Thư viện Online
  • Trang chủ
  • Sách mới cập nhật
  • Trang chủ
  • Sách mới cập nhật

Chiến Binh Cầu Vồng - Andrea Hirata - Chương 19

  1. Home
  2. Chiến Binh Cầu Vồng - Andrea Hirata
  3. Chương 19 - Đòn trả thù được dàn dựng công phu
Prev
Next

Và rốt cuộc cũng đã đến ngày lễ hội hóa trang, cái ngày đứa nào cũng náo nức và hồi hộp đợi chờ.

Mahar thiết kế trang phục giả báo bằng những miếng vải bạt được sơn vẽ màu vàng lỗ đỗ chấm đốm đen, biến chúng tôi từ những cô cậu học trò thành những con vật hoang dã hết sức ngoạn mục. Những mớ tóc nhuộm vàng bù xù trên gương mặt được vẽ sơn.

Mấy đứa khác đánh trống tabla. Người tụi nó được vẽ màu đen bóng nhẫy, nhưng mặt lại vẽ màu trắng toát, trông rất kỳ dị. Những Moran – chiến binh truyền thống Masai nổi tiếng được trang bị giáo và roi đỏ, đội mũ bện bằng cỏ dại – trông rất dữ dằn.

Mahar quan tâm tới chúng tôi – tám con bò cái – đặc biệt hơn nhóm khác một tẹo. Trang phục của chúng tôi mang tính chất nghệ thuật nhất. Chúng tôi mặc quần sóc đỏ ngắn đến đầu gối. Toàn bộ cơ thể chúng tôi được vẽ màu nâu sáng giống như bò châu Phi, trừ mặt thì chỉ vẽ những sọc vệt. Cổ chân đeo vòng có chuông và quả chuông giống như con ngựa bay trong thần thoại Java. Mội khi chúng tôi bước đi đám chuông lại leng keng, leng keng. Xung quanh eo lưng quấn khăn có gắn lông gà. Ngoài ra chúng tôi còn đeo nhiều phụ kiện lạ lùng khác nữa, như đôi hoa tai lủng lẳng to cộ và vòng tay làm từ rễ cây.

Phụ kiện bình thường nhất là một vòng cổ làm từ quả aren (cọ đường) được xâu bằng sợi song mây, nhìn cứ như xiên thịt. Chúng chẳng có gì đặc biệt đẻ phải thắc mắc; chúng tôi quá bận rộn với việc sáng tạo những cái mũ sao cho thật đỉnh. Thật ra, bỏ chúng là mũ thì chả công bằng tí nào, vương miện thì đúng hơn.

Những cái vương miện to tổ bố được làm từ những mảnh vải rách dài. Được khâu vào miếng vải đó là một mớ hổ lốn lông vịt, vỏ cây, hoa dại và những lá cờ nhỏ xíu. Chẳng ai có thể ngờ được rằng ẩn dấu trong những chiếc vòng cổ đáng chú ý kia là thứ vũ khí bí mật của thằng Mahar khiến cho buổi biểu diễn của chúng tôi càng hấp dẫn. Những cái vòng cổ ấy – nó đã thức ba đêm ròng rã để hoàn thành – là đỉnh cao sáng tạo của nó.

Chúng tôi đeo vòng cổ, đội vương miện vào. Cuối cùng Mahar cột chặt cái bờm làm từ sợi nhựa lên lưng chúng tôi. Chúng tôi quả là những chị bò rực rỡ. Nhưng nhìn tổng thể, chúng tôi chả giống bò lắm. Từ đằng sau trông chúng tôi giống lừa, từ hai bên giống gà tây, từ trên xuống thì giống tổ cò, từ đằng trước lại giống ma.

Trước khi cuộc diễu hành bắt đầu, chúng tôi tập hợp cả lại, cầm tay nhau và bắt đầu cầu nguyện. Thật xúc động.

Như chúng tôi đoán trước, khán giả đông nghịt. Gàn khán đài VIP, chúng tôi nghe âm thanh vang dội của trống, kèn tuba, tù và, kèn trôm bôn, clarinet, trôm pét và xắc xô. Đội trường PN đang biểu diễn!

Ấn tượng thật. Quần áo của chúng nó thật đa dạng, người chơi nhạc cụ nào thì mặc quần áo tương ứng với nhạc cụ đó. Tay trống bass ăn mặc như chiến binh La Mã mới từ trên lưng con bạch mã bước xuống. Trên mặt bọn nó rạng rỡ nụ cười chiến thắng. Điều đó cho thấy bọn nó nắm chắc phâng thắng trong tay như mọi năm trước. Chắc chắn đoạt giải biểu diễn nghệ thuật đặc sắc nhất.

Cao trào của buổi biểu diễn là khi chúng nó dừng lại trước khán đài VIP và chơi bản Concerto dành cho trôm pét và dàn nhạc, bản mà Wynton Masails hay chơi ấy. Khúc dạo đầu tuyệt vời của bản Concerto do mười lăm tay chơi blira trỗi lên ba loại âm thanh khác nhau từ nhạc cụ của chúng. Rồi có cả vỗ chủm chọe nữa, rồ đến khi khúc nhạc này chùng xuống thì âm thanh từ hàng chục chiếc trống vang lên. Ai nấy đều như mê đi vì bữa tiệc âm thanh đó. Khán giả còn dang thả hồn theo tiếng trống thì trên mặt đường lại tràn ngập những lính gác trang phục sặc sỡ trình diễn điệu nhảy thời thượng hấp dẫn.

