Bắt Trẻ Đồng Xanh – J. D. Salinger - Chương 24
Vợ chồng thầy Antolini có một căn hộ rất là bảnh ở đằng Sutton Place, chỉ cần hai bước là bạn đến được phòng khách, có cả bar và các thứ. Tôi rất thường đến đấy, vì sau khi tôi bỏ Elkton Hills, thầy Antolini thường đến nhà chúng tôi ăn cơm để hỏi xem tôi học hành ra sao. Lúc ấy ổng chưa có vợ. Rồi khi ổng cưới vợ, tôi thường lại chơi ten nít với vợ chồng thầy Antolini ở hội ten nít. Tại Forrest Hills. Cô Antolini gia nhập hội ấy. Bả có ngập lụt tiền. Bả già hơn ổng chừng sáu chục tuổi nhưng dường như họ rất chịu nhau. Có điều, họ đều trí thức. Nhất là thầy Antolini, ngoại trừ ổng có vẻ hóm hỉnh hơn là trí thức khi bạn gần ổng, kiểu như anh D.B. Cô Antolini chủ yếu là nghiêm trang. Bả bị suyễn khá nặng. Cả hai đều đọc hết mọi truyện của D.B viết – cả vợ thầy Antolini nữa – và khi anh D.B. đi Hollywood, thầy Antolini gọi điện cho ảnh khuyên đừng đi, nhưng ảnh vẫn đi như thường. Thầy Antolini nói rằng một người viết được như D.B. không việc gì phải đến Hollywood. Đấy cũng chính là điều mà tôi nói.
Đáng lẽ tôi đi bộ đến nhà họ, vì tôi không muốn xài một xu tiền Giáng sinh nào của em Phoebe khi không nhất thiết cần đến. Nhưng tôi cảm thấy khang khác khi ra ngoài. Hơi chóng mặt. Bởi vậy tôi thuê một chiếc xe. Tôi không muốn, nhưng tôi cứ thuê. Tôi phải khó nhọc lắm mới tìm được một chiếc.
Thầy Antolini ra mở cửa khi tôi bấm chuông – sau khi thằng nhãi coi cầu thang rốt cuộc cũng cho tôi lên. Ông mặc áo tắm và xỏ dép, một tay cầm một cái ly cao. Ông là một tay khá sành điệu, mà cũng nhậu khá dữ nữa. “Holden! Ôi giời, chú ấy lại cao thêm chừng hai tấc! Sung sướng gặp lại chú.”
“Thầy mạnh chứ? Cô ra sao?”
“Chúng tôi đều khỏe như voi. Chú đưa áo đây.” Ông lấy áo ngoài của tôi treo lên. “Tôi cứ nghĩ sẽ bắt gặp chú ôm một cậu nhỏ một ngày tuổi. Vô phương cứu giúp. Mi mắt bám đầy bông tuyết.” Đôi lúc ổng là một gã vô cùng hóm hỉnh. Đoạn ổng quay lại và hét ra sau bếp: “Lillian! Cà phê được chưa?” Lillian là tên của cô Antolini.
“Xong hết rồi,” bà hét lại. “Holden đấy phải không? Chào cậu!”
“Chào cô Antolini!”
Bạn luôn luôn phải hét lớn khi đến đấy. Bởi vì cả hai vợ chồng họ không bao giờ ở cùng một phòng trong cùng một lúc. Thật buồn cười.
“Ngồi đầy, chú,” thầy Antolini nói. Bạn có thể thấy rõ là ông đã hơi đảo điên. Gian phòng có vẻ như vừa mới thết tiệc. Ly tách bủa bãi và những đĩa đậu phụng. “Xin lỗi vì phòng hơi bừa bộn,” ổng nói. “chúng tôi vừa đãi vài người bạn của bà Antolini từ Buffalo đến. Toàn là trâu, dĩ nhiên.”
Tôi cười, và cô Antolini hét một câu gì với tôi từ trong bếp, nhưng tôi không nghe rõ. “Cô nói gì?” tôi hỏi thầy Antolini.
“Bà ấy bảo chú đừng nhìn bả khi bả đi vào. Rất lôi thôi. Này thuốc, mời chú. Bây giờ chú còn hút không?” “cảm ơn,” tôi nói. Tôi rút một điếu ổng đưa. “Thỉnh thoảng thôi. Tôi hút rất điều độ.”
