Sinh Ra Để Chạy - Christopher McDougall - Chương 4
Hai ngày sau, Salvador đặt ba lô xuống, vuốt mồ hôi và cất tiếng. “Tới nơi rồi!”
Tôi nhìn quanh. Chẳng có gì ngoài đá và xương rồng.
“Tới đâu cơ?”
“Aquí mismo.” Salvador nói. “Tới đây. Đây là nơi bộ tộc Quimare sinh sống.”
Tôi chẳng hiểu anh ta đang nói gì. Trong mắt tôi, nơi đây trông như nửa tối của một hành tinh bị lãng quên mà chúng tôi vừa phải đi qua trong suốt mấy ngày trời. Sau khi bỏ lại chiếc xe bán tải ở rìa thung lũng, chúng tôi vừa trượt, vừa dò dẫm đi xuống đáy. Thật nhẹ nhõm vì cuối cùng chúng tôi cũng được bước đi trên đất bằng, nhưng chẳng được bao lâu; sau khi đi ngược dòng sông vào sáng hôm sau, chúng tôi càng lúc càng bị các tường đá cao vút siết chặt dần. Chúng tôi dấn bước, đội ba lô trên đầu khi lội ngược dòng nước sâu đến tận ngực. Mặt trời dần khuất lấp sau vách đá dốc đứng, cho tới khi chúng tôi phải dò dẫm xuyên qua bóng tối giữa tiếng nước chảy róc rách, tưởng như đang nhón bước chầm chậm dưới đáy biển sâu.
Cuối cùng, Salvador cũng nhìn thấy một lỗ hổng trên bức tường trơn tuột, và chúng tôi trèo qua đó, bỏ lại dòng sông phía sau. Đến giữa ngày, thì tôi lại chỉ mong có bóng tối âm u như lúc trước; với ánh mặt trời thiêu đốt trên cao và chẳng có gì ngoài các tảng đá trần trụi xung quanh, thì việc kéo lê thân qua triền dốc cứ như leo lên một tấm phản bằng thép. Cuối cùng Salvador cũng dừng lại, ngồi xuống một tảng đá để nghỉ ngơi.
Quỷ thật, anh ta bền bỉ quá. Tôi nghĩ. Mồ hôi túa ra trên khuôn mặt cháy nắng của Salvador, nhưng anh vẫn đứng vững. Vẻ mặt anh mong ngóng đến kỳ lạ.
“¿Qué pasa?”Tôi hỏi. “Gì vậy?”
“Họ ở chỗ này.” Salvador nói và chỉ tay lên một ngọn đồi nhỏ.
Tôi vội vã đứng lên. Tôi đi theo anh xuyên qua một khe đá, thấy trước mặt là một lỗ hổng tối tăm. Ngọn đồi nọ thực chất là một túp lều nhỏ, được xây bằng các viên gạch làm từ bùn và tiệp vào sườn núi khiến nó như thể vô hình, cho tới khi bạn đứng ngay trên nóc.
Tôi nhìn quanh lần nữa để xem mình còn bỏ qua căn nhà nào đó được ngụy trang hay không, nhưng khắp nơi chẳng có dấu hiệu của con người. Người Tarahumara thích sống biệt lập, thậm chí là biệt lập cả với nhau, đến mức các thành viên trong cùng một ngôi làng thậm chí chẳng chịu ở gần nhau trong khoảng cách có thể nhìn thấy khói bếp của nhà khác.
Tôi mở miệng định cất tiếng gọi, rồi lập tức ngậm ngay lại. Ai đó đã đứng sẵn ở đó, ngay trong bóng tối và quan sát chúng tôi. Và rồi, Arnulfo Quimare, người chạy bộ Tarahumara đáng gờm nhất, bước ra.
“Kuira-bá.” Salvador nói câu duy nhất trong tiếng Tarahumara mà anh biết. “Chúng ta là một.”
