Bố Con Cá Gai - Cho Chang-In - Chương 3.3
Sau khi đẩy hàng ghế thứ ba ra phía sau, bố đặt cái bếp ga du lịch và đám xoong nồi gọn gàng lên sàn xe mà lúc này đã rộng ra đáng kể.
Bố đang làm món cơm cà ri. Trong lúc bố gọt khoai tây, thái hành tây, rồi thái thịt thành từng miếng nhỏ… những giọt mồ hôi lấm tấm rịn đầy trên trán.
Theo lời bố thì chiếc xe của chúng tôi giờ đây đã trở thành nhà hàng. Và sau này nếu mở hết những chiếc ghế ra thì sẽ thành giường nằm. Bố nói một cách đầy tự hào và cứ xem tôi như trẻ con, nhưng mà tôi biết chứ, không phải cứ xe to đã là tốt đâu.
Xe của chúng tôi là một chiếc xe cà tàng. Bất cứ chiếc ô tô nào cũng đều vượt lên trước xe của chúng tôi. Nhất là mỗi khi leo lên đồi dốc ấy, một bên hông xe chỉ chực rớt lại phía sau. Nhưng dù thế thì tôi vẫn vui không sao kể xiết. Vì từ sau khi mẹ mang chiếc xe Accent màu đỏ ngày xưa đi, thì đây là lần đầu tiên chúng tôi mới lại có xe mà.
Thỉnh thoảng tôi lại nằm ưỡn bụng trên ghế rồi nhìn ra phía bên ngoài cửa xe. Mọi người khẽ liếc nhìn vào trong xe, lắc lắc đầu rồi đi qua. Đúng rồi. Vì ngoài chúng tôi ra thì chẳng có ai nấu cơm rồi ăn ngay ở trạm nghỉ chân cả.
Nhưng thế thì đã sao nào. Nếu thấy buồn cười thì cứ cười đi. Rồi đi mà ăn cái món mì nhung nhúc vi khuẩn gây bệnh ấy.
Tôi đút tọt một miếng bánh kem xốp vào miệng. Lý do tôi thích bánh kem xốp là bởi bánh này chẳng cần cắn, chỉ vừa chạm lưỡi hương vị ngọt ngào đã tự động tan ra trong miệng. Vậy mà suốt thời gian qua tôi hoàn toàn không được ăn một miếng bánh kem xốp nào cả. Mà đâu chỉ có bánh kem xốp. Vì bệnh viện không cho phép ăn bánh kẹo nên dù có chuyện gì đi chăng nữa bố cũng không cho tôi ăn.
Có vẻ như đúng là tôi đã khỏi bệnh rồi thì phải. Chác đêm nay tôi sẽ phải cầu nguyện thật lâu để cảm tạ Chúa Jesus mới được.
Tôi mở tập bản đồ ra rồi tìm nơi mà bố chỉ cho tôi. Đó là bờ biển có tên gọi Bunam. Nghe nói từ Gangneung phải đi về phía Nam hồi lâu mới có thể đến nơi được. Bố nói rằng nếu có bản đồ thì có thể đi bất cứ đâu. Cũng không phải sợ lạc đường.
Bố đặt tay lên vai tôi rồi hỏi:
“Con có vẻ thích xem bản đồ nhỉ?”
“Bố ơi, chắc lớn lên con phải trở thành nhà thám hiểm mới được. Giống như Columbus phát hiện ra đại lục mới ấy ạ.”
Tôi muốn thử làm những việc mà chưa ai làm. Như Magellan đã đi vòng quanh thế giới thành công, hay Edison đã phát minh ra bóng đèn điện ấy. Nhà phát minh Jeong Daum. Nhà thám hiểm Jeong Daum. Chỉ cần tưởng tượng thôi đã thấy vô cùng phấn khích. Nhưng mà hình như bố không nghĩ vậy.
Có lần tôi từng hỏi bố. Rằng sau này bố thích tôi trở thành gì. Bố đã cười thật tươi rồi trả lời. Rằng bố mong tôi sẽ hạnh phúc. Vì thế nên dù tôi có trở thành gì đi chăng nữa, chỉ cần tôi hạnh phúc là bố vui rồi.
Hạnh phúc là gì nhỉ? Bố đã nói thế này này.
“Đó là có thể sống cùng với người mình yêu thương, và có thể làm bất cứ điều gì vì người mà mình yêu thương.”