“Tôi tin chú,” ổng nói. Ông châm lửa cho tôi bằng cái bật lửa to trên bàn. “Vậy là chú với Pencey không còn là một nữa,” ông nói. Ông luôn luôn nói năng kiểu đó. Đôi khi điều đó tôi thích lắm, nhưng đôi khi thì không. Ông hơi thái quá một chút. Tôi không nói là ổng không hóm hỉnh hay gì gì – ổng hóm hỉnh chứ – nhưng thỉnh thoảng nếu ai đó luôn luôn nói những câu kiểu như “Vậy là chú với Pencey không còn là một nữa” thì bạn cũng khó chịu. Anh D.B. đôi khi cũng thái quá như vậy.
“Sao vậy chú?” Thầy Antolini hỏi tôi. “Môn Anh văn chú thế nào? Tôi sẽ mời chú ra cửa sơm sớm nếu chú hỏng Anh văn, chú khá luận lắm mà.”
“Ồ, về Anh văn tôi không sao cả. Tuy phần nhiều học văn học. Tôi chỉ làm có hai bài luận suốt khóa học. Duy tôi trượt về môn diễn thuyết. Họ bắt phải thi cái môn đó, diễn thuyết, cái đó thì là tôi rớt.”
“Tại sao?”
“Ồ, tôi không biết.” Tôi không ưa nói thêm nữa. Tôi vẫn còn hơi chóng mặt, và bỗng chốc nhức đầu như búa bổ. Thật đấy. Nhưng bạn cũng thấy là ổng rất quan tâm về việc ấy. Vì vậy tôi nói sơ cho ổng biết. “Trong giờ diễn thuyết, mỗi thằng trong lớp phải lần lượt đứng lên nói một đề tài. Thầy biết đó. Nói ứng khẩu các thứ. Và nếu thằng nào nói lạc đề thì tụi kia phải la lên: ‘Lạc đề!’ vào mặt nó càng mau càng tốt. Làm tôi điên tiết lên được. Tôi bị điểm liệt về môn ấy.”
“Vì sao?”
“Ồ, tôi không biết. Cái chuyện hô lạc đề ấy làm tôi cáu tiết. Tôi không hiểu tại sao. Phiền cho tôi một nỗi là khi đứa nào lạc đề thì tôi thích. Nó hào hứng hơn, tôi nghĩ thế.”
“Vậy chú không cần người nào nói đúng ngay vào điểm chính khi họ nói điều gì với chú à?”
“Ô cần chứ! Tôi cũng thích người nào nói đúng vào đề chứ. Nhưng tôi không thích họ nói đèo queo vào điểm chính quá nhiều. Tôi không hiểu tại sao. Tôi chắc tôi không thích khi một người cứ đèo queo cái điểm chính suốt buổi. Những thằng được điểm cao nhất về môn diễn thuyết đều là những đứa đi sát vào đề tài suốt buổi – tôi công nhận. Nhưng có một thằng, thằng Richard Kinsella, nó không đi sát đề lắm và tụi ranh con luôn luôn hét ‘lạc đề’ vào mặt nó. Thật kinh khủng, vì trước hết nó có tật rất hay quýnh lên, ý tôi là nó luống cuống kinh khủng, mỗi lần đến phiên nó nói là môi nó run đến khiếp. Thầy không tài nào nghe nó được nếu ngồi ở cuối lớp. Tuy nhiên khi nó không bị run, tôi lại thích những câu chuyện của nó hơn của bất cứ đứa nào, thế mà nó cũng suýt trượt môn ấy. Nó bị điểm xấu vì luôn luôn bị hét ‘lạc đề’. Chẳng hạn nó nói về cái trại cha nó mua ở Vermont. Tụi bạn cứ hét ‘lạc đề’ suốt buổi nói chuyện, và ông thầy – ông Vinson – cho nó điểm liệt vì nó không nói rõ trại ấy có những con gì, loại rau gì và các thứ khác. Thay vì thế nó, cái thằng Robert Kinsella này, chỉ khởi sự kể về những chuyện ấy. Rồi nó lại xoay sang kể về cái thư mẹ nó nhận được của chú nó, chú nó bị bại liệt lúc 42 tuổi, và chú nó không để ai vào thăm ở bệnh viện vì không muốn ai thấy chú phải đi bằng nạng. Điều ấy không liên can gì đến cái trại cho lắm – tôi công nhận – nhưng thật dễ thương. Thật dễ thương khi một thằng nào nói cho mình nghe về chú của nó các thứ. Nhất là khi nó khởi sự kể về cái trại của cha nó, rồi bỗng chốc nó lại hứng nói về chú nó nhiều hơn. Nghĩa là tôi muốn nói thật bần tiện khi cứ hét ‘lạc đề!’ vào mặt nó trong lúc nó rất dễ thương và cao hứng… Tôi không biết sao. Thật khó nói.” Vả lại tôi cũng không thích cổ nói cho lắm nữa. Có điều là, bỗng chốc, tôi nhức đầu kinh khủng. Tôi ao ước cô Antolini sẽ đem cà phê vào. Đấy là một điều làm tôi bực bỏ mẹ. Nghĩa là khi một người nào nói rằng cà phê đã xong hết rồi mà té ra vẫn chưa.
