Chó Sủa Nhầm Cây - Eric Barker - Chương 3.2
Một lần nữa, chúng ta lại bắt đầu với một cơn ác mộng.
Người đàn ông nằm kia đang lăn lộn và trở mình trong khi ngủ. Viktor định lay anh ta dậy… Nhưng rồi nghĩ rằng tốt hơn nên để yên như vậy. Dù cho anh ta có đang đối mặt với thứ gì đi chăng nữa, giấc mơ đó vẫn không thể nào tệ hơn hiện thực. Đó là năm 1944. Và họ đang ở trại tập trung Auschwitz.
1.500 con người chen chúc trong một tòa nhà dựng lên chỉ nhằm phục vụ cho 200 người ở. Thấp thoáng ngoài cửa sổ là những hàng rào kẽm gai. Tháp canh phòng dày đặc xung quanh. Mỗi tù nhân chỉ được cầm hơi với 2 mẩu bánh mì mỗi tuần. Không có gì ngạc nhiên khi những mảnh thịt người được tìm thấy trong nồi nấu. Cơn tuyệt vọng đã dẫn đến nạn ăn thịt lẫn nhau.
Cơn kinh hoàng dường như không có hồi kết.
Rất nhiều người đã “chạy thẳng đến hàng rào” — vốn đã được gài điện. Tự sát. Rất dễ biết người tiếp theo là ai: những người đang hút thuốc. Thuốc lá chính là tiền. Những điếu thuốc có thể được trao đổi để lấy thức ăn, để được giúp đỡ, để lấy hầu như bất kể thứ gì. Điều cuối cùng mà bất kỳ một người nào đó chọn làm chính là hút thuốc. Họ chỉ muốn có một chút vui thú để có thể quên đi cơn đau ở chốn địa ngục thực tại. Và nó cũng chẳng kéo dài được lâu.
Không như BUD/S, đây không phải một cuộc mô phỏng. Có người sống và có người chết. Vậy những ai tồn tại? Người có thể chất khỏe mạnh không hề sống lâu hơn. Người trẻ tuổi cũng không. Người dũng cảm không hề. Và người ngoan ngoãn càng không nốt. Điều Viktor Frankl nhận ra chính là, ở chốn tệ hại nhất quả đất này, những người vẫn tiếp tục bám trụ bất chấp những cơn kinh hoàng chính là những người vẫn còn mục đích sống:
Người ý thức được trách nhiệm của mình đối với những người thân yêu đang chờ đợi anh ta, hay với công việc chưa hoàn thành, sẽ không bao giờ có thể từ bỏ mạng sống của mình. Anh ta biết “lý do” tồn tại của mình, và sẽ luôn chịu đựng dù có phải làm “thế nào” đi nữa.
Những người cảm thấy sự tồn tại của mình mang ý nghĩa lớn hơn chính bản thân họ sẽ bám trụ, trong khi những người khác hút nốt điếu thuốc trước khi thực hiện bước chạy cuối cùng đến hàng rào.
Viktor luôn nghĩ về vợ mình. Anh thậm chí không biết liệu cô có còn sống hay không, nhưng điều đó không quan trọng. Anh vẫn luôn giữ những cuộc trò chuyện một chiều với cô trong khi làm công việc đặt đường ray xe lửa. Câu chuyện của anh mạnh mẽ hơn những gì anh đang chịu đựng. Và chính chúng giúp anh tiếp tục sống.
Chúng ta có lẽ đều đã từng làm hết sức mình một thứ gì đó cho một ai đó hơn cả cho chính bản thân mình. Những bà mẹ đã làm nhiều điều cho con cái đến nỗi không thể nào có thể đền đáp hết được. Những người lính sẵn sàng ngã xuống cho đất nước mình.
Nếu cuộc đời ta chỉ sống vì niềm vui, thì mỗi khi hết vui hay không còn ích lợi gì nữa, ta sẽ từ bỏ. Khi bước ra khỏi ước muốn được thoải mái, khi sống vì một thứ còn ý nghĩa hơn cả bản thân, ta sẽ không bao giờ phải chống chọi với cơn đau; ta chấp nhận cơn đau như một sự hy sinh. Frankl nói, “Thứ mang lại ánh sáng ắt hẳn phải chịu đựng nỗi đau bỏng rát.”
