Bố Con Cá Gai - Cho Chang-In - Chương 6.1
Mười ngày liền, thời tiết thật ảm đạm với mưa rơi và gió thổi không ngừng. Những chiếc lá lìa cành, có cả những lá ngân hạnh vẫn còn nguyên sắc xanh, rơi xuống bám chặt, phủ kín mặt đường, và ở trên đỉnh núi Seorak, những bông tuyết đầu mùa của năm nay đã bắt đầu rơi.
Trong suốt hai ngày, anh không rời khỏi đứa bé dù chỉ trong chốc lát. Vẫn như bình thường, anh ngồi xoa bóp tay chân hay chơi cờ, hay đọc những cuốn truyện thiếu nhi cho đứa trẻ, chốc chốc lại thì thầm những câu nói đầy hy vọng vào tai nó, với mong muốn có thể làm dịu bớt cơn đau của nó. Anh làm thế không phải chỉ vì đứa trẻ. Mà bởi anh cũng nhìn thấy hình ảnh của chính mình đang quằn quại mắc vào mũi con tàu đắm.
Vừa mờ mịt, vừa lo lắng, vừa ấm ức, đôi khi anh lại nghĩ, liệu còn lại gì cho bản thân mình? Anh đưa tay ra chới với để làm gì cơ chứ? Anh biết nói lời hy vọng gì cho chính mình đây?
Hai ngày quạnh quẽ trôi qua, ngày sáng dần và trở lại là mùa thu bừng rỡ.
Thời gian qua, trong khi có những người nuốt tiếng khóc vào trong, thì đương nhiên cũng có những người vui mừng vỗ tay tán thưởng. Trong khi có những người đang chết dần chết mòn trong tuyệt vọng hay bị chôn vùi ở dưới lòng đất lạnh lẽo, thì ở một nơi nào đó, lại có những sinh mệnh không ngừng được sinh ra và lớn lên.
Nhưng có những điều vẫn chẳng hề thay đổi. Thế gian chẳng hề cúi đầu. Thế gian quả thật nghiêm khắc và lạnh lùng, vẫn chỉ đi theo quỹ đạo của mình và tiến về phía trước. Và…
Bán án tử hình anh nhận được là hoàn toàn có thật. Việc anh vẫn là cha của một đứa trẻ cũng là sự thật rõ ràng. Bổn phận, trách nhiệm của một người cha vẫn đè nặng lên vai anh không hề suy suyển.
Không thể cứ mãi dằn vặt và đau khổ. Với người vẫn còn việc phải làm như anh thì thậm chí còn không có chút nào hở ra để mà tuyệt vọng. Mang trong mình niềm tin đó, anh phải mau chóng nối lại những cảm xúc chưa thể giãi bày, và cả tương lai xa xôi đầy những ánh mắt lưu luyến.
Anh đã gặp trưởng phòng Song. Tại một quán trà nhìn ra khung cảnh thật đẹp.
Trưởng phòng Song thổ lộ rằng Yoo Gab Soo đã liên lạc với anh ta. Anh ta thở dài, vừa lắc đầu vừa cất lời:
“Sao đời lại có chuyện này cơ chứ.”
Đâu phải do cuộc đời. Cũng đâu phải chỉ có mỗi mình anh đứng mũi chịu sào trước mối bất hòa với cuộc đời. Chỉ có kẻ ngốc mới giận dữ. Cho dù có uất ức, có giận thì cũng chỉ là thở than vô ích mà thôi. Chỉ cần suy nghĩ đơn giản là được. Hãy cứ nghĩ chẳng may mình gặp phải tai bay vạ gió, như con ếch chẳng may trúng phải hòn đá.
Hai tách cà phê được đặt trên bàn. Anh xoay lại quai tách cà phê để trưởng phòng Song dễ cầm rồi cất lời.
“Tôi có chuyện muốn bàn bạc. Tôi vẫn phải chuẩn bị phí điều trị…”
“Vấn đề tiền đặt cọc đã xử lý xong nên anh cứ từ từ rồi tính. À không, anh cứ giao phó cho em. Ở bệnh viện có chương trình điều trị từ thiện cho các đối tượng là người có hoàn cảnh khó khăn. Người có thể nhận được đãi ngộ này chỉ đếm trên đầu ngón tay, nhưng cứ để em thử xem sao. Trước tiên anh hãy đến ủy ban phường đăng ký là đối tượng có hoàn cảnh khó khăn. Bệnh viện sẽ lo chuẩn bị giấy tờ hồ sơ bệnh án của Daum, anh nộp kèm theo chẩn đoán của bệnh viện phía bên kia nữa thì em sẽ lo liệu nốt.”
“Tôi không muốn làm đến như thế.”
“Bây giờ đâu phải là lúc để ý đến lòng tự trọng nữa? Anh hãy nghe theo lời em đi.”
“Tôi không quan tâm đến lòng tự trọng. Thật sự đấy. Nhưng phí trị liệu cho con thì tôi muốn tự tay lo liệu. Vì thế nên cậu hãy liên hệ Yoo Gab Soo một lần nữa giúp tôi. Tôi tìm hiểu thì được biết khác với các cơ quan nội tạng khác, ngay cả người đã qua đời rồi cũng có thể hiến tặng được giác mạc. Vì thế nên tôi muốn nhờ Yoo Gab Soo bán giác mạc…”
Trưởng phòng Song xua tay ngắt lời anh.
“Anh nói gì vậy? Giác mạc và thận khác nhau chứ. Cứ coi như là em chưa nghe thấy gì cả.”