Hình như trong suy nghĩ của bố, hạnh phúc chính là tình yêu. Nếu mà đúng như lời bố nói thì tôi đã hạnh phúc rồi. Vì tôi đang được ở bên cạnh bố – người mà tôi yêu thương nhất thế gian này.
Nhưng tôi không biết là tôi có thể làm điều gì cho bố nữa. Để như thế thì trước tiên tôi phải biết được bố muốn cái gì đã. Liệu có phải là kết hôn với cô Jin Hee hay không?
Tôi không thể hỏi bố được. Thực ra thì tôi thấy sợ. Tôi muốn sống mãi mãi với bố cơ. Nhưng có lẽ bắt đầu ngay từ bây giờ tôi sẽ phải thay đổi suy nghĩ đó thôi. Nếu mà kết hôn với cô Jin Hee thật sự là việc bố muốn, thì tôi sẵn sàng nhường bố cho cô Jin Hee cả trăm cả nghìn lần.
Mùi cay cay tê tê của món cà ri tràn ngập trong xe.
Bố tôi là đầu bếp trứ danh. Đặc biệt món cơm cà ri bố nấu thì ngon đến ngạt thở luôn. Mẹ cố lắm cũng chỉ nấu được “cà ri 3 phút” hay “mì ăn liền” thôi. Còn bố thì chúa ghét mấy thứ đồ ăn sẵn ấy.
Chúng tôi đã quyết định sẽ ngủ lại một đêm ở Wonju.
Tôi chỉ muốn đến biển thật nhanh. Nhưng bố đã bảo còn nhiều thời gian lắm nên không đi đâu mà vội cả. Tôi cũng không mè nheo nữa. Không phải vì có nhiều thời gian mà vì nếu lái xe đêm thì chắc bố sẽ mệt lắm.
Chúng tôi chọn quán trọ rồi đi ra ngoài. Bố đang nắm tay tôi chầm chậm đi dạo trong thành phố thì dẫn tôi vào một cửa hàng đồ chơi.
“Hôm nay bố sẽ khao con nhé.”
Có vẻ là bố đã khao tôi rồi mà. Trước khi rời khỏi Seoul, bố đã dẫn tôi đến trung tâm thương mại và mua cho tôi một chiếc áo rất đắt tiền đẹp tuyệt. Nhưng không phải tôi có thể mặc ngay, vì giờ mới là mùa hè thôi. Tôi không biết tại sao bố lại chọn cho tôi chiếc áo mùa thu nữa.
Tôi không hẳn thích đồ chơi cho lắm. Đến cả bộ đồ chơi Lego cướp biển tôi còn cho đi được cơ mà. Bố cứ toan dúi cái này cái kia vào tay tôi, mà cái nào cũng đắt tiền như nhau cả. Cuối cùng tôi đã mua một chiếc xe ô tô mini chạy bằng mô tơ giá bảy nghìn won.
Sau đó chúng tôi đến Trung tâm máy tính-điện tử Se Jin. Ở đó bố đã chọn đĩa trò chơi có tên gọi là “Thời đại hàng hải”. Đương nhiên là tôi phản đối. Nếu chơi game thì tôi phải sử dụng laptop của bố, vậy thì bố sẽ không viết bài được. Bố nói rằng tạm thời bố không có việc phải dùng đến máy tính xách tay. Và đó là game nhất định phải chơi để trở thành nhà thám hiểm.
Bây giờ chúng tôi đang ở hiệu sách. Vì bố nghĩ rằng chuyến du lịch này sẽ kéo dài nên cần có sách cho tôi đọc.
Trong khi bố chọn sách thì tôi lật giở vài trang cuốn Bảy viên ngọc rồng. Vì tôi từng nghe Seong Ho kể truyện Bảy viên ngọc rồng rất hay mà. Seong Ho còn nói là đã xem cả phim rồi cơ. Nghe nói nội dung là nếu tập hợp được tất cả bảy viên ngọc rồng lại thì một điều ước sẽ trở thành hiện thực.
Nếu trên đời đúng là như thế, nếu mà có thể biến một điều ước thành hiện thực, thì liệu tôi sẽ chọn ước gì nhỉ? Tôi đang phân vân. Thực ra vì tôi là kẻ tham lam nên có rất nhiều điều ước.
