Thư viện Online
  • Trang chủ
  • Sách mới cập nhật
  • Trang chủ
  • Sách mới cập nhật

Chó Sủa Nhầm Cây - Eric Barker - Chương 1.2

  1. Home
  2. Chó Sủa Nhầm Cây - Eric Barker
  3. Chương 1.2
Prev
Next

Glenn Gould là một kẻ mắc chứng hypochondria (chứng rối loạn ám ảnh bệnh tật) nặng đến nỗi nếu như bạn hắt xì khi đang nói chuyện điện thoại, ông sẽ ngay lập tức cúp máy.

Nghệ sỹ dương cầm cổ điển này có thói quen đeo găng tay, và đối với ông, chuyện mang nhiều đôi một lúc cũng không lạ lẫm gì. Khi nói về đống thuốc luôn mang theo bên người, Gould kể, ‘”Một nhà báo viết rằng tôi thường di chuyển với một va li đầy cả thuốc. Thực ra, số thuốc ấy chỉ khoảng một cái cặp xách thôi.” Ông đã hoãn đến 30% số buổi biểu diễn của mình, đôi khi đăng ký lại và sau đó lại hủy. Gould biện bạch, ‘Tôi thường không đến xem mấy buổi hòa nhạc, đôi khi của chính bản thân mình.”

Vâng, Gould là một gã kỳ quái. Nhưng ông cũng đồng thời là một trong những nhạc sỹ vĩ đại nhất không thể chối cãi của Thế kỷ XX. Ông thắng 4 giải Grammy và bán được hàng triệu album. Ông thậm chí còn đạt được một dấu ấn danh vọng chân thực nhất trong thời đại của chúng ta: được lấy cảm hứng cho một tập phim The Simpsons.

Gould không chỉ là một kẻ mắc chứng hypochondria. Ông được tờ Newsweek gọi là “Howard Hughes trong lĩnh vực nhạc kich”. Ông đi ngủ lúc 6 giờ sáng và thức dậy vào buổi chiều. Nếu cảm thấy một chuyến bay “không may mắn” ông sẽ từ chối bước lên máy bay. Ông ghét thời tiết lạnh đến nỗi mặc cả quần áo mùa đông vào mùa hè và thường dùng một túi rác để đựng vật dụng hàng ngày. Điều này từng khiến ống bị bắt giữ ở Florida vì cảnh sát tưởng ông là một kẻ lang thang.

Dĩ nhiên, tính lập dị cũng ảnh hưởng đến các mối quan hệ của ông. E ngại đến quá gần người khác có thể làm ảnh hưởng đến công việc của mình, Gould thường giữ khoảng cách với bạn bè. Huyết mạch đời ông chính là cái điện thoại. Trong 9 tháng cuối cùng của đời mình, ông nấu cháo điện thoại với hóa đơn lên đến 13.000 đô la. Thói quen lái xe điên khùng khiến bạn bè đặt biệt danh cho ghế hành khách trên xe ông là “‘chiếc ghế tự sát”. Ông có lần bình luận “Tôi cho rằng mọi ngưòi có thể xem tôi là một gã tài xế điên loạn. Thực sự là tôi đã từng vượt rất nhiều đèn đỏ, nhưng ở thái cực khác, tôi cũng từng dừng lại trước rất nhiều đèn xanh, thế mà chẳng bao giờ có ai ghi nhận công lao đó.”

Cách ông chơi nhạc còn kỳ lạ hơn. Kevin Bazzana mô tả trong quyển tự truyện tuyệt vời của mình về Gould như sau: “Vẻ ngoài nhăn nhở, cúi khoằm xuống phím đàn như khỉ, cánh tay vẩy đập, thân người xoay chuyển cùng cái đầu lắc lư.” Hãy nhớ, đây không phải một nghệ sỹ dương cầm chơi jazz, cũng chẳng phải Elton John. Vị này chơi nhạc Bach. Và Gould ghét biểu diễn. Bản chất kiểm soát quái dị không phù hợp với yêu cầu của chuyến lưu diễn vốn thường xuyên phải thay đổi máy bay và khách sạn, cũng như tiếp xúc với người mới hằng ngày. “Tôi ghét khán giả. Tôi nghĩ họ là một thế lực quỷ dữ nào đó”, ông có lần bày tỏ.

