Thư viện Online
  • Trang chủ
  • Sách mới cập nhật
  • Trang chủ
  • Sách mới cập nhật

Chó Sủa Nhầm Cây - Eric Barker - Chương 6

  1. Home
  2. Chó Sủa Nhầm Cây - Eric Barker
  3. Chương 6 - Làm việc, làm việc, làm việc
Prev
Next

Hãy cân bằng công việc – cuộc sống?

Phương pháp để tìm sự hài hòa giữa gia đình và chốn văn phòng, phép cư xử của Spider-Man, những nhà sư, Albert Einstein, các đô vật chuyên nghiệp, và Thành Cát Tư Hãn.

Bất kỳ ai biết bóng chày đều biết Ted Williams. Ông thi đấu chuyên nghiệp giai đoạn 1939 – 1960 và là một trong những tay đánh bóng vĩ đại nhất không thể chối cãi ở mọi thời đại, sánh ngang hàng với Babe Ruth. Nhưng dù cho bạn có biết về ông hay không, tôi cũng có tin dành cho bạn đây: Ted Williams chưa bao giờ chơi bóng chày. Không, chưa từng.

Mấu chốt ở đây là phần động từ: Williams không chơi. Đối với ông, đánh bóng chày không phải một trò chơi. Ông luôn rất, rất nghiêm túc. Trong một bài phỏng vấn năm 1988, ông nói rằng từ thuở bé đã từng ước nguyện dưới sao băng rằng mình sẽ trở thành tay đánh bóng vĩ đại nhất mọi thời đại. Nhưng ông không chỉ ngồi yên và chờ giấc mơ biến thành hiện thực. Sự ám ảnh, tinh thần làm việc cầu toàn còn mang đến cho ông thành công nhiều hơn bất kỳ mảnh thiên thể nào. Williams nói, “Tôi […] vẫn luôn tin rằng dù các tố chất thể lực của mình có thế nào đi nữa, tôi sẽ không bao giờ được lên trang nhất về tài đánh bóng nếu như tôi [không] luôn nghĩ về nó và không quan tâm đến thứ gì khác quanh năm… Tôi chỉ trông ngóng lần đánh bóng kế tiếp mà thôi.”

10.000 giờ để trở thành chuyên gia ư? Williams có lẽ còn làm hơn con số ấy. Ông bị ám ảnh. Sau giờ học, ông đến sân chơi quanh đó để luyện đánh bóng đến 9 giờ tối, và chỉ dừng lại khi đèn trên sân đã tắt. Sau đó, ông về nhà và tập ở sân sau cho đến khi cha mẹ bắt phải đi ngủ. Buổi sáng ông đến trường sớm để có thể vung chày nhiều hơn trước khi bắt đầu học. Ông mang cả chày vào trong lớp. Ông chọn khóa học có ít bài tập hơn, không phải vì lười, mà bởi vì ông muốn dành thêm nhiều thời gian đánh bóng.

Nhưng chừng đó vẫn chưa đủ. Trong một lựa chọn hẳn sẽ khiến Spencer Glendon và Peter Drucker ở Chương 3 tán dương, ông phớt lờ hoàn toàn mọi thú tiêu khiển. Thi thoảng, người ta còn thấy ông trên sân, lưng quay đối diện với gôn nhà. Sau đó ông còn vung găng tay như thể cái chày để tập luyện, trước sự nản kèo của đồng đội. Còn gái gú ư? Không có thời gian. Ông vẫn còn trai tân cho đến năm thứ hai thi đấu ở giải chuyên nghiệp. Hồi đầu, ông nói dối về ngày sinh của mình, rằng mình sinh tháng Mười thay vì tháng Tám. Tại sao ư? Sinh nhật ngay giữa mùa bóng sẽ làm mất tập trung. Williams nói với tạp chí Time, “Hàng trăm đứa trẻ có bản năng trở thành cầu thủ bóng chày tuyệt vời nhưng mọi chuyện sẽ không thành nếu thiếu luyện tập, luyện tập, luyện tập để phát huy năng lực đó.”