Arnulfo đang nhìn tôi.
“Kuira-bá.” Tôi lặp lại.
“Kuira.” Arnulfo thì thầm, nhẹ như tiếng thở. Anh chìa tay ra để bắt tay theo kiểu Tarahumara, trượt nhẹ các đầu ngón tay qua nhau. Sau đó anh lại biến mất vào trong căn lều. Chúng tôi đợi, rồi… đợi thêm một lúc nữa. Chỉ có vậy thôi sao? Không một tiếng thì thầm nào bên trong lều, không một dấu hiệu nào cho thấy anh định trở ra. Tôi men theo góc lều để xem anh có chuồn ra phía sau hay không. Một người Tarahumara khác đang nằm ngủ dưới bóng râm của bức tường sau nhà, nhưng chẳng có dấu vết nào của Arnulfo.
Tôi bước lại gần Salvador. “Anh ta có quay lại không?”
“No sé.” Salvador nhún vai và nói. “Tôi không biết. Có thể chúng ta đã làm anh ta bực mình.”
“Thật sao? Tại sao vậy?”
“Ta không nên đột ngột đến đây.” Salvador tự đá đá chân mình. Anh đã quá phấn khích và vi phạm một quy tắc xã giao của người Tarahumara. Trước khi đến một cái hang của người Tarahumara, bạn phải ngồi xuống nền đất cách đó khoảng chục mét và chờ đợi. Sau đó, bạn phải nhìn theo hướng ngược lại một lúc, như thể chỉ tình cờ tha thẩn đi ngang qua. Nếu ai đó xuất hiện và mời bạn vào hang, vậy là tuyệt vời. Nếu không, bạn phải đứng lên và đi nơi khác. Bạn không nên đi thẳng vào, như Salvador và tôi đã làm. Người Tarahumara chỉ thích được nhìn thấy khi họ muốn; nhìn họ mà không được mời giống như xông thẳng vào phòng tắm có người.
Thật may mắn, Arnulfo có vẻ là người độ lượng. Lát sau, anh quay lại, mang theo một giỏ chanh ngọt. Chúng tôi đến không phải dịp, anh giải thích; cả gia đình anh đang bị cúm. Người nằm phía sau túp lều là anh trai của anh, Pedro, hiện sốt cao tới mức chẳng buồn dậy nữa. Nhưng Arnulfo vẫn mời chúng tôi nghỉ ngơi.
“Assag.” Anh nói. Xin mời ngồi.
Chúng tôi ngồi sụm xuống dưới bóng cây tình cờ tìm được rồi bắt đầu bóc chanh, và đưa mắt nhìn dòng sông chảy xiết. Trong lúc chúng tôi ăn ngấu nghiến và phun hạt chanh xuống đất, thì Arnulfo chăm chú nhìn xuống mặt nước. Thỉnh thoảng, anh quay đầu lại và nhìn tôi dò xét. Anh không hề hỏi xem chúng tôi là ai hay tại sao lại đến đây; như thể anh muốn tự mình giải đáp.
Tôi cố gắng không nhìn, nhưng thật khó rời mắt khỏi một gã điển trai như Arnulfo. Anh có nước da màu nâu như da thuộc, cặp mắt đen dị thường sáng lấp lánh với vẻ tự tin đáng kinh ngạc dưới mái tóc đen “úp nồi”. Anh khiến tôi nhớ đến thời kỳ sơ khởi của ban nhạc Beatles; với các thành viên ban đầu, quyện vào nhau thành một tổng hòa của sự lanh lợi, vui vẻ, điển trai theo kiểu lặng lẽ tràn đầy sức mạnh. Anh vận trang phục thường ngày của người Tarahumara, một chiếc váy ngắn đến đùi và cái áo đỏ rực lửa, gợn sóng như áo khoác cướp biển. Mỗi khi cử động, cơ bắp anh dịch chuyển và cuộn lại như kim loại nóng chảy.