Đó là còn chưa nói đến cái-ghế. Vì phong cách chơi của mình, Goud cần một cái ghế đặc biệt. Nó cao hơn 1 ft (~ 30 cm) một chút so với mặt đất và dốc về phía trước để giúp Gould có thể ngồi thoải mái trên rìa. Cái ghế có nhiều yêu cầu đặc biệt đến nỗi cuối cùng cha của Gould đã quyết định làm riêng cho ông con một cái. Gould đã sử dụng cái ghế đó trong suốt sự nghiệp, vận chuyển nó đến bất kỳ nơi nào mà mình biểu diễn. Nó bị hao mòn đáng kể qua nhiều năm, dần được vá lại bằng băng keo và dây. Người ta có thể nghe cả tiếng rít của cái ghế trong album của ông.

Bất chấp tính cách cực kỳ lập dị đó, Gould vẫn là một con người cực kỳ thú vị. Như George Szell trong dàn nhạc Cleveland Orchestra từng bình phẩm, “Gã điên đó là một thiên tài”.

Nhưng tất cả kỹ năng, danh tiếng, và thành công đó vốn có thể đã không bao giờ thành hiện thực. Đúng, Gould là một thần đồng, đã đạt đẳng cấp chuyên nghiệp ở độ tuổi 12, nhưng ông đồng thời cũng rất nhạy cảm và ngượng ngùng khi còn bé, đến mức từng phải tự học ở nhà trong vài năm vì không thể chịu nổi áp lực bị trẻ khác vây quanh.

Gould lẽ ra có thể trở thành một người nào đó không thể cư xử bình thường trong đời thực. Vậy làm thế nào ông lại vượt qua được và trở nên vĩ đại? May mắn thay, ông được sinh ra trong một môi trường hoàn toàn phù hợp với tính cách mỏng manh của mình. Cha mẹ ông rất ủng hộ—đến một mức độ gần như không tưởng. Mẹ ông cống hiến tất cả để nuôi dưỡng tài năng của con mình, trong khi cha ông bỏ 3.000 đô/năm cho con luyện tập âm nhạc. (Nếu cảm thấy 3.000 đô la nghe cũng chả bao nhiêu thì  hãy cân nhắc bối cảnh những năm 1940, khi mức lương trung bình 1 năm ở Toronto—quê nhà của Gould—thời điểm ấy chỉ bằng một nửa con số đó.)

Với sự ủng hộ cao độ cùng tinh thần làm việc không biết mệt mỏi, tài năng của Gould nở hoa. Ông từng đắm mình trong phòng thu 16 giờ/ngày và hàng trăm giờ/tuần. Không lạ khi ông chẳng để tâm gì đến ngày tháng lúc xếp lịch phòng thu, sau đó mọi người phải nhắc nhở ông rằng không ai muốn đi làm vào dịp lễ Tạ ơn và Giáng sinh. Khi được hỏi có lời khuyên nào để truyền cảm hứng cho các nhạc sỹ khác không, ông đáp, “Bạn phải từ bỏ tất cả những thứ khác”.

Cơn ám ảnh thần kinh đó đã được đền đáp. Vào độ tuổi 25, ông tham gia lưu diễn ở Nga. Không một nhạc sỹ Bắc Mỹ nào từng có vinh dự này kể từ trước Thế chiến II. Khi 28 tuổi, ông xuất hiện trên ti vi cùng Leonard Bernstein và dàn giao hưởng New York Philharmonic. Đến năm 31 tuổi, Gould đã là huyền thoại âm nhạc.

Sau đó, ông quyết định biến mất. “Tôi muốn dành nửa phần đời còn lại cho chính bản thân mình” Gould nói. Năm 32 tuổi, ông dừng biểu diễn trước công chúng. Tính cả thảy, ông biểu diễn tổng cộng chưa đến 300 buổi hòa nhạc. Hầu hết nhạc sỹ lưu diễn đạt con số này chỉ trong vòng 3 năm. Ông vẫn làm việc điên cuồng, nhưng không bao giờ biểu diễn trước khán giả nữa. Ông muốn sự kiểm soát mà chỉ phòng thu mới có thể đáp ứng. Kỳ lạ thay, quyết định nghỉ làm này không những không giới hạn mức độ ảnh hưởng của ông trong thế giới âm nhạc mà còn gia tăng nó thêm. Kevin Bazzana ghi nhận, Gould tiếp tục “giữ sự hiện diện thông qua sự vắng mặt hiển nhiên”. Ông tiếp tục làm việc cho đến khi qua đời vào năm 1982. Năm tiếp theo, tên của ông được vinh danh ở Grammy Hall of Fame.