Không phải chỉ những giờ khổ luyện mới khiến Williams vĩ đại như vậy. Bí quyết còn nằm ở chỗ cách ông sử dụng thời gian. Ông là một người theo đuổi chủ nghĩa hoàn hảo, luôn không ngừng cố gắng cải thiện. Ông biến bóng chày thành một thứ khoa học thuần túy, lâu thật lâu trước khi những thống kê phân tích hay quyển sách về tư duy thống kê trong bóng chày Moneyball xuất hiện. Williams thậm chí còn đến MIT để học hỏi về vật lý bóng chày. Ông nghiên cứu những tay đánh cừ khôi nhất và dần dà viết nên một quyển sách, The Science of Hitting, mà cho đến tận ngày nay vẫn được xem là quyển sách hay nhất về chủ đề này.

Công thức bí mật của ông chính là cường độ nghiên cứu những tay ném bóng. Williams tin vào việc “hiểu đối thủ của mình.” Và ông chắc chắn đã xem những tay ném bóng như đối thủ khi thường đùa rằng, “Đố anh, cái gì đần hơn cả 1 cầu thủ ném bóng? Chính là 2 cầu thủ ném bóng.” Ông thường nói, “Anh không phải đang chơi cho Cincinnati Reds hay Cleveland Indians, anh đang thi đấu với tay ném kia… và anh ta là cái gã mà anh nên chú tâm vào.”

Ông theo dõi các trọng tài để hỏi thăm góc nhìn của họ về phong cách của rất nhiều tay ném và ghi chú lại trong một quyển số nhỏ màu đen. Ông dò hỏi những cầu thủ kỳ cựu thêm thông tin về đối thủ. “Tôi không đoán xem họ sẽ ném ra sao. Tôi đã tìm hiểu ra được họ định ném thế nào,” ông lý giải. Dân tình thường ngạc nhiên bởi cái cách ông kể lại thói quen và sở thích của những tay ném khác nhau sau nhiều thập niên giải nghệ. Nhưng chính tính nhạy cảm cầu toàn đã khiến ông thi đấu rất tốt này lại dẫn đến rất nhiều xung đột giữa ông với những ký giả thể thao viết không chính xác về ông. Sự chỉ trích của họ khiến cho ông — người đã đặt ra rất nhiều áp lực cho bản thân để trở thành kẻ số một — phẫn nộ.

Chày của ông được lau rượu hằng đêm để luôn sạch sẽ, và ông còn cần chày để đảm bảo khối lượng không bị ảnh hưởng bởi sự ngưng tụ chất lỏng. Chúng có ngăn tủ riêng cạnh bên ngăn của ông trong phòng câu lạc bộ. Williams nâng niu chày của mình như em bé — và sau đó lại luyện đánh bóng cho đến khi đôi tay tóe máu.

Mọi nỗ lực đã được đền đáp. Trong hồ sơ của New Yorker về Ted Williams, John Updike viết, “Không một cầu thủ nào liên tục thể hiện thứ năng lực mạnh đến mức luôn làm đám đông hò hét vui sướng đến thế.”

Nhưng đời đôi khi lại ném cho bạn một đường bóng xoáy…

Khi Thế chiến II nổ ra, Ted Williams bị gọi nhập ngũ. Phản ứng của ông về chuyện đứt gánh sự nghiệp? Vâng, nếu phải trở thành phi công chiến đấu cho Thủy quân lục chiến, ông cũng phải là người lính thật cừ. John Glenn, một người bạn của Williams, đã viết trong tự truyện của mình như sau, “Ông dành sự chú tâm hoàn hảo đối với việc bay lượn cũng y như việc đánh bóng vậy.” Dù không có thành tích học tập tốt ở trường trung học, Ted bị thôi thúc phải thành thạo bằng được bất kỳ nhiệm vụ nào trước mắt, và ông nhanh chóng trở nên tài giỏi ở bất kỳ công việc cần thiết nào.

Do chiến tranh, ông đã bỏ lỡ 3 mùa giải. Khi trở lại thi đấu, liệu ông có bị lỡ nhịp? Không hề. Ông nâng gấp đôi cường độ tập luyện điên cuồng của mình và trở lại đội hình chính 3 tuần sau đó.

Tuy hầu hết cuộc chơi thể thao chuyên nghiệp là dành cho thanh niên trẻ, Williams thi đấu ở giải Major cho đến tận năm 42 tuổi. Trong suốt mùa giải cuối cùng, tỷ lệ đánh được cú ăn điểm trực tiếp home-run của ông đạt mức tốt nhất sự nghiệp: 9,4. Ông thậm chí còn ghi được một cú home-run ở trận cầm chày cuối cùng trước khi giải nghệ năm 1960.

