Bố Con Cá Gai - Cho Chang-In - Chương 3.2
Anh đã cắt tóc, tắm rửa, đeo cà vạt, và còn chuẩn bị cả lẵng hoa nữa.
Giờ chỉ cần băng qua đường rồi tiến vào phòng tranh, người vợ sẽ ở đó, tất cả những gì anh cần làm tiếp theo là mỉm cười, thế là đủ rồi. Một việc hết sức đơn giản. Giống như tình cờ gặp lại người bạn cũ lâu ngày không gặp mà thôi. Thế nhưng anh đứng sững ở đó, phơi mình ra dưới ánh nắng gay gắt giữa trưa, liên tục đưa tay lau mồ hôi ướt đẫm trên trán.
Thật là một ngày nóng khủng khiếp. Đến làn gió thổi qua cũng hầm hập như thể thoát ra từ một cái nồi đang sùng sục sôi.
Anh thở hắt ra một hơi thật dài rồi cất bước. Từ lúc băng qua đường cho đến tận khi đến trước cửa phòng tranh, anh cứ nhai đi nhai lại câu nói trong lòng. Hãy chấp nhận khoảng cách với người vợ. Hãy chỉ nghĩ đến quyền được gặp mẹ của đứa trẻ.
Anh đẩy tấm cửa kính có dán tấm poster với dòng chữ “Triển lãm tranh của Ha Ae Ri”. Một cô gái tầm đôi mươi mặc hanbok đứng dậy chống hai tay xuống bàn tiếp đón.
Không có người vợ ở đó. Ngoài cô gái nọ thì anh không nhìn thấy bất cứ ai. Trong căn phòng triển lãm rộng khoảng hơn 50 pyeong văng vẳng bản nhạc Bức tranh trong buổi triển lãm của Mussorgsky, như chiếc lá úa rơi trên dòng suối.
Đó đã là ngày thứ ba của buổi triển lãm, hơn nữa lúc này lại là giữa trưa vô cùng nóng nực. Vào ngày như thế này thì dù có là con kiến chăm chỉ cần cù đến mấy chắc chắn cũng sẽ ngồi vắt chân sâu trong hang, nhâm nhi cốc trà chanh mát lạnh mà thôi. Vì thế mà việc không có khách không phải là do người vợ, anh đã nghĩ như vậy.
“Cảm ơn anh đã đến.”
Cô gái nói. Khi anh đưa lẵng hoa ra, cô gái vừa lặp lại câu nói tương tự, vừa mở tập danh sách những người đến tham dự xoay về phía anh.
Không biết liệu người vợ sẽ đón nhận việc anh để lại tên trên danh sách như thế nào? Liệu cô có vui không? Chí ít thì cô cũng sẽ chào đón anh chứ? Hay chỉ nhìn anh như thể một chú chó con dưới mái hiên nhìn về ngọn núi xa xăm nơi mặt trời đang lặn? Anh nhìn giây lát vào khoảng trống trong danh sách rồi nói với cô gái trẻ:
“Tôi không thấy cô Ha Ae Ri đâu nhỉ.”
“Chị ấy đang ra ngoài ăn trưa ạ. Chắc sẽ sớm quay lại thôi.”
Anh rời khỏi chỗ cô gái rồi bắt đầu đi loanh quanh xem xét những bức tranh. Một tay anh kẹp vào bên nách, tay còn lại chống cằm.
Đó là một buổi triển lãm đa dạng từ tác phẩm nhỏ đến cả các tác phẩm lớn. Phần lớn đều là tranh phong cảnh theo lối tả thực, và là những bức tranh mang hơi hướng tươi vui.
Bỗng lời người vợ từng nói khi vào học cao học vang lên trong đầu anh.
“Từ giờ em sẽ nghiêm khắc với bản thân mình. Em không muốn mình bị việc này hay việc kia cuốn đi nữa.”
Người vợ đã nói một cách quả quyết như một chiến binh đang đối diện với giây phút quyết định, và sau nhiều năm trôi qua, nay cô trở về cùng với kết quả của sự nghiêm khắc đó. Người vợ là người mang trong mình khát vọng mãnh liệt hơn là tài năng nổi trội. Đại bộ phận những người như thế thường than vãn về tài năng của mình và tự động từ bỏ đam mê. Còn người vợ lại là một thí dụ điển hình cho việc lấy khát vọng để khắc phục hạn chế của tài năng.
Nếu nói rằng vẽ tranh là toàn bộ cuộc sống thì có vẻ như người vợ đã sống một cuộc đời thành công. Dường như người vợ đã vui vẻ tận hưởng cuộc sống ấy. Tranh của cô trang nhã và dễ chịu. Nhưng vẫn không mang lại chút cảm hứng gì đặc biệt cho anh. Vì anh nghĩ rằng cuộc sống thành công thì có gì đặc biệt cơ chứ.
Bỗng một giây phút nào đó, anh quay đầu lại như thể mặt nước biển bị kéo lên bởi sức hút của vầng trăng.