Ừm… Trước tiên tôi sẽ ước không bị ốm nữa. Thêm nữa nếu bố là người giàu thì thật tốt. Giá như mẹ quay trở về và xin chúng tôi tha thứ. Và nếu ngày nào cũng được gặp Eun Mi thì tốt biết mấy.
Bố nói từ đằng sau vai tôi.
“Có hay không con?”
Tôi khẽ đẩy mũ lên rồi gật đầu.
“Vậy thì mua đi chứ?”
“Nhưng đây là truyện tranh mà bố.”
“Không phải cứ truyện tranh là mình không đọc con ạ. Dù là sách gì, chỉ cần sau khi đọc nó khiến ta phải suy nghĩ là được. Thực ra thì hồi bố bằng tuổi Daum, bố cũng thích truyện tranh hơn truyện thiếu nhi đấy.”
Nhưng cuối cùng tôi vẫn nhất quyết không mua, làm bố phải hỏi lý do.
Bảy viên ngọc rồng là bộ truyện tranh rất dài. Có tất cả 42 tập cơ. Vì không thể mua hết như thế được. Mà bỏ dở giữa chừng thì thà rằng ngay từ đầu không đọc còn hơn. Nhưng mà bố vẫn mua trọn bộ 42 tập.
Ôi trời ơi! Tôi đã ngạc nhiên suýt thì ngã ngửa.
Hình như bố nóng lòng muốn mua cho tôi mọi thứ thì phải. Chắc là bố đã quá vui vì tôi khỏi bệnh đây mà.
Bố lấy ngón tay giữa gõ gõ vào vành mũ của tôi rồi nói:
“Đổi lại con phải hứa với bố. Mỗi ngày chỉ được đọc một cuốn thôi đấy.”
Tôi gật đầu cái rụp. Nhưng mà không hiểu sao tôi lại thấy buồn. Có lẽ chính tôi cũng không hiểu nổi mình. Tôi đã vui vì được ra viện, và còn vui hơn nữa vì được đi du lịch với bố. Nhưng tại sao tôi lại cứ buồn suốt thế nhỉ?
Nếu mà đọc hết bộ Bảy viên ngọc rồng thì phải mất 42 ngày. 42 ngày quả là một quãng thời gian vô cùng dài. Lúc đó chắc chúng tôi vẫn đang đi du lịch. Và chừng nào còn chưa hết 42 ngày thì chúng tôi còn chưa thể quay trở lại Seoul. Nếu thế thì đương nhiên tôi sẽ không thể gặp được Eun Mi rồi.
Chúng tôi ra khỏi hiệu sách rồi chậm rãi đi bộ về phía nhà trọ.
Tôi không thể nắm tay bố như lúc nãy được nữa. Vì trên tay bố là hai túi chứa đầy truyện Bảy viên ngọc rồng mà.
“Con không mệt chứ?”
“Con không sao đâu ạ.”
“Bố cõng con nhé?”
“Con có phải là trẻ con nữa đâu.”
“Bố muốn cõng con thôi mà.”
Bố khuỵu đầu gối xuống rồi chìa lưng về phía tôi. Thực lòng mà nói thì tôi hơi lả đi một chút, chắc là bố cũng nhận ra. Vì ngày trước cùng lắm tôi chỉ đi đi lại lại trong khu phòng bệnh trẻ em thôi.
Tôi đã từng nghĩ rằng lưng của bố còn rộng hơn cả biển ấy. Nhưng mà hình như lưng bố bỗng nhiên bé lại thì phải. Và xương vai bố thì gần như trồi cả ra ngoài đến mức tôi có thể sờ vào được. “Lúc Daum còn là đứa bé mới sinh, phải cõng con trên lưng thì con mới ngủ. Thế là lúc ấy bố phải cõng Daum trên lưng giống như bây giờ rồi đi mấy vòng quanh khu thì con mới chịu ngủ đấy.”
Mẹ đã nói rằng tôi là cái thằng nhóc rất hay khóc nhè. Rằng nuôi một mình tôi còn vất vả hơn nuôi mười đứa trẻ khác. Nhưng tôi lại không hề nhớ đã từng được mẹ cõng trên lưng.
“Bố không xấu hổ ạ?”
“Con nghĩ là bố xấu hổ sao?”
