Chó Sủa Nhầm Cây - Eric Barker - Chương 6.1
Albert Einstein và Charlie Chaplin cùng tham dự buổi công chiếu bộ phim City Lights. Đám đông náo loạn khi nhìn thấy 2 siêu sao, và Chaplin quay sang nói với nhà khoa học vĩ đại, “Họ tán dương tôi bởi vì họ đều có thể hiểu được tôi, còn họ tán dương ngài bởi vì không ai hiểu được ngài.”
Thật chuẩn làm sao. Cứ đi hỏi người ta Einstein đã làm được gì và họ sẽ đều trả lời “Thuyết tương đối.” (Rồi hỏi tiếp họ thuyết tương đối là gì và bạn sẽ nhận được một tràng im lặng sượng sùng. Hầu hết mọi người đều chỉ hiểu nó là thứ mà ai cũng biết là rất quan trọng mà thôi.) Như Walter Isaacson từng nói trong quyển tiêu sử tuyệt vời của mình, Einstein “đã nghĩ ra một lý thuyết lượng tử mang tính cách mạng về ánh sáng, giúp chứng minh sự tồn tại của các nguyên tử, giải thích chuyển động Brown, nâng tầm khái niệm về không gian và thời gian, và tạo ra thứ sẽ trở thành phương trình khoa học nổi tiếng nhất.” Công trình của ông có ảnh hưởng đến nỗi mọi người đều biết rằng một ngày nào đó ông sẽ giành được giải Nobel — nhưng ông đã đạt được nhiều thành tựu đến nỗi người ta không chắc thành tựu nào mới là thứ giúp ông đạt giải. Khi ông được trao giải vào năm 1921, trớ trêu thay, giải ấy không hề liên quan đến thuyết tương đối. Công trình ông được trao giải lại là thành tựu ông hoàn thành chỉ trong một năm 1905, khi chỉ mới 26 tuổi. (Không quá tệ với một người từng bị từ chối nghĩa vụ quân sự vì bị chảy mồ hôi chân.)
Không giống như Newton, Einstein rất lịch thiệp, tin tưởng vào công lý xã hội, và có gia đình con cái đầy đủ. Nhưng cũng như vị tiên nhân ẩn dật, ông sống trong một thế giới đầy ý tưởng trong đầu mình. Rõ ràng, ông là một thiên tài, nhưng siêu năng lực thực sự của ông chính là lượng thời gian và nỗ lực khổng lồ tập trung cho các nghiên cứu của mình. Dù được vây quanh bởi danh tiếng, bạn bè và gia đình, ông vẫn sống một cuộc đời tách biệt, thích tập trung khám phá ý tưởng của mình hơn. Điều này rõ ràng đã được đền đáp bằng một sự nghiệp rất thành công.
Cứ như thể Einstein đã bán linh hồn cho quỷ dữ, chỉ có điều ông không phải trả giá. Người trả giá chính là gia đình ông. Isaacson nói, “Một trong những thế mạnh của ông trên phương diện một nhà tư tưởng — chứ không phải một người cha — chính là khả năng và thiên hướng phớt lờ mọi sự quấy nhiễu — thứ mà đối với ông đôi khi bao gồm cả con cái và gia đình mình.” Khi họ cần sự quan tâm ở ông, ông lại dồn hết mọi thứ vào công việc.
Điều này đã đẩy gia đình ông đến bờ vực đổ vỡ. Einstein nói, “Tôi cư xử với vợ mình như thể một nhân viên mà tôi không thể đuổi việc.” Và đây không phải đơn thuần câu từ thốt ra trong lúc tức giận. Khi hôn nhân bắt đầu đổ vỡ, ông đưa cho vợ mình một bản hợp đồng bao gồm những điều khoản ông kỳ vọng ở bà nếu mối quan hệ của họ vẫn tiếp tục:
ĐIỀU KHOẢN:
A.Em sẽ đảm bảo
1.rằng áo quần của anh được giặt giũ và xếp gọn gàng;
2.rằng anh có 3 bữa ăn hàng ngày trong phòng riêng;
3.rằng phòng ngủ và phòng làm việc của anh được giữ gọn gàng, đặc biệt bàn làm việc chỉ riêng mình anh được đụng đến.