Gould đã nói gì về thói quen kỳ dị và lối sống điên loạn của mình? ‘Tôi không nghĩ mình lập dị vậy đâu”. Tác gia Kevin Bazzana nói, “Đó chính là dấu ấn lập dị đích thực—không nghĩ mình lập dị, thậm chí khi mọi suy nghĩ, từ ngữ, và hành vi đều cho thấy bạn hoàn toàn tách biệt so với thế giới còn lại.”

Gould chắc chắn không thể trở thành huyền thoại âm nhạc nếu như không có sự động viên thuở bé cùng sự hậu thuẫn tài chính kinh ngạc từ cha mẹ mình. Ông quá mỏng manh và dị thường để có thể chịu được sự khắc nghiệt của thế giới này. Thiếu đi quá trình nuôi dưỡng đó, ông có lẽ đã trở thành một gã lang thang diêm dúa nào đó ở Florida.

*

Giờ chúng ta hãy bàn đến hoa lan, bồ công anh, và những quái vật hy vọng. (Tôi biết, tôi biết, bạn đã nghe qua mấy thứ này nhiều lần rồi, chẳng có gì mới cả. Mà thôi, chiều tôi lần này nhé.)

Có một câu ngạn ngữ Thụy Điển cổ nói rằng hầu hết trẻ em đều là bồ công anh trong khi chỉ có một ít là hoa lan. Bồ công anh rất kiên cưòng. Chúng không phải loài hoa đẹp nhất, nhưng có thể lớn lên thậm chí không cần ai chăm sóc. Không ai đi lòng vòng tính toán cách trồng bồ công anh cả. Không cần thiết. Chúng sẽ ổn trong hầu hết hoàn cảnh. Hoa lan thì khác. Nếu bạn không chăm sóc, hoa sẽ héo tàn rồi chết. Nhưng nếu được chăm sóc đúng cách, chúng sẽ nở ra những bông hoa đẹp ngoài sức tưởng tượng.

Nhưng ta không chỉ đang bàn về hoa, và cũng không phải chỉ nói về bọn trẻ. Chúng ta thực sự đang học một bài học hiện đại về di truyền.

Báo đài thường nói một loại gene nào đó gây ra vấn đề này hay vấn đề kia. Bản năng đầu tiên của chúng ta là phân loại một loại gene là tốr hay xấu. Gene này gây ra chứng nghiện rượu hay bạo lực. Chà hên thật, mình không có loại gene này. Nó quả thật tệ hại. Các nhà tâm lý học gọi đó là ”mô hình diathesis-stress” (tạm dịch: mô hình tạng-áp lực). Nếu mang loại gene xấu này và gặp phải vấn đề trong cuộc sống bạn sẽ có khuynh hướng mắc phải những chứng bệnh như trầm cảm hay lo lắng, vậy nên hãy cầu nguyện cho bản thân không mang loại gene tệ hại có thể biến mình thành quái vật ấy. Nhưng có một vấn đề: Quan điểm đó ngày càng có vẻ sai sai.

Những nghiên cứu gần đây về di truyền học đã đưa ra quan điêm trái ngược với cách hiểu thông thường về mô hình gene xấu/gene tốt và chỉ ra một phạm trù rất giống với khái niệm tố chất tăng cường. Các nhà tâm lý học gọi đó là “giả thuyết khác biệt nhạy cảm” (differential susceptibility hypothesis). Một loại gene mang đến điều xấu vẫn có thể mang đến những hệ quả tuyệt vời trong những tình huống khác. Cùng một con dao dùng đế đâm trọng thương ai đó cũng có thể được dùng chuẩn bị thức ăn cho gia đình. Việc đánh giá con dao đó tốt hay xấu phụ thuộc vào hoàn cảnh.1