Và chúng ta sẽ không từ bỏ.
Đó chính là câu chuyện chúng ta luôn kể với bản thân mình. Những câu chuyện ấy có thể rất đúng. Hay, trong rất nhiều trường hợp, chúng chẳng cần phải đúng chút nào.
***
Những người mắc hội chứng Cotard tin rằng mình đã chết. Họ sẽ ngồi ngay trước mặt, nhìn thẳng vào mắt bạn, và nói rằng họ đã ra đi. Đây là một căn bệnh tâm thần rất hiếm. Và xin chúc may mắn nếu bạn muốn thuyết phục họ chuyện đó không đúng. Họ sẽ luôn tìm ra một lý do bạn đang sai và họ đúng, thậm chí giải thích được cả chuyện tại sao da thịt trên cánh tay họ không thối rữa và họ không lê thân trên đường như trong phim The Walking Dead. Họ vẫn sẽ nói là họ đã ngủm.
Lời đáp của họ là thứ mà những nhà tâm lý học gọi là “chứng bịa chuyện” (confabulation). Họ không phải đang cố đánh lừa bạn, mà họ thậm chí còn không nhận biết được mình đang sai. Và đôi khi lời đáp của họ hoàn toàn nhảm nhí. Những người mắc hội chứng Alzheimer thường “tự sáng tác” các ký ức khi không thể nhớ ra điều gì đó. Họ hoàn toàn tái dựng lại thực tại để trám vào khoảng trống. Tâm trí của họ đơn giản chỉ sắp xếp mọi thứ lại để tạo tính hợp lý trong chuyện đã xảy ra.
Điều họ hiếm khi nói chính là “Ý hay đó. Tôi không biết tại sao tôi lại tin như vậy.” Và tôi cá rằng có rất nhiều người bình thường cũng không dám nói ra câu “Tôi không biết.”
Daniel Kahneman đã giành được giải Nobel cho công trình về các thiên kiến nhận thức (bias). Đó là những “lối tắt” có sẵn trong não chúng ta, giúp tăng tốc quá trình quyết định. Chúng rất hữu ích nhưng không phải lúc nào cũng hợp lý. Một ví dụ là cảm giác sợ mất mát (loss aversion). Theo lý lẽ thông thường, việc kiếm được 1 đô la lẽ ra nên mang lại niềm vui tương đương với cảm giác đau đớn khi mất đi 1 đô la. Nhưng đó lại không phải là cách tâm trí chúng ta hoạt động. Việc mất đi 1 đô la làm cho chúng ta cảm thấy khó chịu hơn nhiều so với cảm giác vui vẻ khi kiếm được 1 đô la. Điều đó cũng có lý; mất mát quá nhiều có thể dẫn đến cái chết, nhưng kiếm được nhiều thì… ờ, thì cũng tốt thôi, nhưng rồi ta sẽ dần rơi vào tình trạng lợi ích biên giảm dần. Có thể thấy quá trình tiến hóa đã định hình cho chúng ta cảm thấy sợ mất mát hơn là thích có thêm gì đó.
Điều hài hước là khi Dan Ariely — giáo sư tại Đại học Duke, người được truyền cảm hứng từ Kahneman — tiến hành giảng về thiên kiến này, ông nhận được cùng một câu phản hồi: “Vâng, tôi biết rất nhiều người bị như thế — nhưng tôi thì không.” Ồ, thật trớ trêu thay! Thiên kiến nhận thức thậm chí còn ngăn cản chúng ta nhận ra nó. Thế là Ariely tiến hành thay đổi bài giảng của mình một chút. Trước khi nói bất kỳ điều gì về các thiên kiến, ông sẽ cho mọi người nhìn qua ảo ảnh thị giác. Chắc bạn đã biết qua ví dụ này: 2 đường thẳng trông như khác biệt chiều dài nhưng khi tiến hành đo đạc, chúng bằng nhau. Ông cần mọi người tham gia không những để lắng nghe mà còn trải nghiệm sự thật rằng họ không thể lúc nào cũng tin tưởng não bộ của chính mình. Sau khi Ariely cho mọi người thấy khả năng sai lầm của mình, họ cởi mở hơn trong việc chấp nhận thiên kiến đó cũng có thể ảnh hưởng lên chính họ.