Đó là người vợ.
Người vợ đang khoác tay một người đàn ông và nhìn anh chằm chằm. Còn đứng cạnh cô là một người đàn ông khoảng ngoài bốn lăm, đội mũ bê rê màu tím, miệng ngậm tẩu, như muốn cho cả thiên hạ biết mình là họa sĩ.
Anh nghĩ rằng mình phải cười. Giá có thể nở một nụ cười ấm áp nhất trên thế gian này thì tốt, nhưng rốt cuộc có cười được như ý muốn hay không thì anh cũng không chắc. Anh từ từ tiến về phía người vợ. Cảm giác như khoảng cách chừng không quá 10 mét còn xa xôi hơn cả quãng đương 42.195 kilômét một vận động viên marathon phải hoàn thành.
“Chúc mừng em. Thật vui vì gặp được em.”
“…”
“Tranh của em rất đẹp.”
“Có vẻ như thời gian vừa qua sở thích của anh cũng được nâng cao hơn rồi đấy nhỉ, cũng biết cảm thụ tranh cơ đấy?”
Anh gật đầu ba bốn lần trước câu hỏi lạnh lùng của người vợ. Không phải vì anh đồng ý với cô mà vì trong đầu anh đang nghĩ nên nói gì tiếp theo.
Anh đã tưởng rằng nếu gặp người vợ thì anh sẽ có vô số chuyện để nói. Giống như ngày xưa mỗi khi tan làm về, họ lại ngồi đối diện nhau bên bàn ăn, nhâm nhi tách trà ấm áp và cùng trò chuyện. Nhưng không phải vậy. Anh có cảm giác như thời gian đã làm cạn khô mọi lời nói, vì thế nên lúc này anh chỉ nhìn chằm chằm vào người vợ.
“Chẳng lẽ xuất hiện trước mặt tôi mà ăn mặc cho gọn gàng, chỉnh tề một chút thì anh sẽ phát bệnh hay sao?”
“Ý em là sao?”
“Anh già cỗi đến thế sao? Hay anh mới đi đâu tránh nắng về? Hay là anh có ý đồ gì mà lại cố tình xuất hiện trước mặt tôi với bộ dạng như vậy?”
Anh không nhớ hình ảnh của mình ba năm trước đây như thế nào. Nhưng dẫu sao nhìn vào gương anh cũng thấy mình đã có tóc bạc, khuôn mặt cũng đầy vẻ mệt mỏi. Dù đã tắm rửa và cắt tóc thì có vẻ trong con mắt của người vợ trông anh vẫn chẳng khá khẩm hơn chút nào.
Người đàn ông đứng bên cạnh người vợ thì thầm vào tai cô. Người vợ gật đầu rồi nói với anh:
“Có lẽ hai người nên chào nhau một chút. Đây là chồng tôi.”
Nói rồi người vợ đưa tay chỉ về người đàn ông. Không biết người vợ sẽ giới thiệu anh là gì đây? Hồi hộp một cách ngớ ngẩn, anh nuốt nước bọt khô khốc. Người vợ nhìn sang người đàn ông, anh ta liền đưa tay ra bắt tay anh không chút ngập ngừng.
“Tôi là Park In Seok.”
“Tôi là Jeong Ho Yeon.”
“Thỉnh thoảng tôi cũng nghe chuyện về anh Jeong.”
Ra vậy. Park In Seok, người thầy và cũng là họa sĩ mà người vợ kính trọng nhất. Nhưng sau cái đêm người vợ nói mình đã có người khác thì anh không nghe gì thêm về người này nữa. Mãi về sau, khi người vợ sang Pháp anh mới biết được rằng từ mối quan hệ thầy trò, họ đã trở thành tình nhân, rồi cuối cùng là vợ chồng.
“Nghe nói anh là nhà thơ?”
Park In Seok khẽ mỉm cười hỏi. Ngay tức khắc anh vội vàng đính chính mình chỉ từng làm thơ thôi. Nhưng đúng là lời nói vô nghĩa. Vì biết đâu Park In Seok sẽ cho rằng chính vì sự ra đi của người vợ mà anh ngừng làm thơ.
Người vợ bước lên trước.
“Anh đến vì có chuyện gì muốn nói, hay chỉ vì phép lịch sự thôi? Nếu vì phép lịch sự thì tôi nghĩ thế là đủ rồi.”
“Anh có điều muốn nói.”
Anh vừa liếc nhìn Park In Seok thì người vợ đã hiểu ý ngay.
“Anh cứ nói luôn ở đây đi. Nếu là điều mà tôi cần nghe thì chồng tôi cũng phải được biết.”
Nói rồi người vợ vòng tay qua eo Park In Seok.
Cô đang mặc một chiếc váy sát nách màu xanh dương đậm, trên cổ là chuỗi ngọc trai quấn làm hai vòng một ngắn một dài. Thật đẹp. Như thể năm tháng chỉ lướt qua cô rồi trôi đi.