1 [ND] Xin được giải thích sơ bộ về 2 mô hình này như sau: Giả sử gene A là gene đặc biệt cần xét (ví dụ gene DRD4-7R). Mô hình tạng-áp lực (hay còn gọi là mô hình rủi ro đôi—dual-risk) cho rằng, người mang gene A (rủi ro 1) nếu gặp môi trường xấu (rủi ro 2) sẽ dễ gặp vấn đề về tâm lý hơn; nếu mang gene A nhưng môi trường tốt thì họ sẽ giống người thường. Ngược lại, mô hình khác biệt nhạy cảm nói rằng, người mang gene A nếu gặp môi trường xấu vẫn sẽ dễ gặp vấn đề về tâm lý, nhưng nếu gặp môi trường tốt, họ sẽ tốt hơn người thường. Thay vì xem gene A là gene xấu, quan điểm mới cho rằng gene A chỉ nhạy cảm hơn với môi trường mà thôi (cho nên sẽ tăng cường cái tốt/cái xấu mạnh mẽ hơn người thường).

Hãy nhìn vấn đề cụ thể hơn. Hầu hết mọi người đều có gene DRD4, nhưng một số lại có một biến thể gọi là DRD4-7R. Ố ồ. 7R là thứ liên quan đến ADHD (bệnh tăng động giảm chú ý), nghiện rượu, và bạo lực. Nó là một gene ”xấu”. Nhưng khi nhà nghiên cứu Ariel Knafo tiến hành một thực nghiệm để xem xem đứa trẻ nào chịu chia sẻ kẹo khi không được yêu cầu, hầu hết trẻ 3 tuổi sẽ không sẵn lòng nếu không bị bắt buộc, trong khi những trẻ mang gene 7R lại có xu hướng chấp nhận. Tại sao những trẻ mang loại gene “xấu” này lại có xu hướng giúp đỡ, thậm chí khi không được yêu cầu? Bởi vì 7R không thực sự “xấu.” Cũng giống con dao ở trên, nó tùy thuộc vào hoàn cảnh. Những đứa trẻ 7R được nuôi dưỡng trong môi trường phức tạp, khi bị bạo hành và bỏ bê, sẽ có xu hướng nghiện rượu và trở thành đầu gấu. Nhưng những trẻ có cha mẹ tốt thì lại tốt hơn so với những trẻ mang gene chuẩn DRD4. Chính hoàn cảnh tạo nên sự khác biệt.

Một số gene liên quan đến hành vi cũng có ảnh hưởng tương tự. Những thanh niên mang gene CHRM2 khi được nuôi dưỡng tệ hại sẽ biến thành những tên tội phạm tồi tệ nhất; trong khi cùng loại gene đó, tr〇ng một gia đình tốt đẹp, sẽ giúp trẻ lên đỉnh cao. Trẻ có biến thể 5-HTTLPR cùng với bậc phụ huynh độc đoán sẽ có xu hướng lừa dối; tr〇ng khi cũng trẻ đó, nếủ được nuôi dưỡng thật tốt, sẽ có xu hướng ngoan ngoãn tuân theo luật lệ.

Được rồi, hãy té khỏi cái kính hiển vi và đám từ viết tắt kia một lúc đã.

Hầu hết mọi người là hoa bồ công anh; ta sẽ lớn lên ổn thỏa dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Số khác lại là hoa lan; họ không những nhạy cảm với kết quả tiêu cực mà còn nhạy cảm với tất cả mọi thứ. Họ sẽ không bung nở ở bãi đất bên vệ đường như bồ công anh. Nhưng khi được chăm sóc cẩn thận trong nhà kính, vẻ đẹp của họ sẽ khiến bồ công anh phải hổ thẹn. Như tác giả David Dobbs từng đề cập trong tác phẩm The Atlantic, “loại gene mang đến nhiều vần đề nhất cho giống loài chúng ta, gây ra những hành vi tự hủy hoại và phản xã hội nhất, cũng chính là loại mang khả năng thích ứng cá thể và tiến hóa thành công của loài người. Với một môi trường xấu xa và cha mẹ tồi tệ, những trẻ thuộc tuýp hoa lan có thể bị trầm cảm, nghiện thuốc, hay vào tù—nhưng trái lại, chúng cũng có thể lớn lên trở thành những con người cực kỳ sáng tạo, thành công, và hạnh phúc.”