Tôi im lặng mân mê cái tai của bố thay cho câu trả lời. Trong lòng thầm nghĩ, sau này lớn lên và khỏe mạnh, tôi sẽ cõng bố.
—
Đứa trẻ đang nằm sấp ngoài hiên nhà đọc truyện Bảy viên ngọc rồng. Đó là cuốn thứ bảy, cũng tương ứng số ngày đã trôi qua sau khi họ rời Seoul.
Họ đã trải qua ba ngày ở Bunam, một ngày ở Dae I nơi có động Hwanseon, lại một ngày ở Sabuk tồi tàn như chiếc áo cũ sờn rách, và hôm nay là ngày thứ hai họ lưu lại Sarakgol, Jeongseon. Trong suốt mấy ngày qua, dù có mệt mỏi vì bị sốt nhẹ, nôn mửa rồi tiêu chảy, nhưng đứa trẻ không hề kêu đau đớn. Chỉ riêng điều này cũng làm anh thấy biết ơn.
Giá như có thể thì anh đã muốn nán lại bờ biển nơi đứa trẻ vẫn luôn ao ước thật lâu. Nhưng vì đang là mùa tránh nóng cao điểm, và ở bãi biển họ không thể làm gì khác ngoài việc ngồi dưới ô che nắng nhìn ra ngoài, hơn nữa hoàn cảnh của anh cũng không cho phép họ ở lại lâu trong khu nhà trọ mà phải trả đến sáu mươi nghìn won một ngày. Và với sức khỏe của đứa trẻ thì tìm một nơi thưa thớt người qua lại sẽ tốt hơn là bãi biển đông người.
Lý do…
Sau khi họ ăn xong bữa phụ ở Yeorang, Jeongseon, lúc anh quay trở lại nơi đỗ chiếc xe Grace, đã thấy đứa trẻ ngồi trò chuyện với ông cụ trên tấm phản gỗ dưới bóng cây. Đứa trẻ đang cầm trên tay bắp ngô, có vẻ như được ông cụ cho.
“Bố ơi, ông cho con ngô này. Con ăn có được không ạ?”
Sượt qua đầu ý nghĩ ngô liệu có dễ tiêu hóa không, nhưng rồi anh nhanh chóng tặc lưỡi. Dù đã vô số lần thề rằng sẽ gạt đi mọi điều cấm cản và gây ức chế cho đứa trẻ nhưng rồi lần nào cũng vậy, anh chỉ càng đẩy nó lún sâu hơn vào cái hố ấy.
“Con cảm ơn ông đi đã chứ.”
Ông cụ lắc đầu cười khà khà rồi đáp lời:
“Cháu nó đã cảm ơn tôi đến hơn mười lần rồi. Đúng là đứa trẻ ngoan ngoãn lễ phép hiếm thấy.”
Ông cụ đặt hai chiếc bọc lớn ở dưới chân như thể vừa đi chợ về và đang đứng chờ xe buýt.
“Ông ơi, ông đi đến tận đâu ạ?”
Anh định đi về phía Pyeong Chang còn ông cụ thì đi về hướng ngược lại. Nhưng thật ra đó cũng không phải là nơi nhất định phải đến. Và anh cũng không chắc đến đó có nơi nào để trú ngụ hay không.
“Tôi là lão già lẩm cẩm sống trên núi ấy mà.”
Ông cụ nói rằng ông hái các loại rau rừng hay thuốc rồi mang xuống chợ Yeo Rang bán và cứ mồng mười hay ngày rằm là ông lại đi mua lương thực. Hôm nay ông mải bán hàng quá mà lỡ cả xe buýt.
Về đến nơi, ông cụ đưa cho anh mấy cây linh chi núi bán còn sót lại. Anh từ chối nhưng ông cụ bảo cứ coi như đó là tiền xe. Thấy anh đi du lịch với con trai thế này thật là thích, vừa nói ông cụ vừa mở cửa xe bước ra ngoài.
Từ đằng sau anh nhìn không rời mắt khỏi bóng lưng ông cụ. Ông cụ bước qua cây cầu cắt ngang khe suối và khi đến con đường lồi lõm chưa rải nhựa, anh gọi với theo ông cụ.
“Từ đây còn phải đi thêm bao xa nữa ạ?”
Ông cụ ném ánh nhìn về phía trước và nói ông sống ở phía bên tay phải, tính từ khe suối đến đó phải mất đến gần hai tiếng đồng hồ.