Sau đó ông trở thành quản lý cho đội Washington Senators. Những tưởng tính cầu toàn sẽ dẫn đến tính khí thất thường không phù hợp với công việc, kết quả của ông vẫn rất đáng kinh ngạc. Tư tưởng của ông kiểu như, Tôi đã luyện được 10.000 giờ và tôi sẽ đảm bảo anh cũng luyện được. Ông tin rằng trò đánh gôn sẽ ảnh hưởng đến kỹ thuật đánh bóng và quyết định phạt 1.000 đô những cầu thủ đi chơi gôn giữa mùa bóng. Ông tổ chức tập chạy marathon, đặt ra giờ giới nghiêm, giới hạn rượu bia, bắt cầu thủ ngủ đủ vào đêm trước trận đấu, và thậm chí làm hết sức để giữ cho họ vẫn độc thân. Những tay đánh bóng không thể nhớ được phong cách của những tay ném đối thủ sẽ đối mặt với cơn giận dữ có tiếng của Williams.

Những điều này đã phát huy tác dụng. Tỷ lệ đánh trúng bóng tăng lên, tỷ lệ đánh hỏng 3 lần (strikeout) giảm xuống, và lượng khán giả tăng vọt. Đội bóng nổi lên với thành tích tốt nhất trong vòng 24 năm qua. Những ký giả thể thao mà ông căm ghét (và cũng căm ghét ông) không còn lựa chọn nào khác ngoài việc xướng tên ông là Huấn luyện viên của năm.

Khi đặt tính cầu toàn sang một bên, không người nào có thể làm việc được 24/7. Chúng ta đều cần nghỉ ngơi. Cần một thú vui. Một điều gì đó cân bằng giữa công việc và cuộc sống. Ted Williams thích đi câu cá, một môn thể thao dễ thư giãn… Ồ, không, không phải trong trường hợp này. Ông là người luôn khao khát chinh phục ngay cả khi mọi chuyện được cho là dễ dàng. Một người bạn chia sẻ, “Khi kéo cá lên, ông phun ra nhiều lời chửi, nhiều hơn bất cứ câu nói nào tôi từng nghe. Nó như là thơ vậy. Nó có vần điệu, như thể ông ta đang hát. Ông không hề cố giãi bày hay tức giận gì cả, ông chỉ đang là chính mình, cố gắng đứng đầu.” Và, vâng, ông cũng tìm được cách gia nhập các bảng danh vọng về câu cá: National Fresh Water Fishing Hall of Fame và International Game Fish Association Hall of Fame.

Năm 1999, The Sporting News xếp ông đứng thứ 8 trong danh sách 100 Cầu thủ Bóng chày Vĩ đại nhất. Ông được Tổng thống George H. w. Bush trao tặng Huân chương Tự do của tổng thống năm 1991.

Ted Williams vĩ đại bởi vì ông không bao giờ dừng nỗ lực.

Liệu nỗ lực như thế có thực sự tạo nên thành công cực đỉnh? Câu trả lời chắc chắn là có. Chuyên gia về những nhân vật có nhiều thành tựu, Dean Keith Simonton, đã đưa ra một công thức nản lòng về sự nổi trội: “Những người có khát vọng như thế phải sắp xếp thời gian đời mình xung quanh một kế hoạch duy nhất. Họ phải như kiểu người độc tưởng, thậm chí hoang tưởng tự đại về mục tiêu của mình. Họ phải khởi đầu sớm, làm việc liên tục, và không bao giờ từ bỏ. Thành công không dành cho người lười biếng, trì hoãn, hay thiếu kiên định.” (Vậy điều này có nghĩa chuyện tôi đang viết những dòng này vào lúc 3 giờ 25 sáng là tốt phải không nhỉ?)

Nếu bạn muốn nghe chuyện mình có thể kiếm hàng triệu đô la và nổi tiếng nhưng chỉ làm việc khi cảm thấy thích và không cần hy sinh gì cả, ờ thì, chắc bạn nên đóng sách lại và đi xem mấy mẩu tin “không cần tiền vẫn mua được bất động sản.” Bạn đã chọn nhầm cái để đọc rồi.