Não bộ của chúng ta được cấu tạo để lý giải sự việc. Ý nghĩa chính là một phần trong hệ thống vận hành của chúng ta. Chúng ta cần phải nghĩ thế giới này hợp lý và mình đang nắm quyền kiểm soát. Não bộ đơn giản là không thích sự ngẫu nhiên.
Vậy ý nghĩa là gì? Đối với tâm trí con người, ý nghĩa xuất hiện dưới hình thái những câu chuyện mà chúng ta kể với bản thân về thế giới xung quanh. Và đó cũng chính là lý do tại sao rất nhiều người tin vào số phận hay thường nói rằng mọi sự “vốn sẽ như thế.” Việc có một câu chuyện về ý nghĩa cuộc sống giúp cho chúng ta chịu đựng được những thời khắc khó khăn. Không chỉ bản chất tự nhiên chúng ta nhìn thế giới theo cách đó, mà thật sự chúng ta còn không thể không kể chuyện. Nếu tôi hỏi bạn ngày hôm nay thế nào, hay bạn đã gặp gỡ bạn đời ra sao, bạn sẽ nói gì với tôi? Một câu chuyện. Tóm lược lý lịch xuất thân của bạn? Một câu chuyện. Bạn thậm chí còn kể chuyện khi bản thân đang ngủ qua những giấc mơ. Và nghiên cứu cũng cho thấy bạn có khoảng 2.000 mộng tưởng mỗi ngày, trong đó bạn tự kể với bản thân những câu chuyện nhỏ về thứ này hay thứ khác.
Với hầu như mọi lĩnh vực trong cuộc sống, như sự nghiệp hay các mối quan hệ, bạn đều có chuyện để kể cho bản thân. Nhưng hiếm khi những câu chuyện này được xây dựng một cách có nhận thức hay chủ ý.
Điều này nghe khá quái dị, rất trừu tượng và xa tận đâu đâu, nhưng sự thật hoàn toàn ngược lại. Các câu chuyện chính là những dòng chảy ngầm vô hình thúc đẩy thành công trong một con số đáng kinh ngạc những lĩnh vực quan trọng nhất của cuộc sống.
Điều gì dự đoán tốt nhất sự thành công trong những mối quan hệ yêu đương? Đó không phải là tình dục, tiền bạc, hay mục tiêu chung. Nhà nghiên cứu John Gottman nhận ra rằng chỉ cần nghe một cặp đôi cùng nhau kể về mối quan hệ của mình có thể giúp dự đoán được chính xác 94% khả năng ly dị trong tương lai.
Vậy đâu là chỉ báo tốt nhất cho sự an lạc về tâm lý của trẻ nhỏ? Đó không phải là trường học, những cái ôm, hay phim hoạt hình Pixar. Các nhà nghiên cứu tại Đại học Emory nhận thấy chuyện trẻ hiểu biết về lịch sử gia đình mình chính là chỉ báo hàng đầu.
Ai là người cảm thấy sự nghiệp mình thật đủ đầy và ý nghĩa? Những nhân viên dọn dẹp ở bệnh viện xem công việc của mình “chỉ là một công việc” thì không cảm nhận được bất kỳ sự hài lòng nào về nghề nghiệp cả. Trái lại, những ai tự kể với bản thân câu chuyện rằng đó chính là “sứ mệnh” của họ — và rằng công việc của họ sẽ giúp cho bệnh nhân cảm thấy khá hơn — lại nghĩ nghề nghiệp của mình thật sự ý nghĩa.
Do Thái giáo và Cơ Đốc giáo đều có chuyện ngụ ngôn. Ấn Độ giáo và Phật giáo thì có các bài kinh kệ. Gần như tất cả những nhà lãnh đạo tôn giáo đều thuyết pháp. Câu chuyện, câu chuyện, câu chuyện. Những câu chuyện ấy nhắc nhở cho ta cách cư xử và giúp chúng ta kiên cường. Thậm chí với người không theo đạo, những câu chuyện dân gian cũng lấp vào khoảng trống. Giáo sư trường làm phim UCLA, Howard Suber, mô tả phim như “những vở kịch thiêng liêng cho một xã hội thế tục.” Cũng giống như những câu chuyện ngụ ngôn tôn giáo, chúng ta hành động như các anh hùng trong những câu chuyện ta tự kể. Nghiên cứu cho thấy khi có mối liên hệ với các nhân vật giả tưởng trong truyện, chúng ta có xu hướng cố vượt qua khó khăn để đạt được mục tiêu.