Anh nói, ánh mắt dừng lại ở chiếc vòng cổ lấp lánh.
“Nếu em gặp con thì thật tốt.”
Người vợ bỏ cánh tay đang ôm lấy Park In Seok ra rồi di di ngón trỏ vào vùng huyệt thái dương. Nếu người vợ vẫn còn giữ thói quen cũ thì hẳn là cô đang khổ sở với cơn đau đầu. Sau khoảng mười giây chìm vào suy nghĩ, người vợ nói:
“Tôi nói điều này có thể anh sẽ thấy thật buồn cười. Nhưng dù sao thì tôi đã luôn hy vọng anh và Daum có thể sống vui vẻ.”
“Cảm ơn em.”
“Vậy anh về đi. Sau này hãy sống thật tốt.”
“Anh đã nghĩ rằng em sẽ nhớ con chứ.”
“Anh còn giữ tờ giấy cam kết mà tôi đã gửi không?”
“Nếu anh tìm thì chắc cũng thấy nó ở đâu đó thôi.”
“Anh cứ đón nhận đúng như nội dung của tờ giấy đó là được. Bây giờ cũng thế. Giờ đây tôi có xuất hiện rồi nói là mẹ của nó thì cũng có ý nghĩa gì cơ chứ?”
“Con đang ốm rất nặng.”
“… Chẳng phải luật sư nói rằng nó đã được chữa khỏi hoàn toàn rồi hay sao?”
Anh biết phải kể về quá trình chiến đấu với bệnh tật của đứa trẻ trong suốt hai năm qua từ đâu, bằng cách nào, và như thế nào đây, liệu có thể kể hết ra được không? Nếu anh kể về chuỗi ngày sống trong tiếc nuối, nước mắt và tuyệt vọng thì người vợ có thể hiểu được không? Mà cho dù có hiểu đi chăng nữa, thì đúng như lời cô nói, liệu giờ có còn ý nghĩa gì nữa không?
Sau khi cho người vợ biết bệnh viện và phòng bệnh nơi đứa trẻ đang điều trị, anh nói thêm:
“Nếu em có ý định đến gặp con thì chỉ còn ba ngày thôi. Vì sau ba ngày nữa con sẽ xuất viện.”
“Anh nói là ốm nặng mà lại xuất viện? Tôi thật không hiểu những lời anh đâu mới là sự thật.”
Sự thật? Đột nhiên anh nhớ đứa trẻ đến đau nhói trong tim. Biết đâu đứa trẻ đang khóc một mình. Nếu nói đâu là sự thật vào lúc này thì chỉ có điều đó là thật mà thôi.
Đợt điều trị đã kết thúc cách đây năm ngày. Cuộc điều trị ấy vẫn diễn ra trong khi chẳng còn tia hy vọng nào nữa. Sau khi không có khả năng thực hiện việc cấy ghép tủy thì tất cả cố gắng chỉ nhằm giảm chỉ số bạch huyết cầu thôi. Đứa trẻ đang gắng chống đỡ lấy cơ thể đã gần như tan nát bằng việc dùng thuốc kháng ung thư.
Anh phải mau về thôi. Nếu ở đây thêm một lúc nữa thì chắc anh sẽ phải hối hận mất. Anh nói về gói quần áo của người vợ đang để trên chiếc xe Grace như là để chào tạm biệt lần cuối, người vợ lập tức trả lời:
“Buồn cười thật! Đến giờ mà anh vẫn còn giữ cơ à. Anh vứt đi ngay đi.”
“Vậy thì thế đi. Bỏ đi cũng không có gì khó khăn cả.”
Anh bắt tay Park In Seok. Nhưng việc thản nhiên bắt tay với người vợ giờ đã thuộc về kẻ khác thật không phải là việc anh có thể làm được.
Con đường vẫn ngập hơi nóng khủng khiếp. Anh nhìn đôi chim bồ câu đang nhảy loách choách trên vỉa hè rồi cất bước.
“Chờ chút đã.” Giọng nói của người vợ vang lên sau lưng anh.
“… Daum tìm tôi à?”
“Nó biết là mẹ nó đã về nước.”
Người vợ ngước nhìn lên bầu trời với ánh mắt phức tạp, rồi liền đó quay lưng lại.
—
Tạm biệt, tạm biệt, tạm biệt…
Cả vốc thuốc mà chỉ nhìn thôi đã thấy chán, cả vụ chọc tủy kinh khủng, cả chỉ số bạch huyết cầu làm cho tôi căng thẳng thần kinh, cả cái bệnh viện đã ngấy tận cổ, giờ thì tạm biệt nhé.
Cuối cùng thì tôi cũng được xuất viện. Chính xác là sau chín mươi tám ngày.