B.Em sẽ từ bỏ mọi mối quan hệ cá nhân đối với anh nếu không hoàn toàn cần thiết vì lý do xã hội. Em sẽ không ép
1.anh phải ngồi gần em ở nhà;
2.anh phải đi ra ngoài hay du lịch cùng em.
C.Em sẽ tuân theo các điều khoản sau đây trong mối quan hệ với anh:
1.em sẽ không đòi hỏi bất kỳ sự thân mật nào từ anh, cũng như không đến gần anh theo bất cứ cách nào;
2.em sẽ dừng nói chuyện với anh khi anh yêu cầu;
3.em sẽ rời khỏi phòng ngủ hay phòng làm việc của anh ngay lập tức mà không phản kháng nếu anh yêu cầu.
4.em cam kết sẽ không coi thường anh trước mặt các con, dù bằng lời nói hay hành vi.
Bà miễn cưỡng đồng ý, nhưng không ngạc nhiên gì khi hôn nhân của họ vẫn đổ vỡ do sự xa cách và do vụ ngoại tình của ông với những người phụ nữ trẻ hơn — những người không đòi hỏi cảm xúc từ ông.
Dù vẫn còn chu đáo khi con trai mình còn nhỏ, dần dần Einstein dành nhiều thời gian ở trong tâm trí mình hơn. Sau khi ly hôn, ông hiếm khi đến gặp con và càng tập trung nhiều hơn vào công việc. Con trai ông, Eduard, phải vật lộn với bệnh thần kinh và đã cố tự sát, rồi chết dần chết mòn trong một bệnh viện tâm thần. Einstein đã không đến thăm cậu này trong hơn 30 năm. Người con trai khác của ông, Hans Albert, từng nói, “Có lẽ dự án duy nhất ông ta từng từ bỏ chính là tôi.”
Nỗ lực làm việc tạo ra tài năng. Và tài năng cộng thêm thời gian tạo ra thành công… Nhưng bao nhiêu thời gian sẽ là quá nhiều?
—
Tôi đã đề cập đến nỗi ám ảnh cuồng việc và chủ nghĩa hoàn hảo của Ted Williams ảnh hưởng thế nào đến mối quan hệ của ông chưa nhỉ? Chưa à? (Ôi tôi thật là xấu chơi.) Ờ, buồn thay, mọi thứ cũng y hệt Einstein.
Khả năng kinh ngạc của Ted Williams đến từ thực tế rằng ông đã dành tất cả thời gian của mình để tập trung vào bóng chày. Và đó cũng chính là điểm yếu của ông: dành tất cả thời gian của mình để tập trung vào bóng chày. Rob Kaufman, con trai của Williams với người vợ sau Louise Kaufman, nói rằng, “Ông hoàn toàn thiếu hụt kỹ năng xã hội. Ông dành quá nhiều thời gian trong phòng tập. Dù thông minh, nhưng ông không học được bất cứ kỹ năng nào mà những người khác đã học được.”
Williams ly hôn 3 lần. Một người ông từng hò hẹn, Evelyn Turner, liên tục từ chối lời cầu hôn của ông. Cô nói rằng cô sẽ làm vợ ông khi và chỉ khi ông đảm bảo cô là ưu tiên số một. Ted đáp lại, “Bóng chày số một, câu cá số hai, và em số ba.” Khi ông đánh Dolores Wettach — người vợ thứ ba — bà đe dọa sẽ viết một phần tiếp nối quyên tiểu sử của Williams với tựa đề My Turn at Bat Was No Ball (tạm dịch: Ted Williams là đồ hèn). Shelby Whitfield, một người bạn của Ted, nói rằng, “Williams có lẽ là một trong những người chồng tệ nhất mà người ta có thể hình dung được.”