“Holden… Tôi muốn hỏi chú một câu hỏi ngắn, hơi lằng nhằng, mô phạm chút đỉnh. Chú không nghĩ rằng mọi sự đều có một thời gian và một nơi chốn riêng biệt thích hợp cho nó hay sao? chú không nghĩ rằng nếu một người nào khởi sự nói về cái trại của cha nó thì nó phải nói sát đề ấy đã, rồi sau đó sẽ xoay quanh mà nói về cái nạng của ông chú? Hoặc, nếu cái nạng của ông chú là một đề tài vô cùng hào hứng cho nó, thì có phải là nó nên lựa chọn đề mục ấy từ đầu hay không, thay vì chọn đề cái trại?”
Tôi không ưa suy nghĩ hay trả lời gì hết. Tôi nhức đầu và khó chiu. Tôi lại hơi đau bụng nữa, nói thật với bạn.
“Vâng – tôi không biết. Tôi chắc nó nên làm như vậy. Nghĩa là tôi chắc đáng lẽ nó phải chọn ông chú nó làm đề tài, thay vì cái trại, nếu nó khoái đề ấy nhất. Nhưng điều tôi muốn nói là, rất nhiều khi thầy không sao biết được cái gì thầy khoái nhất chừng nào thầy chưa khởi sự nói về một cái mà không phải thầy khoái nhất. Nghĩa là đôi khi thầy không khỏi lâm vào cảnh ấy. Điều tôi nghĩ là, ta phải để yên cho một người nào nói nếu ít nhất câu chuyện nó cũng hào hứng và khi nó đang khoái về một chuyện gì. Tôi thích khi một người nào khoái về một chuyện gì. Thật dễ thương. Nhưng thầy không biết ông giáo Vinson ấy. Ông đôi khi làm ta cáu tiết, ổng và cả cái lớp học trời đánh. Nghĩa là ổng cứ nói mình phải thống nhất và lược giản suốt buổi. Có một vài điều mình không thể nào quy nạp hay lược giản gì hết. Nghĩa là thầy không thể nào cứ quy nạp và lược giản một điều gì chỉ vì một người nào muốn thầy làm thế. Thầy không biết cha nội ấy, ông Vinson. Ổng cũng thông minh đấy, nhưng thầy cũng thấy ổng không có óc não cho lắm.”
“Cà phê cuối cùng đây rồi, thưa các ngài!” cô Antolini nói. Bả mang một khay cà phê và bánh trái vào. “Holden! Cậu đừng liếc trộm tôi. Tôi đang như một cái tổ quạ.”
“Chào cô Antolini!” tôi nói. Tôi định đứng lên, nhưng thầy Antolini túm áo tôi kéo xuống. Đầu bà già Antolini đầy những cuốn tóc bằng sắt, và bả chẳng bôi son hay gì hết. Bả trông không lộng lẫy lắm, quả vậy. Vả lại khá già.
“Tôi để đây. Hai ngài cứ việc tự tiện,” bả nói. Bả để cái khay trên bàn, và dẹp các ly tách. “Mẹ cậu mạnh không, Holden?”