“Chẳng có gì khác nhau cả. Giác mạc hay là thận đi chăng nữa, với tôi cũng giống nhau hết. Thời gian còn lại của tôi, nếu dài thì cũng chỉ còn sáu tháng nữa. Cậu thử nghĩ mà xem. Sáu tháng thì sống với một con mắt hay hai con mắt cũng có gì quan trọng cơ chứ. Không là gì cả. Thời gian vừa qua tôi đã suy nghĩ kỹ rồi. Tôi còn lại gì cơ chứ? Trước đây hay bây giờ, tôi cũng chỉ có mình nó thôi. Chỉ là sau khi biết bệnh của mình, tôi suy nghĩ thực tế hơn trước.”
Anh từ từ nhấp từng ngụm cà phê đang nguội dần.
“Bây giờ thì tôi còn làm được gì cho nó nữa? Nếu như còn nhiều thời gian ở bên cạnh nó thì tôi đâu nhất thiết phải vội vàng. Tôi cũng càng chẳng phải làm cái việc bán giác mạc. Nhưng quãng thời gian còn lại quá ngắn ngủi. Ngay cả thời gian để phủ nhận, phẫn nộ hay đấu tranh với cái việc mắc bệnh ung thư gan cũng chẳng có. Điều quan trọng là… nó được sống, còn sự thật là tôi sẽ phải chết. Nó là đứa bé chưa đầy mười tuổi. Không lâu nữa nó sẽ phải sống cuộc sống không có cha bên cạnh. Đứa trẻ không có cha. Tôi cũng đã trải qua rồi, với đứa trẻ nó sẽ trở thành một vết thương khó lành. Đã vậy tôi còn chẳng có một xu nào để lại cho nó cả. Vì thế tôi muốn làm một điều gì đó cho nó trước khi chết, chẳng phải như thế tôi cũng thấy thanh thản hơn sao? Đó là cả tấm lòng của tôi.”
Đúng vậy. Đó chính là cả tấm lòng của anh. Dù sao thì cũng thật may mắn. Vì anh vẫn còn có thể làm điều gì đó cho đứa trẻ. Ngoài điều đó ra thì liệu còn gì có thể khiến anh khao khát hơn, mong mỏi hay là bận lòng hơn được nữa?
“Đến giờ thì tôi đã nợ trưởng phòng Song quá nhiều ân tình. Lại không có cách nào trả ơn. Nhưng tôi cũng không biết nhờ cậy vào đâu, mong cậu hãy giúp tôi một lần nữa thôi.”
Sau khi anh gặp Yoo Gab Soo và quay trở về bệnh viện thì đã thấy Yeo Jin Hee đang đợi ở đó.
Bỏ qua chào hỏi, Yeo Jin Hee lập tức quay đầu rời khỏi phòng bệnh. Cô bước đi thật nhanh về phía chiếc ghế dài cạnh cây hoa tử đằng nằm sau khu phòng bệnh trẻ em, rồi đứng lại. Cô quay đầu nhìn anh rồi cất giọng lạnh lùng.
“Đối với anh, em là gì vậy?”
Trước đây cô đã từng đặt câu hỏi tương tự vậy. Đó là một ngày Hạ chí, sau khi nói chuyện về đỉnh Valdemar ở đâu đó trên dãy núi Andes.
Ôi, đôi nam nữ tuổi thanh xuân của Valdemar. Ai đó đứng trên đỉnh núi trước khi mặt trời lặn, hay ai đó ngắm hoàng hôn huyền ảo ở trên chóp núi. Cũng có khi người ta đạt được tình yêu, cũng có khi phải đợi đến ngày Hạ chí tiếp theo. Còn với anh, ngay cả ngày Hạ chí để chờ đợi cũng đã không còn tồn tại.
Cuộc đời ngắn ngủi còn lại đã gây ra cảm giác lúng túng và khó xử hiếm thấy ở anh. Và sau này, có lẽ anh cũng sẽ phải khổ sở với cảm giác đó.
Chào đón ngày kỷ niệm, hay ngắm nhìn cảnh tượng tuyết đầu mùa rơi, hay cùng nói chuyện chẳng cần biết đến ngày sau, hay ngay cả giây phút đành phải bắt tay ly biệt với ai đó. Tất cả sẽ đều khiến anh phải luyến tiếc. Liệu có thể lấy lại những giây phút đó hay không.
Anh ngồi xuống ghế, Yeo Jin Hee hỏi lại:
“Tại sao anh không nói với em? Anh định giữ bí mật đến phút cuối hay sao?”
“Anh chẳng biết em nói chuyện gì cả. Dù sao thì cứ ngồi xuống đã. Dù có nổi giận cũng ngồi xuống đã.”
Nhưng Yeo Jin Hee không chịu ngồi. Cô đút hai tay vào túi hông chiếc váy màu xanh tím than, rồi hất cằm chỉ về phía cái thùng rác nằm cách đó khoảng ba, bốn bước chân.
“Phim chụp ấy, thì ra nó là của anh.”
“… Em hiểu lầm rồi. Anh có một người bạn thân, đó là của cậu ấy đấy. Cậu ấy nhát lắm, nên nhờ anh xác nhận lại bệnh tình của mình ấy mà.”
“Tiền bối!”
Yeo Jin Hee hét lên rồi ngồi sụp xuống bên cạnh anh. Cô vừa mấp máy môi vừa nói như một đứa trẻ đang cố không khóc.
“Em tìm hiểu hết rồi. Cả ở bệnh viện mà anh đã làm xét nghiệm ở Kangnam nữa.”
Có lẽ trực giác của một phóng viên đã mách bảo cô. Chỉ cần nhìn thoáng qua tên bệnh viện ở trên góc phong bì cô đã bắt đầu tìm hiểu ngay. Anh hối hận muộn màng và trách mình biết thế đã vứt nó đi từ trước.
Cuối cùng, Yeo Jin Hee òa khóc. Một khi cô đã khóc thì khó có thể dừng lại được, anh chỉ biết lặp đi lặp lại một câu.
“Em đừng khóc, xin em đấy.”