Ông làm cha cũng chẳng tốt hơn chút nào. Williams thậm chí còn tự thừa nhận: “Là một người cha, tôi hoàn toàn thất bại. […] Tôi không bao giờ thực sự hiện diện. Tôi luôn đi vắng. Tôi có cam kết. Chỉ là tôi không làm theo.” Những giờ luyện tập trên sân vốn mang lại vinh quang cho ông cũng chính là thứ phá hủy mối quan hệ của ông với 3 người con. Khi con gái ông, Bobby-Jo, hỏi về thời thơ ấu của Ted, ông bảo cô muốn tìm hiểu thì đọc quyển tự truyện của Ted Williams đi.
Dù Williams thành công trên cương vị quản lý, tình trạng tương tự cũng xuất hiện trong mối quan hệ của ông với các cầu thủ dưới trướng. Cầu thủ phòng ngự của đội Red Sox, Ted Lepcio, chia sẻ: “Ông không thể hiểu nổi tại sao những người như chúng tôi không thể đánh tốt hơn. Tôi nghĩ ông ta gặp khó khăn trong việc giao tiếp với những người không hoàn hảo.”
Với tư cách người hoàn hảo nắm quyền chỉ huy cao nhất, ông muốn kiểm soát tất cả mọi thứ. Khi không thể làm như vậy, ông sẽ nổi điên. Chuyện về tính khí của ông đầy rẫy và đã trở thành huyền thoại. Williams nổi cơn cuồng nộ muốn thành thạo mọi thứ trong cuộc sống, nhưng đối với những thứ ông không kiểm soát được — như vợ con và gia đình — đó không phải là một lựa chọn. Và thứ duy nhất còn lại chỉ là cơn cuồng nộ.
Tính khí của ông là một tố chất tăng cường (bạn còn nhớ Chương 1 chứ?). Người vợ thứ ba của ông, Dolores, nói trong cơn tức giận: “Nó là người bạn thân nhất của ông ấy, bởi vì nó cho ông ấy quyền năng làm những điều cứu rỗi chính mình, những thứ rất quan trọng. Nếu phải vung chày, và ông ấy đang giận dữ, trái banh đó sẽ bay tít. Nếu đang câu cá, và ông ấy đang giận dữ, con ruồi thì còn có thể bay, nhưng con cá thì không có cơ hội nào.” Nhưng trong các mối quan hệ thì nó làm hỏng mọi thứ. Nếu Williams thua một ván cờ trong một trận đấu gia đình vui vẻ, ông sẽ lật cả bàn cờ. Tiểu sử gia Ben Bradlee viết, “Cuối cùng, Dolores cảm thấy nguồn cơn thịnh nộ của Ted chính là do ông không có khả năng làm hài lòng tham vọng hoàn hảo đã ăn sâu vào con người mình. Khi không thể đáp ứng kỳ vọng của bản thân, dù cho nó có vô thưởng vô phạt đến thế nào, ông vẫn cáu tiết.” Sự hài lòng mãi mãi lẩn tránh ông vì những kỳ vọng chót vót của chính ông và những người khác. Người đồng đội Jimmy Piersall có lần từng hỏi tại sao ông lúc nào cũng phát điên như thế, Williams đáp lời rằng, “Anh biết tại sao không? Bởi vì tôi phải thật giỏi mỗi ngày. Còn anh thì không.”
Một lần nọ, Williams trở lại băng ghế trong tâm trạng kích động và tự trách chính mình. Ông cảm thấy mình lẽ ra không nên vung chày ở pha ném cuối. Ông không thể quên chuyện đó. Chúng ta ít nhiều từng trải qua tình huống như thế: Bạn cảm thấy mình đã phạm sai lầm và không ngừng dằn vặt bản thân về chuyện đó. Nhưng Williams lại khác, ông vừa mới đánh xong một cú home-run. Một cú home-run giúp thắng cả trận đấu. Nhưng nó không quan trọng. Trong khi đồng đội ăn mừng điên cuồng, Williams lại tức tối. Ông cảm thấy mình vốn dĩ đã có thể làm tốt hơn.