Bạn vẫn đọc tiếp? Tốt. Frank Barron, một giáo sư có tiếng tại uc Santa Cruz, từng nói, “Năng suất làm việc cực khủng là quy tắc chung chứ không phải ngoại lệ ở nhóm những cá nhân có đóng góp giá trị.” Thậm chí ông trùm tạo kiểu tóc Vidal Sassoon có lần từng châm biếm, “Nơi duy nhất mà có kết quả rồi mới có làm việc chính là trong từ điển.” Vâng, để trở nên cực đỉnh, phải nỗ lực điên cuồng một chút.

Dean Keith Simonton rút ra một điều: “Những cá nhân có năng suất cao nhất, nhìn chung, sẽ tạo ra những thành tựu đáng giá nhất.” Định luật Price chính là ví dụ minh họa tuyệt vời nhất về tầm quan trọng của việc làm việc điên cuồng. Chọn ra nhóm người đứng đầu trong một ngành. Để dễ tính toán, chúng ta sẽ giả định đó là 100. Lấy căn bậc 2 của con số này, trong ví dụ của chúng ta kết quả sẽ là 10. Định luật Price nói rằng 10 người này sẽ tạo ra 50% số thành tựu đáng chú ý trong lĩnh vực đó. 10/100 người sẽ tạo ra phân nửa những thứ đáng lưu tâm. Và Simonton còn ghi chú thêm rằng Định luật Price “đúng với gần như mọi mảng chính trong nghệ thuật và khoa học.”

Nhưng bạn không phải nhà thực vật học hay họa sĩ, đúng không? Chả sao cả. Trong mọi ngành nghề bạn đang làm đều sẽ có một hiệu ứng tương tự: “10% người đứng đầu tạo ra nhiều hơn 80% so với trung bình, và 700% trội hơn so với nhóm 10% đứng cuối.” Và điều đó đòi hỏi rất nhiều thời gian. Khi giáo sư John Kotter ở Harvard nhìn vào những nhà quản lý hàng đầu trong rất nhiều ngành nghề, ông nhận ra chuyện họ làm việc hơn 60 giờ/tuần cũng không phải là hiếm. Còn giáo sư Jeffrey Pfeffer (người chúng ta đã gặp ở Chương 2) đã đề cập yếu tố gì trước tiên trong các yếu tố tạo nên thành công trong doanh nghiệp? “Năng lượng và sức bền.” Bạn sẽ cần đến 2 thứ ấy.

Liệu bạn có thể đạt năng suất cao trong một lĩnh vực mà không cần bỏ ra hàng đống thời gian? Ở mức độ nào đó, dĩ nhiên là có, nhưng giả định là tài năng và hiệu suất bằng nhau, người nào dành nhiều thời gian hơn thường sẽ chiến thắng. Và vấn đề thời gian dường như chính là yếu tố khác biệt nhất giữa trình độ khá giỏi so với cực đỉnh. Vầng, thông minh cũng có tác dụng đó, nhưng “giả thuyết ngưỡng” (threshold hypothesis) cho thấy, thông minh không phải là tất cả, đặc biệt đối với sự đột phá. Khi nhìn vào những con người nổi trội, hầu hết bọn họ đều thông minh hơn người bình thường. Nếu không có mức IQ 120, rất ít người có thể tạo ra được bất cứ thứ gì chấn động và được tưởng nhớ trong sử sách. Những điểm xoắn nằm ở chỗ, một khi đã vượt qua mốc 120, rất nhiều nghiên cứu cho thấy có thêm điểm IQ cũng không ảnh hưởng mấy. Điều gì đã tạo ra sự khác biệt? Không phải may mắn. Đó là thời gian họ đã bỏ ra. Một nhà vật lý thuộc Manhattan Project với IQ 180 có thể rất hay đấy, nhưng 60 điểm IQ gia tăng đó sẽ không tạo ra khác biệt lớn như sự chăm chỉ làm việc mang lại.