Hàng ngàn khán giả vỗ tay hoan hô vang dậy và tiếng hoan hô của họ còn to hơn khi ba vũ công, nhưng nữ hoàng sắc đẹp, xoay và tung gậy điệu nghệ không chút sai sót. Những vũ công xinh đẹp duyên dáng với nụ cười quyến rũ chạy ngược chạy xuôi giống như những con công khoe cái đuôi sặc sỡ.

Những cô nương, trông như từ trong lịch bước ra, mặc váy ngắn, tất đen, bốt cao gót Cortez. Găng tay trắng cao tới cùi chỏ. Họ nhảy nhót trên đôi bốt cao gót mà chẳng hề trượt ngã.

Họ không chỉ là vũ công mà còn là người mẫu. Họ sải những bước dài và búng tay ra lệnh, trong khi gương mặt họ truyền tải một hàm ý rằng họ quen dùng đồ nhập khẩu và họ không thể hạ cố lãng phí thời gian làm những chuyện vặt vãnh. Có thể thấy lối sống phóng đãng và tương lai xán lạn lấp lánh trong đôi mắt họ. Chúng tôi không bao giờ biết tên họ, họ giống như những du khách từ miền đất xa xôi dừng chân lại chỉ để chúng tôi mắt tròn mắt dẹt tò mò.

Giữa khi đó, ngay tại chỗ này, chúng tôi đứng dồn vào một góc như một nhúm  động vật lạ ló ra thụt vào chỗ rễ cây đa: đen nhẻm, nhếch nhác, nhìn không chớp mắt những gì đang diễn ra. Nhưng ngay lập tức chúng tôi sắp xếp đội hình, không nhụt chí hay sốt ruột trong khi đợi đến lượt mình.

Ngay sau khi cuộc diễu hành của trường PN hoàn tất trong tiếng vỗ tay rào rào và huýt sáo vang dội của khán giả, không để lãng phí lấy một giây, lanh lẹ chộp lấy khoảnh khắc đó, Mahar và những tay trống tabla tiến vào trước khán đài VIP. Bọn nó vỗ trống mạnh hết sức bình sinh, và di chuyển hệt như hàng trăm con khỉ đánh nhau giành xoài. Mahar đưa trí tưởng tượng của khán giả về miền đất châu Phi xa xôi.

Khán giả sửng sốt ngay tắp lự, mắt mở to, hướng về đội diễu hành đang uốn lượn nhịp nhàng như những đợt sóng đại dương toát lên tính khí dữ tợn của một con báo và sức ảnh hưởng từ một vết ong chích. Ngay lập tức đám đông reo hò vang dội hưởng ứng đội trống tabla.

Thành công của đội trống tabla khích lệ tinh thần và củng cố lòng tự tin nơi chúng tôi – tám chị bò – đã tới lượt chúng tôi. Chân chúng tôi đang ngọ nguậy nóng lòng muốn thể hiện điệu nhảy tuyệt vời của những con bò cái.

Nhưng trong khi đợi chờ căng thẳng, cổ, ngực và tai tôi bắt đầu nóng ran và ngứa ngáy. Hình như những đứa khác cũng có cảm giác y hệt. Rồi tất cả đều vỡ lẽ ra rằng chúng tôi ngứa là do chất nhựa tiết ra từ vòng cổ làm bằng trái aren..

Chỗ ngứa bắt đầu dữ dội hơn, nhưng chúng tôi chẳng thể xoay xở thế nào được cả, vì muốn cởi vòng cổ thì phải cởi vương miện ra hẵng, mà cái vương miện thì nặng những gần một ký và quấn chặt ba vòng ở cằm – không phải chuyện chơi. Không thể tháo ra được nếu không có ai giúp. Rõ ràng thằng Mahar đã cố tình không những thiết kế vương miện sao cho thật đẹp mà còn dùng chiếc vương miện ấy như một ổ khóa khóa chặt chiếc vòng cổ nằm yên một chỗ. Chúng tôi vô vọng rồi, và Mahar ra hiệu bảo đến lượt chúng tôi biểu diễn.

Cho đến hết đời tôi sẽ không bao giờ quên được những gì xảy ra kế tiếp. Chúng tôi xông vào đấu trường bằng tinh thần của người Sparta. Khán giả cổ vũ nhiệt liệt. Thoạt đầu chúng tôi nhảy tưng bừng hớn hở có nhịp điệu động tác đàng hoàng. Rồi, chúng tôi – những chị bò – bắt đầu thay đổi điệu nhảy hơi lạ một chút, không còn ra hàng lối nữa, chúng tôi đang bị cơn ngứa không sao chịu nổi tấn công.

Chúng tôi cố không gãi vì như thế sẽ làm hỏng mất điệu nhảy. Chúng tôi đã kiên quyết đánh bại trường PN kia mà. Chúng tôi cố chịu đựng nỗi khổ sở đó. Cách duy nhất để quên đi cơn ngứa kinh khủng kia là cố nhảy thật điên cuồng. Chúng tôi hú lên, húc đầu đâm bổ vào nhau, bò, lăn lộn trên đất, quằn quại. Chúng tôi giống như một thùng giun bị đổ ra con đường mới trải nhựa nóng giãy. Chúng tôi thực hiện những động tác chẳng giống gì với kịch bản.

Trong khi đó những tay trống tabla hăng lên khi trông thấy chúng tôi bị tiếng trống của chúng làm cho kích động. Chúng càng đánh dữ hòng theo kịp những động tác điên cuồng của chúng tôi. Khán giả không hiểu chuyện gì đang diễn ra trước mắt. Họ chỉ đoán già đoán non rằng chính âm thanh tiếng trống tabla tạo nên một mãnh lực thần kỳ nào đó tác động đến lũ bò và khiến chúng trở nên thăng hoa. Họ càng trở nên thích thú xen lẫn ngạc nhiên.

