Chó Sủa Nhầm Cây - Eric Barker - Chương 1.3
Steve Jobs lo lắm.
Năm 2000, ông và những lãnh đạo cấp cao khác của Pixar được hỏi: Liệu Pixar có đang mất chất? Họ đã thành công rất lớn với Toy story, Toy Story 2, và A Bug’s Life, nhưmg rất lo lắng rằng thành công này sẽ làm hãng phim suy giảm tính sáng tạo và trở nên tự mãn.
Để tiếp thêm sinh lực cho đội ngũ, họ thuê Bard Bird, đạo diễn bộ phim hoạt hình cũng rất thành công Iron Giant, để dẫn dắt dự án lớn tiếp theo. Jobs, John Lasseter, và Ed Catmull nhận thấy ông có tư duy để giữ phong độ cho công ty.
Vậy Bird có giải quyết khủng hoảng sáng tạo bằng cách học hỏi từ những dự án thành công trước đó của Pixar không? Không hề. Hay ông thuê thêm nhân tài bên ngoài để mang vào luồng gió mới? Cũng không nốt. Đó không phải lúc thận trọng và tìm kiểm những tài năng “chọn lọc.” Công thức này từng giúp họ thành công, nhưng cũng chính là thứ dẫn họ đến bế tắc.
Khi được triệu tập họp trong dự án đầu tiên tại Pixar, Bird trình bày kế hoạch để giải quyết khủng hoảng sáng tạo: “Hãy cho chúng tôi những kẻ bị ruồng bỏ. Tôi muốn có những nghệ sỹ đang bứt rứt. Tôi muốn có những con người có cách làm việc mà không ai chấp nhận. Hãy cho chúng tôi tất cả những ai sắp bị đá ra khỏi cửa.” Phiên dịch lại là: Hãy cho tôi những nghệ sỹ ”không được lọc.” Tôi biết họ điên lắm. Nhưng đó chính là thứ tôi cần.
Nhóm “dân chơi” trong ngành hoạt hình này không chỉ làm ra một bộ phim hoàn toàn khác biệt. Họ đã thay đổi toàn bộ cách hãng phim làm việc:
Chúng tôi cho những kẻ bị ruồng bỏ một cơ hội chứng minh lý thuyết của mình, và đồng thời thay đối cách thức thực hiện một số việc trước đây. Với số tiền bỏ ra trên mỗi phút ít hơn bộ phim trước, Finding Nemo, chúng tôi đã làm ra một bộ phim có số khung hình nhiều hơn gấp 3 và xử lý được mọi khâu khó khăn. Tất cả là vì ban lãnh đạo Pixar đã cho chúng tôi thử nghiệm những ý tưởng điên khùng.
Dự án đó đúng là The Incredibles. Nó đạt doanh thu 600 triệu đô la và giành được giải Oscar dành cho Phim Hoạt hình xuất sắc nhất.
Những đặc tính gây cho người ta ác mộng cũng có thể tạo ra những con người đổi thay thế giới.
Nghiên cứu chỉ ra rằng những người cực kỳ sáng tạo thường kiêu ngạo, thiếu trung thực, và vô tổ chức hơn bình thường. Họ cũng thường bị điểm thấp ở trường. Mặc cho giáo viên có nói thế nào đi nữa, họ cũng không ưa lắm những học sinh sáng tạo bởi vì các học sinh này không làm theo những điều thầy cô bảo. Liệu cái tính này nghe có giống một nhân viên tuyệt vời với bạn không? Chắc là không rồi. Vậy nên chẳng có ngạc nhiên khi sự sáng tạo tương quan nghịch với các đánh giá nhân viên. Những người sáng tạo ít khi được thăng chức lên CEO.
R. Giger, người đứng đằng sau các thiết kế độc lạ của sinh vật trong chuỗi phim Alien, giải thích: “Ở thị trấn Chur, Thụy Sỹ, từ “nghệ sĩ” mang nghĩa xấu, đồng nghĩa với việc kết hợp những kẻ nghiện rượu, đàng điếm, lang thang và khờ khạo vào trong một.”
