Bố Con Cá Gai - Cho Chang-In - Chương 3.1
Mẹ Seong Ho nhìn tôi chăm chú hồi lâu. Cô ấy nhìn tôi với dáng vẻ như một quả bóng bay bị xẹp mất gần nửa. Chắc là Seong Ho lại làm cho mẹ cậu ta buồn rồi. Tôi đoán cậu ta đã nổi nóng rồi cứ hễ vớ được cái gì là ném cái ấy đây mà.
Tôi lưỡng lự không biết có nên bắt chuyện trước hay không. Vì tôi cũng tò mò về tình hình Seong Ho. Nhưng dù sao cố nhịn thì có vẻ tốt hơn.
Sau khi Seong Ho rời khỏi phòng 201 thì tôi không hề có tin tức gì về cậu ta cả.
Đó là một đêm tĩnh lặng. Tôi giật mình tỉnh giấc vì tiếng hét thất thanh. Seong Ho à, con tỉnh lại đi! Mẹ Seong Ho thét lên, cậu ta đang nằm thì bỗng vọt dậy như chơi nhảy cao. Từ miệng Seong Ho, bong bóng phun ra như từ miệng con còng ở dưới bùn ấy.
Các bác sĩ chạy đến, và Seong Ho nhanh chóng được chuyển đến phòng chăm sóc đặc biệt.
Tôi cũng đã từng đến phòng chăm sóc đặc biệt hai lần. Lần đó, đột nhiên tôi bị bất tỉnh, lúc mở mắt ra thì đã thấy mình đang trần như nhộng nằm trong phòng chăm sóc đặc biệt. Nhưng chỉ sau một đêm, rồi hai đêm là tôi lại được quay về lại phòng bệnh thông thường.
Đến ngày thứ năm rồi mà vẫn không thấy tin tức gì của Seong Ho, chỉ thấy mẹ cậu ta quay trở về phòng bệnh.
Tôi đã có suy nghĩ rằng biết đâu sẽ không được gặp lại Seong Ho nữa. Thế là từ hôm qua, tôi cứ hối hận mãi. Tôi đã cầu được Chúa Jesus tha thứ. Về việc tôi đã ghét Seong Ho.
Seong Ho vừa ngốc nghếch, vừa bướng bỉnh, rồi động một cái là lại đánh vào đầu tôi, nhưng mà cũng có nhiều điểm tốt lắm. Đó là khi tôi rất đau. Tôi nhớ là Seong Ho đã nắm tay tôi thật chặt. Lúc đó cậu ấy còn lén giấu chị y tá uống cả thuốc thay tôi. Tôi biết là thuốc sẽ giúp mình đỡ bệnh, cả Seong Ho nữa. Nhưng mà thứ làm cho chúng tôi đau ngay lập tức cũng chính là thuốc.
Mấy ngày trước khi Seong Ho bị chuyển đến phòng chăm sóc đặc biệt, hai đứa bọn tôi đã hứa với nhau rằng khi xuất viện sẽ cùng nhau đến chơi công viên Everland. Seong Ho chắc chắn sẽ thích mê những trò đu quay hay tàu lượn. Còn tôi thì thích xem biểu diễn hải cẩu hơn.
Chỉ cần ngủ ở đây thêm năm đêm nữa thôi là tôi được xuất viện rồi.
Bố đã hỏi tôi muốn đi đâu sau khi xuất viện. Dạo này bỏ rất hay hỏi kiểu như vậy. Nào là con thích ăn gì, con muốn có cái gì, con thích làm gì?
Tôi muốn đến biển. Hồi học mẫu giáo tôi từng được đi nghỉ hè ở biển Dong Hae. Bố đã hứa nhân dịp tôi được xuất viện sẽ đưa tôi đến biển Dong Hae chơi. Mỗi khi đau đến phát khóc, nghĩ tới lời hứa của bố tôi lại cố gắng chịu đựng.
Từ sau khi mẹ ra đi, tôi không còn được đến biển nữa. Thật ra là vì tôi cứ ốm mãi nên mới không đi được, chứ cũng không thể nói là tại mẹ.