Theo kịch bản, tiếp theo chúng tôi bị hai mươi con báo tấn công. Chúng tôi, vì đang ngứa ngáy không chịu nổi, chống trả quyết liệt. Lúng túng, mấy con báo chạy trối chết. Không phải như thế; theo kịch bản, lẽ ra chúng tôi phải tỏ ra sợ sệt mà bỏ chạy cho đến khi những chiến binh Masai dũng mãnh đến cứu. Nhưng chúng tôi không thể làm thế được; nếu chúng tôi mà đứng yên, những chỗ ngứa sẽ ran lên và thế là không gãi không được.

Những con báo lại xông tới, chúng tôi lại kháng cự. Cứ thế lặp đi lặp lại. Thật kỳ diệu, đi chệch khỏi kịch bản lại hóa hay – chúng tôi đã truyền tải được bản năng thực sự của động vật, có thể dữ tợn trong một số trường hợp và sợ hãi không thể khống chế nổi trong một số trường hợp khác. Tôi đưa mắt nhìn Mahar, nó như đang mở cờ trong bụng vì chúng tôi biết ứng phó nhịp nhàng. Hẳn là nó đã lường trước tình huống này và mong đợi kết quả đúng như vậy. Tiếng trống tabla của nó trở nên sống động hơn. Nó cười ngoác mồm tới mang tai. Tôi chưa khi nào thấy nó vui đến thế.

Khán giả cuồng nhiệt hơn khi những chiến binh Masai tiến vào cứu chúng tôi. Rồi một trận chiến thực sự nổ ra. Bụi bay mù trời và các vũ công xoay tròn quanh chúng tôi như một cơn lốc xoáy. Xen lẫn đám bụi mịt mù và trận chiến hỗn độn ấy là tiếng rú cuồng loạn của mấy con bò, tiếng trống vang dội của dàn trống tabla. Kịch bản của chúng tôi đã thể hiện điệu trống của những bộ lạc vùng cận Sahara. Điệu nhảy của chúng tôi gợi lên câu chuyện xa xưa về cuộc đấu tranh sống còn của những người mạnh nhất. Ấy là adzohu, cuộc đấu tranh sinh tồn còn được thể hiện thông qua ý nghĩa hàm ẩn của những động tác được thực hiện đồng loạt cùng với tiếng trống tabla giòn giã phát ra những câu thần chú diệu kỳ. Điệu nhảy cuồng nhiệt làm lay động bất kỳ khán giả nào như thể nó được đúc rút từ những lễ nghi thần bí của loài người. Khán giả kinh ngạc khi chứng kiến màn trình diễn nghệ thuật được thể hiện bằng những động tác hỗn loạn không theo kịch bản. Các thợ ảnh hết phim.

Sau buổi biểu diễn, chúng tôi chạy như điên tìm nước. Không may, chỗ nước gần nhất là một ao cải xoong bẩn thỉu đằng sau một cửa hàng xập xệ, đầy cá bị chết do nhiễm độc không ai thèm mua. Chúng tôi còn biết làm gì nữa? Phải nhảy ùm xuống đó thôi.

Chúng tôi không được chứng kiến khán giả tung hô Mahar như thế nào. Chúng tôi cũng không được trông thấy những giọt nước mắt tự hào chảy giàn giụa trên khuôn mặt cô Mus và thầy Harfan. Chúng tôi thậm chí cũng không được nghe lời khen từ trưởng ban giám khảo vì đang ở xa chỗ đó quá. Ôi, ban giáo khảo đáng kính, cháu xin giải thích một điều: chúng cháu biết ơn chất nhựa tiết ra từ trái aren vì nhờ đó mà buổi biểu diễn “nghệ thuật” của chúng cháu mới thành công vang lừng đến thế, dù rằng chúng cháu ngứa điên lên từ cổ cho đến dưới bẹn, khiến chúng cháu như nhảy trên than ấy. Đó là lý do tại sao chúng cháu lại nhảy điên cuồng đến vậy. Và đó là sự lý giải cho nghệ thuật của chúng cháu đấy ạ.

Chúng tôi cũng không hay biết rằng vào ngay lúc đó thằng Mahar đang nhận chiếc cúp danh giá nhất cho tiết mục Biểu diễn nghệ thuật đặc sắc nhất trong năm – chiếc cúp mà chúng tôi hằng mơ ước. Ấy là lần đầu tiên một trường làng đoạt được chiếc cúp đó, chiếc cúp có thể giúp xua đi những lời gièm pha coi khinh trường tôi.

Chúng tôi cũng không biết tất cả những chuyện này bởi vì trong khi buổi lễ trao giải diễn ra, chúng tôi đang ngâm mình dưới cái ao bẩn thỉu đó, chà xát cổ bằng lá cây kèo nèo. Chúng tôi có thể hình dung thấy Mahar cười rạng rỡ khi cả trận mưa khen ngợi tung hô đổ xuống người nó từ trên cao. Còn chúng tôi thì dường như đang lãnh hình phạt thích đáng trong cái ao dơ dáy. Sau nhiều năm bị chúng tôi lôi ra làm trò cười, rốt cuộc Mahar cùng một lúc đạt được hai mục đích: trả thù chúng tôi, và một phần thưởng mà ai cũng phải thèm muốn. Nó là thiên tài. Đúng là nhất cử lưỡng tiện. Ắt hẳn đây là đòn trả thù ngọt ngào, rất ngọt – hệt trái bintang.