Quan điểm đó có thể mang lại những kết quả phi thường (nếu không tính đến vụ hạnh phúc) trong một trò thi tài như bóng chày. Nhưng nó không hề hiệu quả đối với các mối quan hệ. Buồn thay, sự nỗ lực bẩm sinh và hàng giờ tập luyện chỉ củng cố thêm quan điểm đó, và Williams không thể nào dập tắt được nó. Tố chất tăng cường khiến ông trở thành cầu thủ bóng chày vĩ đại nhất mọi thời đại cũng khiến ông mãi mãi bất hòa với những người thương yêu mình nhất.
George Bernard Shaw từng nói, “Người nghệ sĩ thực thụ sẽ để vợ mình đói rã, con mình đi chân trần, mẹ mình vất vả kiếm sống nuôi mình ở cái tuổi 70, mà không màng gì khác ngoài thứ nghệ thuật của mình.” Mozart đã ở đâu khi vợ ông sinh con đầu lòng? Trong phòng kế bên, soạn nhạc, dĩ nhiên rồi!
Điều tương tự cũng được phát hiện ở những bác sĩ đam mê công việc. Một nghiên cứu 1.000 chuyên gia y khoa ở Hà Lan cho thấy lý do hàng đầu gây kiệt quệ chính là sự cản trở từ cuộc sống gia đình và chủ nghĩa hoàn hảo. Nhà tâm lý học Richard Ryan cho biết, “Một trong những lý do gây âu lo và trầm cảm với những người đạt nhiều thành tựu chính là họ không có các mối quan hệ tốt. Họ bận kiếm tiền và dành thời gian một mình, đồng nghĩa với việc sẽ có ít thời gian hơn dành cho tình yêu, sự quan tâm, lo lắng, cảm thông, hay những điều có ý nghĩa khác.” Hiện tượng bỏ bê gia đình vì đam mê không phải điều gì mới mẻ. Người La Mã cổ đại có câu, “libri aut liberi” (sách vở hoặc con trẻ). Nếu thật sự nghiêm túc muốn sáng tạo nên thứ gì đó, bạn phải hy sinh gia đình.
Vấn đề về năng lượng cũng rất quan trọng. Những nhân viên sáng tạo không những dành ít thời gian hơn cho bạn đời, mà một nghiên cứu từ Academy of Management Journal còn cho thấy thời gian họ bỏ ra cho gia đình cũng thiếu hẳn chất lượng. Khi về nhà, họ đã cạn pin. Không còn chút năng lượng nào để đóng vai người bạn đời chu đáo. Một nghiên cứu nhận thấy những người có mức độ cầu toàn cao ít cảm thấy hài lòng trong mối quan hệ hơn 33%.
Vài người còn đẩy cường độ lên mức bất bình thường. Tạp chí khoa học Nature đã tiến hành một khảo sát không chính thức với 1.400 bạn đọc. 20% đang dùng thuốc để tăng sức tập trung, và loại kích thích phổ biến nhất là Ritalin. Trong phân tích của Mason Currey về thói quen của thiên tài, ông phát hiện nhiều thiên tài sử dụng các loại thuốc kích thích amphetamine, cũng giống như Paul Erdos. Sean Esteban McCabe từ Đại học Michigan đã phân tích những sinh viên chưa tốt nghiệp ở Mỹ và ghi nhận 4,1% số người cũng dùng các chất này. (Thông cảm chờ tôi đi rót cà phê chút nha.)
