và hệ tư tưởng” chỉ trong một phần ngàn giây. Trong khoảng thời gian sau khi Mayer điều trần tại Quốc hội Mỹ, những nhà xuất bản mới – những người mà không cần Google giúp tạo doanh thu – đã biến mất trên thị trường một cách nhanh chóng. Trong khi đó, Google vẫn tiếp tục thu lượm thông tin – về bạn, thói quen của bạn, tâm tư của bạn – đẩy vào những thuật toán và biến thành một dịch vụ miễn phí có giá trị cho bạn.

Cả Facebook và Google đều đã lên tiếng trước đó hàng chục năm, sẽ không chia sẻ thông tin thông qua các phần mềm khác thuộc sở hữu của họ (Facebook qua Instagram, Google qua Gmail, Youtube, Double Click). Tuy nhiên, cả hai ông lớn này đều nói dối và lặng lẽ thay đổi chính sách quyền riêng tư của người sử dụng, đòi hỏi bạn phải yêu cầu không được tham chiếu chéo thông tin riêng tư về hành trình, vị trí và các nội dung tìm kiếm của mình (mặc định là có). Không có bằng chứng nào cho thấy việc tham chiếu chéo thông tin người sử dụng vượt ra ngoài mục đích chọn lọc người sử dụng tốt hơn trong việc quảng cáo.

Rò rỉ thông tin và sự thích hợp để kết nối có mối liên quan rất lớn trong thế giới marketing kỹ thuật số. Ngày nay, người tiêu dùng và nhà quảng cáo đều biểu quyết bằng hành động của mình, và họ cho rằng sự rò rỉ thông tin cá nhân là cái giá đáng để trả để có được sự thích hợp cho sự kết nối của bản thân mình.

Cái giá của thông tin

Tôn chỉ của những hacker là “thông tin muốn được tự do” đã trở thành trào lưu cho kỷ nguyên số vàng son thứ hai trên thế giới. Chúng ta hãy cùng nhau nhìn lại phiên bản gốc của câu nói này. Tại hội nghị của những hacker chuyên nghiệp năm 1984, Stewart Brand, sáng lập viên của the Whole Earth Catalog, đề xuất công thức của ông ấy như sau:

“Một mặt, thông tin muốn trở thành thứ đắt đỏ vì có giá trị. Thông tin đúng đặt vào đúng vị trí có thể làm thay đổi cuộc đời bạn. Mặt khác, thông tin cũng muốn được tự do, bởi vì chi phí để lấy nó càng ngày càng thấp và sẽ luôn luôn giảm. Vì thế, bạn luôn bị hai điều này tranh đấu với nhau trong tư tưởng.”

Cũng giống với hầu hết chúng ta, thông tin cũng rất muốn trở nên hấp dẫn, thu hút, độc đáo và được trả lương cao. Thông tin muốn bản thân trở nên đắt giá. Công ty truyền thông thành công nhất ở Mỹ, ngoài Google và Facebook, đó là Bloomberg. Cách làm của Michael Bloomberg là bán thông tin: kết hợp thông tin của người khác và thông tin riêng của hãng tin, cộng thêm một lớp thông tin thông minh – đây chính là bí quyết – để làm thông tin của hãng tin trở thành hàng quý hiếm. Quả thật, thông tin của họ có giá cao và phục vụ cho hệ thống phân phối riêng của họ. Nếu bạn muốn có loại thông tin nhanh, có ảnh hưởng đến giá cổ phiếu trong danh mục đầu tư của bạn, nên đăng ký với Bloomberg, bạn sẽ được trang bị một cổng thông tin riêng tại văn phòng, và sau đó bạn cứ việc cuộn màn hình với hàng đống tin tức và dữ liệu tài chính đáng giá.