Chương 20 – Tương tư

VÀO MỘT SÁNG THỨ HAI đặc biệt, sau nhiều năm chịu nhiều bất hạnh, lần đầu tiên Trường Tiểu học Muhammadiyah nở nụ cười.

Chúng tôi tổ chức một buổi lễ nho nhỏ trước tủ kính trưng bày. Dường như nó cũng hòa cùng niềm vui với chúng tôi vì lần đầu tiên được trưng bày một thứ đáng giá đích thực như thế: chiếc cúp.

Ngày hôm trước, trưởng ban giám khảo lễ hội hóa trang đã trao chiếc cúp đó cho Mahar, kết thúc bốn mươi năm cứ ở mãi trong tủ trưng bày trường PN.

Trái lại, với một trường làng Muhammadiyah có mặt ngót nghét một thế kỷ nay – trường lâu đời nhất ở đảo Belitong, thậm chí khắp Sumatra nữa – thì đây lại là lần đầu tiên đoạt cúp. Thầy Harfan cử cậu học trò đặc biệt đã làm nên sự kiện lịch sử này mang trọng trách danh dự là đặt chiếc cúp vào trong tủ trưng bày. Chiếc cúp đó giúp chúng tôi hiểu rõ hơn về tài năng của Mahar. Nó xứng đáng được tôn trọng. Do vậy mà tình cảm của chúng tôi dành cho nó tăng lên đáng kể. Tính tình kỳ quặc của nó không thành vấn đề nữa, điều quan trọng bây giờ là nó là một thiên tài. Đó là điều chúng tôi cần nhìn nhận đầu tiên và trước hết và có thể đấy cũng là cách người ta nên nhìn nhận giới nghệ sĩ. Chúng tôi tự cho mình bình thường hơn nó, hay chúng tôi cảm thấy mình thật thà hơn và trung thực hơn, vậy mà chúng tôi chưa hề đòng góp dù chỉ là một thành tựu đáng kể cho trường mình. Vậy nên mặc dù tính tình lập dị, vẻ ngoài không giống ai, dù quan điểm và phương pháp của nó loạn xà ngầu, Mahar vẫn là người đầu tiên trong lịch sử làm nên điều gì đó phi thường cho trường chúng tôi. Nó là anh hùng khiến người ta phải suy nghĩ kỹ càng trước khi xem thường trường chúng tôi, và chúng tôi biết ơn nó vì điều đó. Tôi nghĩ có lẽ đây là điều mọi người gọi là đánh giá cao.

Buổi tiệc mừng khép lại bằng một tấm ảnh chụp. Chúng tôi xúm xít xung quanh tủ kính trưng bày, cười toe toét, và bạn có thể đoán được ai cười to nhất rồi đấy – đúng rồi, Harun. Cô Mus đã cố ý gọi một thợ ảnh chuyên nghiệp đến chụp để chúng tôi có thể cho ông Samadikun thấy rằng chúng tôi cũng đoạt cúp.

Cô Mus đã hứa với chúng tôi, với tư cách cá nhân cũng như thay mặt nhà trường, rằng nếu chúng tôi đạt được điểm thi tuyệt đối hay thắng một giải thưởng đặc biệt nào, cô sẽ thưởng cho chúng tôi – phần thưởng do chúng tôi tự chọn miễn là nằm trong khả năng của cô. Quỵền chọn phần thưởng giờ thuộc về Mahar.

“Em thích gì nhất, Mahar?”

Mahar vui không thể nào tả xiết. Nó mở cặp lấy mảnh giấy cuộn tròn.

“Thế em muốn cô thưởng gì nào?” cô Mus hỏi.

Mahar mở tờ giấy ra; miệng cười toe khi cho chúng tôi thấy tấm ảnh Lý Tiểu Long trong thế võ rồng nổi giận với ba vết cào nằm song song trên ngực và cây côn nhị khúc sẵn sàng choảng vào đầu kẻ thù. Chúng tôi hiểu Mahar muốn gì rồi. Nó đã nhiều lần nài nỉ cô Mus cho treo ảnh Lý Tiểu Long lên tường lớp học, và lời thỉnh cầu đó hết lần này đến lần khác đều bị cô Mus gạt phắt đi. Giờ cơ hội ngàn vàng đã đến, giờ nó có quyền đòi cô phải thực hiện.

Cô Mus sững người, “Em không thích thứ gì khác sao Mahar?”

Mahar lắc đầu.

“Em chắc không? Chắc là không có lời thỉnh cầu nào khác chứ?” cô Mus nói, giọng hơi thất vọng.

Mahar lại lắc đầu.

“Ví dụ như được miễn tưới hoa trong một tháng chẳng hạn?”

Mahar vẫn lắc đầu.

“Hay không phải đi mua phấn?”

Mahar lại lắc đầu lần nữa và cười cười với tôi. Tôi cũng cười lại với nó đồng lõa, cố khiến cô Mus miễn nhiệm vụ mua phấn cho những đứa khác. Chuyển nhiệm vụ ấy sang cho tôi: tôi tình nguyện! Tôi xung phong làm nhiệm vụ ấy với cả hai tay hai chân luôn!