“Nhớ không, chúng ta từng gặp nhau rồi.” Salvador nói với anh bằng tiếng Tây Ban Nha.
Arnulfo gật đầu.
Ba năm liền, Arnulfo bỏ ra nhiều ngày vượt núi để có mặt ở Guachochi tham dự một cuộc đua 60 dặm xuyên qua thung lũng. Đó là một cuộc đua hằng năm của những người Tarahumara sống ở khắp các ngóc ngách của dãy Sierra, cùng vài người chạy bộ Mexico hiếm hoi sẵn sàng thử thách đôi chân và vận may với người dân bộ lạc. Ba năm liền, Arnulfo giành chiến thắng. Anh đoạt được danh hiệu từ anh trai Pedro và bám sát nút Arnulfo ở vị trí thứ hai và thứ ba là anh họ Avelado và anh rể Silvino.
Silvino là trường hợp đặc biệt, một người Tarahumara đứng giữa lằn ranh của thế giới mới và cũ. Nhiều năm trước, một giáo sĩ dòng La San quản lý một ngôi trường nhỏ của người Tarahumara đã đi cùng Silvino tới cuộc đua marathon ở California. Silvino thắng giải và giành được số tiền đủ mua một chiếc xe bán tải cũ, một chiếc quần bò, và một dãy nhà mới cho trường học. Silvino để chiếc xe bán tải trên đỉnh thung lũng, thỉnh thoảng lại leo lên đó và lái tới Guachochi. Mặc dù tìm được mối kiếm tiền chắc cú như vậy nhưng anh vẫn không bao giờ quay lại các cuộc đua.
Đối với phần còn lại của thế giới, người Tarahumara sống rất mâu thuẫn; họ xa lánh người lạ, nhưng lại bị thế giới bên ngoài quyến rũ. Theo cách nào đó, thì điều này có lý: khi bạn yêu thích việc chạy những cự ly dài đến phi thường, thì hẳn bạn sẽ bị cám dỗ bởi sự buông lơi, mặc cho đôi chân đưa bạn tới tận đâu. Một người Tarahumara từng có lần xuất hiện ở Siberia. Người ta không hiểu bằng cách nào mà anh ta lại lạc lên một con tàu hơi nước và lang thang qua các thảo nguyên nước Nga trước khi bị bắt và gửi trả về Mexico. Vào năm 1983, người ta bắt gặp một phụ nữ Tarahumara trong bộ váy truyền thống lòe xòe, đi lang thang trên một con phố tại Kansas; cô phải trải qua 12 năm trong một nhà thương điên trước khi một nhân viên xã hội nhận ra cô đang nói một thứ ngôn ngữ bị lãng quên, chứ không phải những lời lảm nhảm vô nghĩa.
“Anh có định chạy đua ở Mỹ không?” Tôi hỏi Arnulfo.
Anh tiếp tục nhai chanh và phun hạt. Một lúc sau, anh nhún vai.
“Anh có tiếp tục chạy ở Guachochi không?”
Nhai. Nhai. Nhún vai.
Giờ thì tôi đã hiểu ý của Carl Lumholtz khi nói về đàn ông Tarahumara, rằng họ rụt rè đến mức nếu không có bia thì bộ lạc này đã tuyệt chủng rồi. “Nghe có vẻ kỳ lạ,” Lumholtz kinh ngạc, “tôi không do dự gì khi tuyên bố rằng trong suốt quá trình tồn tại, đàn ông Tarahumara man mọi quá rụt rè và khép nép trong việc thực hiện đặc quyền trong hôn nhân; và chủ yếu nhờ có bia mà chủng tộc này vẫn còn tồn tại và tăng trưởng.” Dịch ra là: Đàn ông Tarahumara chẳng có nổi can đảm để có chút lãng mạn với vợ mình nếu như không dìm chết sự rụt rè trong món bia tự ủ.