Phải rồi. Dù mẹ có ở bên cạnh chúng tôi thì hẳn cũng không có gì đổi khác. Không chỉ biển mà tất cả mọi thứ. Một khi nào đó gặp lại mẹ, nhất định tôi sẽ phải nói cho mẹ biết sự thật này. Chắc là mẹ sẽ hiểu ngay điều tôi muốn nói thôi. Và biết đâu mẹ lại hối hận cũng nên. Rồi biết đâu mẹ lại xin chúng tôi tha thứ cho mẹ nữa.
Việc đó thật sự sẽ xảy ra chứ? Tôi đang phân vân nếu việc đó xảy ra thật thì tôi phải làm thế nào. Thực ra đó cũng không phải là vấn đề đáng phân vân. Bố nghĩ thế nào mới là quan trọng. Nếu mà bố “gật” thì tôi cũng “gật” thôi. Nhưng nếu mà bố nói không muốn sống cùng mẹ nữa thì tôi cũng vậy.
Mẹ Seong Ho lấy trong túi đựng đồ mua sắm ra một chiếc hộp thật to rồi đặt ở cạnh đầu giường tôi. Đó là bộ Lego cướp biển. Thứ mà Seong Ho quý nhất đây mà.
“Seong Ho nói rằng đây là quà tặng cho Daum.”
Trong lòng tôi như thể có một hòn đá rơi cái tõm.
Một cảm giác thẫn thờ như thể có ai đó vừa lấy cắp mất tất cả mọi suy nghĩ trong cái túi đựng suy nghĩ của tôi ấy.
Hay là Seong Ho chán chơi Lego rồi nhỉ? Hay là nó muốn tặng tôi – bạn nó, một món quà quý giá? Rốt cuộc là Seong Ho nghĩ gì chứ, tôi không thể nào hiểu nổi.
Phải mãi sau tôi mới mở miệng hỏi đầy khó khăn.
“Seong Ho thì sao ạ?”
“Seong Ho nhà cô xuất viện rồi. Nó xuất viện vội quá nên không kịp chào cháu. Nó muốn cô chuyển đến cháu lời xin lỗi.”
Mẹ của Seong Ho nói rất khẽ và chậm rãi nhưng rõ ràng là cô đang run.
“Bệnh của bạn ấy đã đỡ hẳn rồi chứ ạ?”
“Tất nhiên rồi, đã đỡ hẳn rồi. Daum cũng phải chịu khó uống thuốc cho chóng khỏe để còn xuất viện nhé.”
“Giống Seong Ho ấy ạ?”
“Đúng rồi, giống Seong Ho.”
Mẹ Seong Ho vừa nói vừa gật đầu lia lịa. Giống như con châu chấu bị buộc chân sau lại vậy. Rồi cô bỗng ôm chầm lấy tôi.
“Daum à, Daum nhất định phải khỏe trở lại nhé. Dù có việc gì xảy ra đi chăng nữa, dù có việc gì xảy ra đi nữa… Daum đừng làm bố buồn nhé.”
Tôi cảm nhận được một giọt nước mắt âm ấm rơi trên cái đầu bóng loáng của mình. Rồi lại một giọt, một giọt nữa.
Không biết đã bao lâu trôi qua. Trong thời gian đó tôi đã suy nghĩ lung lắm. Dù chỉ là một lát thôi, giá như tôi là Seong Ho thì tốt biết mấy. Nếu thế thì mẹ của Seong Ho sẽ không phải khóc nữa.
Mẹ Seong Ho vuốt ve má tôi hồi lâu rồi đứng dậy. Và đi xa dần.
“Cô ơi!”
Mẹ Seong Ho dừng bước nhưng không quay đầu lại. Chắc là vì không muốn để lộ điều gì đó với tôi.
Tôi có rất nhiều điều muốn nói. Với Seong Ho và với cả mẹ của Seong Ho nữa. Nhưng ngay lúc này thì tôi không nghĩ ra được gì. Tôi ngắc ngứ mãi mới nặn ra được một câu.
“Cô nói với Seong Ho… là cháu cảm ơn bạn ấy vì bộ Lego nhé.”
Có lẽ tôi sẽ không được gặp lại Seong Ho nữa nên chắc cũng sẽ không có chuyện tôi được gặp lại mẹ Seong Ho đâu. Tuy đã có bộ Lego cướp biển ở lại thay cậu ấy nhưng không biết là sau này tôi có thể chơi Lego nữa hay không. Và tốt hơn hết là tôi cũng nên quên lời hứa sẽ cùng Seong Ho đến Everland đi.