Đoạn đường kéo dài từ dãy ghế cạnh cây hoa tử đằng đến khu phòng bệnh trẻ em được lát gạch màu ánh tím nhạt, trên đó có một chú chim bồ câu đang chăm chỉ mổ những tia nắng mùa thu rớt xuống mặt đường. Bất chợt một cơn gió thổi đến. Trên bầu trời, đám mây dài và mỏng mảnh lững lờ trôi về phía Tây.
Tiếng thút thít dần lắng xuống. Yeo Jin Hee ngẩng đầu nhìn anh bằng đôi mắt ngấn nước, anh đành cười thật tươi để át đi câu chuyện.
“Anh còn cười được sao? Anh muốn cười thật sao? Anh thử nói đi. Đã đến mức này rồi anh còn định cười đến bao giờ nữa?”
Anh lấy chiếc khăn tay trong túi ra đặt vào tay Yeo Jin Hee.
“Anh nhớ lại lần đầu tiên gặp em. Khi đó Jin Hee đã hỏi anh một câu. Em muốn thân thiết với anh thì phải làm thế nào? Rồi em cười thật tươi khoe hàm răng đều tăm tắp. Giây phút đó anh đã có cảm giác gần gũi thân thiết với Jin Hee rồi. Nhưng hình như lúc đó anh đã giả vờ và nói như thế này, chỉ cần em cứ tươi cười như thế này thì chúng ta sẽ chóng thân thôi.”
Chim bồ câu vỗ cánh bay lên, vẽ nên một hình bán nguyệt rồi biến mất. Có một người phụ nữ trung tuổi đang đẩy chiếc xe lăn quay lại khu phòng bệnh trẻ em. Ngồi trên xe lăn là một đứa trẻ đội mũ len sùm sụp và đeo khẩu trang kín mít. Chắc là đứa trẻ đang phải chịu chứng bệnh bạch cầu lympho, bạch cầu cấp dòng tủy sống, hay là bệnh thiếu máu bất sản.
Yeo Jin Hee thở dài rồi nói:
“Gần đây có một bác sĩ mới trở về từ Đức. Tiến sĩ Lee Jeong Ho. Đó là người có uy tín trên thế giới về bệnh gan. Ông ấy đã xem phim chụp của anh rồi và nói trước tiên anh hãy nhập viện đi.”
Tiến sĩ Lee Jeong Ho là giáo sư làm việc ở một trường đại học nổi tiếng của Đức. Và là nhân vật được nhắc đến như một ứng cử viên sáng giá cho giải Nobel Y học. Muốn được ông ấy đặc cách thăm khám chắc còn phải xếp hàng dài. Chắc hẳn Yeo Jin Hee đã phải chật vật lắm mới có thể chen được vào danh sách xếp hàng eo hẹp ấy.
Anh lắc đầu im lặng. Yeo Jin Hee đặt tay lên mu bàn tay anh.
“Nếu là tiền thì anh đừng lo lắng gì cả.”
Tiền? Đó đương nhiên là vấn đề rồi. Nhưng anh không thể lãng phí thời gian vào việc điều trị vô ích này được. Và vấn đề lớn hơn là anh sẽ phải rời xa đứa con đang khổ sở chữa bệnh máu trắng. Nói thẳng ra thì, anh không muốn mạo hiểm. Anh không thể để mất hai thứ cùng một lúc được. Anh đã đưa ra một lựa chọn mà theo anh, là thiết thực nhất.
Tự nhủ trong lòng như vậy, anh nói với Yeo Jin Hee:
“Bệnh của anh nặng lắm rồi. Ngay cả bác sĩ Lee Jeong Ho cũng không làm gì được đâu.”
“Người ta nói kỳ tích hoàn toàn có thể xảy ra đấy thôi. Vả lại chẳng phải khi có niềm tin rằng mình sẽ sống, thì người ta sẽ sống hay sao? Anh hãy nghĩ cho Daum mà xem. Chẳng lẽ anh muốn biến Daum thành đứa trẻ mồ côi à?”
“Bây giờ là thời điểm quan trọng nhất đối với Daum. Đây là cơ hội cuối cùng, là kỳ tích với thằng bé. Nhưng mọi thành bại của việc điều trị đều phụ thuộc vào ý chí của thằng bé. Nhất định anh phải ở bên cạnh nó. Nếu không có anh thì nó sẽ lo lắng bất an.”
“Còn anh thì sao? Đây cũng là cơ hội cuối cùng của anh cơ mà. Là một người cha, anh đã làm tất cả những gì có thể cho Daum rồi. Đến mức anh còn chẳng nhận ra bệnh tình của mình đã trầm trọng đến mức này. Anh đừng cư xử như kẻ ngốc nữa. Giờ anh hãy giao Daum lại cho mẹ nó.”
Anh khẽ mỉm cười thay cho câu trả lời.
Yeo Jin Hee nước mắt đã lại lưng tròng, đứng bật dậy khỏi chỗ.
“Anh đã cố gắng hết sức để cứu sống Daum, còn với bản thân mình sao anh không thể làm như vậy? Chỉ cần một phần mười tình cảm anh dành cho Daum, không, chỉ cần một phần một trăm thôi, xin anh đấy.”
Anh ngước nhìn Yeo Jin Hee rồi đáp:
“Nếu hỏi rằng điều mà anh thấy khó chịu đựng nhất trong thời gian qua là gì, thật buồn cười đó lại là việc cắt móng tay cho đứa bé. Mỗi lần cắt móng tay cho con, anh lại không khỏi suy nghĩ. Cảm giác như thể thời gian còn lại của nó ngày một rút ngắn theo mỗi lần cắt móng tay. Khi anh đang cắt móng tay cho nó như thế này, thì nó cũng đang dần chết đi. Anh đã cố gắng cắt sát hết mức có thể. Như thể làm thế thì anh có thể kéo dài được sự sống của nó vậy. Nhưng gần đây anh lại chỉ cắt chút ít móng, cố gắng để lại nhiều. Bởi vì không cần phải quá bận tâm đến móng tay nữa. Càng thường xuyên cắt móng tay cho con, anh lại càng có thể xác nhận được sự thật rằng nó có thể sống. Có lẽ chẳng ai biết được rằng với anh đó là một niềm hạnh phúc vô bờ bến. Vì thế cho nên, anh là một người cha hạnh phúc.”