Cái vế trong câu nói của Steward Brand về “thông tin muốn trở thành thứ đắt đỏ” dường như đã bị cắt bỏ bởi các công ty tìm kiếm thông tin miễn phí. Thật vậy, luôn có sự đấu tranh căng thẳng giữa hai vấn đề mà Brand đã đề cập và dường như trong sự căng thẳng đó, ông ấy cũng đã nhìn thấy trước được sự sáng tạo sẽ ra đời. Google (và Facebook trong một ngữ cảnh khác) hiểu rất rõ sự đấu tranh căng thẳng này. Họ tận dụng việc giảm chi phí phân phối thông tin bằng cách để cho người sử dụng truy cập vào một thế giới thông tin đáng giá, sau đó trích xuất hàng tỷ đô la giá trị bằng cách đóng vai trò một người gác cổng thông tin.

Facebook thì đi theo cách khác. Họ khai thác sự căng thẳng của hai vế thông tin: chi phí càng ngày càng rẻ và giá trị luôn luôn cao. Đây là một đòn khóa trong môn võ jujitsu lợi hại hơn cả Google. Facebook làm cho người sử dụng tự tạo ra nội dung, sau đó bán nội dung đó cho các nhà quảng cáo để quảng cáo ngược lại cho người sử dụng tạo ra nội dung đó. Facebook không hề “đánh cắp” hình ảnh con cái của chúng ta (chúng ta tự đưa lên mà) và những bài bình luận chính trị rỗng tuếch, nhưng họ đã trích xuất được hàng tỷ đô la từ những thông tin đó bằng những công nghệ và sáng tạo mà với tư cách cá nhân, chúng ta chưa hề biết đến. Đó mới là cách “mượn” đẳng cấp thế giới.

Facebook xây dựng nền tảng của họ bằng lời nói dối, lặp đi lặp lại hàng ngàn lần trong những buổi họp với đội ngũ kinh doanh Facebook và những nhãn hàng tiêu dùng lớn nhất thế giới rằng “Hãy cùng nhau xây dựng những cộng đồng lớn mạnh và bạn sẽ sở hữu họ”. Hàng trăm nhãn hàng đã đầu tư hàng trăm triệu đô la vào Facebook với hy vọng tập hợp được những cộng đồng thương hiệu khổng lồ do Facebook làm chủ. Và bằng cách thúc đẩy người tiêu dùng “like” những thương hiệu của họ, họ đã cho Facebook một lượng quảng cáo miễn phí khổng lồ. Sau khi xây dựng xong căn nhà đắt tiền trên Facebook, đến lúc các thương hiệu này muốn dọn đi nơi khác, Facebook quát lên “Đừng giỡn! Cộng đồng này đâu phải thật sự của anh, anh cần phải thuê họ”. Độ phủ tự nhiên của một thương hiệu – tức là tỷ lệ phần trăm các bài đăng của một thương hiệu được đẩy vào trang facebook của người sử dụng – rớt từ 100% xuống còn một con số. Bây giờ, thương hiệu này muốn phủ sóng vào những cộng đồng này, họ phải mua quảng cáo của Facebook. Điều này giống như bạn xây một căn nhà và một ông thanh tra xây dựng xuất hiện khi bạn đang gần xong căn nhà. Ông thanh tra tự nhiên thay ổ khóa nhà bạn và còn thông báo rằng “Bạn phải thuê của chúng tôi để được bước vô nhà”.

Nhiều công ty lớn cứ nghĩ họ sẽ trở thành chủ của Facebook, hóa ra cuối cùng lại trở thành khách thuê của Facebook. Nike đã trả cho Facebook một mớ tiền để xây dựng cộng đồng trên đó, nhưng chưa đầy 2% các bài đăng của Nike đến được với cộng đồng này – trừ phi Nike mua quảng cáo trên Facebook. Nếu Nike không thích, họ có thể mặc sức kêu gào, ta thán với cộng đồng có trên 2 tỷ thành viên trên Facebook… và cứ việc chờ đợi mỏi mòn. Cũng giống như ai đó hẹn hò với một người, bỏ tiền cả đống xây dựng quan hệ tình cảm, nếu kết quả không thành, người đó đi than vãn trên Facebook, không được gì mà còn bị chê là “đồ ngu”!