Vậy một sứ mạng mà ta đam mê đến mức ám ảnh có thể giúp ta thật thành công và thỏa mãn, nhưng cũng đồng thời hủy hoại các mối quan hệ, vốn là chìa khóa dẫn đến hạnh phúc. Nhà nghiên cứu Shawn Achor ở Harvard nhắc lại rằng, “Những người chịu đựng được căng thẳng tốt nhất là những người thực sự gia tăng các khoản đầu tư xã hội ngay giữa trung tâm cơn căng thẳng, một điều hoàn toàn trái ngược so với việc hầu hết chúng ta đang làm. Hóa ra sự liên kết xã hội chính là chỉ báo hạnh phúc tốt nhất khi tôi chạy phân tích trong nghiên cứu của mình.” Điều gì xếp thứ 4 trong danh sách những nỗi hối hận lớn nhất trước khi nhắm mắt? “Tôi ước mình đã giữ liên lạc với bạn bè.”
Nếu không cẩn thận, 10.000 giờ luyện tập có thể dẫn đến kết cục tối tăm. Giáo sư Howard Gardner tại Harvard đã nghiên cứu những nhà sáng tạo nổi trội như Picasso hay Freud và rút ra kết luận như sau:
Nghiên cứu của tôi cho thấy rằng, bằng cách này hay cách khác, mỗi nhà sáng tạo đều dính vào một kiểu trả giá, thương vụ, hay đổi chác với quỷ dữ, như một phương tiện để đảm bảo tính vẹn toàn tài năng phi thường của họ. Nhìn chung, các nhà sáng tạo đều bị cuốn vào quá trình theo đuổi sứ mạng công việc của mình đến nỗi hy sinh tất cả, đặc biệt là khả năng thực sự tồn tại một cách trọn vẹn với tư cách cá nhân.
Trong một cuộc phỏng vấn, kỳ thủ huyền thoại Bobby Fischer cũng nói tương tự. Khi một nhà báo hỏi cuộc đời ông sẽ thế nào nếu ông không bị ám ảnh về cờ nhiều như thế, Fischer đáp, “Vâng, nó sẽ tốt hơn, anh biết đấy. Cân bằng hơn một chút… trọn vẹn hơn một chút.” Franz Kafka còn đi xa hơn: “Số mệnh của tôi với tư cách một tác giả rất đơn giản. Tài năng miêu tả cuộc sống nội tâm mơ mộng của tôi đã đẩy tất cả mọi thứ vào trong hậu trường; cuộc sống của tôi suy giảm khủng khiếp, và nó sẽ còn tiếp tục suy giảm. Không có thứ gì khác có thể làm tôi hài lòng.”
Sự đánh đổi cơ hội/chi phí mà chúng ta đã biết ở Chương 2 với Spencer Glendon và Peter Drucker lại xuất hiện ở đây. 1 giờ làm việc đồng nghĩa với 1 giờ xa cách bạn bè và người thân. Liệu điều này có thực sự cần thiết khi muốn thành công ở quy mô lớn? Buồn thay, có lẽ là cần. Nghiên cứu “Why Productivity Fades with Age: The Crime-Genius Connection” cho thấy rằng, ít nhất đối với đàn ông, hôn nhân có tác động tiêu cực rất đáng chú ý về kết quả đầu ra đối với các nhà khoa học, tác giả, nghệ sĩ nhạc jazz, họa sĩ, và thậm chí là với tội phạm. Tác giả của nghiên cứu, Satoshi Kanazawa, viết rằng, “Các nhà khoa học nhanh chóng ngừng nghiên cứu sau hôn nhân, trong khi những người không kết hôn vẫn tiếp tục tạo ra những đóng góp khoa học tuyệt vời trong những năm tháng về sau.”