“Cảm ơn bà, vẫn mạnh. Tôi không gặp bà đã lâu, nhưng lần cuối tôi gặp thì…”
“Anh này, nếu cậu Holden cần cái gì, anh cứ mở trong tủ để mền gối. Tầng trên cùng ấy. Em đi ngủ đây. Mệt quá,” cô Antolini nói. Bà cũng có vẻ mệt nữa. “Các ngài chịu khó trải lấy cái đi văng mà ngủ đấy nhé?” “Được rồi, được rồi. Em đi ngủ đi,” ông Antolini nói. Ông hôn cô Antolini một cái, và bà chào tôi rồi vào buồng ngủ. Họ luôn luôn hôn nhau rất nhiều giữa công chúng.
Tôi uống chừng nửa tách cà phê và ăn nửa cái bánh gì đó cứng như cục đá. Còn thầy Antolini thì chỉ rót thêm ly nữa. Ông uống rượu rất mạnh. Nếu không coi chừng thì ổng có thể trở nên bợm nghiện.
“Tôi có ăn cơm với ông già của chú chừng vài tuần trước,” bỗng dưng ổng nói. “chú biết không?” “Không, tôi không biết.”
“Chú cũng rõ, dĩ nhiên, là ổng rất lo về chú.” “Tôi biết. Tôi biết ổng lo,” tôi nói.
“Dường như trước khi gọi tôi, ổng vừa được một cái thư dài của ông hiệu trưởng trường chú, ý nói chú tuyệt đối không chăm chỉ chút nào. Trốn học. Đến lớp không bao giờ soạn bài. Tóm lại là chú…”
“Tôi không trốn học bao giờ. Họ không bao giờ cho phép trốn học cả. Có một vài giờ học thỉnh thoảng tôi không dự như trường hợp giờ diễn thuyết mà tôi nói với thầy, nhưng ngoài ra tôi không trốn học bao giờ.” Tôi không thích bàn cãi chuyện ấy một tí nào cả. Cà phê làm tôi đỡ đau bụng chút đỉnh, nhưng ngoài ra tôi vẫn còn nhức đầu bỏ mẹ.
Thầy Antolini châm một điếu thuốc khác. Ông hút như điên. Đoạn ổng nói: “Nói thật, tôi không biết nói gì với chú bây giờ, Holden ạ!”
“Tôi biết. Tôi rất khó nói chuyện. Tôi công nhận.” “Tôi có cảm tưởng chú đang xuống dốc ghê gớm. Nhưng quả thật là tôi không biết cái dốc gì. Chú có nghe tôi nói không?”
“Có chứ. Có.”
Bạn cũng thấy là ổng đang cố suy nghĩ.
“Đấy có thể là cái thứ xuống dốc mà, đến chừng ba mươi tuổi, chú vào ngồi trong một quán rượu và cảm thấy thù ghét tất cả mọi thằng nào có vẻ như từng chơi đấu bóng hồi đi học. Chú cũng có thể chỉ thu nhập vừa đủ kiến thức để ghét những người thường nói: ‘Đấy là một bí mật giữa nó và tôi. ’ Hoặc chú cũng có thể rốt cuộc lao mình vào làm ở văn phòng hãng nào đó, ném từng mẩu kẹp giấy cho người tốc ký gần nhất. Tôi không biết. Nhưng chú có biết tôi đang nói gì không cái đã?”
“Biết, biết chứ.” Tôi cũng biết thật. “Nhưng thầy nói cái vụ thù ghét đó không đúng. Tôi muốn nói thù ghét những người chơi đá bóng các thứ. Thầy lầm rồi, thật đấy. Tôi không ghét nhiều thằng lắm đâu. Tôi ghét là ghét chúng một lúc thôi, như thằng Stradlater tôi quen ở trường Pencey chẳng hạn, hay thằng kia, thằng Robert Ackley. Thỉnh thoảng tôi ghét chúng – tôi công nhận – nhưng không lâu, đấy, tôi muốn nói thế đấy. Sau một thời gian, nếu không gặp chúng, nếu chúng không vào phòng, hay nếu không thấy chúng trong phòng ăn vài bữa, tôi lại thấy nhớ chúng. Nghĩa là tôi nhớ chúng chút đỉnh.”
Thầy Antolini không nói gì trong một lúc. Ông đứng dậy bỏ một cục nước đá khác vào trong ly, rồi ngồi xuống lại. Bạn cũng thấy được là ổng đang suy nghĩ. Tôi cứ ước ao giá ông ta để đến mai sáng hãy tiếp tục nói chuyện thay vì bây giờ, nhưng ổng cao hứng bỏ mẹ. Khi nào người ta cũng hứng nói chuyện khi bạn không hứng.