Và tiếp đến là chuyện hạnh phúc. Các nghiên cứu đã cho thấy rất nhiều người không hài lòng với đời mình chỉ vì họ không xem những thời khắc tốt đẹp là phù hợp với góc nhìn của họ về chính họ. Họ muốn đời mình giống những câu chuyện trong đầu, thế nên khi điều xấu xảy ra, họ cảm thấy chuyện đó rất ăn khớp với con người mình; còn khi những khoảnh khắc vui vẻ xảy đến, đó lại là những ngoại lệ nên bị bỏ qua.
Điều này đúng thậm chí đối với những ví dụ sâu sắc và đau khổ nhất về nỗi buồn: những cuộc tự sát. Roy Baumeister, giáo sư Đại học Florida State, đã nhận thấy rằng những người tự sát thường không ở trong hoàn cảnh tồi tệ nhất, nhưng họ lại bị hụt hẫng với những kỳ vọng của bản thân. Cuộc sống của họ không trùng khớp với những câu chuyện họ tự kể trong đầu. Cũng như những gì Frankl đã chứng kiến tại Auschwitz, các câu chuyện quyết định ai là người bám trụ và ai là người sẽ chạy thẳng đến hàng rào điện.
Vậy là không hề thiếu bằng chứng cho thấy các câu chuyện kiểm soát cách chúng ta suy nghĩ, đồng thời dự đoán được thành công trong rất nhiều lĩnh vực. Nhưng, vậy thì các câu chuyện vận hành như thế nào?
***
Nghiên cứu cho thấy những câu chuyện tưởng tượng sẽ làm cho chúng ta “thuận xã hội” hơn — nghĩa là thân thiện và cho đi nhiều hơn. Nó làm cho góc nhìn của chúng ta về thế giới ít chính xác hơn. Tôn giáo và những câu chuyện tự huyễn giúp ta đương đầu; các bộ phim, chương trình truyền hình và những câu chuyện khác cũng tương tự. Chuyện kể không những gắn bó với tâm trí mà còn đeo một cặp kính màu hồng cho ta nữa.
Giáo sư Đại học George Mason kiêm tác giả sách bán chạy Tyler Cowen cũng đồng ý với điều đó. Ông dẫn ra các nghiên cứu, trong đó, khi người ta được yêu cầu mô tả cuộc sống của mình, họ thường dùng từ “chuyến đi” hay “trận chiến” nhưng ít khi dùng từ “mớ bòng bong.” Ông nói câu chuyện giống như một bộ lọc, áp đặt trật tự lên một thế giới thường là hỗn loạn. Chúng xóa bỏ thông tin. Chúng khiến hồi ức kém chính xác hơn. Chúng được dựng lên một cách có chủ ý, nhưng cuộc đời lại thường chẳng như vậy.
Ông đã đúng. Có vô số thứ diễn ra trong mỗi giây. Chúng ta chỉ chú ý chọn một số thành tố nào đó (“Lần đó tôi đã cho người vô gia cư kia 1 đô”) và bỏ qua hết những thứ khác (“Cái lần mà tôi xô người bà con xuống mấy bậc cầu thang”) để đến với câu chuyện đời mình (“Tôi là một người tốt”).
Trong kinh tế, thuật ngữ “tính duy lý bị ràng buộc” (bounded rationality) cơ bản chỉ ra rằng con người không hoàn toàn lý trí bởi vì họ luôn có giới hạn, chẳng hạn như giới hạn về thông tin hay về lượng thời gian cần để suy nghĩ mọi thứ cho thấu suốt. Có quá nhiều thứ đang diễn ra trên thế giới, mà bộ não lại không thể cùng lúc xử lý tất cả; chúng ta phải chắt lọc lại.