Điều này dẫn chúng đến những quái vật hy vọng (hopeful monster). Vậy chúng là gì? Giáo sư Wendy Johnson và Thomas J. Bouchard, Jr. cho rằng, “Một quái vật hy vọng là một cá thể sai lệch hoàn toàn khỏi mức độ bình thường của loài, được đột biến gene trao cho một lợi thế thích ứng tiềm năng” Trong khi Darwin nói rằng quá trình tiến hóa diễn ra từ từ, Richard Goldschmidt đưa ra ý tưởng rằng có lẽ tự nhiên thi thoảng sẽ tạo ra những thay đổi lớn. Và ông đã bị chế giễu như kẻ điên. Nhưng vào cuối Thế kỷ XX những nhà khoa học như Stephen Jay Gould bắt đầu nhận ra Goldschmidt có thể đã đúng ở đâu đó. Giới nghiên cứu bắt đầu nhận thấy những ví dụ đột biến không xảy ra một cách tuần tự mà lại rất ăn khớp với thuyết quái vật hy vọng. Tự nhiên thi thoảng tạo ra những điều rất khác biệt, và nếu như “quái vật” đó tìm được môi trường thích hợp và thành công, nó có thể dẫn đến kết cục thay đổi khiến cả giống loài trở nên tốt đẹp hơn. Lại một lần nữa, ta lại gặp thuyết tố chất tăng cường. Như tác giả Po Bronson đã nói, “Toàn bộ Thung lũng Silicon đều dựa trên những sai lệch đặc tính vốn chỉ được tưởng tượng trong duy nhất hệ thống này.”

Sẽ ra sao nếu tôi nói cho bạn biết con trai bạn có phần thân trên quá dài, đôi chân quá ngắn, đôi tay cùng bàn chân quá khổ, cộng thêm một cánh tay dài ngoằng? Dám chắc là bạn sẽ không vui nổi. Không một đặc tính nào kể trên nghe chừng là “tốt” cả. Nhưng khi một huấn luyện viên bơi lội hiểu biết nghe qua những đặc tính đó, ông ta không thấy gì khác ngoài huy chương vàng Olympic.

Michael Phelps có thể được xem như một trong những X-Men: một người đột biến có siêu năng lực. Liệu Phelps có thể chất hoàn hảo chăng? Hoàn toàn không. Anh không hề nhảy giỏi. Cũng chẳng hề chạy tốt. Thực ra, anh ta trông chẳng hề giống một sinh vật được thiết kế để di chuyển trên cạn. Nhưng Mark Levme và Michael Sokolove trong bài viết trên tờ New York Times lại mô tả những đặc tính “lợi thế” đó đã giúp cho Phelps hoàn toàn thích hợp trở thành một vận động viên bơi lội cừ khôi. Dĩ nhiên, anh trông khỏe mạnh và cân đối, nhưng đối với một người cao 1m93, tỷ lệ cơ thể đó là bất thường. Đôi chân ngắn cùng phần thân dài khiến anh trông giống như một chiếc xuồng. Đôi tay cùng bàn chân có kích thước không cân xứng, nhưng lại là “mái chèo” xịn. Nếu bạn dang hai tay ra hai hướng, khoảng cách giữa hai đầu ngón tay phải cân đối với chiều cao, nhưng Phelps thì không. Sải tay của anh dài tận 2m. Cánh tay dài đồng nghĩa với lực đập dưới hồ mạnh hơn. Phelps tham gia đội tuyển Olymlic Mỹ năm 15 tuổi. Chưa từng có ai làm được điều đó kể từ năm 1932. Thử thách lớn nhất của anh khi bơi ư? Có lẽ là nhảy xuống hồ. Anh rời đường bơi chậm hơn hầu hết vận động viên. Phelps đơn giản là không được thiết kế để rời khỏi mặt nước. Và con quái vật này còn chứa đựng nhiều thứ hơn cả hy vọng đơn thuần: Anh đạt được nhiều huy chương Olympic hơn bất kỳ ai.