Nếu cứ nhìn hộp Lego thì chắc tôi sẽ lại rơi nước mắt. Thế là tôi liền nhắm mắt lại.
Bắt đầu từ bây giờ, ngày ngày tôi sẽ cầu nguyện cho Seong Ho. Tuy rằng không tin vào Chúa thì sẽ không được lên thiên đàng đâu, nhưng chắc là Seong Ho sẽ được đặc cách thôi mà. Tôi nghĩ rằng Seong Ho hoàn toàn xứng đáng được lên thiên đàng. Vì cậu ấy đã phải chịu đau đớn suốt trên mặt đất này rồi. Và việc bị mắc bệnh cũng đâu phải tại Seong Ho.
—
Đồ đạc chuyển đi chẳng có gì.
Sau khi anh chuyển đồ điện tử gia dụng và đồ nội thất trong nhà tới trung tâm mua bán đồ cũ, còn lại phần lớn đều là những đồ bỏ đi. Ngay sau khi nhận tin từ chủ nhà, anh đã mua chiếc xe ô tô Hyundai Grace đời 1990 với giá năm trăm nghìn won. Tất cả đồ đạc cần chuyển đi chất vừa trong chiếc xe Grace ấy.
Như thể anh đang quay ngược trở lại quãng thời gian xa xôi ngày xưa. Khi anh ra khỏi cô nhi viện và đặt bước chân đầu tiên trên mảnh đất Seoul. Đó là những tháng ngày anh đi lang thang khổ sở khắp chỗ này chỗ kia để tìm việc. Nhưng dù thế đó vẫn là thời kỳ mà niềm hy vọng luôn lấp lánh trong anh như ngọn đèn hải đăng hướng về biển xa.
Lẽ ra phải quay trở lại như thời đó, nhưng giờ đây thì không tồn tại cái gọi là hy vọng nữa rồi. Không biết có phải ngay từ đầu, hy vọng đã là phần bị xóa bỏ trong cuộc sống của anh và đứa trẻ hay không? Ngày trước anh không hề hay biết, đến khi hiểu ra thì đã quá muộn.
Cho đến chừng nào thời gian còn lại của đứa trẻ cho phép, dù thế nào, anh cũng sẽ phải sống. Anh không còn lý do gì để mong mỏi vào những ngày xa xôi sau này với một danh từ trừu tượng là hy vọng. Chỉ cần được sống ngày hôm nay là đủ rồi. Và chỉ cần được nắm tay bên nhau vào giây phút cuối cùng trên mặt đất này là được rồi. Anh đã nghĩ rằng nếu như giây phút đó tĩnh lặng, không phải oằn mình vì đau đớn thì thật tốt. Rằng giây phút đó lặng lẽ và âm thầm đến như thể bông tuyết rơi giữa đêm khuya thì thật tốt biết mấy.
Anh thở hắt ra rồi lại cuốn vào việc sắp xếp đồ đạc.
Anh cầm trên tay chiếc áo khoác của đứa trẻ. Đó là chiếc áo mà mùa đông năm ngoái, sau khi được bác sĩ chẩn đoán đã chữa khỏi hoàn toàn, anh đã dẫn đứa trẻ đến trung tâm thương mại và chi ra số tiền bằng một bộ âu phục cao cấp để mua với một tâm trạng như thể được thoát ra khỏi đường hầm tuyệt vọng. Tuy rộng lùng thùng nhưng chiếc áo khoác rất hợp với đứa trẻ, và rõ ràng là nó không thể không thích được.
Không biết liệu cái ngày mà đứa trẻ được mặc lại chiếc áo khoác này có đến hay không? Chỉ còn mấy tháng nữa thôi là tới mùa đông mà cứ ngỡ xa xôi hơn cả nghìn năm vậy. Nhưng anh cũng không thể cho chiếc áo vào túi rác được. Bắt đầu từ chiếc áo khoác, anh sắp xếp quần áo mùa đông của đứa trẻ vào trong thùng, không bỏ sót thứ nào. Anh chỉ bỏ hết quần áo mùa đông của mình đi.
Sau khi anh sắp xếp xong thì chỉ còn lại ba cái thùng. Nếu như những thứ khiến ta lưu luyến trên thế gian này đều có thể sắp xếp được một cách đơn giản như thế thì có lẽ cái chết cũng không phải là điều quá khó khăn.