Các chị y tá đã nói rằng đằng nào sớm muộn gì tôi cũng xuất viện thì cứ ở thêm hai ngày nữa rồi hãy về. Các chị sẽ tổ chức tiệc kỷ niệm một trăm ngày tôi ở bệnh viện. Thật là nói mà chẳng hiểu lòng tôi gì cả. Thực ra thì bố đã hứa sẽ cho tôi xuất viện từ hôm kia cơ. Bác sĩ cũng đã nói như thế. Nhưng rồi cứ lùi lại một ngày rồi lại một ngày nữa.
Chắc chẳng ai biết là trong hai ngày tôi đã bồn chồn sốt ruột đến thế nào đâu.
Không hiểu tại sao bố lại thế nhỉ? Bố nói rằng vì từ giờ chúng tôi sẽ thường xuyên đi du lịch xa nên phải chờ cho cơ thể tôi khỏe mạnh hơn đã. Bố nói cũng không phải là quá sai. Nhưng mà tôi nghĩ rằng còn có lý do gì khác. Lý do gì đó mà tôi không thể biết được ấy.
Dù sao thì cũng thật tốt. Hai ngày so với chín mươi tám ngày chẳng là gì cả mà. Thực ra thì tôi cũng đoán trước được rồi. Rằng tôi sẽ không thể xuất viện được. Vì tôi đã từng nghe nói là nếu bệnh của tôi tái phát lần thứ hai thì e rằng sẽ không sống tiếp được nữa. Nhưng tôi đã sống.
Giá mà không phải quay trở lại bệnh viện nữa thì tốt biết mấy. Giá mà từ giờ tôi không còn bị đau nữa.
Tất nhiên là không thể khỏi ốm hẳn rồi. Nhưng cỡ như cảm cúm hay cảm lạnh thì thế nào tôi cũng chịu được. Tôi muốn được đến trường, rồi đi học thêm ở trung tâm như các bạn. Tôi còn muốn được chơi đùa thỏa thích nữa. Giá được sống mà chỉ cần nghĩ đến những điều tốt đẹp thôi thì hay biết mấy. Thật sự là sẽ như thế chứ? Không, lần này chắc chắn không sai, nhất định là sẽ như thế.
Ngày tôi nhập viện trời mưa lâm thâm. Là cơn mưa mùa xuân đánh thức những hạt giống hoa nhỏ xíu vẫn đang say sưa ngủ sâu trong lòng đất, đánh thức cả mặt đất giá lạnh. Nhưng đối với tôi thì đó là những giọt mưa lạnh lẽo như băng. Trong khi bố cõng tôi trên lưng đưa đến bệnh viện, người tôi cứ run lên bần bật vì lạnh.
Bây giờ thì thật nóng. Mùa mưa đã kết thúc và cơn bão cũng đã lùi xa. Ánh nắng mặt trời chói chang như thể đang nung nóng toàn bộ thế gian này, như nướng khoai lang vậy.
Sao cũng được. Dù ánh nắng có nóng nực bức bối đến mấy cũng không sao hết. Vì bố đã mua cho tôi một chiếc mũ bóng chày Dodgers để chúc mừng ngày tôi ra viện. Đó là một chiếc mũ rất tuyệt. Đội mũ vào, nhìn tôi như thể anh Chan Ho* ấy.
Bố đẩy cửa phòng bệnh và bước vào. Có lẽ là thủ tục xuất viện đã xong rồi.
“Nào, giờ thì bố con mình đi nhé?”
Bố cười tươi và đội chiếc mũ Dodgers lên đầu tôi. Tôi đội sụp mũ qua cả mắt.
A, còn tạm biệt cả căn phòng số 201 nữa.
Tôi nhìn một vòng quanh bốn chiếc giường trong phòng. Cuối cùng, chỗ của Seong Ho đập vào mắt tôi.
Chiếc giường của Seong Ho giờ đã có bệnh nhân khác nằm. Đó là một cậu nhóc sáu tuổi tên là Ye Chan. Toàn bộ chi phí điều trị của Ye Chan đều được nhà nước chi trả. Ye Chan không có bố mẹ. Nghe nói Ye Chan đã sống ở một nơi gọi là trung tâm bảo trợ trẻ em từ khi còn là đứa trẻ sơ sinh đến giờ. Thế mà cứ khi nào đau là cậu ấy lại khóc váng lên và không ngừng gọi “Mẹ ơi, mẹ ơi”. Tôi không hiểu được tại sao không biết mặt mẹ mà cậu ấy vẫn gọi mẹ nhỉ.
Giờ nhìn chiếc giường mà Seong Ho từng nằm, tôi chỉ chực rơi nước mắt.
Giá mà Seong Ho cũng được chữa khỏi hoàn toàn rồi ra viện như tôi. Có khi chúng tôi đã trở thành đôi bạn thân thiết nhất trên thế gian này cũng nên. Vì chúng tôi đã cùng mắc một bệnh, cùng đau đớn và khổ sở giống nhau, và có lẽ vì thế chúng tôi sẽ hiểu nhau hơn chăng?
Đúng là tên ngốc. Nếu chết dễ dàng như vậy thì sao thời gian qua lại chịu đựng khổ sở như thế cơ chứ.