Vài người làm việc rất chăm chỉ nhưng vẫn không được thành quả gì. Cho đến thời điểm nhắm mắt, Robert Shields đã viết một quyển nhật ký dài 37,5 triệu từ. Ông dành ra 4 giờ/ngày ghi nhận lại tất cả mọi thứ, từ huyết áp cho đến lượng thư rác mình nhận. Ông thậm chí thức dậy mỗi 2 tiếng một lần để ghi lại giấc mơ. Việc này không khiến cho ông giàu có và thậm chí cũng không kiếm về cho ông một kỷ lục Guinness nào. Nó chỉ biến ông trở thành người có cáo phó hấp dẫn dị thường nhất trên đời mà thôi.

Chỉ chăm chỉ làm việc thôi cũng không đủ làm nên chuyện. Thời gian làm việc ấy còn cần phải thách thức nữa. Bạn cần phải thúc đẩy bản thân để giỏi hơn, như Ted Williams. Bạn dành rất nhiều thời gian trong cuộc đời chỉ để lái xe đúng không? Bạn có dám vào chiến ở giải NASCAR hay Công thức 1 không? Có lẽ là không. Trong đại đa số hoạt động ta làm hàng ngày — bao gồm cả chuyện làm việc, ta thường không cố gắng cải thiện bản thân. Kết quả này có lẽ sẽ khiến cho bạn sợ đi đến bệnh viện: Các nghiên cứu cho thấy giới bác sĩ và y tá không hề nâng cao trình độ theo thời gian. Khi không có “sự thôi thúc muốn thành thạo” — cũng như chúng ta khi lái xe — họ chỉ đơn thuần làm nhiệm vụ của mình, hết giờ này đến giờ khác, thay vì thúc đẩy bản thân trở thành chuyên gia. Như Michelangelo từng nói, “Nếu mọi người mà biết tôi đã nỗ lực như thế nào để đạt thành tựu, mọi chuyện trông sẽ chẳng màu hồng cho lắm.” Trong nghiên cứu kinh điển của Benjamin Bloom về những vận động viên, nhà khoa học, và nghệ sĩ hàng đầu, ông phát hiện ra rằng yếu tố then chốt tạo nên một vị sư phụ vĩ đại không nằm ở bí kíp tuyệt học hay sự hỗ trợ tinh thần, mà ở chỗ họ thúc đẩy đệ tử mạnh mẽ hơn những người thầy bình thường. Một người thầy tuyệt vời sẽ “nâng tầm kỳ vọng và yêu cầu dần dần cho đến lúc người học trò có thể làm được hầu hết mọi thứ trong giới hạn của con người.”

Nghiên cứu cũng thể hiện riêng yếu tố tham vọng chính là chỉ báo thành công; và động lực dự báo mức độ thành công trong sự nghiệp tốt hơn trí thông minh, khả năng, hay lương bổng. Kết hợp những yếu tố ấy lại với sự chăm chỉ, ta sẽ có một điều chắc chắn: Sẽ chẳng ai dám ngáng đường bạn đến với thành công nữa, vì tất cả sẽ bị bạn đè bẹp.

Ted Williams không nghĩ về thứ gì khác ngoài đánh bóng, ông dành ra lượng thời gian khủng khiếp để luôn cải thiện kỹ năng, và rồi trở nên thành công đến độ mọi đứa trẻ trong thế hệ đó đều mơ ước trở thành Ted Williams. Và giờ đây bạn hẳn đang tự hỏi thành công liệu có đồng nghĩa với một lịch trình làm việc đau khổ, kèm theo mạch máu nổi đầy cổ ở cái tuổi 50 hay không. Nếu thế, tôi có một ngạc nhiên dành cho bạn: Chuyện có thể hoàn toàn ngược lại.

Nhìn chung, làm việc quá sức không tốt cho bạn. Nó thường dẫn đến chuyện ít tập thể dục, ít đến khám bác sĩ, và hút thuốc nhiều hơn. Điều tệ hơn chính là, một nghiên cứu có tựa đề “To Your Happiness? Extra Hours of Labor Supply and Worker Well-Being” đã cho thấy những lợi ích của thành công thường bị lu mờ bởi những yếu tố tiêu cực liên quan đến hạnh phúc và căng thẳng. Xin điểm trang thêm cho ý này bằng một thông tin: Một trong những điều hối tiếc nhất của mọi người trên giường lúc lâm chung chính là: “Tôi ước mình đã không làm việc nhiều đến vậy.”