Hai thùng chứa đầy quần áo của đứa trẻ, sách truyện và đồ chơi. Còn lại một thùng nữa nhưng cũng không phải của anh. Đó là quần áo của người vợ mà sau khoảng ba bốn lần chuyển nhà anh vẫn không thể nào bỏ đi được, và lần này anh định sẽ mang trả lại cho chủ nhân của nó.
Việc phải đối diện với người vợ, nếu có thể thì anh muốn tránh bằng được. Đó là quyền lợi chính đáng của anh. Như người ta nói rằng cho dù vết thương có sâu đến mấy thì năm tháng qua đi cũng sẽ lên da non. Nếu khuôn mặt ấy bây giờ anh đã chôn chặt trong trái tim, thì cho đến tận giây phút cuối cùng anh cũng có thể như vậy. Cái thời nhớ nhung, luyến tiếc và mong mỏi ngày xưa đã qua rồi. Nhưng sau khi biết người vợ đã quay trở về, một lần nữa anh lại như con thuyền chao đảo giữa biển khơi trong cơn sóng gió.
Việc gặp mẹ là quyền của đứa trẻ. Cái ngày mà đứa trẻ lớn lên rồi tự mình đi tìm kiếm sự tồn tại của người mẹ có lẽ sẽ không đến. Hơn nữa, rõ ràng là người vợ cũng có cái quyền ấy. Dù chính cô lựa chọn rời xa đứa trẻ, nhưng có thể một lúc nào đó ở nơi xứ người xa xôi cô cũng đã thở dài.
Tối qua trong lúc hai bố con cùng chơi cờ vua, anh đã hỏi nhỏ đứa trẻ:
“Con không nhớ mẹ à?”
Đứa trẻ không trả lời. Nó chỉ nhìn anh ngơ ngác. Giáo viên chủ nhiệm của nó đã từng nói nó là một đứa trẻ thông minh, có trí tưởng tượng vô cùng phong phú, nhưng thỉnh thoảng không hiểu vì sao lại có cái vẻ thẫn thờ ngơ ngác như người mất hồn.
Anh không nói với đứa trẻ về chuyện xảy ra giữa anh và người vợ. Nhưng nó là một đứa trẻ lanh lợi, và nó cũng chẳng bao giờ nhắc tới mẹ.
“Mẹ đã trở về từ Pháp rồi đấy.”
Đứa trẻ cúi đầu rồi tiếp tục xếp những quân cờ lên bàn cờ.
“Con sẽ gặp mẹ chứ?”
Mãi sau, xếp xong quân cờ cuối cùng, đứa trẻ mới hỏi lại.
“Bố thì sao ạ?”
“Nếu mà Daum muốn gặp mẹ thì gặp chứ. Suy nghĩ của bố không quan trọng.”
“Con gì chứ, bố mới là quan trọng. Với lại con ấy à, con không muốn gặp mẹ.”
“Chắc là mẹ nhớ Daum lắm đấy.”
“Không. Bố sai rồi. Mẹ không nhớ con đâu.”
Đứa trẻ sắp xếp thế cờ tuyên chiến rồi lắc đầu. Nó lắc đầu quả quyết như thể một chiến binh giật gươm đi tiên phong công kích.
Nhưng đứa trẻ đã thua. Dù năng lực đánh cờ của nó cũng không đến nỗi nào nhưng nó vẫn bị thua chỉ vì chút mánh khóe cỏn con. Đứa trẻ liền ngay lập tức nổi giận đến trào nước mắt. Như thể nó tự trách mình ngay cả thế cờ đơn giản thế cũng không đọc ra được.
Đêm qua anh cứ mê man trong một giấc ngủ đầy mộng mị. Anh đã mơ về người vợ.
Trong mơ người vợ rất đẹp. Vẻ đẹp rạng ngời như thuở cô mới hai mươi hai tuổi lần đầu gặp anh. Không rõ một lúc nào đó trong giấc mơ, anh đã vùi mặt vào gối khóc rồi tỉnh giấc.
—
Năm ấy anh vừa quay trở lại trường học tiếp năm thứ tư đại học sau khi hoàn thành quãng thời gian phục vụ trong lực lượng thủy quân lục chiến. Một người con gái đã tìm đến với anh – khi đó đã hai mươi sáu tuổi, nhưng vẫn chưa hề có kinh nghiệm yêu đương, dù chỉ là yêu đơn phương.