“Này. Bây giờ chú nghe tôi nhá… Có lẽ tôi sẽ không nói được dễ nhớ như tôi muốn, nhưng tôi sẽ viết cho chú một bức thư trong vài ngày tới. Rồi chú sẽ hiểu hết thôi. Nhưng dù sao cũng nghe tôi này.” Ông lại bắt đầu tập trung tư tưởng. Đoạn ổng nói: “Tôi nghĩ rằng cái dốc mà chú đang lăn xuống là một thứ dốc khủng khiếp. Không bao giờ người xuống dốc được nghe hay cảm thấy mình chạm phải đáy hố. Họ cứ việc lạn xuống, lăn xuống. Cái dốc ấy dành cho những người, vào một lúc nào đó trong đời, đi tìm một cái gì mà hoàn cảnh và những người xung quanh không thể đem lại cho họ, hay họ nghĩ là không thể đem lại cho họ. Bởi thế họ bỏ cuộc, không thèm tìm kiếm nữa. Họ bỏ cuộc ngay cả trước khi họ thực sự bắt đầu. Chú có hiểu tôi không?
“Có chứ.”
“Chắc không?”
“Chắc.”
Ông đứng dậy rót thêm rượu vào ly. Rồi ổng lại ngồi xuống. Ông không nói gì cả, trong một lúc khá lâu. Rồi ông nói:
“Tôi không muốn làm chú hoảng hốt, nhưng tôi có thể hình dung rất rõ ràng chú sẽ chết một cách cao thượng, bằng cách này hay bằng cách khác, cho một lý do không đáng gì cả.” Ông nhìn tôi một cách buồn cười. “nếu tôi viết cho chú vài dòng, chú có chịu đọc một cách kỹ lưỡng không? Và giữ lấy?”
“Chịu chứ. Dĩ nhiên là tôi đọc,” tôi nói thế, và tôi cũng làm thế nữa. Bây giờ tôi cũng còn tờ giấy ổng viết cho tôi.
Ông đi lại bàn giấy ở đầu phòng, đứng khom lưng viết một cái gì trên mảnh giấy. Rồi ông trở lại ngồi xuống cầm mảnh giấy trong tay. “Lạ một điều là, câu này lại không do một nhà thơ tập sự. Nó do một nhà tâm phân học tên là Wilhelm Stekel. Đây là những gì ổng… Chú có còn nghe tôi không?”
“Còn, còn chứ.”
“Đây, ông ta viết như thế này: ‘Dấu hiệu của người chưa trưởng thành là, họ muốn chết một cách cao thượng vì một sự nghiệp, trong khi dấu hiệu của người trưởng thành là họ muốn sống một cách khiêm nhường vì một sự nghiệp.’ “
Ông với sang đưa mảnh giấy cho tôi. Tôi đọc nó ngay khi ổng đưa, cảm ơn ổng và bỏ vào túi. Ông quả thật tử tế đã chịu khó làm mọi chuyện ấy. Ông tử tế thật. Tuy nhiên có điều là, lúc ấy tôi không ưa suy nghĩ cho lắm. Ôi giời, bỗng nhiên tôi thấy mệt bỏ mẹ.
Nhưng còn ổng thì bạn cũng thấy ổng không mệt tí nào. Ông lại còn đang say khướt nữa, chẳng hạn.
Ông nói: “Tôi nghĩ rằng một ngày kia chú sẽ phải tìm xem chú muốn đi đâu. Rồi chú khởi sự đi đến đấy. Mà đi tức khắc. Chú không thể chịu mất một phút nào. Chú không thể.”
Tôi gật, bởi vì ông già đang nhìn ngay vào mặt tôi các thứ, nhưng tôi không biết ổng đang nói gì cho lắm. Nghĩa là tôi chỉ biết sơ sơ thôi, nhưng lúc đó tôi chẳng hào hứng gì. Tôi mệt trối chết.