Anh cười. Anh vừa mong mỏi nụ cười ấy giống như một người đàn ông hạnh phúc chân chính, vừa nói:
“Jin Hee à, em có biết câu nói này không? Con người ấy mà…”
—
Ôi, cuối cùng thì ngày mai cũng đã là ngày phẫu thuật.
Đêm qua chị gái người Nhật Bản đã đến và hiện đang ở một nơi nào đó trong bệnh viện. Nhưng tôi không được gặp chị. Sáng ngày mai chị sẽ hiến tặng tủy sống cho tôi và ở bệnh viện thêm một ngày nữa rồi trở về Nhật Bản.
Vốn dĩ theo quy định thì người nhận không được gặp người hiến tặng tủy.
Tôi đã hỏi lý do nhưng bác sĩ không trả lời. Không biết vì sao lại có cái quy định vô lý thế cơ chứ? Đó là người mà tôi rất biết ơn vì đã giúp tôi khỏi bệnh, tại sao tôi lại không được gặp cơ chứ?
Arigatou gozaimasu onee-chan.*
Đấy là câu tiếng Nhật tôi đã học từ bố. Bởi vì tôi muốn nhất định phải nói câu này với chị mà. Bằng thứ tiếng mà chị có thể hiểu được.
Lần trước tôi cũng đã liên tục đòi được gặp chị. Nhưng cuối cùng thì bố vẫn cố chấp lắc đầu, bảo:
“Trong Kinh Thánh có câu ‘bàn tay trái đừng quan tâm đến việc mà bàn tay phải làm’ có phải không? Nó có nghĩa là nếu thật lòng muốn giúp đỡ người khác thì đừng để người đó biết. Chị gái người Nhật Bản cũng muốn như vậy đấy.”
Bố nói là nếu mong muốn người khác biết rằng mình đã giúp họ, thì đó là lòng tốt giả tạo. Việc của tôi là phải luôn luôn biết ơn lòng tốt của chị. Và hãy nhanh chóng khỏe mạnh trở lại để thật lòng giúp đỡ người khác như chị đã giúp tôi.
Nghe thấy tiếng bước chân ở phía bên ngoài cửa kính, tôi liền quay đầu lại. Tôi những muốn hét lên “Bố ơi”, nhưng chỉ có chị y tá nhìn lướt qua tôi rồi đi mất.
Cách đây ba ngày tôi đã được đưa vào phòng vô trùng.
Sau khi đi qua mấy cánh cửa thì một căn phòng bằng kính hiện ra. Ở giữa căn phòng bằng kính có một chiếc giường, bao kín xung quanh giường là tấm rèm bằng ni lông. Nhìn như thể giường được đặt trong một cái túi ni lông to đùng vậy.
Phòng vô trùng ấy mà, có thể gọi là một pháo đài bí mật. Căn phòng đặc biệt được tạo ra dành cho bệnh nhân ghép tủy như tôi.
Chỉ số bạch huyết cầu gần như bằng không. Bình thường thì trong máu của tôi vốn có cả bạch huyết cầu tốt và xấu. Thứ làm tôi khổ sở chính là bạch huyết cầu xấu. Và người ta ném quả bom được gọi là thuốc kháng ung thư để tiêu diệt các bạch huyết cầu xấu, nhưng mà bạch huyết cầu tốt theo đó cũng chết theo.
Bạch huyết cầu tốt là những chiến binh chiến đấu với vi khuẩn gây bệnh. Nếu không có các chiến binh thì chẳng thể làm gì ngoài đầu hàng hay là bỏ chạy. Còn bây giờ chiến lược của tôi là rút lui vào pháo đài bí mật. Ngay cả những vi khuẩn gây bệnh kinh khủng cũng không thể nào xâm nhập được vào đây mà.
Nhưng đây là một nơi cực kỳ buồn chán. Ở đây tôi cứ như con chim bị nhốt ở trong lồng vậy. Lại vừa giống như cái bánh bao hấp bị đè bẹp dưới cái mông vĩ đại của một bà cô béo ú. Không biết làm sao lại nóng như thế. Hình như họ muốn biến Daum thành trứng chiên đây mà. Suốt cả ngày tôi chỉ biết nhìn chằm chằm lên trần nhà. Có lúc lại lẩm bẩm một mình. Giá như trên trần nhà có một con gián bò qua thôi thì có phải đỡ chán không.
Trong đầu tôi không còn suy nghĩ nào khác ngoài việc phải nhanh chóng ra khỏi đây. Tôi đã hỏi bác sĩ rằng bao giờ thì tôi được ra khỏi chỗ này, bác sĩ bảo:
“Trong máu có hồng cầu, tiểu cầu, và cả bạch huyết cầu, Daum biết hết rồi đúng không? Thứ làm nên những thứ này, người ta gọi là tủy sống. Vì tủy sống của Daum bị hỏng nên bạch huyết cầu kỳ lạ mới xuất hiện. Khi mà tủy của chị gái người Nhật đi vào trong người Daum và trở thành của Daum, thì sẽ giúp tạo ra bạch huyết cầu tốt. Daum phải ở đây cho đến lúc đó.”
Bác sĩ nói thế rồi bảo sẽ mất ba tuần.
Ba tuần. 21 ngày. 504 tiếng đồng hồ.
Bác sĩ bảo tôi không cần phải sợ phẫu thuật. Sẽ không kéo dài đâu và chẳng mệt mỏi chút nào. Còn đơn giản hơn cả tiêm ấy. Chỉ cần khoan một cái lỗ ở trên ngực tôi và cho dây dẫn vào, đợi từng giọt tủy sống chảy vào là xong thôi.