Nhưng mọi sự sẽ thay đổi khi bạn tìm ra được ý nghĩa của việc mình làm. Như đã nhắc đến ở các phần trước, Nghiên cứu Terman theo dấu suốt đời các đối tượng nghiên cứu từ khi còn trẻ. Nếu nghiên cứu này cho phép các nhà khoa học có được cái nhìn toàn thể về cả cuộc đời, vậy họ đã nhận thấy điều gì về mối quan hệ giữa làm việc chăm chỉ và một sự nghiệp có ý nghĩa? Như tờ WJS ghi nhận, “Những người luôn theo đuổi sự nghiệp đầy ý nghĩa và làm việc chăm chỉ nhất chính là những người sống lâu nhất.” Công việc ý nghĩa đồng nghĩa với một thứ gì đó (a) quan trọng đối với bạn, và (b) bạn cũng thật giỏi khi thực hiện việc đó. Rất nhiều nghiên cứu đã cho thấy, khi bạn được làm thứ mình thật giỏi (giới tâm lý học gọi đó là “thế mạnh dấu ấn”), đó sẽ là hoạt động gia tăng hạnh phúc mạnh mẽ nhất. Một nghiên cứu của Gallup cũng ghi nhận, “Càng nhiều thời gian mỗi ngày người Mỹ được dụng đến thế mạnh của mình để làm những thứ họ làm tốt nhất, họ càng ít trải nghiệm cảm giác lo lắng, căng thẳng, giận dữ, buồn bã, hay những nỗi đau thể chất.” Thử tưởng tượng đời sẽ thế nào nếu như công việc của bạn yêu cầu phải dùng đến thế mạnh dấu ấn mỗi ngày. Dĩ nhiên bạn sẽ làm việc nhiều giờ hơn. Ai lại muốn về nhà chứ?

Mấu chốt ở đây là từ “làm việc.” Ta thường sử dụng từ này với hàm ý xấu. “Tôi ghét phải làm mớ việc này.” Nhưng chúng ta cũng sử dụng nó với ý nghĩa “công việc.” Khi công việc hoàn thành, đó không phải là chuyện xấu. Như Mark Twain đã viết trong The Adventures of Tom Sawyer, “Làm việc bao hàm bất cứ thứ gì mà ta bắt buộc phải thực hiện. Chơi bao hàm bất cứ thứ gì mà ta không bắt buộc phải thực hiện.” Khi bạn thích việc của mình, bạn có thể vẫn căng thẳng nhưng cuối cùng mọi chuyện vẫn xứng đáng. Không ai cảm thấy hạnh phúc suốt chặng đường chạy marathon. Nửa đường leo lên đỉnh Everest, bạn sẽ thắc mắc tại sao mình lại nghĩ đây là một ý tưởng hay. Lấy bằng tiến sĩ có thể tốn hàng năm trời nỗ lực khổ nhọc và cô đơn, nhưng đó lại là thứ mà người ta thường cảm thấy tự hào nhất. Ví dụ điển hình nhất chính là sinh con. Làm cha mẹ chắc chắn là rất căng thẳng và khó khăn. Đối với vài người, đó chính là công việc toàn thời gian. Nhưng không một ai nghiêm túc lại nói kiểu, “Mấy vụ làm cha mẹ dạy dỗ con cái này sẽ giết mình mất thôi. Mình nên dừng lại.” Đôi khi thật sự có cảm giác như nó sắp giết bạn thật, chắc rồi, nhưng đó cũng chính là công việc có ý nghĩa nhất đời người, và thử thách chỉ làm cho phần thưởng thêm ngọt ngào hơn. Và một sự nghiệp mà ta yêu thích cũng không khác gì mấy.

Nếu sự nghiệp ý nghĩa giúp bạn sống lâu hơn, vậy điều gì làm bạn chết sớm hơn? Thất nghiệp. Eran Shor, giáo sư Đại học McGill, nhận thấy người thất nghiệp có tỷ lệ tử vong sớm cao hơn bình thường tận 63%. Những vấn đề sức khỏe có từ trước không mấy ảnh hưởng, điều này đồng nghĩa với việc đây không chỉ là một sự tương quan, mà rất có khả năng thất nghiệp chính là nguyên nhân. Đây cũng không phải một nghiên cứu quy mô nhỏ. Nó kéo dài trong 40 năm, liên quan đến 20 triệu người ở 15 quốc gia khác nhau. Con số 63% không thay đổi nhiều dù cho người đó sống ở đâu.