Co Mus suy đi tính lại xem lời thỉnh cầu của Mahar có được liệt vào danh sách những điều nằm trong khả năng củacô không. Cô cũng ý thức được lời hứa của một cô giáo dành cho học trò quan trọng như thế nào. Cô không thể xem nhẹ một việc như thế này được. Một bên giữ lời hứa và đánh giá cao, bên kia là tán thưởng sự lập dị. Cô Mus đang lâm vào tình huống tế nhị đòi hỏi phải cư xử sao cho khéo léo. Khó khăn thật.

“Định mệnh có tính xoay vần, thưa cô. Cô phải tin rằng một ngày nào đó tấm áp phích Lý Tiểu Long sẽ có ích.” Và như thế – bình tĩnh, triết lý và ngây thơ – Mahar thuyết phục cô Mus. Cô Mus sững sờ. Thực lòng cô muốn gạt bỏ lời thỉnh cầu của Mahar không muốn treo áp phích môt võ sĩ đang trong tư thế dữ dằn lên tường lớp học. Cô cố điều đình với Mahar. Hai cô trò thì thào với nhau.

Ngày hôm sau, khuôn mặt của Lý Tiểu Long xuất hiện trên tường lớp học, ngay bên trên tấm bảng. Nhưng trông anh khác rồi. Anh không trong một thế võ ghê gớm. Anh cười trong bộ trang phục Trung Quốc truyền thống. Nụ cười của anh thanh thản giống như nụ cười của nam ca sĩ Rhoma Irama trên tấm áp phích Cơn mưa tiền treo ngay bên cạnh.

Thật lạ lùng – võ sư kungfu và ca sĩ lừng danh dòng nhạc dangdut giờ ngự cả trong phòng học của chúng tôi.

Sau khi nhìn thật kỹ, tôi nhận thấy có một điểm giống nhau giữa họ: cả hai đều có đôi mắt u buồn đầy quyết tâm chống lại tất cả những điều xấu xa trên trái đất này. Rất ấn tượng.

Những điều tốt có khuynh hướng sản sinh nhiều điều tốt hơn, như một ngạn ngữ của người Mã Lai. Và đúng như vậy – sự có mặt của chiếc cúp đó khiến chúng tôi lên tinh thần rất nhiều. Một điều tốt khác nữa là chúng tôi có nhận được một món tiền nhỏ kèm theo giải thưởng Lễ hội hóa trang đó, giúp chúng tôi đáp ứng yêu cầu của ông Samadikun về việc mua tấm bảng mới và tủ sơ cứu y tế. Cô Mus cho vào tủ sơ cứu y tế những viên thuốc APC và thuốc chiết xuất từ sâu. Số tiền còn lại được dùng đặt mua một tấm ảnh Tổng thống, Phó Tổng thống và quốc huy Garuda Pancasila từ cửa hiệu Cahaya Abaadi, có nghĩa là Ánh sáng vĩnh cửu – cửa hàng chuyên bán thiết bị cho những trường kiểu mẫu ở Tanjong Pandan.

Khoảng thời gian sau khi chúng tôi nhận cúp thật vui biết bao. Chúng tôi thường ngồi ngắm nó mải mê hàng giờ, có thể nói về nó vào bất kỳ lúc nào ở bất kỳ nơi đâu. Chúng tôi cười hạnh phúc xung quanh nó, nhưng ngay trong giai đoạn phởn phơ đó, tôi vẫn thường cảm thấy lòng mình trống rỗng.

Những ngày đó, tôi cảm thấy cô đơn giữa đám bạn đang hoan hỉ nô đùa. Tôi thường tách ra khỏi chúng, ngồi một mình dưới tán cây filicium, không muốn trò chuyện cùng ai và không muốn đứa nào ngồi cạnh. Ý nghĩ của tôi vẩn vơ thoát khỏi tán cây filicium, bay bổng và hòa quyện vào những đám mây như thể chúng lạc mất đường. Tôi thậm chí không hiểu nổi bản thân mình, luôn mơ mơ màng màng như thế, không buồn ăn, không ngủ được. Tôi vướng vào một thứ cảm giác lạ lùng chưa từng có. Tôi đã biến thành một chú nai nhỏ đứng nằm không yên. Tôi biết mọi điều tôi nghĩ sẽ bị lộn tùng phèo hết cả bởi một từ mới – cái từ khiến cuộc sống của tôi chao đảo: tương tư.

Ngày nào tôi cũng bị nỗi tương tư về cô gái nhỏ với những móng tay xinh đẹp đó tấn công. Tôi cảm thấy lúc nào cũng như nghẹt thở. Tôi mong mỏi được trông thấy khuôn mặt cô, những móng tay mượt mà của cô, nụ cười của cô khi cô nhìn tôi. Tôi thậm chí còn mong được trông thấy đôi dép mộc, mái tóc buông lơi trước trán, cách cô nói âm “r”, và cách cô xắn tay áo thật tỉ mỉ.

Tôi sớm hiểu rằng tôi không thuộc kiểu người chịu được nỗi tương tư giày vò. Vậy nên tôi nghĩ thật lung tìm cách làm vơi đi sự nặng trĩu trong lòng. Sau khi nghiền ngẫm nhiều phương sách khác nhau, cuối cùng tôi đi đến kết luận rằng chỉ có đi mua phấn thì nỗi tương tư của tôi mới nguôi đi được. Và chuyện này, chỉ có cô Mus mới có thể giúp tôi được, cô là niềm hy vọng duy nhất của tôi.

Tôi hết lời van xin cô Mus cho một mình tôi đảm nhận nhiệm vụ mua phấn. Tôi thương lượng với lũ bạn để tụi nó nhường nhiệm vụ mua phấn cho tôi. Tôi thậm chí tiếp cận lớp trưởng Kucai, và viện đến trưởng nhóm Chiến binh Cầu vồng, Mahar, nhờ giúp đỡ.