Vấn đề là sau khi phẫu thuật cơ. Tôi đã nghe bảo rằng sẽ rất rất đau đớn và mệt mỏi. Cả bố và bác sĩ đều lo lắng điều đó.
Nhưng mà tôi á, tôi tự tin là mình sẽ làm được. Ngày nào ngày nào bố cũng nói. Rằng tất cả đều phụ thuộc vào tôi. Tôi đã quyết tâm, quyết tâm và quyết tâm. Dù có vất vả như thế nào thì lần này nhất định tôi sẽ chiến thắng. Tôi sẽ không làm bố phải buồn nữa.
Tôi quyết định sẽ chỉ nghĩ đến ngày được xuất viện. Vì cứ nghĩ đến chuyện khác thì tôi thành ra lại đau đầu.
Ngày mà tôi nắm tay bố và trở lại thung lũng Sarakgol, nếu như tuyết trắng rơi ào ào thì hay biết mấy. Tôi mơ màng không còn nhớ rõ mình từng giẫm chân lên tuyết khi nào. Nghe nói là ở Sarakgol khi có tuyết rơi, tuyết sẽ chất cao đến tận mái nhà ấy. Tôi sẽ cùng bố dọn tuyết và làm người tuyết nữa. Nghĩ kỹ lại thì Sarakgol quả là một nơi hay ho. Mỗi tội ở đó tôi không được gặp Eun Mi.
Chị y tá đẩy cửa bước vào. Chị mở khóa kéo tròn ở giữa tấm rèm ni lông và đo nhiệt độ cho tôi. Cách đây khoảng một tiếng đồng hồ thì nhiệt độ cơ thể tôi là 38,4 độ. Lần này nếu cũng lại hơn 38 độ thì chắc bác sĩ sẽ chạy đến ngay. Tôi nên chuấn bị trước tinh thần là sẽ bị tiêm một mũi.
Chị y tá giơ ngón tay cái với tôi và nói:
“Ba mươi bảy độ tám. Tốt lắm.”
Nếu làm tốt thì phải được thưởng chứ, thế mà chị lại để tôi một mình rồi đi ra ngoài. Tôi chẳng có cách nào khác ngoài lại bắt chuyện với cái trần nhà.
Trong phòng vô trùng, mỗi ngày tôi chỉ có thể nói chuyện với bố trong vòng ba mươi phút. Thế chẳng vui chút nào nhưng dù sao cũng còn may. Vì tôi không phải cách xa bố hoàn toàn như ở phòng chăm sóc đặc biệt. Bố lúc nào cũng có thể nhìn thấy tôi từ bên kia cửa kính, và tôi cũng có thể nhìn thấy bố từ phía bên này.
Tôi không được ra khỏi phòng vô trùng dù chỉ là một bước. Nếu bố không đến gặp tôi thì tôi cũng không thể nhìn thấy bố. Thế nên đương nhiên là bố phải đến gặp tôi chứ, vậy mà không thấy bố đâu cả. Suốt từ hôm qua tới giờ.
Sáng nay tôi đã nhờ chị y tá gọi bố giúp. Chỉ cần bước qua mấy cánh cửa từ phòng vô trùng là sẽ tới phòng của người giám hộ, và bố đã hứa là sẽ luôn ở đó mà.
Thật là kỳ lạ. Bình thường lần nào ăn cơm, lúc nhìn lên tôi đều thấy bố đã đến từ lúc nào, áp mặt vào cửa kính nhìn tôi cơ mà. Để còn liên tục cổ vũ cho tôi, bảo tôi hãy ăn nhiều vào và cố gắng lên nhé.
Ở trong phòng vô trùng, tôi phải ăn một loại thức ăn có tên gọi là thức ăn vô trùng. Trên đời lại có loại thức ăn chán như thế này sao? Thực ra nếu ở mức không ngon thì tôi có thể chịu được. Nhưng nó là thứ thức ăn có mùi thật khủng khiếp, không biết có phải người ta đã đổ thuốc độc vào thay nước rồi đun lên không, mà một ngày tôi phải ăn đến sáu bữa như vậy. Và phải ăn thường xuyên, mỗi lần một ít, đấy là quy tắc của phòng vô trùng.
Mới ăn được một ít tôi đã thấy trong miệng mình loét nhoét như đang cắn phải cái giẻ lau. Tôi không thể ngăn nổi cảm giác buồn nôn và nôn ra ngoài. Tôi cứ ăn một thìa thức ăn vô trùng rồi lại nôn, nước mắt lã chã từng giọt, rồi lại ngẩng lên tìm bố, rồi lại ăn một thìa nữa… Nếu không ăn thì không thể chiến thắng bệnh được nên tôi phải cố ép mình ăn hết. Nhưng hôm qua và hôm nay thì tôi không thể nào ăn được đến một nửa. Tại không có bố ở đây cổ vũ tôi đấy mà.
Bố đi đâu rồi chứ, bố ơi. Có phải bố đi tỉnh vì có việc quan trọng như lần trước bố nói không? Nếu ngắn thì bốn ngày, dài thì năm ngày. Không được. Nếu mà bố bỏ lại tôi một mình lâu như thế, thì chẳng biết quyết tâm chiến thắng bệnh máu trắng của tôi có bay đi mất tiêu không nữa. Nếu không có bố thì tôi sẽ trở thành kẻ ngốc mất thôi.
Mãi đến khi trời tối bố mới đến.
Bố mặc áo choàng, đội mũ và đeo mặt nạ khử độc, trông cứ như thể người vũ trụ đi du hành mặt trăng vậy. Bất cứ ai muốn gặp tôi cũng phải trở thành người vũ trụ. Bởi vì nhỡ đâu lại mang vi khuẩn gây bệnh từ ngoài vào thì quả là nguy to.