Nhưng như các nhà toán học cũng biết, số trung bình cũng có thể là một con SỐ dối lừa. Andrew Robinson, CEO của agency quảng cáo nổi tiếng BBDO, từng nói, “Khi đầu của bạn ở trong tủ lạnh và phần chân đặt trên lò đốt, nhiệt độ trung bình cơ thể tính ra cũng ổn. Tôi luôn rất đề phòng với kiểu trung bình như thế.”
Như một quy luật chung, bất cứ thứ gì phù hợp với những hoàn cảnh độc đáo thì sẽ gặp rắc rối ở vùng trung bình. Và những đặc tính “nhìn chung là tốt” cũng có thể biến thành xấu ở cực điểm. Cái áo khoác vốn rất ổn trong suốt 8 tháng trong năm có thể là một lựa chọn tồi vào mùa đông chết người. Với cùng cơ chế đó, khi đi kèm với những tố chất tăng cường, các đặc tính “đa phần tệ” sẽ phát huy tác dụng trong một số hoàn cảnh cụ thể. Những chiếc xe Công thức 1 không thể chạy trên đường thành phố, nhưng sẽ phá kỷ lục ở mọi đường đua.
Đó chỉ là vấn đề thống kê căn bản. Khi ở vùng cực điểm, mức trung bình không còn quan trọng; điều quan trọng là phương sai—những sai lệch so với mức chuẩn. Trong hầu hết lĩnh vực, con người chúng ta đều cố lọc ra những phần tệ nhất để tăng con số trung bình, nhưng bằng cách đó chúng ta cũng làm giảm phương sai. Việc bỏ đi phần bên trái của đường cong hình chuông giúp cải thiện mức trung bình. Thế nhưng, luôn có những đặc tính chúng ta nghĩ nằm bên trái cũng lại đồng thời đang nằm bên phải.
Một ví dụ tuyệt vời về vấn đề này chính là mối liên kết thường bị tranh cãi giữa sự sáng tạo và chứng tâm thần. Trong nghiên cứu của mình – “Nghịch lý Kẻ điên-Thiên tài” (The Mad-Genius Paradox) —Dean Keith Simonton phát hiện ra những người sáng tạo nhẹ có tâm trí khỏe mạnh hơn người bình thường—nhưng ngưòi cực kỳ sáng tạo có tỷ lệ mắc bệnh tâm thần cao hơn. Rất giống với Thuyết Chọn lọc Lãnh đạo, để đạt được đỉnh cao thành công, ta phải đào sâu vào những đặc tính mà thông thường toàn gây rắc rối.
Điều này cũng rất hay gặp ở nhiều loại rối loạn—và tài năng. Nghiên cứu cho thấy những người mắc chứng rối loạn giảm chú ý (ADD) thường sáng tạo hơn. Nhà tâm lý học Paul Pearson tìm thấy một mối liên kết giữa tính hài hước, tâm lý bất ổn, và chứng thái nhân cách. Tính bốc đồng thường được xem như một đặc tính tiêu cực hay được đề cập chung với “bạo lực” và “tội phạm” nhưng đặc tính ấy cũng đồng thời có một sự liên kết rõ ràng với sự sáng tạo.
Liệu bạn có thuê một kẻ tâm thần không? Chắc là không rồi. Và nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, tính trung bình, người tâm thần cũng không khá khẩm gì lắm. Hầu hết mọi người sẽ dừng lại ở đây, nhưng một nghiên cứu có tên “Personality Characteristics of Successful Artists” cũng cho thấy những người giỏi nhất trong lĩnh vực sáng tạo có điểm bài kiểm tra mức độ tâm thần cao hơn hẳn so với những người đồng môn kém hơn. Bên cạnh đó, một nghiên cứu khác từ Journal of Personality and Social Psychology đồng thời chỉ ra rằng những tổng thống Mỹ thành công cũng có điểm cao hơn trong thang đo rối loạn nhân cách.
Thường thì những tố chất tăng cường được ngụy trang thành những tố chất “tích cực” bởi vì chúng ta thường tin những người thành công. Có một câu nói đùa rằng kẻ nghèo thì bị điên, nhưng người giàu thì “lập dị”. Những đặc tính như sự ám ảnh được quan niệm là tích cực đối với những người đã thành công, nhưng tiêu cực với phần còn lại. Chúng ta đều biết có những người thành công là nhờ theo chủ nghĩa hoàn hảo, trong khi một số khác thì đơn giản chỉ bị xem là “điên.”