Tất cả những điều trên đúng khi bạn đã có một công việc thỏa nguyện giấc mơ. Nhưng nếu như bạn không có (điều đúng với hầu hết chúng ta) thì sao? Tôi chắc rằng điều này cũng không có gì bất ngờ, nhưng làm việc điên cuồng khi không có đam mê còn để lại những tác động tiêu cực nghiêm trọng hơn. Ở Nhật, tình trạng này đã vượt quá kiểm soát. Tại đây, không còn lạ gì khi nghe có người chết vì làm việc quá sức. Vấn đề phổ biến đến nỗi có cả một từ tiếng Nhật dành riêng cho nó: karõshi (quá lao tử). Tình trạng ấy không hề hiếm, đến nỗi cụm từ này đã được đưa vào từ điển năm 2002. Vấn đề lớn đến độ nó đã được chính phủ ghi nhận và bắt đầu tiến hành theo dõi từ năm 1987. Số người chết do karõshi ở Nhật tương đương với tỷ lệ thương vong do tai nạn giao thông.
Những ca tử vong thường được quy kết do đau tim hay đột quỵ, những hành vi tự tử không phải là không có, và nó thậm chí còn có một từ riêng nữa: karõịisatsu (quá lao tự sát). Các công ty bảo hiểm đã nhiều lần trả tiền cho các vụ kiện liên quan đến vấn đề này, và các gia đình đã nhận được tiền đền bù thiệt hại tương đương hơn 1 triệu đô la. Khi được khảo sát, 90% nhân viên Nhật Bản thậm chí không hề biết đến khái niệm cân bằng công việc-cuộc sống. Để giải quyết vấn đề, vài văn phòng công ty giờ đây bật một đoạn thông báo vào cuối ngày làm việc với nội dung đại loại là “HÃY VỀ NHÀ.”
Hầu hết chúng ta sẽ không bao giờ làm việc quá sức đến mức độ đau tim hay tự sát. Ờ không đến mức ấy, chúng ta chỉ có tới mức khiến đời mình khốn khổ mà thôi. Chúng ta thường gọi đó là tình trạng “kiệt quệ” (hay “đuối”), nhưng hấp dẫn ở chỗ, các nhà tâm lý đã phát hiện kiệt quệ không phải là căng thẳng quá độ; nó khá giống chứng trầm cảm lâm sàng. Nghiên cứu “Comparative Symptomatology of Burnout and Depression” ghi nhận, “Phát hiện của chúng tôi không ủng hộ quan điểm cho rằng kiệt quệ và trầm cảm là hai dạng thức khác biệt.”
Chúng ta đều trải nghiệm những lần căng thẳng và hầu hết đều kháng cự lại tốt sau một khoảng thời gian nghỉ ngơi. Christina Maslach, một trong những nhà nghiên cứu tiên phong trong lĩnh vực này, cho biết tình trạng kiệt quệ thực sự diễn ra khi ta không phù hợp với công việc đang làm. Đó cũng là lý do tại sao những người đam mê có thể hủy hoại các mối quan hệ hay vượt qua được ngưỡng kiệt quệ về mặt thể chất nhưng không hề “kiệt quệ” theo cách yếu đuối như những người lao động bình thường. Nhà khoa học Cary Cherniss và David Kranz nhận thấy kiệt quệ “hầu như vắng bóng trong các tu viện, trường học Montessori, và trung tâm chăm sóc tôn giáo, nơi người ta xem công việc của mình như một sứ mạng hơn là một công việc đơn thuần.” Nhưng khi không cảm thấy gắn kết với vai trò của mình, bạn sẽ thấy quá tải, thấy rằng nhiệm vụ của mình không hề tương đồng với kỳ vọng hay giá trị của bản thân, và đó không chỉ đơn thuần là do căng thẳng; bạn thực sự đang chuyển dịch quan điểm. Bạn cảm thấy mình không thể tiến bộ, buông thả, rồi dần dà trở nên hoài nghi và bi quan.
Vậy kiệt quệ chính là mặt trái của lòng quyết tâm. Khi nói về anh lính SEAL James Waters và nghiên cứu của Martin Seligman, ta thấy rằng khả năng phục hồi thường xuất phát từ tư tưởng lạc quan. Còn kiệt quệ lại là kết quả của thái độ bi quan đối với công việc. Thứ này chẳng đưa mình đến đâu cả. Mình không thể chịu nổi nữa. Mọi chuyện sẽ không bao giờ khá nổi.