Lúc đầu thì tôi bị nhầm lẫn. Vì bố đeo khẩu trang và đội mũ nên hầu như tôi chỉ nhìn thấy mắt của bố, nhưng mà ngay cả một bên mắt bố cũng bị che kín bông băng. Nhưng chỉ vì thế mà chẳng lẽ tôi không nhận ra bố sao? Tôi đã vừa mừng vừa giận, nhưng cũng thật ngạc nhiên. Vì thế nên tôi hỏi bố bằng một giọng run run.
“Bố, mắt bố làm sao thế ạ?”
“À, không có gì đâu. Vì bố có việc gấp nên phải ra ngoài ấy mà. Bố xin lỗi… Mấy hôm nay con vẫn ngoan chứ?”
Tôi biết ngay là bố cố tình lảng sang chuyện khác mà. Tôi liền hỏi lại:
“Bố bị thương à?”
“Bị thương gì chứ?”
“Thế bố bị đau mắt à?”
“Nếu mà bị đau mắt thì là do vi khuẩn xấu gây bệnh rồi, làm sao bố đến đây với Daum thế này được. Một bên mắt bị mỏi nên bố mới dán bông băng để nghỉ ngơi một chút ấy mà… Lúc không có bố con ăn cơm ngoan chứ?”
“Sẽ đỡ ngay chứ bố?”
“Tất nhiên rồi, tất nhiên là thế rồi.”
Tôi thấy yên tâm rồi. Nhưng vì chỉ nhìn thấy một mắt nên giống như chỉ có một nửa của bố thôi vậy. Hóa ra điều làm nên bố tôi chính là đôi mắt… Tôi vừa suy nghĩ như vậy, vừa nhìn chằm chằm vào bố.
“Nhìn bố lạ lắm à?”
Thật có lỗi với bố nhưng mà tôi cứ nghĩ đến thuyền trưởng một mắt trong bộ Lego của Seong Ho. Chỉ cần vẽ thêm bộ ria mép trên khuôn mặt của bố thì… Hi hi hi, tưởng tượng ra dáng vẻ đó làm tôi không thể nhịn cười.
“Bố giống như thuyền trưởng một mắt ấy.”
Bố giả giọng ồm ồm đáp lời tôi:
“Thật chứ? Thế là tốt hay là xấu nào?”
“Đương nhiên là không tốt rồi ạ. Vì thuyền trưởng một mắt dù sao cũng là cướp biển mà.”
Bố lại cười bằng một bên mắt, mở khóa kéo bức rèm bằng ni lông và đưa bàn tay vào. Tay bố thật ấm. Bàn tay bố lúc nào cũng thật ấm áp nhưng mà hôm nay hình như còn hơn thế nữa ấy.
“Bố có biết là chị người Nhật Bản đã sang đây rồi không ạ?”
“Bố biết.”
“Bố đã gặp chị ấy chưa?”
“Bố gặp rồi chứ. Bố cho chị ấy xem ảnh, chị ấy liền khen con rất đẹp trai đấy.”
“Chị ấy trông như thế nào ạ?”
“Rất xinh đẹp. Nhưng mà tâm hồn của chị ấy còn đẹp hơn.”
Đẹp hay không không quan trọng. Nhưng cũng thật tốt nếu tủy sống truyền vào người tôi lại là của một chị gái tốt bụng. Mà nếu không phải người tốt bụng chắc sẽ không cho người khác tủy sống đâu.
Tôi rất muốn gặp chị. Bố vẫn nói là không được. Nhưng bố đã hứa là nếu chị có ảnh thì bố sẽ xin cho tôi xem. Để sau này tôi sẽ vừa nhìn ảnh của chị, vừa cầu nguyện cho chị. Thật lòng mà nói thì vì không biết mặt chị nên tôi cũng không rõ liệu những lời cầu nguyện của tôi có thành hiện thực không nữa.
Bố cứ xoa xoa xung quanh con mắt trái che kín bông băng suốt. Mỗi lần như thế con mắt phải của bố lại nheo lại. Có đúng là như lời bố nói không nhỉ, rằng khi người ta mệt mỏi thì người ta nghỉ ngơi, bố cũng băng lại để con mắt đó được nghỉ? Tôi cứ có những ý nghĩ thật kỳ lạ.
“Mắt của bố ấy mà, thật là không sao chứ ạ?”
“Hơi vướng víu tí tẹo thôi. Chắc là thuyền trưởng một mắt lúc đầu cũng đã như bố đấy.”
Bố nhắm chặt một bên mắt lại rồi kéo chiếc mặt nạ bị tụt xuống tận môi dưới lên trên mũi. Bố làm thế có lẽ bảo tôi đừng lo lắng vô ích nữa đây mà.
“Daum à!”
Bố gọi tôi rồi chỉ nhìn tôi hồi lâu, mãi mới nói tiếp:
“Con tự tin vào buổi phẫu thuật ngày mai chứ?”
“… Vâng.”
“Con thử nói to lên xem nào.”
Hình như bố thật sự muốn cư xử như thuyền trưởng một mắt thì phải. Tôi liền hét lên với giọng điệu của một tên cướp biển mạnh mẽ.
“Con tự tin ạ!”
“Cảm ơn con… Cảm ơn con, Daum à.”
—
Anh đứng dựa lưng vào tường chăm chú nhìn cửa ra vào phòng phẫu thuật.
Đã hai giờ đồng hồ trôi qua nhưng anh vẫn không hề nhúc nhích. Chí ít bằng cách này, anh cũng muốn gửi tấm lòng biết ơn đến Midori, người đã chấp nhận vào phòng phẫu thuật để chia sẻ tủy sống cho một đứa trẻ hoàn toàn xa lạ.
Ở trong phòng phẫu thuật, Midori sau khi được gây mê toàn thân chắc đã chìm vào giấc ngủ, còn các bác sĩ trong kíp mổ có lẽ đang bận rộn thao tác để lấy tủy sống từ xương chậu của cô.