Chỉ cần đút lót hai gói kẹo me là thằng Kucai sẵn sàng thay đổi bảng phân công mua phấn đã được lên từ đầu năm. Nó, cũng giống như hầu hết chính trị gia tại đất nước này, thật dễ mua. Bảng phân công giờ chỉ còn lại một cái tên, tên tôi: Ikal. Từ tháng Một cho đến tháng Mười hai, chỉ độc mỗi tên tôi. Trong lớp chẳng đứa nào hé môi phản đối, chúng cực kỳ sung sướng khi không phải đạp xe 30 cây đến cái cửa hàng bốc mùi đó gặp ông chủ A Miauw đáng ghét để mua phấn. Do vậy chẳng cần vất vả lắm tôi vẫn xoay xở để bảng phân công chỉ còn lại mỗi tên tôi. Nhưng, bạn tôi ơi, tôi lại nhìn nhận chuyện này theo cách khác. Trong mắt tôi, nỗ lực để trở thành người duy nhất gánh trách nhiệm mua phấn là một cuộc chiến phải trả bằng máu và mồ hôi. Tôi phóng đại cho bất kỳ ai nghe tôi kể rằng tôi phải mất những ba tháng và một bao kẹo me hối lộ Kucai để nó giao đứt nhiệm vụ mua phấn cho tôi, trong khi thực ra tôi chẳng mất nhiều đến thế. Bạn tôi ơi, tình yêu khiến tôi trở thành một đứa lãng mạn vô phương cứu chữa. Nếu cần, tôi nguyện bán cả linh hồn để trở thành người mua phấn. Tất cả những kịch tính thêm thắt này khiến tôi thấy cô gái đó thậm chí trở nên đẹp hơn rất nhiều. Tôi thật may mắn biết bao khi được gần cô mỗi bận đi mua phấn!

Cô Mus trợn tròn mắt khi thấy tôi đột nhiên hăng hái với nhiệm vụ mua phấn. “Chẳng phải em ghét nhiệm vụ này hơn bất kỳ bạn nào hay sao? Trời ạ, chẳng phải em luôn miệng bảo cái cửa hàng đó thật ghê tởm hay sao?”

Tôi đỏ bừng mặt. Trớ trêu thay, tôi đã tìm thấy ý nghĩa của sự trớ trêu. Đó chẳng phải vì Sinar Harapan tỏa ra mùi hương thơm ngát gì cả; chỉ đơn giản là vì công chúa Sa mạc Gobi đang đợi tôi ở đó. Vậy nên, sự trớ trêu không thuộc về bản chất, nó nằm ở sự đền bù. Đó là bản chất thực của sự trớ trêu, không hơn không kém.

Cô Mus không muốn tranh cãi với tôi. Chắc chắn là bản năng cô có được sau ngần ấy năm làm nghề dạy học đang rung lên những hồi chuông trong đầu cô, cảnh báo rằng đứa học trò của cô có sự thay đổi đột ngột trong lòng là vì nguyên nhân nào đó liên quan đến cinta monyet – tình yêu trẻ con, hay tình yêu bồng bột. Nhưng với tình yêu thương vô bờ bến kèm theo nụ cười kém hài lòng, cô lắc đầu chặc lưỡi chấp nhận.

“Miễn em không làm mất phấn nữa là được. Em nên biết rằng phấn được mua từ số tiền do cộng đồng Hồi giáo đóng góp đấy.”

Syahdan và tôi ngay lập tức trở thành cạ cứng trong nhiệm vụ mua phấn. Tôi chịu trách nhiệm mua, Syahdan không cần phải đạp xe; nó chỉ cần ngồi đằng sau cầm hộp phấn cho chặt và không được hé môi, vậy là đủ rồi. Hai đứa tôi tận hưởng cảm giác hồi hộp khi che giấu một bí mật.

Đương nhiên, nhờ có tôi đề xuất với cô Mus, Syahdan luôn đồng hành cùng tôi. Nó sung sướng khi được nghỉ học và cũng được thoải mái trêu chọc những đứa con gái con mấy chủ tiệm hok lo pan.

Khi chúng tôi đến Sinar Harapan, tôi nhanh chóng đi vào cửa hiệu hôi hám đó và đứng im giữa cả một đại dương hàng hóa. Tôi xoa dầu khuynh diệp vào mũi hòng làm át đi cái mùi kinh tởm bốc ra từ đây. Tôi quệt mồ hôi trên trán sốt ruột đợi đến khoảnh khắc diệu kỳ khi A Miauw gọi cô chim sẻ nhỏ đuôi trắng đằng sau tấm rèm ốc lấy phấn.

Tôi đến gần ô cửa chuồng chim câu. Cô chìa tay ra. Tim tôi cứ như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực. Cô vẫn không nói lời nào, cứ im như thóc thế, và tôi cũng vậy. Nhưng cô không vội rụt tay lại như mọi bận. Cô cho tôi cơ hội chiêm ngưỡng những móng tay của cô. Chỉ cần thế thôi cũng đủ cho tôi hạnh phúc cả tuần sau đó.

Và cứ thế hết tháng này qua tháng khác. Mỗi sáng thứ Hai, tôi có thể gặp nửa còn lại của trái tim mình, mặc dù chỉ qua một bộ móng tay. Và mối quan hệ giữa chúng tôi đã tiến triển trong chừng mực như thế. Không chào hỏi, không nói với nhau lời nào, không trò chuyện mặt đối mặt, chỉ hai trái tim thủ thỉ cùng nhau qua những móng tay thần thánh. Tình yêu của chúng tôi là một tình yêu không thành lời, một tình yêu giản dị, một tình yêu rất e ấp, nhưng rất đẹp, không lời nào có thể miêu tả.