Chuyện là người bạn cùng câu lạc bộ đã gửi bài thơ của anh tới cuộc thi sáng tác văn học do tờ báo của trường đứng ra tổ chức. Và thế là một cô gái học khoa Hội họa bèn vẽ tranh minh họa cho bài thơ của anh được đăng trên báo.
Người con gái nói rằng vì yêu thích bài thơ của anh nên đã thức trắng liền hai đêm để vẽ tranh minh họa cho nó. Anh cho cô xem cả những bài thơ khác mà anh đã viết, bởi vì cô muốn thế. Kể từ sau đó, người con gái thường xuyên tìm đến anh. Vì trời mưa hay vì gió thổi, vì muốn uống cà phê, rồi cả những lúc chẳng hiểu vì sao cô thấy buồn… Vậy là những cuộc gặp gỡ giữa hai người diễn ra nhiều hơn, và lần đầu tiên anh đã rơi vào cái cảm xúc thật kỳ diệu mang tên tình yêu. Thời gian dần trôi, những cuộc gặp gỡ cứ ngày một nhiều thêm, cuối cùng người con gái đó đã trở thành vợ anh.
Cô đã nhiều lần đấu tranh căng thẳng nhưng vẫn không được gia đình đồng ý cho kết hôn với anh. Lễ cưới của hai người vì lẽ đó mà ảm đạm một cách khủng khiếp. Đến cuối cùng, người bố vợ, vốn là một cựu chủ tịch tỉnh, vẫn cương quyết không tới dự, còn mẹ vợ thì khóc từ đầu đến cuối như thể nhầm lễ cưới thành lễ tang.
Trong chuyến du lịch trăng mật, người vợ đã tuyên bố đoạn tuyệt gia đình thân thích. Nhưng với người vốn chưa từng quen với cuộc sống bình dân của số đông như vợ anh, thì có lẽ đấy mới chỉ là khởi đầu của nghịch cảnh. Khi đó anh còn đang làm việc ở ban biên tập tạp chí Văn nghệ tháng, và người vợ không thể hiểu nổi tại sao anh có thể sống sót qua nổi một tháng với đồng lương còm cõi như vậy. Thời gian dần trôi và cô bắt đầu giận dữ.
“Tôi chưa bao giờ phải lo lắng về tiền bạc và sống một cách nhếch nhác như thế này.”
Anh đã chuyển ngay sang làm phóng viên tạp chí Phụ nữ với tiền lương gấp đôi. Thỉnh thoảng anh còn giấu tên thật viết bài để gửi ra bên ngoài, hoặc làm công việc biên dịch, nhờ vậy mà cuộc sống khấm khá hơn trước. Dù con đường văn chương đã dần trở nên mờ mịt như thể khoảng cách từ trái đất tới mặt trăng, nhưng không vì khoảng cách đó mà anh cảm thấy mất mát. Bởi đã có người vợ là ngọn đồi mới để anh tựa vào. Cô là ý nghĩa cuộc sống và là ngọn cờ cứu rỗi của anh.
Mỗi khi nảy ra ý thơ, và để tìm cảm hứng gọt giũa thành một áng thơ, anh đều phải thức trắng đêm, đến không có cả một chút rảnh rỗi. Và anh đã nghĩ rằng dù có không viết thơ đi chăng nữa thì đời cũng chẳng thiếu thơ. Vì còn có biết bao nhiêu nhà thơ trên đời, chỉ mỗi mình anh không viết thơ nữa thì cũng có sao đâu.
Người vợ thì khác. Cô khổ sở day dứt với khát khao được vẽ tranh. Khi đứa trẻ ra đời, niềm khát khao của cô tưởng đã cạn bớt nhưng không được lâu. Vì mày mà mẹ không thể làm được việc mẹ muốn làm. Người vợ bắt đầu than phiền với đứa trẻ. Và cũng không có ngoại lệ nào cho anh – chồng của cô. Gặp anh rồi đời tôi thành ra thế này đây?
Yêu một người cũng đồng nghĩa với hối hận. Nhưng vì sợ phải hối hận mà không yêu thì cũng đau khổ vậy thôi. Ý nghĩ này biết đâu đã trở thành niềm an ủi lớn lao đối với người vợ.