Tôi cầm bộ Lego rồi đi về phía Ye Chan. Từ mấy hôm trước, tôi đã quyết định tặng bộ Lego đó cho Ye Chan rồi.
Mặc dù bộ Lego cướp biển không phù hợp với đứa trẻ sáu tuổi cho lắm. Và tôi cũng biết là tặng lại món quà mình được tặng cho người khác thì không tốt. Nhưng chắc là Seong Ho sẽ hiểu cho tôi thôi nhỉ. Sau khi Seong Ho ra đi, tôi chưa mở bộ Lego ra chơi lại lần nào, và ngay cả sau này chắc chắn cũng sẽ như thế.
Ye Chan há hốc miệng nhìn tôi chằm chằm. Vì tất cả đồ chơi mà Ye Chan có chỉ là một con hình nhân Ultra đã bị tróc hết sơn và một bên cánh tay đã bị rơi đâu mất.
Tôi cười với Ye Chan.
Và trong lòng tôi thầm nói lời tạm biệt với Seong Ho, cái tên đã ra đi chẳng nói một lời nào. Tạm biệt cậu, Seong Ho.
Tôi vẫn nghĩ ra viện muộn hai ngày hóa ra lại là một việc tốt. Cho tới khi tôi đến nhà thờ.
Vừa đúng hôm đó là ngày Chủ nhật. Tôi đã nghĩ Eun Mi tuyệt đối không bao giờ bỏ lỡ một buổi đi lễ nhà thờ nào cả, và chỉ cần tới trường dòng là tôi có thể gặp được Eun Mi rồi.
Ngày ngày tôi đã đợi Eun Mi. Hôm nay không biết có chuyện gì vui không nhỉ? Hôm đó, suốt cà ngày, tôi dán mắt vào cánh cửa. Nhưng Eun Mi không đến. Đương nhiên là tôi cũng đã không thể đưa cậu ấy chiếc kẹp tóc hình hoa cánh bướm.
Vừa ra khỏi bệnh viện, tôi đã rủ bố cùng đến nhà thờ. Bố hỏi tôi rằng nhất định muốn đến đó à.
“Con phải lễ tạ Đức Chúa Jesus đã cho con đỡ bệnh chứ ạ. Và con cũng phải chào mục sư đã thường xuyên đến thăm con nữa.”
Tôi trả lời trôi chảy nhưng không hề nhắc tới Eun Mi.
Có phải là tôi bị trừng phạt vì không trung thực không nhỉ? Tôi lễ tạ, rồi chào mục sư, nhưng Eun Mi thì không gặp được.
Mục sư nói như có vẻ hiểu rõ lòng tôi:
“Nếu mà biết Daum ra viện thì chắc các bạn trong lớp David sẽ rất vui, nhưng vì đang trong kỳ nghỉ nên hôm nay có nhiều bạn vắng mặt lắm.”
Có vẻ như Eun Mi đã theo bố mẹ đi nghỉ rồi. Sao lại đúng vào ngày hôm nay cơ chứ. Không biết Eun Mi đã đi đâu nhỉ? Ước gì Eun Mi cũng đến biển Dong Hae mà tôi và bố sắp đến. Nhưng biển Dong Hae rộng lắm, chúng tôi có gặp được nhau không?
“Daum à, cho dù con có sống ở đâu chăng nữa thì hãy luôn khỏe mạnh nhé. Thầy sẽ không quên Daum và luôn cầu nguyện cho con. Ở đó Daum cũng nhất định phải đi nhà thờ đấy nhé.”
Dù sống ở đâu chăng nữa…
Đúng vậy. Chúng tôi chưa quyết định sẽ sống ở đâu. Bố đã nói rằng trước tiên thì cứ đi du lịch đã. Đi biển rồi đi cả núi nữa. Nếu thấy nơi nào tốt thì sẽ sống ở đó.
Tôi hết sức tán thành việc đi du lịch cùng với bố. Nhưng mà tôi không đồng ý rời khỏi Seoul mãi mãi. Vì tôi ghét phải chia tay trường học, bạn bè và nhà thờ. Thêm nữa, chỉ riêng cái việc rơi vào tình cảnh lang thang không nhà đã làm tôi thấy khó chịu rồi.
Liệu chúng tôi còn có thể được sống ở trong chung cư như ngày xưa nữa không nhỉ?
Mỗi lần nhớ lại hồi còn sống ở chung cư, tôi chỉ chực rơi nước mắt. Ở đó thật là thích. Tôi có phòng riêng này, và một chiếc giường êm ái nữa chứ. Nhưng căn phòng dưới tầng hầm mà chúng tôi sống trước khi tôi nhập viện thì tối tăm đến mức phải bật đèn liên tục cả ngày lẫn đêm. Cũng không có phòng riêng cho tôi, chỉ có những con gián gớm ghiếc cứ bò loạn khắp nhà.