Có lúc cô gõ gõ ngón tay, có lúc lại trêu tôi, không chịu buông hộp phấn khi tôi đón lấy, cứ như chúng tôi đang chơi trò kéo co vậy. Cô thường nắm chặt tay lại; có thể cô muốn hỏi, “Sao hôm nay đến muộn thế?”

Tôi hét lần này đến lần khác rắp tâm cầm tay cô, hay nói với cô rằng tôi nhớ cô quá thể. Nhưng cứ mỗi lần trông thấy móng tay cô, những lời chuẩn bị đâu ra đấy bỗng bay đi, lẫn vào mùi mồ hôi từ những người Sawang bốc ra. Tất cả dũng khí của tôi biến mất tăm dưới đống đậu jengkol. Những móng tay ấy có một sức mạnh thần kỳ đến nỗi khiến tôi mê mụ như bị bỏ bùa. Sau mỗi lần gặp, tôi phải khốn khổ suốt một tuần, nhưng sự khốn khổ đó xen lẫn niềm hạnh phúc lạ lùng, cả niềm mong nhớ bóp nghẹt trái tim tôi vào giây phút cô rụt tay trở vào ô cửa nhỏ.

Nếu có bất kỳ điều gì thế giới này không bao giờ có đủ thì đó là tình yêu. Thời gian trôi qua, trái tim tôi ngày càng có những nhịp đập bất thường. Tôi không thể chịu nổi nếu không được nhìn thấy bộ móng tay yêu kiều của cô trong cả tuần. Vậy nên tôi thường thó nhiều viên còn dùng được, và rồi hoặc lén chôn chúng dưới cây filicium hoặc mang cho Harun, cậu cực thích phấn. Thế là, cứ đến thứ Năm lại hết phấn, và tôi sẽ lại đến cửa hàng vào sáng thứ Sáu. Tôi sung sướng không tả xiết khi rút ngắn được ba ngày chờ mong.

Tuy nhiên, cứ về trường từ cửa hàng mua phấn là tôi thấy khó ở trong lòng. Tôi cố bù lại hành động gian dối của mình bằng việc quét lớp, cắt cỏ, tưới hoa dù không được sai bảo gì, rồi hì hụi rửa xe đạp cho cô Mus và cả mấy đứa trong lớp nữa. Hành động của tôi khiến mọi người cứ mắt tròn mắt dẹt há hốc mồm ra nhìn. Cinta monyet thật không thể hiểu nổi!

Đã hai mùa trôi qua, người Sarong đã ra khơi đánh cá hai lần rồi, vậy mà tôi vẫn chưa biết được tên của cô gái nhỏ có những móng tay đẹp đó.

Nhiều lần tôi cố lấy hết dũng khí hỏi cô. Nhưng khi cô đưa tay ra, họng tôi nghẹn lại không thốt ra lời. Vậy nên tôi giao cho Syahdan tìm hiểu. Công việc đó khiến nó sướng rơn lên – nó giống như một điệp viên Mã Lai, chuyên rình mò nghe trộm thông tin.

“Tên nó là A Ling!” nó thì thào trong khi chúng tôi đang đọc kinh Koran ở thánh đường al-Hikmah. Tim tôi rộn ràng.

“Nó học ở trường quốc gia đấy!”

Bụp! Kopiah – mũ truyền thống – của Taikong Razark đập vào kệ sách kinh Koran của Syahdan.

“Cư xử đúng mực trước sách kinh đi, nhóc!”

Syahdan ngần ngừ rồi tiếp tục đọc kinh. Trường quốc gia là trường đặc biệt dành cho con em người Hoa. Tôi nhìn Syahdan chăm chăm ra chiều nghiêm trọng.

“A Ling là em họ của A Kiong!”

Tôi có cảm giác như vừa nuốt phải hạt rambutan, to cỡ quả nho, và nó không trôi mà đứng chặn ngang họng. A Kiong, đứa đầu hình hộp đó! Thế quái nào mà thằng đó có cô em họ với những móng tay đẹp tuyệt trần ấy nhỉ?

Hình ảnh A Kiong ngay lập tức hiện lên rõ mồn một trong đầu tôi. Mấy ngày qua nó phải đứng suốt buổi học bởi có đến những năm cái nhọt mọc ngay mông, khiến nó không thể ngồi được. Nhưng nó vẫn cứ đến lớp như thường.

Tôi không thể tả nổi cảm giác của mình trước cái tin nóng hổi ấy. Chuyện A Ling là em họ của A Kiong khiến tôi vừa mừng vừa lo. Syahdan và tôi thảo luận nghiêm túc nên đối phó thế nào với chuyện này.

Rốt cuộc, chúng tôi đi đến kết luận rằng chúng tôi phải tiết lộ câu chuyện cho A Kiong biết. Nó là đứa duy nhất có thể chọc thủng chiếc rèm ốc bí ẩn nơi cửa hàng Sinar Harapan ấy.

Chúng tôi lôi thằng A Kiong đến vườn hoa sau trường rồi cùng ngồi xuống chiếc ghế băng nhỏ gần khóm Beloperone và râm bụt nở bừng, một chốn hoàn hảo để nói chuyện tình yêu.