Hự, anh rên lên một tiếng rồi đưa một tay ôm bụng. Cơn đau đột nhiên dồn đến như thể bị dao thọc vào mạng sườn, làm cho lưng anh tự động gập xuống.
Ban đầu chỉ là cảm giác khó chịu như nuốt phải hòn đá, nhưng bắt đầu từ hôm kia triệu chứng này đã chuyển thành cơn đau. Mới chỉ mười một ngày trôi qua từ khi anh nhận được thông báo đã mắc ung thư. Nhưng sau khi phát hiện ra thì mỗi ngày trôi qua, cơn đau lại nặng hơn như thể các tế bào ung thư đang tổng công kích anh vậy. Có lẽ đúng như dự đoán của trưởng khoa Min, các dấu hiệu xấu đã chính thức xuất đầu lộ diện.
Cửa phòng phẫu thuật bật mở và y tá bước ra.
Anh duỗi thẳng lưng hỏi y tá về tình hình ca phẫu thuật. Việc lấy tủy đã kết thúc. Chỉ một lúc nữa thôi thì nhóm cấy ghép tủy sẽ đi ra. Y tá trả lời nhanh rồi đi xa dần.
Trước khi bước vào phòng phẫu thuật, anh đã bày tỏ lòng biết ơn với Midori khi gặp cô trong phòng bệnh. Midori cười thật trong trẻo và nói:
“Người cảm ơn phải là cháu mới phải. Thật lòng đấy ạ. Trong thời gian vừa qua cháu đã rất lo lắng lưỡng lự, sau đó mới nhận ra nhiều điều. Thực ra thì cháu thuộc loại người khá ích kỷ. Nhưng thông qua cơ hội lần này, có lẽ sau này cháu có thể yêu thương bất cứ ai ạ. Và cháu nhận ra rằng gia đình và những người xung quanh thật quý giá, cháu cũng cảm thấy cần phải sống chăm chỉ hơn nữa.”
Midori còn nói thêm:
“Cháu đã nhớ lại lúc cháu mười tuổi. Hồi ấy cháu rất tham lam. Cháu muốn đi thật nhiều nơi, ăn thật nhiều món ăn, và mơ ước thì nhiều không sao đếm xuể. Nếu em có thể nhận tủy của cháu rồi cũng sống khỏe mạnh như đứa bé mười tuổi tham lam là cháu hồi ấy thì tốt biết mấy.”
Anh nói rằng đứa trẻ rất muốn gặp Midori. Midori ngập ngừng do dự giây lát rồi lắc đầu.
“Cháu nghĩ rằng chỉ cần chúng cháu đã mang may mắn đến cho nhau là đủ rồi ạ.”
Lời nói của Midori hàm ý cô bé không hề mong chờ một sự báo đáp nào cả. Thật là một con người có tâm hồn trong sáng. Đứng trước tâm hồn của Midori, anh tự nhìn lại mình rồi chìm vào cảm giác hổ thẹn.
Cách đây hai ngày anh đã bán giác mạc của mình. Giống như người nông dân đi chợ bán cải thảo tự trồng được vậy. Một người đàn ông hơn bốn mươi tuổi nhờ giác mạc của anh mà đã có thể nhìn được thế gian, còn anh thì nhờ tiền của người đàn ông đó mà đã lo được viện phí cho đứa trẻ. Nhưng liệu có thể nói là anh và người đàn ông đó đã mang lại may mắn cho nhau không? Đó là một cuộc mua bán sòng phẳng, thêm vào đó lại còn là việc mua bán phi pháp nữa chứ.
Trưởng khoa Min bước ra khỏi phòng phẫu thuật. Anh kéo lê đôi chân tê cứng tiến về phía trưởng khoa Min. Nhận ra anh, trưởng khoa Min nói với một vẻ mặt vô cùng hào hứng.
“Trong cuộc đời của tôi, đây là lần đầu tiên tôi gặp tủy sống sạch và tốt như vậy. Có thể cấy ghép tủy sống tốt nhất cho Daum thật là may mắn quá.”
Anh cúi thấp đầu. Với trưởng khoa Min, và với cả Midori đang nằm trong phòng phẫu thuật nữa.
Anh vừa nhìn về phía cửa ra vào phòng phẫu thuật thì trưởng khoa Min nói ngay:
“Chúng tôi đang thực hiện bước lọc. Phải lọc bỏ mỡ, mảnh vụn xương, tế bào bị lẫn vào trong quá trình lấy tủy. Ngay sau khi kết thúc thì sẽ tiến hành cấy ghép. Việc chuẩn bị người hiến tặng tiểu cầu không có vấn đề gì chứ?”
Trưởng khoa Min muốn nhắc đến người hiến tặng tiểu cầu cho đứa trẻ. Sau khi phẫu thuật cần phải liên tục truyền tiểu cầu cho đến khi tủy sống được ghép ổn định và có thể tạo ra tế bào máu. Trước khi ghép tủy, việc của người giám hộ là phải tìm ra hai mươi người hiến máu khỏe mạnh có cùng nhóm máu với người bệnh.
Biết rõ việc tìm kiếm người hiến tiểu cầu không phải là dễ dàng, trưởng phòng Song đã đứng ra giúp anh. “Em có giúp được gì khác đâu cơ chứ?” Trưởng phòng Song nói vậy rồi đến thăm đơn vị cảnh sát chiến đấu ở gần đó và phấn khởi nhận được lời hứa hiến máu.
Anh gật đầu, trưởng khoa Min nói:
“Chúng ta đừng đứng đây mãi thế này, trước tiên hãy đến chỗ Daum đã.”
Trưởng khoa Min bước lên trước, còn anh đi theo sau. Bắt kịp bước chân thoăn thoắt của trưởng khoa Min thật không hề dễ dàng. Anh cứ có cảm giác như sắp bước hụt. Hai ngày trôi qua nhưng anh vẫn chưa quen với việc chỉ còn lại một bên mắt.