“Tôi ghét phải nói điều này với chú,” ổng nói, “nhưng tôi nghĩ rằng một khi chú đã có ý niệm rõ ràng chú muốn đi đâu, thì động tác đầu tiên của chú sẽ là đi học. Chú sẽ phải đi học. Chú là một người học trò – dù ý nghĩ ấy lôi cuốn chú hay không, chú say mê hiểu biết. Và tôi nghĩ chú sẽ khám phá ra, một khi đã vượt qua được tất cả những ông Vinese và thứ diễn thuyết…”
“Những ông Vinson,” tôi nói. Ý thầy là những ông Vinson, không phải là những ông Vinese. Nhưng lẽ ra tôi không nên ngắt lời.
“Được rồi, những ông Vinson. Một khi đã vượt qua được tất cả những ông Vinson, chú sẽ bắt đầu tới ngày càng gần hơn – ấy là nếu chú muốn, và nếu chú tìm kiếm nó và trông chờ nó – thứ hiểu biết làm trái tim chú rất, rất âu yếm. Trên tất cả, chú sẽ phát hiện rằng chú không phải là người đầu tiên đã từng hoang mang, giật mình kinh hãi hay cả đến phải nôn mửa vì cách xử sự của người ta. Chú hoàn toàn không phải là người cô đơn về phương diện ấy, chú sẽ ngạc nhiên thấy thế, và chú sẽ lấy làm thích thú và kích thích khi biết như vậy. Nhiều, rất nhiều người cũng đã bị dao động về phương diện luân lý và tâm linh hệt như chú bây giờ. May thay, một vài người đã ghi lại những khó khăn mà họ đã gặp phải, chú có thể học từ những kinh nghiệm ấy – nếu chú muốn. Cũng như một ngày kia, nếu chú có cái gì để dâng hiến, thì một người nào đó sẽ học được một điều gì nơi chú. Đấy là một sự hỗ tương tốt đẹp. Và đấy không phải là giáo dục. Đấy là lịch sử. Đấy là thi ca.” Ông ngừng nói và tợp một ngụm khá nhiều từ nơi chiếc ly cao của ổng. Rồi ổng lại khởi sự nói. Ôi giời, ổng cao hứng quá chừng thật. Tôi mừng là tôi đã không cố tốp ổng lại hay gì ca. Tôi không cốt nói với chú rằng chỉ có những người có giáo dục và học thức rộng mơi có thể đóng góp một cái gì có giá trị cho thế giới. Không phải thế. Nhưng tôi phải nói rằng những người có giáo dục và học thức rộng, nếu họ thông minh và có óc sáng tạo – điều này, rủi thay lại rất hiếm – thì họ dễ để lại nhiều vô số những thành tích cho đời hơn là những người chỉ thông minh và có óc sáng tạo. Những người ấy thường diễn đạt tư tưởng họ một cách sáng sủa hơn, và say mê muốn theo dõi những tư tưởng của họ đến cùng, và – điều quan trọng nhất – chín phần mươi những người này thường khiêm cung hơn những người chỉ có thiên tư mà không bác học. Chú có hiểu tôi chút nào không?”
“Có, thưa thầy.”
Ông lại không nói gì một lúc khá lâu. Tôi không biết bạn đã từng gặp như thế lần nào chưa, nhưng thật khó ngồi vậy để chờ một người nào nói một điều gì khi họ đang suy nghĩ các thứ. Thật khó. Tôi cố đừng ngáp. Không phải vì tôi chán hay gì hết – tôi không chán – nhưng bỗng chốc tôi buồn ngủ khủng khiếp.
“Một nền giáo dục học đường còn có lợi cho chú về một phương diện khác. Nếu chú chịu khó theo đuổi một thời gian kha khá, chú sẽ có thể có một ý niệm về tầm vóc của trí não chú ra sao. Nó sẽ thích hợp với cái gì, và có lẽ nó sẽ không thích hợp với cái gì. Sau một thời gian, chú sẽ có một ý niệm về tầm vóc trí não đó nên mang lấy những tư tưởng gì. Một điều có lọi cho chú là chú khỏi tốn nhiều thì giờ cho những ý niệm không thích hợp với chú. Chú sẽ biết tầm vóc thực sự của chú một cách rõ ràng hơn và tùy theo đó để trang bị cho tri thức chú.”
Đoạn, bỗng nhiên tôi ngáp một cái. Thật rõ là khốn kiếp, nhưng tôi không thể nào dừng được.