Vài người nghĩ rằng chỉ cần cứng cỏi lên là xong, nhưng khi bạn bi quan và khốn khổ, sẽ rất khó mà cứng cỏi. Như Julia Boehm và Sonja Lyubomirsky đề cập trong Journal of Career Assessment, thành công không thường dẫn đến hạnh phúc giống như kiểu hạnh phúc dẫn đến thành công. Cũng như cách sự lạc quan giữ cho bạn tiếp tục, kiệt quệ tạo ra một vòng xoáy bi quan khiến ta rất khó hoàn thành nhiệm vụ bởi vì mọi thứ trông thật vô ích. Cuối cùng, bạn có thể nhận ra mình đang nghĩ đến karõshi.
Vậy có giải pháp nào xử lý tình trạng này? Nhiều người nghĩ rằng chuyện được tăng thu nhập khủng sẽ là khoản đền bù xứng đáng, nhưng họ đã sai. Nghiên cứu “How Do Objective and Subjective Career Success Interrelate over Time?” cho thấy thu nhập không gia tăng mức độ hài lòng trong công việc. Nhiều tiền hơn không khiến công việc phù hợp hơn; vì lẽ đó, nó sẽ không giúp giảm thiểu tình trạng kiệt quệ. Nếu đang làm quá sức trong một công việc không hợp với bản thân mình, có lẽ đã đến lúc thay đổi.
Nếu bạn đang ám ảnh theo đuổi một sự nghiệp mình rất đam mê, giải pháp sẽ không hề bất ngờ cho lắm. Bạn cần dành thời gian cho những mối quan hệ. Khi American Medical Association tiến hành khảo sát những bác sĩ hàng đầu để tìm hiểu cách họ tránh bị kiệt quệ, một trong những yếu tố then chốt họ đề cập chính là “chia sẻ vấn đề với gia đình và bạn bè.”
Ai cũng có giới hạn của riêng mình, và để có được một cuộc sống trọn vẹn, chúng ta cần có cả sự nghiệp phù hợp lẫn sự ủng hộ từ những người thân yêu. Tác giả Sam Harris đã nói trong một bài phỏng vấn với The Atlantic:
Có lẽ đúng là một số thành tựu nhất định cần có những nhu cầu thành tựu loạn thần hay nỗi khát khao tiền tài và quyền lực. Rất nhiều thành tựu nghệ thuật xuất phát từ nỗi u mê ảo vọng ích kỷ. Và nếu như một người vĩnh viễn xóa bỏ ảo vọng của cái tôi, anh ta có thể sẽ không viết nên được những tiểu thuyết tuyệt vời hay khởi sự được một công ty như Apple. Tư duy buông bỏ có lẽ không phù hợp với việc trở thành người như Nabokov hay Steve Jobs. May mắn thay, chưa có ai buộc phải lựa chọn mình nên trở thành một nghệ sĩ hay doanh chủ vĩ đại hay nên thành Phật. Đối với tôi, câu hỏi đáng lưu tâm hơn là ta phải loạn thần, bất hạnh, và tự lừa dối đến mức độ nào để có thể sống một đời cống hiến. Tôi nghĩ rằng, nhìn chung, câu trả lời là không cần [loạn thần, bất hạnh, và tự lừa dối] đến mức mà hầu hết chúng ta đang phải trải qua.
Vậy tuy rằng làm việc một cách ám ảnh rất cần thiết đối với các thành tựu to lớn, nó không hề đưa đến một cuộc sống vẹn toàn hay cân bằng.
Điều này lại khơi lên những câu hỏi khác: Nếu muốn thành công nhưng không muốn xa cách khỏi bạn bè và gia đình hoặc chịu đựng cơn trầm cảm hay kiệt quệ, liệu ít hơn có thể thực sự biến thành nhiều hơn? Liệu có thể đồng thời vui vẻ và vẫn thành công, hay đó chỉ là một giấc mơ hoang đường?
—