Có một nghiên cứu chỉ ra rằng ta cảm thấy cuộc đời có ý nghĩa khi nghĩ rằng mình hiểu được bản thân. Từ khóa ở đây chính là “nghĩ.” Việc thực sự hiểu được bản thân không tạo ra ý nghĩa, nhưng cảm thấy hiểu thì lại có. Câu chuyện không nhất thiết phải chính xác để phát huy hiệu quả. Nghe có một chút đáng sợ và có lẽ thậm chí hơi nản hả?
Nhưng khi xét đến lòng quyết tâm, đây có thể lại là điều tốt. Nếu quyết định chỉ dựa trên khả năng thực hiện, chúng ta sẽ không bao giờ đạt được bất cứ thành quả nào mạo hiểm cả. Chúng ta thậm chí còn không làm thử. Nhưng để tồn tại như cái cách Viktor Frankl đã làm, khi đối mặt với cơn kinh hoàng chừng ấy, những câu chuyện có thể giúp ta bám trụ chính là nhờ sự thiếu thực tế ấy.
Điều này phù hợp với những gì chúng ta thấy được trong nghiên cứu về chủ nghĩa lạc quan. Người lạc quan tự kể cho mình một câu chuyện có thể chẳng hề có thật, nhưng nó giúp họ bước tiếp, và thường là cho phép họ vượt qua những điều không tưởng. Nhà tâm lý học Shelley Taylor nói rằng “một tâm trí khỏe mạnh tự kể cho mình những lời nói dối hoa mỹ.” Người bi quan, trái lại, tỏ ra chính xác và thực tế hơn, và kết cục phải đối mặt với cơn trầm cảm. Sự thật có thể rất tàn khốc.
Đó là lý do tại sao luật sư có xu hướng mắc chứng trầm cảm cao hơn 3,6 lần so với người trong những ngành nghề khác. Để bảo vệ thân chủ, luật sư phải cân nhắc mọi điều xấu có thể xảy ra. Họ không thể tự nhủ với bản thân những câu chuyện vui vẻ, thiếu chính xác về vụ án. Dân bi quan chiếm ưu thế hơn hẳn dân lạc quan trong trường luật. Và chính đặc tính đó cũng làm cho họ không cảm thấy hạnh phúc. Luật là ngành nghề có thu nhập cao nhất ở Mỹ, thế nhưng, khi được hỏi, 52% luật sư nói mình không cảm thấy hài lòng với công việc. Bạn có thể đoán được tác động của nó ảnh hưởng đến lòng quyết tâm ra sao: Ngành luật là ngành có tỷ lệ hối hận cao nhất. Như Liz Brown từng nói, “Luật là nhóm ngành duy nhất tôi biết mà có cả một ngành phụ riêng để giúp cho người ta có thể thoát ra khỏi nó.”
Những câu chuyện không phải là bức tranh hoàn hảo về thế giới, nhưng chúng cho phép ta thành công cũng chính vì lý do đó. Các câu chuyện có thể giúp ta tiếp tục cố gắng và trở thành “kẻ được chọn.” Bạn không được “sinh ra” để làm bất cứ một thứ gì cụ thể, nhưng khi câu chuyện của bạn bảo rằng bạn được “sinh ra” để làm một thứ gì đó, bạn sẽ thực hiện tốt và kiên trì hơn. Nói gì thì nói, đó là định mệnh của bạn mà!
Và đó chính là cách nó kết nối với sự nghiệp. Như giáo sư Teresa Amabile ở trường Harvard thảo luận trong quyển sách The Progress Principle, “có ý nghĩa” chính là mong muốn hàng đầu của mọi người về công việc của mình. Vâng, nó còn hơn cả lương thưởng hay việc thăng tiến. Steve Jobs đã làm cách nào để dụ John Sculley khỏi vị trí CEO Pepsi? Ông hỏi, “Anh muốn dành suốt phần đời còn lại để bán nước đường hay muốn có cơ hội đổi thay thế giới?” Có ý nghĩa không nhất thiết phải là cứu trẻ mồ côi hay chăm sóc người bệnh. Miễn là câu chuyện của bạn có ý nghĩa với bạn, nó đã đủ mạnh rồi.
Vậy làm thế nào để tìm được câu chuyện của mình?
Có một cách rất đơn giản để thực hiện điều đó: Hãy nghĩ về cái chết.
*