Tuy nhiên thầy Antolini chỉ cười lớn: “Nào!” ổng đứng dậy. “Để chúng tôi sửa soạn cho chú một chỗ ngủ.”
Tôi đi theo ổng và ổng đến một cái tủ, bới tìm để lấy xuống vài tấm ga để trải đi văng, mền và những thứ khác trên nóc tủ, nhưng ông không thể nào làm việc ấy với cái ly rượu cầm trong tay. Bởi thế ổng uống hết rượu và đặt ly xuống sàn nhà, khi ấy ổng mới lấy đồ xuống. Tôi giúp ổng đem đồ đến đi văng, cả hai chúng tôi cùng trải ga. Ông làm không hăng hái lắm. Ông không nhét tấm ga dưới nệm kỹ cho lắm nữa. Duy tôi cũng đếch cần. Tôi có thể ngủ đứng cũng được nữa, tôi mệt quá.
“Chuyện đàn bà của chú ra sao?”
“Không sao cả.” Tôi đang là một thằng đối thoại phải gió, nhưng tôi không hứng tí nào.
“Sally thì sao?” Ông biết con mẹ Sally Hayes. Tôi có lần giới thiệu với ổng.
“Ồ, nàng cũng không sao cả. Chiều nay tôi có đi chơi với cô bé.” Ối giời, tôi tưởng chừng như đã hai mươi năm về trước! “Chúng tôi không còn hợp nhau nhiều lắm,” tôi tiếp.
“Con bé kháu tệ. Còn cô kia thì sao? Cái cô mà chú nói với tôi ấy, ở Maine?”
“Ô, Jane Gallagher. Nàng cũng ổn. Có lẽ mai tôi sẽ gọi điện thoại cho nàng.”
Lúc ấy chúng tôi đã trải xong cái đi văng. “Đấy của chú tất cả đấy. Tôi không biết làm thế nào với bộ giò dài của chú.”
“Được rồi. Tôi quen ngủ giường ngắn. Cảm ơn thầy nhiều. Thầy và cô Antolini thật đã cứu sống tôi tối nay.
“Chú biết phòng tắm ở đâu. Nếu cần gì, chú cứ hét lên. Tôi sẽ còn ở trong nhà bếp một lát nữa – đèn sáng có phiền cho chú không?”
“Không, ồ, không. Cảm ơn nhiều.”
Ông đi ra nhà bếp và tôi vào buồng tắm thay áo quần các thứ. Tôi không đánh răng được vì không đem bàn chải. Tôi cũng không có bộ đồ ngủ nào, mà thầy Antolini quên cho tôi mượn một bộ. Bởi thế tôi trở lại phòng khách và tắt cái đèn nhỏ cạnh đi văng, rồi vào nằm ngủ chỉ mặc đồ lót. Cái đi văng quá ngắn đối với tôi thật, nhưng tôi đã nói là tôi cả đến ngủ đứng cũng được mà không chớp một tí lông nheo nào. Tôi nằm thức một vài giây, nghĩ đến những thứ mà thầy Antolini vừa nói với tôi. Về chuyện tìm ra kích thước cho óc não tôi các thứ. Ông là người khá thông minh thật. Nhưng tôi không thể nào chống hai con mắt phải gió của tôi lên được. Và tôi ngủ ngay.
Rồi một chuyện xảy đến. Tôi đến nỗi không muốn nói đến chuyện ấy, nói thật với bạn.
Bỗng chốc tôi thức giấc. Tôi không biết lúc ấy vào khoảng mấy giờ hay gì cả, nhưng tôi thức dậy. Tôi cảm thấy có cái gì trên cái đầu của tôi, một bàn tay của một thằng cha nào. Ôi giời, nó làm tôi sợ khiếp vía. Nó là gì, chính là bàn tay của thầy Antolini. Điều ổng đang làm là, ổng ngồi trên sàn nhà ngay cạnh đi văng, trong bóng tối các thứ, và có thể nói là ổng đang vuốt ve hay vỗ vỗ trên mẹ kiếp cái đầu thánh vật của tôi. Ôi giời, tôi nhảy một cái có đến ngàn thước.
“Thầy đang làm cái quái gì đấy?” tôi nói.