Anh tì trán vào lớp kính và chăm chú ngắm nhìn đứa trẻ trong phòng vô trùng. Đứa trẻ nhắm nghiền mắt. Nó cứ sốt ruột hỏi khi nào thì được ghép tủy, thế mà cuối cùng vào giây phút quan trọng như thế lại ngủ mất.
Trưởng khoa Min đứng kề vai cạnh anh, báo:
“Sắc mặt của anh Jeong trông không tốt đâu. Sau khi kết thúc việc ghép tủy cho Daum, anh hãy dành thời gian kiểm tra sức khỏe xem sao. Daum còn có bố chăm sóc, chứ anh thì phải tự lo cho sức khỏe của mình chứ.”
Anh gật gù. Trưởng khoa Min còn định nói thêm, nhưng đúng lúc đó thì nhóm ghép lũ lượt đi tới.
“Tốt rồi. Bây giờ anh có thể yên tâm rồi.”
Trưởng khoa Min vỗ nhẹ lên vai anh động viên.
Khi trưởng khoa Min dẫn đầu nhóm ghép đi vào trong phòng vô trùng thì đứa trẻ liền mở mắt. Nó tròn mắt nhìn một vòng xung quanh, và khi chạm ánh mắt của anh ở phía bên kia lớp kính, nó liền khẽ mỉm cười.
Túi máu truyền chứa tủy sống được treo trên giá đỡ và nối với ống thông tĩnh mạch trung tâm. Từ túi máu truyền, tủy sống nhỏ giọt rơi xuống. Bắt đầu rồi. Đó là cố gắng thử nghiệm cuối cùng để kéo đứa trẻ từ trong bóng tối của cái chết đến vùng ánh sáng ấm áp của sự sống.
Không biết anh đã mong mỏi đến giây phút này bao nhiêu. Ôi, từng giọt tủy sống, hãy vực dậy cơ thể tàn tạ của đứa trẻ nhé!
Cả cuộc đời anh đã từng khát khao đến cháy bỏng một điều gì đó như thế chưa nhỉ? Anh vừa tì trán vào lớp kính, vừa nhìn từng giọt tủy sống chảy vào trong cơ thể đứa trẻ, hai chân vừa run rẩy, vừa nghiến răng chịu đựng cơn đau như bị một con dao sắc lẹm đâm sâu vào mạng sườn, vừa chìm đắm trong ngọn lửa của nỗi mong mỏi đang dâng trào mãnh liệt.
Đó là người cha vẫn còn đang sống. Anh mong mỏi rồi lại mong mỏi không ngơi nghỉ, rằng đến khi từng mảnh cuối cùng của thể xác và linh hồn này hoàn toàn tan biến thì cũng không còn gì phải hối hận.
Trưởng khoa Min giơ ngón tay cái về phía anh. Ý muốn tạo thêm niềm tin và giảm bớt nỗi bất an trong anh.
Thật ra không cần hành động khích lệ của trưởng khoa Min thì anh cũng không hề bất an. Anh biết đây là cơ hội cuối cùng, và nếu như thất bại thì sẽ là chấm hết. Dù là với đứa trẻ hay với anh. Vì thế mà anh không hề bất an, đến kỳ lạ. Sự căng thẳng trong anh lúc này không hề xuất phát từ nỗi bất an.
Người bước đi trên con đường độc đạo thì không có sự lựa chọn nào khác. Ngay cả hành động quay đầu lại với vẻ mặt bất an cũng vô ích. Chỉ còn cách vững tin dấn bước trên con đường đó mà thôi.
Nhóm ghép đứng vây quanh giường của đứa trẻ, anh nhìn thấy khuôn mặt đứa trẻ qua khoảng trống bên hông họ. Cả anh cả đứa trẻ đã không hề rời mắt khỏi nhau dù trong chốc lát. Khi nhóm ghép di chuyển che mất tầm mắt thì cả anh cả đứa trẻ đều dáo dác quay ngang quay ngửa tìm nhau.
Thi thoảng đứa trẻ lại hướng về phía anh, khóe môi khẽ nở một nụ cười nhợt nhạt. Mỗi khi như thế, anh lại tự nhủ rằng phải cười thật tươi nhưng rồi đến cả một nụ cười nhạt nhòa với anh cũng trở nên khó khăn. À không, ở một bên mắt của anh, những giọt nước mắt nóng hổi đang cứ thế tuôn ra.
Đó là những giọt nước mắt cảm kích. Nghĩ lại quá trình đấu tranh với bệnh tật giành giật sự sống dài đằng đẵng mà đứa trẻ đã phải trải qua, anh không kìm nổi cảm xúc. Cầu mong cuộc ghép tủy này sẽ cứu sống đứa trẻ. Niềm tin ấy tràn ngập trong tim anh. Nhưng không muốn bị đứa trẻ nhìn thấy những giọt nước mắt của mình, anh liền hà hơi vào bức tường kính và vẽ chữ V.
Thành công hay thất bại còn phụ thuộc vào quá trình phục hồi sau ghép tủy. Vẫn còn phải chờ đợi đến khi tủy sống được ghép ổn định trong cơ thể đứa trẻ. Nếu nhanh thì cũng phải hai tuần sau mới có thể xác nhận được.
Một ai đó nhấc túi truyền treo trên giá đỡ ra. Ca ghép tủy đã kết thúc.
Cơn đau vừa tạm quên đi giờ lại ập đến. Anh ôm lấy bụng ngồi sụp xuống sàn nhà. Một ý nghĩ nhanh chóng quét qua người anh. Anh đắng cay nhận ra một điều.
Có lẽ trong chuyện này, phần việc của mình đã kết thúc. Biết đâu điều cuối cùng mình có thể làm được cho con chính là đây…