Giá được sống ở Seoul thì có là căn phòng ở dưới tầng hầm cũng được. Nhưng bố bảo vấn đề là ở Seoul có quá nhiều người. Mà tôi vẫn chưa đủ mạnh để chiến thắng lũ vi rút gây bệnh nên cần phải tránh những nơi đông người.
Tôi hỏi bố. Rằng nếu tìm thấy một nơi tốt thì chúng tôi sẽ sống mãi mãi ở đó phải không. Bố nói rằng không phải mãi mãi. Lâu nhất cũng chỉ vài tháng thôi. Nhưng lúc trả lời bố không nhìn thẳng vào tôi. Tôi nhận ra ngay mà. Rằng chúng tôi sẽ không sống ở Seoul.
Trước khi chia tay, mục sư nắm tay tôi rồi bắt đầu cầu nguyện. Như mọi lần, mục sư cầu nguyện rất lâu, nhưng tôi không thể tập trung được.
Thầy ơi, nhờ thầy chuyển chiếc kẹp tóc này cho Eun Mi ạ.
Chiếc kẹp tóc vẫn nằm im trong túi tôi, và tôi đã nắm chặt nó đến mức đau nhói lòng bàn tay, rồi bước ra khỏi nhà thờ. Nếu mà tôi nhờ thầy thì chắc sẽ đơn giản thôi. Nhưng tôi không muốn chuyển qua tay một người khác. Dù cho đến cuối cùng nó vẫn chỉ nằm trong túi tôi đi chăng nữa.
Bố thắt dây an toàn cho tôi rồi hỏi:
“Con buồn lắm đúng không?”
“Không phải là lắm đâu ạ.”
“Con có biết nhà Eun Mi ở đâu không?”
“Sao thế ạ?”
“Con phải đưa kẹp tóc cho bạn ấy chứ.”
“Eun Mi đi nghỉ rồi ạ. Con cũng không biết nhà của Eun Mi ở đâu. Với cả Eun Mi có rất nhiều kẹp tóc rồi nên dù con có tặng thì chắc là bạn ấy cũng không vui mừng lắm đâu.”
Mỗi lần nhìn vào chiếc kẹp tóc tôi sẽ lại nghĩ về Eun Mi. Và sẽ hơi buồn một chút. Giống như ngày xưa khi tôi nhìn vào tấm ảnh của mẹ vậy. Nhưng mà Eun Mi thậm chí cũng chẳng biết là trong túi tôi có một chiếc kẹp tóc.
Thời gian trôi qua, chắc bạn ấy sẽ quên cả tên, rồi cả khuôn mặt tôi ấy chứ.
—
Có vẻ như đứa trẻ rất vui. Sau khi rời khỏi nhà thờ, nó hơi ủ rũ nhưng vừa ra đến đường cao tốc nó đã lách chách như chú chim vào buổi sáng.
“Bố ơi, con cảm ơn bố. Vì bố đã giúp con khỏi bệnh, vì đã cho con đi biển, vì cả chiếc mũ bóng chày nữa… Tất cả ạ.”
Bệnh của đứa trẻ chưa được chữa khỏi hoàn toàn. Chỉ là hoạt động của bạch cầu ác tính tạm thời được chế ngự bởi thuốc kháng ung thư liều cao mà thôi. Một lúc nào đó anh sẽ lại phải cắn răng nhìn đứa trẻ bị những cơn đau đớn giày vò hành hạ. Chỉ cho đến lúc đó thôi. Đó là giới hạn mà đứa trẻ có thể chịu đựng được, cũng là kết thúc quãng thời gian đứa trẻ được cho phép.
Chuyến du lịch này chỉ là một hình thức ngụy trang mà thôi. Một sự ra đi trong lặng lẽ.
Nhưng ngồi ở ghế phụ kế bên, đứa trẻ đang say sưa ngắm nhìn thế giới bên ngoài cửa xe với vẻ phấn khích. Đối với một đứa trẻ suốt bao lâu nay chỉ loanh quanh trong bệnh viện thì đó là một thế giới tươi đẹp đến chói lòa. Nó không ngừng hò reo trầm trồ rồi hỏi hết cái này đến cái kia. Anh vừa trả lời một cách tỉ mỉ, vừa ngỡ ngàng vì chính sự bình thản của mình.
Cuối cùng thì người vợ đã không đến.
Anh đã chờ đợi bốn ngày, rồi tiếp tục nán lại bệnh viện thêm hai ngày nữa, chỉ để xác định liệu niềm tin của mình có thật sự vô nghĩa. Anh cũng không muốn trách cứ người vợ. Việc tự oán trách bản thân giờ đây cũng làm anh chán ngán. Anh chỉ thấy tiếc và buồn vì hai ngày vô ích ở bệnh viện, chỉ là hai ngày thôi. Nhưng đối với đứa trẻ, đó là một khoảng thời gian vô cùng dài và quý giá.