Mãi sau này tôi mới biết mình đã tự làm hỏng việc khi mắc lỗi ngớ ngẩn thứ hai trong lúc làm thân với anh: Tra hỏi như cảnh sát. Không phải Arnulfo đang im lặng một cách khiếm nhã; mà chính tràng câu hỏi của tôi làm anh sợ. Đối với người Tarahumara, đặt câu hỏi trực diện là thể hiện quyền lực, là đòi hỏi sự sở hữu trong đầu họ. Họ chắc chắn sẽ không đột ngột mở lòng và chia sẻ bí mật với người lạ. Người lạ chính là lý do khiến người Tarahumra lẩn trốn tận nơi đây. Lần gần đây nhất người Tarahumara cởi mở với thế giới bên ngoài, thì thế giới bên ngoài đã xiềng xích họ và cắm đầu họ trên các cọc cao gần ba mét. Những người Tây Ban Nha đi tìm bạc chiếm cả đất đai và sức lao động của người Tarahumara – bằng cách chặt đầu tù trưởng của họ.
“Người Rarámuri đã bị quây lại như lũ ngựa hoang và bị bắt làm nô lệ trong hầm mỏ.” Một sử gia viết. Bất kỳ ai chống đối sẽ bị sử dụng trong màn diễn trò kinh dị. Trước khi chết, tù nhân Tarahumara sẽ bị tra tấn để lấy thông tin. Đó là tất cả những gì người Tarahumara sống sót cần biết về chuyện sẽ xảy ra khi có người lạ hiếu kỳ tìm đến.
Mối liên hệ giữa người Tarahumara và phần còn lại của thế giới sau đó còn tệ hại hơn nữa. Những thợ săn tiền thưởng miền Viễn Tây được trả 100 đô-la cho mỗi mảng da đầu của người Apache, nhưng không lâu sau, chúng nghĩ ra một cách tàn độc để tối đa hóa tiền thưởng và tối thiểu hóa rủi ro. Thay vì gây sự với những chiến binh có khả năng chống trả, chúng thảm sát người Tarahumara không có sức chống cự và đổi tiền thưởng bằng các mảng da đầu của họ.
Người tốt thậm chí còn gieo rắc chết chóc nhiều hơn cả kẻ xấu. Các giáo sĩ dòng Tên với Kinh Thánh trên tay và bệnh cúm trong phổi, hứa hẹn về cuộc sống vĩnh hằng nhưng lại phát tán cái chết tức thì. Người Tarahumara không có kháng thể của bệnh này, nên dịch cúm Tây Ban Nha lan nhanh còn hơn lửa cháy, quét sạch các ngôi làng chỉ trong ít ngày. Một thợ săn Tarahumara rời nhà đi săn trong một tuần, khi quay lại chỉ thấy thây ma và ruồi nhặng.
Không khó lý giải sự bất tin tưởng của người Tarahumara đối với người lạ lại kéo dài 400 năm và đưa họ tới đây, nơi trú ẩn tận đáy cùng Trái đất. Cũng vì vậy, vốn từ vựng miêu tả con người của họ cũng bị cắt xén triệt để. Trong tiếng Tarahumara, chỉ có hai loại người: Rarámuri, người chạy trốn khỏi rắc rối và chabochi, người gây ra rắc rối. Đó là một cách nhìn cay nghiệt với thế giới, nhưng với sáu xác chết bị ném xuống thung lũng mỗi tuần, thì khó lòng phán xét họ sai.
Đối với Arnulfo, anh đã làm đúng phép xã giao khi mang chanh tới. Anh đã đảm bảo rằng những người khách phương xa được nghỉ ngơi và phục hồi sức khỏe, rồi sau đó, anh lại thu mình lại theo cách mà bộ lạc vẫn lánh vào thung lũng. Tôi có thể ngồi cả ngày và truy vấn anh đủ kiểu. Nhưng tôi sẽ không tài nào hiểu được anh.