Chấp nhận chịu phạt để vi phạm luật

Rất dễ thấy Amazon đang hướng đến điều gì:

1. Thống trị mảng bán lẻ và truyền thông toàn cầu;

2. Thay thế cách thức giao hàng của tất cả các loại sản phẩm (chúng ta sẽ phải nói lời chia tay với UPS, FedEx và DHL) bằng các loại máy bay riêng, máy bay nhỏ không người lái và xe không người lái.

Chắc chắn họ sẽ tiếp tục gia tăng tốc độ để đi đến cái đích đó. Tuy nhiên, văn hóa sáng tạo và khả năng tiếp cận nguồn vốn vô hạn của họ sẽ cuộn tròn chính họ lại. Có ai tin rằng có quốc gia nào (có lẽ, ngoại trừ Trung Quốc đang bảo vệ ngành bán lẻ trực tuyến Alibaba của họ) cản Amazon lại được hay không?

Như ngôi sao màn bạc Paul Newman giải thích trong bộ phim The Sting, lý do dẫn đến sự phản kháng mạnh mẽ xuất hiện khi: nạn nhân không bao giờ nhận ra anh ta bị lừa – thực tế, anh ta tin rằng mình sẽ là người chiến thắng lớn cho đến phút cuối cùng vỡ lẻ. Trong khi báo chí vẫn cảm thấy tương lai sẽ tốt hơn, nhưng trái lại thực tế đang rất đau buồn: họ lệ thuộc Google quá nhiều. Những gì mà Google không gạ gẫm họ được thì họ lại từ bỏ – thay vì giữ lại sự tinh túy của đội ngũ biên tập trên báo in thì họ đã chuyển lên môi trường web. Mặc dù họ cũng đưa ra được những quyết định đúng nhưng đó chỉ là phân nửa cơ hội, hầu hết vẫn còn đang lơ lửng.

Bộ tứ quyền lực này đều dùng vải nỉ che mắt các nạn nhân. Những thương hiệu hăm hở đổ tiền vào xây dựng các cộng đồng trên Facebook trước khi họ nhận ra cộng đồng đó không thuộc về họ. Các nhà buôn thì nhanh chóng gia nhập Amazon vì tin rằng nền tảng này sẽ đưa họ đến một mảng khách hàng mới, nhưng rồi nhận ra chính họ đang cạnh tranh với Amazon. Ngay cả Xerox nghĩ rằng đã nhận được một món hời (100.000 cổ phiếu) của Apple, một trong những công ty “nóng” nhất trên thế giới, khi để cho Steve Jobs khai thác bộ giao diện đồ họa. Bạn có thể nói đó là những vết thương do chính nạn nhân tự gây ra.

Những chàng kỵ binh đầy tham vọng luôn cho thấy sẵn sàng tiến vào thị trường bằng những phương pháp chưa hề có so với các đối thủ cạnh tranh xưa cũ. Uber, chẳng hạn, đã vi phạm trắng trợn luật lệ tại các thị trường mà họ đến. Uber bị cấm tại Đức; tài xế Uber bị phạt tại Pháp (Uber chấp nhận trả khoản phạt này); tòa án tại một số bang của Mỹ đưa ra lệnh cấm Uber hoạt động. Tuy nhiên, các nhà đầu tư, bao gồm cả vài chính phủ, vẫn đang xếp hàng dâng cho công ty này hàng tỷ đô la. Tại sao? Bởi vì họ cảm thấy rằng, rốt cục rồi, luật cũng sẽ mở đường cho Uber vì Uber là không thể tránh khỏi. Và có thể họ đúng. Đã có luật, đã có người được gọi là nhà sáng tạo. Tiền sẽ vào túi nhà sáng tạo thôi.