Anh không biết đứa trẻ có chờ mẹ hay không. Tuy nó phát cáu vì anh cứ lùi ngày ra viện không lý do, nhưng có thể trong lòng nó đã chờ đợi mẹ. Giống như anh thời thơ ấu, ngày ngày đi loanh quanh trước cửa ga tàu chờ người mẹ mãi mãi không trở về nữa.
Lúc ra khỏi bệnh viện, anh đã nói với đứa trẻ:
“Hóa ra mẹ ở Pháp vẫn chưa về con ạ.”
“Con cũng biết thế mà.”
Đứa trẻ trả lời qua loa rồi lảng sang chuyện khác.
Nó cố nén cái ngáp ngủ, rồi khi xe vừa ra khỏi đường hầm, anh đã thấy nó bắt đầu gà gật. Vì tựa đầu vào thành xe nên chiếc mũ của đứa trẻ bị lệch sang một bên. Điều đó khiến anh bận lòng. Anh nghĩ phải chỉnh lại chiếc mũ cho thẳng thớm, nhưng lại không thể với tay ra được. Những giọt mồ hôi lăn dài trên gò má nhợt nhạt nổi rõ mạch máu li ti của đứa trẻ.
“Nếu có một chút dấu hiệu bất thường nào thì anh phải đưa Daum đến bệnh viện ngay. Và nhất định cứ cách ba bốn ngày anh lại phải liên lạc với tôi một lần đấy nhé.”
Anh phải hứa đi hứa lại không biết bao nhiêu lần, trưởng khoa Min mới đồng ý cho đứa trẻ ra viện. Dù gật đầu nhưng trong lòng anh thầm nghĩ, sẽ không có chuyện ấy đâu. Cầm trên tay một túi đựng đủ các loại thuốc, nghe bác sĩ hướng dẫn liều lượng và cách dùng, nhưng tâm trí anh thì đang để ở nơi khác.
Dù có quay trở lại bệnh viện thì đứa trẻ cũng không thể tiếp nhận phác đồ điều trị cơ bản nữa. Vì đó chỉ là cách xử lý nhằm kiềm chế chỉ số bạch huyết cầu và phòng lây nhiễm mà thôi. Kể từ sau khi biết không còn khá năng ghép tủy thì ngay cả chút hy vọng để bấu víu và chiến đấu cũng không còn tồn tại.
Anh đã nghĩ rằng việc xuất viện là đương nhiên, và nếu xuất viện thì anh còn thấy nhẹ lòng hơn. Nhưng không phải vậy. Giờ anh chỉ thấy mình và đứa trẻ dường như đang bị dìm đầu xuống lớp bùn lầy vậy. Cảm giác như thể đang bị ai đó nắm lấy tóc và xoay vòng vòng không thương tiếc.
Không thể biết khi nào thì tình trạng của đứa trẻ sẽ xấu đi và xấu đi như thế nào.
Còn về trường hợp của Seong Ho, cậu bé có cơ hội cao được chữa trị dứt bệnh hoàn toàn, và đã bắt đầu vào giai đoạn hồi phục, vậy mà tất cả lại kết thúc trong một giây phút ngắn ngủi. Một tuần trước khi gặp mẹ Seong Ho, cô đã nói thật là uất ức quá. Uất ức đến mức khó có thể chịu đựng được.
“Cái bệnh viện này, tôi thề có chết cũng không đến nữa. Nhưng ngay cả không đến đây thì tôi cũng không sao chịu đựng được nỗi đau này.”
Bốn giờ chiều. Đã khá muộn để có thể lái xe tới nơi anh định đến.
Anh vừa dừng xe ở một góc trạm nghỉ chân dọc đường thì đứa trẻ cũng tỉnh giấc. Nó ngơ ngác nhìn ngó xung quanh rồi hỏi:
“Ngày xưa mình cũng từng nghỉ chân ở đây, bố nhỉ?”
Có vẻ như đứa trẻ vẫn nhớ rõ chuyến du lịch cách đây bốn năm. Đó là chuyến du lịch cùng với người vợ. Khả năng ghi nhớ phi thường của đứa trẻ làm anh thật khó xử.
“Con nhớ là đã ăn cơm cuộn và mì udon. Con lại thấy thèm rồi.”
Suốt ba tháng qua, đứa trẻ chỉ ăn thức ăn khử trùng mà bệnh viện cung cấp. Đó là thứ thức ăn không có mùi vị, được loại bỏ hoàn toàn vị mặn và vi khuẩn, cũng chính là một phần của cuộc sống toàn là cấm kỵ, ức chế và cưỡng ép đối với đứa trẻ.
Hãy để cho đứa trẻ mười tuổi được hưởng một cuộc sống bình thường như bao đứa trẻ khác. Chẳng thà vui vẻ một ngày còn hơn cả nghìn năm đau khổ.
Đó chính là lý do mà anh lờ đi sự phản đối của trưởng khoa Min, khi ông cho rằng để đứa trẻ xuất viện vào lúc này là một quyết định thiếu suy nghĩ. Nhưng khả năng miễn dịch của đứa trẻ đang giảm sút với tốc độ chóng mặt thì sao có thể thản nhiên ăn những thức ăn đầy vi khuẩn như cơm cuộn hay mì udon được.