“Có gì đâu! Tôi chỉ ngồi đây, ngắm…”
“Mà thầy đang làm cái gì đã?” tôi nói lại. Tôi không biết phải nói cái quái gì cả – nghĩa là tôi đâm ra xấu hổ bỏ mẹ.
“Chú nói nhỏ một tị có được không? Tôi chỉ ngồi đây…”
“Nhưng mà tôi phải đi ngay,” tôi nói. Ôi giời, tôi lúng túng thật. Tôi khởi sự mặc đồ trong bóng tối. Tôi luống cuống đến nỗi không tài nào mặc được. Tôi biết khá nhiều bọn biến thái, ở trường học các thứ, có lẽ tôi biết nhiều hơn bất cứ người nào bạn từng gặp. Và ác một nỗi là chúng thường có cái trò biến thái ngay lúc có tôi quanh quẩn.
“Chú phải đi đâu?” ông Antolini nói. Ổng đang cố làm tỉnh và thản nhiên như không có chuyện gì xảy ra cả. Nhưng ổng không quá thản nhiên. Tôi thề với bạn đấy.
“Tôi để quên túi xách các thứ ở nhà ga.”
“Thì sáng mai chúng vẫn còn ở đấy. Thôi trở về giường ngủ đi. Tôi cũng đi ngủ đây. Chú làm sao thế?”
“Không sao cả, chỉ vì tiền bạc của tôi và đồ dùng để ở cả trong túi. Tôi sẽ trở về ngay. Tôi sẽ gọi một chiếc taxi và về ngay.” Ôi giời, tôi sờ soạng vì tối khiếp. Có điều là, tiền ấy không phải của tôi. Tiền của mẹ tôi. Và tôi…”
“Chú đừng có lố bịch quá, Holden. Trở về giường của chú đi. Tôi cũng đi ngủ, tiền sẽ ở đấy đến sáng mai không sao hết…”
“Không, không, thật đấy. Tôi phải đi. Tôi nói thật.” Tôi mặc áo quần đã gần xong, ngoại trừ không tìm thấy chiếc cà vạt. Tôi không thể nào nhớ nổi đã vứt nó ở đâu. Tôi mặc thêm chiếc áo ngoài, không thắt cà vạt. Cha nội Antolini bây giờ đang ngồi trong một chiếc ghế lớn cách tôi khá xa, nhìn tôi. Phòng tối bỏ mẹ, tôi không thấy cha nội rõ lắm, nhưng cũng biết được là chả đang ngó tôi. Ông đang tợp rượu nữa. Tôi có thể thấy cái ly cao của ổng cầm trong tay.
“Chú thật là lạ lùng, vô cùng lạ lùng.”
“Tôi biết,” tôi nói, và không cần cố tìm thêm về chiếc cà vạt, tôi ra đi. “Chào thầy”, tôi nói. “Cảm ơn thầy lắm. Thật đấy.”
Ông cứ đi theo sát sau khi tôi đến cửa chính, và lúc tôi rung chuông thang máy, ổng đứng choán mẹ cả cái lối vào thang. Ông chỉ nói đi nói lại có mỗi một điều tôi là một thằng “lạ lùng, vô cùng lạ lùng” ấy. Lạ lùng cái mẹ. Rồi ổng đứng cho đến khi cái thang máy khốn kiếp dừng lại. Suối đời tôi chưa bao giờ đợi một chiếc thang máy lâu như thế. Tôi thề đấy.
Khi đứng đợi, tôi không biết nói về cái quái quỷ gì, mà ông ta thì cứ đứng lỳ ra đấy, bởi thế tôi nói: “Có lẽ tôi sẽ đọc vài cuốn sách thật khá. Thật đấy.” Nghĩa là tôi muốn nói bạn phải nói một cái gì, vì thật là xấu hổ.
“Chú vơ hết đồ đạc rồi bay về lại đây ngay nhá. Tôi sẽ để cửa chờ chú.”
“Cảm ơn nhiều, chào thầy!” Cuối cùng, thang máy đã đến. Tôi bước vào và xuống lầu. Ôi giời, tôi run lên như điên. Tôi cũng toát mồ hôi nữa. Khi một cái gì biến thái như thế xảy ra, tôi lại khởi sự đổ mồ hôi như một thằng phải gió. Cái thứ chuyện như thế đã xảy đến cho tôi chừng hai chục lần từ khi tôi còn nhỏ. Thật tôi không thể chịu được.