Uber không chỉ lẫn tránh luật lệ đã áp dụng cho các dịch vụ cho thuê xe mà họ còn trốn tránh luật lao động bằng cách chỉ nhận mình là một ứng dụng công nghệ giúp kết nối các tài xế độc lập. Mặc cho tất cả những điều đó, Uber vẫn cứ tiếp tục nhận đăng ký tài xế và xe với một tốc độ nhanh khủng khiếp, bởi vì dịch vụ của Uber và cái ứng dụng đơn giản của họ được xem là cao cấp hơn rất nhiều so với mô hình taxi truyền thống được nuông chiều và bảo vệ. Uber nhận ra rằng nếu một ngành nào đó bị rạn nứt đủ lớn, người tiêu dùng sẽ thỏa hiệp vi phạm luật để được hưởng những dịch vụ tốt hơn. Về lâu dài, bạn có nghĩ Quốc hội Mỹ sẽ quay sang xử phạt phố Wall (vì cho phép Uber niêm yết huy động vốn) và người tiêu dùng (vì thỏa hiệp sử dụng Uber) hay không? Chắc là không đời nào.

Amazon cũng đã thỏa hiệp thành công với nửa tỷ người tiêu dùng sử dụng thuật toán để buộc các nhãn hàng phải đưa hàng vào kho của họ và phân phối đến người tiêu dùng theo cách của Amazon. Một nhà bán lẻ tận dụng sức mạnh của mình để phát triển những nhãn hàng riêng là cách làm không mới. Chỉ có điều chúng ta chưa từng thấy ai làm điều này tốt hơn Amazon.

Tôi đưa ra một sự việc để cùng suy ngẫm. Chỉ đến lúc các đồng minh của Mỹ bị sốc khi biết Mỹ luôn nghe lén những cuộc hội đàm điện thoại giữa các lãnh đạo quốc gia trên thế giới, lúc đó họ mới biết rằng mình cũng bị cài gián điệp nghe lén.

Khối đồng minh giữa Amazon, người tiêu dùng và các thuật toán đã cho người tiêu dùng những giá trị to lớn và tăng trưởng của Amazon cũng đang cực kỳ nhanh, đem về hàng trăm tỷ giá trị cổ đông cho các nhà đầu tư và nhân viên sở hữu cổ phiếu. Với vai trò người tiêu dùng, chúng ta được hưởng lợi to lớn từ mối quan hệ này, bao gồm nhiều thương hiệu lớn và nền tảng mạnh mẽ của Amazon. Nhưng với vai trò một công dân, người làm công ăn lương và ngay cả đối thủ cạnh tranh của Amazon, chúng ta biết mình đang bị lợi dụng nhưng cũng không thể làm gì hơn.

Thật ra vẫn còn hệ thống tư pháp, nhưng rõ ràng hệ thống đó bị che mắt. Facebook cam đoan với các nhà làm luật châu Âu tìm ra sự đồng thuận khi thu mua WhatsApp để không bị vi phạm luật làm lũng đoạn thị trường, trong khi không thể nào ngăn được việc hai công ty này chia sẻ dữ liệu với nhau trong thời gian đầu. Lời hứa này làm dịu đi nỗi lo của các nhà lập pháp xung quanh quyền riêng tư của người sử dụng, và thế là việc thu mua được phê chuẩn. Facebook đã tính toán được dữ liệu giữa hai công ty sẽ san sẻ nhanh như thế nào, cho nên sau đó chấp nhận mức phạt 110 triệu euro của Ủy ban châu Âu. Con số này tương đương với giá một vé đậu xe 10 đô la, cứ mỗi 15 phút không bấm đồng đồ đậu xe thì phạt 100 đô la. Facebook chọn giải pháp chịu phạt để vi phạm luật.

Prev
Next

Có thể bạn muốn đọc thêm

doc-vi-nguoi-la-malcolm-gladwell
Đọc Vị Người Lạ – Malcolm Gladwell
December 29, 2022

ThuVienOnline © 2026