Anh đeo khẩu trang cho đứa trẻ rồi chỉnh lại mũ cho nó. Để tránh bị nhiễm bệnh, đứa trẻ cần hết sức tránh đến những nơi đông người. Nhưng vì đang là mùa du lịch cao điểm nên ở trạm dừng chân người đông đến mức cứ liên tục va vào nhau, và mọi người đều liếc nhìn đứa trẻ đang đeo khẩu trang.
Bước vào siêu thị nhỏ nằm trong trạm dừng chân, anh đưa cho đứa trẻ tờ mười nghìn won, và nói nó có thể chọn bất cứ thứ gì nó thích. Ngay cả hành động đơn giản là mua đồ và trả tiền, đối với đứa trẻ dường như cũng đã là một điều kỳ diệu khiến nó vô cùng cảm kích. Đứa trẻ phân vân và lưỡng lự, vẻ mặt hết sức nghiêm túc rồi chọn sữa chua Yoplait, bánh kem xốp, nước điện giải, cà phê lon, rồi ngước nhìn anh.
“Con mua được chứ ạ?”
“Cà phê lon thì không được.”
“Đây là cho bố ạ.”
Đứa trẻ kéo khẩu trang xuống, lè lưỡi rồi chìa ra lon cà phê.
Như kẻ lang thang vào lúc xế chiều cần chỉ ước vọng xa xôi, giờ anh đã chẳng còn lý do gì mong muốn những niềm vui lớn lao.
Nhưng dù thế nào thì anh tin đâu đó trong cuộc sống vẫn có những mảnh ghép của niềm vui, sáng lấp lánh như những vì sao đính trên bầu trời tăm tối kia. Chỉ cần thế thôi đã đủ rồi.
Anh khẽ áp lon cà phê vào má đứa trẻ rồi chỉnh lại khẩu trang cho nó.
Đứa trẻ chỉ về phía tập bản đồ đặt trong sạp bán báo.
“Trong đó có nơi chúng ta đến không ạ?”
“Đương nhiên là có rồi. Con muốn mua à?”
“Trông có vẻ đắt bố ạ.”
“Daum à, bố là đại gia đấy nhé.”
Vừa nói anh vừa tỏ vẻ huênh hoang vỗ vỗ vào túi quần phía sau nơi để ví. Nhưng rồi anh thấy lòng mình nhói đau. Vì người bố nghèo khó này mà đứa trẻ phải đắn đo suy nghĩ đủ điều.
Đang bước đi về phía đỗ xe, đứa trẻ nhìn về phía nhà vệ sinh rồi nói:
“Bố ơi, con mắc tiểu.”
“Không đi vệ sinh ở đó được đâu con. Bẩn lắm.”
Anh nắm lấy tay đứa trẻ rồi quay lại phía nhà vệ sinh của trạm dừng chân. Quanh bức tường gạch, những bông hoa cánh bướm đua nhau nở rộ, còn những con chuồn chuồn thì bay lượn vòng quanh hoa như thể đang rất say sưa với nhiệm vụ của mình.
“Nếu mà con đi tiểu ở đây thì mọi người sẽ mắng đấy ạ.”
“Không sao đâu.”
“Con xấu hổ lắm.”
“Bố cũng đi tiểu ở đây với con thì có gì mà xấu hổ chứ.”
Phải thế thì đứa trẻ mới có vẻ yên tâm và kéo quần xuống. Anh đứng sát bên cạnh, bảo:
“Thi xem ai tè xa hơn nhé!”
Đứa trẻ vội vàng đẩy hông lùi về phía sau hết mức, làm ánh nắng trời chiều giật nẩy mình như hoảng hốt trước tia nước tiểu của nó. Không nhớ anh đã từng đứng sát vai và đi tiểu cùng đứa trẻ thế này lần nào chưa nhỉ. Dù đây là lần đầu tiên thì cũng có gì to tát lắm đâu. Nhưng anh lại đang nhìn theo tia nước tiểu của đứa trẻ với một cảm xúc lẫn lộn thật khó diễn tả và những bông hoa cánh bướm đang đua nở đẹp đến rơi nước mắt.
“Lúc đi tiểu con sợ lắm.”
“Sợ người khác nhìn thấy hả?”
“Không ạ, con sợ chuồn chuồn cắn ‘quả ớt’ của con.”
Đứa trẻ nói rồi bật cười thành tiếng.
Nhìn nụ cười sảng khoái của đứa trẻ, anh có cảm giác như những nỗi lo lắng và bất an của mình bỗng chốc tan biến.
Anh đã đúng khi ra viện. Quả là một quyết định sáng suốt. Nếu như vẫn đang ở trong bệnh viện thì có lẽ cho đến tận giây phút cuối cùng chắc anh cũng không thể một lần được thấy đứa trẻ cười thành tiếng như thế này.