“Nếu xe chạy tới được đó thì con muốn đưa ông về tận nhà.”
Con đường núi kéo dài xuôi theo khe suối, gần đến làng thì bị cắt đứt, thay vào đó là một con đường mòn mà những người sống ở trên núi đã làm nên. Sarakgol, nơi ông cụ muốn tới, từ làng cũng còn phải leo lên dốc núi thêm khoảng ba mươi phút nữa mới tới nơi. Ông cụ bảo vì bình thường vốn sức dẻo dai nên ông sẽ từ từ mà đi cũng được.
Anh vừa hỏi rằng liệu gần đây có nơi nào ở lại được hay không thì ông cụ liền nhìn anh chăm chú.
“Nơi người ở thì sao lại không có nơi nghỉ lại được cơ chứ? Nhưng cũng hiếm khi có người ở lại nơi núi sâu hẻo lánh này.”
“Vì sức khỏe của cháu không tốt nên con đang tìm nơi giúp nó an dưỡng.”
Có lẽ ông cụ cũng đã đoán biết đứa trẻ không được khỏe, ông hỏi thêm điều này điều kia. Anh đều thành thực trả lời.
Sarakgol là nơi núi tiếp núi, tạo nên một vùng núi non trùng điệp, rất thích hợp để điều hòa và hồi phục hệ hô hấp. Ông cụ kể rằng cách đây vài chục năm, khi ông cụ lần đầu tiên đến đây, ở nơi này đã có sáu hộ gia đình làm nương rẫy và sinh sống. Nhưng rồi một hai nhà bắt đầu rời núi mà đi và đến giờ chỉ còn lại một mình ông trơ trọi bám trụ canh giữ núi rừng.
Ông cụ nói rằng anh và đứa trẻ cứ ở lại đây đến bao giờ cũng được và dành cho họ một góc phòng. Dù sao thì ở đây cũng có điện, thế là quá may mắn rồi. Vì dạo này đứa trẻ đang ham mê chơi game trên máy tính.
Cuộc sống trên núi đã bắt đầu như thế. Anh thấy thật mãn nguyện vì bầu không khí trong lành và tươi mát, vì cả mạch nước ngầm trào lên từ giữa những phiến đá, và không có lý do gì đụng phải con người vốn là nguyên nhân gây bệnh. Có lẽ đây chính là mảnh đất nghỉ ngơi cuối cùng được chuẩn bị dành cho họ.
Không biết đứa trẻ cảm thấy thế nào nhỉ? Ở đây nó thường ngẩn ngơ ngước nhìn đỉnh núi. Mới chỉ hai ngày trôi qua. Nhưng đứa trẻ còn quá nhỏ để có thể đón nhận được chiều sâu của tự nhiên. Có lẽ nó đang phải cố gắng nén lại nỗi lưu luyến với cuộc sống nơi thành phố và kiềm chế cảm xúc của mình.
Đứa trẻ đang chậm rãi giở từng trang của cuốn Bảy viên ngọc rồng. Nó cũng không có lý do gì phải vội vàng cả. Mỗi ngày trôi qua thật lề mề, và đứa trẻ có vẻ như cũng nhận ra sự thư thái đến dư thừa của thời gian.
Anh bước xuống sàn nhà phía hiên ngoài với ý định đi dạo cùng đứa trẻ. Vừa hay lúc ông cụ cũng bước ra khỏi phòng, chuẩn bị đi lên núi.
“Nếu chú thấy chán thì hay là cùng tôi lên núi?”
Bảo chán thì có lẽ không phải anh mà là đứa trẻ. Anh đã định nắm tay đứa trẻ và thư thái bước đi trên con đường mòn, nói cho nó biết tên của các loài hoa và chim núi, rồi ngồi tựa lưng vào phiến đá nơi khe suối, hát cho đứa trẻ nghe bài đồng dao mà nó biết. Hoặc nếu không thì cùng đứa trẻ đi quãng đường ba mươi phút xuống làng, tìm đến ngôi trường bỏ hoang cũng thật là thú vị.
“Chú chuẩn bị rồi đi cùng tôi.”