Vậy điều này có liên quan gì đến thành công ngoài giới vận động viên? Hai nhà nghiên cứu Wendy Johnson và Thomas J. Bouchard, Jr. cho rằng các thiên tài cũng chính là những quái vật hy vọng. Michael Phelps thì vụng về trên cạn, còn Glenn Gould lại trông vô vọng với đời sống xã hội. Nhưng cả hai đều đã vươn lên, nhờ vào môi trường phù hợp.

Chúng ta đã thấy những bụi lan lụi tàn với các bậc phụ huynh xấu và nở bung khi được nuôi dạy tốt. Tại sao một số quái vật kết cục trong vô vọng trong khi số khác lại đầy hy vọng? Tại sao vài người kết cục là những kẻ tài giỏi-điên cuồng, trong khi số khác thì loạn trí-điên cuồng? Dean Keith Simonton cho rằng khi những thiên tài sáng tạo thực hiện bài kiểm tra tính cách, “thang điểm của họ rơi vào khoảng giữa. Họ thể hiện mức rối loạn tâm lý nhiều hơn người bình thường, nhưng lại ít hơn người tâm thần thật sự. Họ dường như sở hữu một mức độ quái dị vừa đủ”.

Chúng ta thường hay dán nhãn mọi thứ là “tốt” hay “xấu” trong khi đúng ra, nó đơn giản chỉ là “khác biệt”. Quân đội Israel cần có người phân tích hình ảnh vệ tinh để nhận biết được mối đe dọa. Họ cần những binh lính có kỹ năng trực quan tuyệt vời, đồng thời không cảm thấy chán nản khi ngày qua ngày phải ngồi một chỗ soi ra những thay đổi nhỏ nhất. Đó không phải là một nhiệm vụ dễ dàng. Nhưng rồi Bộ phận Thông tin Hình ảnh của IDF đã tuyển dụng được người phù hợp ở nơi ít ngờ tới nhất. Họ bắt đầu đăng tuyển người mắc chứng tự kỷ. Dù quả thật gặp khó khăn trong giao tiếp cá nhân, nhiều người trong số họ lại vượt trội trong những tác vụ mang tính trực quan, chẳng hạn như chơi xếp hình. Và họ đã chứng tỏ mình là những tài sản quý giá cho công tác quốc phòng.

*

Bác sỹ tâm lý thăn kinh lâm sàng David Weeks đã viết, ‘”Lập dị là một dạng đột biến trong tiến hóa xã hội, cung cấp những thành tố trí tuệ cho chọn lọc tự nhiên.” Họ có thể là hoa lan như Glenn Gould hay quái vật hy vọng như Michael Phelps. Chúng ta thường dành quá nhiều thời gian để trở nên “tốt” trong khi “tốt” thông thường là chỉ ở mức trung bình. Để trở nên vĩ đại, chúng ta phải khác biệt. Và đương nhiên nó không hề xuất phát từ quan điểm xã hội về thứ gì là tốt nhất, vì xã hội không phải lúc nào cũng biết mình cần gì. Trong hầu hết trường hợp, trở nên tốt nhất chỉ đơn thuần là phiên bản tốt nhất của chính bản thân bạn. Như John Stuart Mill đã nhấn mạnh, “Rất ít người dám trở nên lập dị, đó chính là mối đe dọa lớn nhất của thời đại chúng ta.”

Trong một môi trường thích hợp, xấu có thể biến thành tốt và kỳ dị có thể biến thành tuyệt mỹ.

***

Prev
Next

Có thể bạn muốn đọc thêm

tam-ly-hoc-toi-pham-diep-hong-vu
Tâm Lý Học Tội Phạm: Phac Họa Chân Dung Kẻ Phạm Tội – Diệp Hồng Vũ
May 26, 2023
so-tay-nha-thoi-mien-1-cao-minh
Sổ Tay Nhà Thôi Miên 1 – Cao Minh
May 11, 2024
doi-thoai-voi-thuong-de-Neale
Đối Thoại Với Thượng Đế – Neale Donald Walsch
February 14, 2022
flow-dong-chay-mihaly
Flow (Dòng Chảy) – Mihaly Csikszentmihalyi
June 4, 2023

ThuVienOnline © 2026