Sự không vui khi thất nghiệp có thể tác động xấu hơn thế nữa. Hầu hết nghiên cứu cho thấy mức độ hạnh phúc của bạn khá ổn định theo thời gian. Kết hôn khiến cho bạn hạnh phúc hơn, nhưng chỉ trong vài năm, hầu hết mọi người sẽ quay về mức độ hài lòng trước đó. Nếu bạn đời mất đi, ta sẽ buồn lòng trong khoảng 7 năm, nhưng rồi sau đó, bùm — trở về mức cũ. Tuy nhiên, có vài thứ có thể để lại tổn thương vĩnh viễn trong tần suất nở nụ cười, chẳng hạn như mắc bạo bệnh hay tiến hành ly hôn. Hay mất việc. Thực ra, mức độ hạnh phúc không hề hồi phục thậm chí sau khi bạn tìm được việc mới. Mất việc có thể để lại vết sẹo vĩnh viễn trong tâm hồn.

Thế còn chuyện nghỉ hưu? Đó là dạng thất nghiệp “tốt” đúng không? Sai bét. Nghỉ hưu có mối liên hệ với tình trạng suy giảm nhận thức, bệnh tim mạch, và ung thư. Những tác động này không phải do tuổi tác mà do con người ta không còn năng động và hứng thú nữa.

Thật sự có hơi không công bằng khi so sánh những giờ dài nỗ lực với tình trạng không có việc gì làm. Mặc dù vậy, làm công việc mà bản thân không thích còn tệ hơn cả thất nghiệp. Dựa trên một nghiên cứu năm 2010 của Gallup, những người cảm thấy “đứt kết nối cảm xúc” với công việc của mình cũng ít thỏa mãn với cuộc sống hơn cả những người không làm gì. Một nghiên cứu về lao động ở Thụy Điển cũng cho thấy công việc đơn điệu có liên quan mật thiết đến tỷ lệ nhồi máu cơ tim. Vâng, nói chung một công việc chán ngắt có thể giết bạn thật đấy.

Bạn còn nhớ tôi đã nói thế nào về vụ làm việc quá nhiều chính là một trong những nỗi hối hận lớn nhất của con người lúc lâm chung không? Hoàn toàn chính xác. Nhưng đâu là nỗi hối hận đứng đầu hết thảy? “Tôi ước mình đã có gan sống cuộc đời đúng với bản thân chứ không phải cuộc đời mà người khác kỳ vọng ở tôi.” Sự nghiệp chính là yếu tố số 2, xếp ngay sau giáo dục, và trước mối quan hệ. Chúng ta dành rất nhiều thời gian ở nơi làm việc. Tôi đoán rằng những người hối hận vì làm việc quá nhiều không thích công việc của mình cho lắm — và cũng có rất nhiều người không được sống đúng với chính mình đã chọn sai con đường sự nghiệp. Công việc thử thách và có ý nghĩa giúp ta hạnh phúc và thỏa mãn. Mà như đã nói, nếu công việc có ý nghĩa, đó cũng chẳng phải là làm việc nữa rồi, đúng không?

Được rồi, dân cuồng việc thành công đã trình bày xong. Giờ hãy cùng nghe những người ít bị ám ảnh hơn nói gì về mặt trái của chứng lao động cuồng điên này.

(Ghi chú cho người lười: Bắt đầu đọc tiếp từ đoạn này cũng được rồi.)

Prev
Next

Có thể bạn muốn đọc thêm

khuyen-hoc-fukuzawa-yukichi
Khuyến Học – Fukuzawa Yukichi
April 11, 2023
doi-thoai-voi-thuong-de-Neale
Đối Thoại Với Thượng Đế – Neale Donald Walsch
February 14, 2022
kiep-nao-ta-cung-tim-thay-nhau-brian-weiss
Kiếp Nào Ta Cũng Tìm Thấy Nhau – Brian L Weiss
September 9, 2022
buc-xuc-khong-lam-ta-vo-can-Dang-Hoang-Giang
Bức Xúc Không Làm Ta Vô Can – Đặng Hoàng Giang
September 23, 2021

ThuVienOnline © 2026