Nhưng anh liền xua tay từ chối, vì phải xa đứa trẻ dù trong giây lát thôi anh cũng không muốn chút nào. Có vẻ đoán được tâm tư của anh, ông cụ quay sang hỏi đứa trẻ. Đứa trẻ hỏi sẽ mất bao lâu, và ông cụ đáp rằng khoảng hai giờ đồng hồ thì sẽ quay lại.
“Bố ơi, bây giờ con sẽ chơi ‘Thời đại hàng hải’. Cho đến khi bố về con sẽ tìm ra Vương quốc Zipang.”
Đứa trẻ đã nhận nhiệm vụ tìm kiếm vương quốc Zipang từ hoàng đế Carlos nước Bồ Đào Nha. Zipang chính là Nhật Bản, trong bối cảnh thời đại của trò chơi thì ở thế kỷ 16 Nhật Bản vẫn còn là một vùng đất xa lạ. Đứa trẻ phải xuất cảng từ Lisbon rồi vượt lên trước hạm đội Tây Ban Nha để tìm ra Nhật Bản.
Phải đến khi ông cụ giục giã thì anh mới rời khỏi nhà.
Cây tần bì, cây bu lô, cây đoan, cây phong, cây sồi, cây bạch dương… Anh hớt hải đuổi theo bóng lưng ông cụ đang phăm phăm len lỏi giữa rừng cây rậm rạp để lên núi. Chưa đi được nổi mười phút anh đã bắt đầu thở hổn hển. Nhưng ông cụ đã ngoài bảy mươi tuổi vẫn chưa một lần thở dốc. Ông quen thuộc và dẻo dai như một con dê núi đang trèo lên những mỏm núi đá. Như thể ông đang đi xuyên qua một cách chính xác khoảng trống của rừng núi.
Lách qua những khoảng trống đó rồi leo lên núi, ông cụ tìm hái các loại nấm và thảo dược rồi bỏ vào trong chiếc bao tải mang theo bên mình. Dường như từng động tác của ông đều hài hòa một cách hoàn hảo với núi rừng, và tự lúc nào có một cảm giác thật thần bí, như thể ông đã hòa vào thành núi rừng vậy.
Chờ anh bị tụt lại phía sau hồi lâu, rồi lại mải miết leo lên thêm mấy chặng nữa, phải tận khi lên đến đỉnh núi ông cụ mới chịu tìm chỗ nghỉ ngơi. Sau khi anh lấy lại sức, ông cụ mở lời:
“Từ mai chú hãy chăm chỉ lên núi, dựa vào núi mà sống.”
“Hoàn cảnh của con không thể làm thế được ông ạ.”
“Chẳng phải bệnh viện người ta đã nói không thể làm được gì nữa hay sao?”
Anh gật đầu thay cho câu trả lời, còn ông cụ thì thở dài.
“Thật là đáng tiếc.”
Ông cụ nhìn xuống núi một hồi lâu. Còn anh thì vô tình đạp trúng, làm gẫy mất một cành cây.
Những ngọn gió thổi đến quấn lấy đỉnh núi rồi lắc lư. Một chú chim sẻ thông vội vã vỗ cánh bay từ bên này sang bên kia thung lũng. Ở dưới kia, nơi góc núi, chỉ còn lại một mình đứa trẻ trong căn nhà hiu quạnh hẻo lánh.
“Tôi đến ở tận cái nơi núi rừng này, thật ra cũng có lý do riêng.”
Ông cụ đã ra vào nơi hầm mỏ từ khi mười tám tuổi. Cho đến khi số lần đi lang thang trong các hầm mỏ nằm rải rác ở Gohan, Sabuk, Taebaek đã bằng gần nửa cuộc đời ông thì có một điều không hay xảy ra.
Ông thở khó nhọc và toàn thân thì mệt lử, còn chân tay rời rã đến mức không muốn cử động. Cơ thể sưng phù và sút cân, những cơn ho dữ dội kèm theo đờm thì cứ nặng dần lên, khiến khuôn mặt ông ngày một thêm xanh xao. Đó là chứng bệnh bụi phổi, căn bệnh kinh khủng do bụi than chồng chất khiến cho phổi bị cứng lại.
Ông đã nhập viện điều trị trong suốt hơn một năm, nhưng căn bệnh không hề có dấu hiệu thuyên giảm. Bệnh bụi phổi là chứng bệnh nan y hoàn toàn không có cách nào chữa khỏi. Chỉ có thể áp dụng các biện pháp nhằm ngăn ngừa biến chứng và phòng ngừa bệnh diễn biến xấu đi một cách nhanh chóng mà thôi.