Nghiên cứu của K. Anders Ericsson, được cả thế giới biết đến nhờ Malcolm Gladwell, chỉ ra rằng mất khoảng 10.000 giờ để một người trở thành chuyên gia trong một lĩnh vực nào đó. Và cũng có một phản ứng rất tự nhiên khi người ta nghe qua con số khủng này: Vì cái gì mà có người lại muôn cày ải nhiêu giờ đến vậy?
Bị đóng khung với từ “chuyên môn,” chúng ta nhanh chóng liên kết nó với các khái niệm tích cực, như “cống hiến” hay “đam mê.” Tuy vậy, chẳng ai nghi ngờ rằng để dành nhiều thời gian và công sức cho một thứ không thật sự cần thiết như thế, ta hẳn phải bị ám ảnh bởi thứ ấy. Trong khi các thủ khoa xem trường học như một công việc, cố chăm chỉ để lấy điểm A và tuân theo quy tắc, những ké ám ảnh sáng tạo thành công bằng cách ôm ấp niềm đam mê trong việc mình làm với tinh thần mộ đạo.
Trong một nghiên cứu đáng nhớ có tên The Mundanỉty of Excellence, Daniel Chambliss đã kiểm nghiệm qua những công việc hàng ngày cực kỳ cống hiến, ổn định, và đơn điệu của các vận động viên bơi lội hàng đầu. Cứ nghĩ tới cảnh họ phải làm mớ công việc đó hết ngày này qua ngày nọ trong suốt nhiều năm, cái ý tưởng về cống hiến nghe chừng sáo rỗng. Chỉ có từ “ám ảnh” mới khiến ta gật gù tán đồng.
Bạn có thể nghĩ rằng những tố chất tăng cường chỉ liên quan đến các lĩnh vực nghệ thuật và chuyên môn cá nhân—chẳng hạn như thể thao—và chẳng có liên hệ gì đến thế giới thường nhật. Lầm to. Hãy xét qua vài người giàu nhất thế giới. Bạn có thấy họ tuân theo quy tắc kiểu cần mẫn, hoàn toàn không có những đặc tính nổi loạn không? Không hề.
58 người trong danh sách Forbes 400 không học đại học hoặc bỏ dở giữa chừng. 58 người này – tương đương với 15% tổng số – có tài sản trung bình trị giá 4,8 tỷ đô la. Con số này nhiều hơn con số trung bình của 400 người (1,8 tỷ đô la) đến tận 167%. Nó cũng nhiều hơn gấp đôi mức bình quân của những người từng học qua khối trường Ivy League trong danh sách này.
Những nhà khởi sự kinh doanh kiên cường tại Thung lũng Silicon đã trở thành một biểu tượng được kính trọng và ngưỡng mộ trong kỷ nguyên hiện đại. Vậy những mô tả sau đây nghe có phù hợp với mẫu hình chung về họ? Tràn đầy sức lực. Rất ít khi ngủ. Thích mạo hiểm. Không thế chịu đựng nổi sự ngu dốt. Tự tin và lôi cuốn, gần như không chấp nhận mình sai. Tham vọng vô hạn. Luôn thôi thúc và không ngừng nghỉ.
Chắc rồi. Và đó cũng là những đặc tính có liên quan đến tình trạng lâm sàng của một chứng tâm thần gọi là hưmg cảm (hypomania). Nhà tâm lý học John Gartner (Đại học Johns Hopkins) đã thực hiện nhiều nghiên cứu chứng minh đây không phải chuyện tình cờ. Hưng cảm toàn phần sẽ khiến cho người ta không thể hoạt động được trong xã hội thông thường. Nhưng chứng hưng cảm cũng tạo ra một cỗ máy không biết mệt, luôn khao khát, sục sôi bùng nổ về phía mục tiêu trong khi vẫn giữ được mối liên kết (dù chỉ là lỏng lẻo) với hiện thực.