Shakespeare đã nói. Rằng hôn nhân là đứng từ bên ngoài nhìn vào bên trong cánh cửa nhưng thực chất bên trong cánh cửa chẳng có gì cả.
Anh từng hối hận vì đã kết hôn. Nhưng không phải hối hận vì đã chọn người vợ làm bạn đời. Mà chỉ gần giống với tâm tư của một người hành hương mỏi mệt trong giây lát ngoái nhìn lại phía sau, và cũng là mâu thuẫn mang tính định mệnh của bất cứ người làm chủ gia đình nào, phải chịu trách nhiệm đối với gia đình của mình.
Sau sinh nhật ba tuổi của đứa trẻ thì người vợ tiếp tục học tiếp cao học. Và cô vùi đầu vào vẽ tranh như thể giải tỏa cơn khát suốt mấy năm qua. Phòng đọc của anh trở thành phòng vẽ của cô, và cô cũng thường xuyên thức đêm làm việc trong xưởng vẽ của bạn. Khoảng thời gian đó cô bắt đầu qua lại nhà bố mẹ đẻ.
Những ngày mà cô đưa đứa trẻ đến nhà trẻ trước khi đi làm và đón nó về sau khi tan làm ngày càng trở nên hiếm hoi. Đứa trẻ cũng trở nên lầm lì hơn, và nó đã quen dần với việc chơi một mình. Một ngày nọ đứa trẻ tiến về phía anh, xoa lưng anh rồi quay đi không nói một lời.
“Hình như Daum có điều gì muốn nói với bố đúng không?”
Đứa trẻ cười rồi lắc đầu. Hình như đứa trẻ muốn xác nhận sự thật là nó có bố nó bên cạnh, bằng việc xoa nhẹ lên lưng bố nó một lần như thế. Đó là lần đầu tiên hai vợ chồng anh cãi nhau. Vì anh có cảm giác đứa trẻ đang trải qua quãng thời gian niên thiếu khó khăn mà anh từng phải chịu đựng.
Đó là đêm người vợ trở về từ chuyến đi vẽ phác thảo năm ngày bốn đêm ở núi Seorak.
Anh đưa cốc nước cà chua cho người vợ, khi ấy vừa tắm xong và ngồi bên bàn ăn. Người vợ uống một hơi hết cốc nước, nhìn chằm chằm hồi lâu vào cái cốc thủy tinh còn dính một chút cặn cà chua rồi mở lời.
“Tôi đã nghĩ rồi, có lẽ chúng ta nên chia tay thì hơn.”
Tiếng chiếc tủ lạnh cũ kỹ nghe ong ong như bản Chuyến bay của chú ong vàng của Rimskiy-Korsakov, nồi canh đặt trên bếp ga trượt rồi đổ xuống đất.
“Chúng ta ly hôn đi.”
Cửa phòng đứa trẻ mở ra. Đứa trẻ nhìn chằm chằm vào họ rồi đóng cửa lại. Anh nhìn trân trân vào phòng đứa trẻ rồi hỏi:
“Tại sao em lại có ý nghĩ đó?”
“… Tôi có người khác rồi.”
Anh không hề ngạc nhiên. À không, ít ra thì anh cũng không để lộ thái độ ngạc nhiên. Không biết đó có phải là một kiểu ngạo mạn, rằng việc như thế không đáng để anh phải ngạc nhiên hay không.
“Anh muốn nói gì thì cứ nói đi.”
Người vợ cúi đầu nói. Hàng mi dài của cô rủ xuống đổ bóng quanh viền mắt. Anh nhìn bàn tay của vợ ở phía bên kia chiếc cốc thủy tinh còn dính những vết cặn nước cà chua. Người vợ đang lấy ngón tay cái và ngón tay trỏ bên trái chầm chậm xoay xoay chiếc nhẫn ở ngón tay đeo nhẫn bên phải. Đó là một chiếc nhẫn lạ.
“Là người như thế nào vậy?”
Người vợ vẫn tiếp tục xoay xoay chiếc nhẫn. Như thể Aladdin đánh mất đèn thần nên đang cố gắng triệu tập nàng tiên trong chiếc nhẫn.
Đột nhiên người vợ có vẻ thật đáng thương. Mà biết đâu chính anh mới là kẻ đáng thương. Có lẽ là như vậy. Nhưng dẫu sao, trong mắt anh hình ảnh của người vợ khi ấy quả thực tội nghiệp đến mức khiến anh ái ngại.