A Kiong lắng nghe chăm chú câu chuyện của tôi, nhưng nó không phản ứng gì. Gương mặt nó không hề thay đổi. Câu chuyện không lọt được chút nào vào đầu nó. Ánh nhìn của nó trống rỗng. Tôi đoán rằng A Kiong chẳng biết yêu là gì cả.

“Chỉ đơn giản thế này thôi, A Kiong,” tôi nói gấp gáp “Tao sẽ đưa mày thư để chuyển cho A Ling. Khi nào mày đi lễ chùa mà gặp cô ấy thì đưa giúp tao, hiểu không?”

Nó nhướng mày lên, mái tóc dựng ngược cộng với khuôn mặt béo tròn khiến nó trông buồn cười hơn mọi ngày. Khi nó thôi nhướng mày, hai cái má phúng phình của nó chảy xuống theo, rung rinh thật khôi hài. Nó là đứa có khuôn mặt kỳ cục nhưng nhìn lại thấy thích.

“Sao mày không tự đưa cho nó, chẳng phải sáng thứ Hai nào mày cũng gặp nó hay sao? Vô lý!”

A Kiong thực ra không nói thế, nhưng cái trán nhăn lại của nó nói thế. Tôi cũng trả lời lại nó theo lối thần giao cách cảm, “Này, cái cậu Phúc Kiến kia, tình yêu có khi nào có lý đâu?”

Hít một hơi thật sâu, tôi quay người đi và nhìn xa xăm ra ngoài sân trường. Tôi hành động như thể đang diễn kịch. Tôi nhặt vài chiếc lá Dracaena, vò nát trong tay và rồi tung cả lên trời.

“Tao ngượng, A Kiong. Ở bên cạnh cô ấy, tao cứ đờ người đi ấy. Tao như bị thôi miên, mà bị thôi miên thì đâu có xoay xở kịp nếu có chuyện gì xảy ra. Nếu cha cô ấy bắt gặp, tao thậm chí không hình dung nổi hậu quả sẽ như thế nào nữa!”

Tôi đã bắt chước những lời lẽ bay bướm đó từ Aktuil, một tạp chí anh trai tôi đặt mua dài hạn. Có thể tôi sử dụng không được thích hợp lắm nhưng tôi mặc kệ.

Khi nghe câu nói giống trong mấy vở kịch trên radio (thời đó rất thịnh hành), Syahdan ôm lấy câypetai cina bên cạnh nó. Tôi hết lời giải thích cho thằng A Kiong hiểu rằng, trong thế giới tình yêu, gởi thư lãng mạn hơn nhiều vì những lá thư sẽ khiến đối phương bất ngờ.

Tôi đoán thằng A Kiong cảm nhận được giọng nói đầy tuyệt vọng của tôi. Nó không phải đứa sáng dạ nhưng là bạn tốt. Miễn là nó có thể, nó không bao giờ từ chối một đứa bạn đang cần sự giúp đỡ. Những lời lẽ cải lương của tôi khiến nó mềm lòng.

A Kiong cười và tôi cúi chào nó hệt một tiểu hòa thượng trên chùa Thiếu Lâm xin phép sư phụ cho ra ngoài để dẹp loạn. Nhưng vốn có bản chất con buôn, nó đòi hỏi phải có đáp trả xứng đáng. Và tôi không nề hà chuyện làm hộ nó bài tập toán về nhà.

Thông qua A Kiong, những bài thơ tình của tôi không ngớt bay tới chợ cá. Ấy là một công việc dễ như bỡn đối với A Kiong, và nó bắt đầu phởn phơ với điểm toán ngày một tiến bộ của mình. Mối quan hệ giữa tôi, A Kiong và Syahdan là một kiểu quan hệ ba bên cùng có lợi, kiểu như chim sáo đá đậu trên lưng trâu vậy. A Kiong hoàn toàn không ý thức được rằng hành động của nó tiềm ẩn một sự xung đột khủng khiếp giữa nó và chú nó, ông A Miauw.

Tôi luôn hối thúc A Kiong kể tôi nghe A Ling trông như thế nào khi cô nhận những bài thơ của tôi.

“Như vịt trông thấy ao nước ấy,” nó trả lời với giọng bỡn cợt đôn hậu.

Vào một tối đẹp trời tháng Bảy, tôi ngồi trên một tảng đá tròn trong vườn hoa và làm một bài thơ:

Hoa cúc

A Ling ơi, hãy ngước nhìn lên bầu trời

Những chùm mây trắng xóa đang trôi lững lờ về phía em

Đó chính là những đóa hoa cúc anh  dành tặng em

Khi cho bài thơ vào bì thư, tôi mỉm cười. Tôi không tin nổi mình có thể viết được một bài thơ như thế. Có lé tình yêu có sức mạnh giúp cho nhiều điều được hé lộ, ví dụ như những khả năng hay những cá tính tiềm ẩn, những thứ nằm bên trong chúng ta mà chúng ta không hề biết.

Prev
Next

Có thể bạn muốn đọc thêm

giet-con-chim-nhai-harper-lee
Giết Con Chim Nhại – Harper Lee
February 28, 2023
yeu-nhung-dieu-khong-hoan-hao-hae-min
Yêu Những Điều Không Hoàn Hảo – Hae Min
June 2, 2022
toi-noi-gi-khi-noi-ve-chay-bo-haruki-murakami
Tôi Nói Gì Khi Nói Về Chạy Bộ – Haruki Murakami
December 19, 2023
khi-loi-thuoc-ve-nhung-vi-sao-john-green
Khi Lỗi Thuộc Về Những Vì Sao – John Green
April 3, 2023

ThuVienOnline © 2026