Đối với tố chất tăng cường, bạn phải chấp nhận cái tốt sẽ đi kèm với cái xấu. Trong nghiên cứu The Economic Value of Breaking Bad: Misbehavior, Schooling, and the Labor Market, các tác giả đã chỉ ra rằng những nỗ lực nhằm giảm thiểu tính hung hăng và hành vi sai trái ở các thiếu niên thật sự có giúp cải thiện điểm số, nhưng đồng thời cũng làm giảm thu nhập cả đời của họ. Những cậu trai ngỗ ngược cuối cùng thường làm việc nhiều giờ hơn, trở nên năng suất hơn, và kiếm được gấp 3 lần những trẻ bình thường.
Điều này cũng tương đồng với lĩnh vực đầu tư mạo hiểm. Nhà đầu tư mạo hiểm Marc Andreesen từng phát biểu tại Đại học Stanford như sau:
[…] ngành đầu tư mạo hiểm 100% là trò chơi của những ngoại lệ, cực kỳ ngoại lệ. […] Chúng tôi quan niệm thế này: đầu tư vào công ty có thế mạnh thay vì vào công ty không có điểm yếu. Thoạt trông thì cũng hiển nhiên, nhưng nó thật sự khá tinh tế. Cách làm mặc định của quỹ đầu tư mạo hiểm thường giống như đánh dấu vào một danh sách điều cần kiểm tra. Ờ “nhà sáng lập rẩt giỏi, ý tưởng rẫt hay, sản phẩm rất tốt, lượng khách hàng ban đầu tốt. Có, có, có, có luôn. OK trông hợp lý đấy, tôi sẽ đầu tư vô.” Điều bạn nhận ra với những phi vụ đánh dấu kiểu vầy — và những phi vụ ấy diễn ra hoài đó thôi — là chúng không có một điều gì thực sự ấn tượng và đặc biệt. Chúng không có một thế mạnh cực điểm để trở thành ngoại lệ. Ở một khía cạnh khác, các công ty có thế mạnh cực điểm lại thường có những lỗ hổng nghiêm trọng. Vậy một bài học cảnh giác cho giới đầu tư mạo hiểm chính là, nếu bạn không đầu tư dựa vào những lỗ hổng nghiêm trọng, bạn sẽ lỡ kèo với hầu hết những kẻ thắng cuộc đứng đầu. Chúng ta có thể kể ra hàng trăm ví dụ tiếp nối về vụ này. Nhưng liệt kê như vậy nghĩa là liệt kê hầu hết những kẻ đứng đầu mất rồi. Vậy nên thứ chúng tôi khao khát làm chính là đầu tư vào những công ty khởi nghiệp có một điểm cực mạnh. Nếu có khía cạnh quan trọng đó, chúng tôi sẽ sẵn lòng chịu đựng những điểm yếu nhất định.
Trong một số trường hợp, bi kịch đau thương nhất lại tạo ra những tố chất tăng cường tuyệt vời nhất. Những cái tên sau đây có điểm gì chung?
– Abraham Lincoln
– Gandhi
– Michelangelo
– Mark Twain
Họ đều mất cha hoặc mẹ trước năm 16 tuổi. Danh sách những người mồ côi trở nên cực kỳ thành công—hay ít nhất gây nhiều ảnh hưởng—còn dài hơn, và bao gồm ít nhất 15 thủ tướng Anh.
Không nghi ngờ gì chuyện mồ côi cha mẹ từ sớm rất đau thương, để lại nhiều tác động tiêu cực. Nhưng đối với vài người, như Dan Coyle đã chỉ ra trong quyển The Talent Code, các nhà nghiên cứu đưa ra giả thuyết rằng chính thảm kịch đó khiến đứa trẻ cảm được rằng thế giới không an toàn và phải có một lượng năng lượng và nỗ lực khổng lồ mới có thể giúp mình tồn tại. Vì tính cách và hoàn cảnh độc nhất như vậy, những đứa trẻ này đã nỗ lực bù đắp và biến đau thương thành động lực thành công.
Có thể thấy trong hoàn cảnh thích hợp, vẫn có những mặt thuận lợi gắn liền với những đặc tính “tiêu cực.” Đặc tính “xấu” của bạn có thể chỉ là những tố chất tăng cường. Nhưng nếu vậy, làm thế nào để biến chúng trở thành siêu năng lực?
***