Thật sự thì anh không tò mò xem đó là người như thế nào nên anh cũng không có lý do gì để đưa ra câu hỏi như thế. Bởi từ trước đó người vợ cũng đã lạnh nhạt với anh rồi. Anh chỉ muốn hỏi một điều. Rằng đối với người vợ thì anh là gì?
Khi ấy đối với người vợ, sự tồn tại của người chồng đã chỉ còn là vùng đất bỏ hoang, mà biết đâu đã chỉ là một cây dương bị thiêu rụi. Suối nguồn của tình yêu đã cạn kiệt, ngọn lửa của tình yêu cũng đã tàn lụi. Cho dù người chồng vẫn yêu thương người vợ, hay cho dù anh đã cố gắng hết sức trong vai trò người chồng đi chăng nữa… thì dường như khi ấy ánh mắt người vợ đã hướng về một phương trời khác rồi.
Ly hôn, anh đã sớm có dự cảm rằng đây là việc không thể tránh khỏi.
Lỗi tại ai? Tại người vợ đã có người khác? Hay tại anh đã không thể mang lại cho cô những gì mà một người đàn ông cần phải làm được? Bản thân anh, là người gây hại, hay là người bị hại? Còn người vợ thì sao…
Ôi chao, điều đó thì nghĩa lý gì cơ chứ.
Tôi đã có người khác. Vì thế chúng ta ly hôn thôi. Người vợ đã nói thật đơn giản. Có lẽ điều đó một phần cũng là nghĩ cho đối phương. Ít nhiều thì có vẻ như nó đã giúp anh thoát khỏi những phán đoán hay suy diễn không cần thiết.
Dù thế nhưng anh đã không chấp nhận ly hôn. Anh không muốn để mất người vợ. Không muốn làm đổ vỡ tổ ấm mang tên gia đình. Anh không muốn phủ nhận hết những tháng ngày trong suốt sáu năm chung sống, cùng với người vợ xây dựng nên một gia đình. Hơn nữa họ còn có đứa trẻ. Việc ly hôn của bố mẹ sẽ trở thành vết thương lòng, đeo bám đứa trẻ suốt cả cuộc đời.
Người vợ lập tức phản đối.
“Tôi đã nói rồi, đây là việc tôi suy nghĩ rất lâu mới đưa ra quyết định.”
“Nếu vậy chẳng phải em cũng cần cho anh thời gian để suy nghĩ và quyết định hay sao.”
Người vợ trở về nhà bố mẹ đẻ, bắt đầu việc ly thân một cách tự nhiên, rồi nhanh chóng sang Pháp. Cùng với vị họa sĩ khá nổi tiếng vốn là thầy dạy cô ở trường đại học. Sau đó anh không nhận được bất kỳ tin tức, hay một tín hiệu gì từ cô. Biết đâu đó cũng chính là vì cô muốn cho anh thời gian như anh đã yêu cầu.
Rõ ràng anh đã đón nhận sự ra đi của người vợ trong im lặng. Cho đến khi đứa trẻ được chẩn đoán mắc bệnh máu trắng.
Anh đã viết một bức thư dài cho người vợ.
Anh đã viết cụ thể về tình trạng của đứa trẻ. Cuối thư, anh thổ lộ rằng anh không hiểu điều gì đã khiến họ thành ra như thế này.
Tuy không ép nhưng anh cũng đã tin chắc điều này sẽ khiến người vợ quay trở về. Và anh mong đợi rằng trên đoạn đường gian truân này của cuộc đời, họ sẽ lại đứng bên nhau với danh nghĩa vợ chồng.
Một tháng trôi qua, vị luật sư đại diện cho người vợ đến gặp anh.
Anh im lặng đóng dấu vào giấy tờ ly hôn. Thay vào đó, dù không yêu cầu, nhưng anh đã nhận được giấy cam kết từ bỏ quyền nuôi con có chữ ký của người vợ do chính tay cô viết. Ngay trước khi chia tay, vị luật sư hỏi rằng nội dung của bức thư có phải là sự thật hay không. Trong thư có viết đứa trẻ đang phải chiến đấu với bệnh tật. Anh đã trả lời rằng đó là sự thật nhưng đứa trẻ đã được chữa trị khỏi hẳn rồi. Đó là khi đứa trẻ đang nằm viện.