Ông chỉ muốn xuất viện. Ông không có lý do gì ở lại bệnh viện để chờ đợi cái chết cả. Hoàn cảnh gia đình ông khi ấy vô cùng khó khăn, tiền học cho các con rồi còn sinh hoạt phí của cả gia đình, tất cả đều trông chờ vào đồng lương công nhật ít ỏi ngày ngày người vợ chật vật mang về. Cuộc sống vốn đã khốn khó, ông thấy thật vô liêm sỉ nếu bắt người vợ cực nhọc phải vất vả chăm sóc bệnh tật cho cả mình nữa.
Hơn một tháng sau khi xuất viện, ông đã viết một bức thư coi như di chúc rồi đi khỏi nhà. Ông mang theo một đấu gạo và một bát đậu tương rồi đến Sarakgol, tự khoét cho mình một căn hầm trên triền núi. Ông đã ở trong căn hầm giống như ngôi mộ ấy, chờ đợi cái chết sau khi leo lắt sống hết cuộc sống như ngọn nến trước gió.
Đến lúc một đấu gạo đã hết sạch mà sự sống vẫn chưa kết thúc, thì thay vì cái chết, cái đói lại trở thành vấn đề hết sức cấp thiết. Ông đã xoa dịu cái bụng đói khát bằng các loại quả và nấm tìm được xung quanh. Đôi khi người dân Sarakgol lại cho thêm ông ít lương thực như khoai tây hay hạt kê. Một người bán dược thảo nói rằng độc xà là tốt nhất cho bệnh phổi nên ông cũng đã nấu xúp rắn để ăn nữa.
Dần dần cơ thể ông có sự thay đổi. Hồi đầu, khi mới đến Sarakgol, ngay cả quãng đường ngắn đi xuống khe suối để uống một ngụm nước cũng khiến ông phải dừng lại đến mấy chục lần mà thở dốc. Nhưng rồi thời gian càng trôi đi, số lần ông phải nghỉ ít dần, và hy vọng sống của ông càng lớn hơn. Thế rồi ông bắt đầu ăn tất cả những thứ có thể ăn được. Hái được chút dược thảo rau rừng nào ông ăn ngay thứ đó, và còn đặt bẫy để bắt thú rừng nữa. Đặc biệt ông không còn gì vui mừng hơn nếu nhìn thấy rắn.
Bốn tháng trôi qua, sức khỏe của ông đã hồi phục đến mức còn có thể theo người hái thuốc đi lên núi. Thật là một việc đáng ngạc nhiên. Vậy mà mới trước đó mấy tháng, vào thời điểm xuất viện phổi của ông đã bị xơ cứng đến hơn 60% và y học hiện đại cũng phải bó tay. Ông xuống núi tìm về nhà. Khi mà người thân trong gia đình đã hoàn toàn mất hy vọng, lần theo những tung tích cuối cùng chỉ mong tìm được thi thể nếu ông đã chết, thì điều này chẳng khác nào người từ cõi chết trở về.
“Tôi đã phải đến bệnh viện ngay. Tôi muốn xác nhận rằng có đúng thật là mình sống được hay không. Nhưng mà chú có biết bệnh viện người ta nói như thế nào không? Rằng nếu không nhập viện ngay thì sẽ nguy hiểm đấy.”
Thay vì nhập viện thì ông cụ quay trở lại Sarakgol, và suốt mấy chục năm qua ông đã sống ở sâu trong núi chỉ với 40% chức năng phổi. Nhưng rồi tự lúc nào đó, quen với núi rừng, ông đã trở nên rắn rỏi đến độ chưa một lần bị cảm cúm. Và bằng việc bán dược thảo, ông đã lo được cho cả hai đứa con đi học đại học, vậy là xem như đã hoàn thành được nghĩa vụ tối thiểu của người trụ cột gia đình.
Trong khi nghe câu chuyện của ông cụ, anh không ngừng suy nghĩ. Lý do hồi phục của ông cụ là gì? Liệu có phải là do tác dụng thần kỳ của dược thảo mà ông đã ăn ngay khi vừa mới hái lên hay không?
Trong lòng anh không thừa nhận điều đó. Đó chỉ là ngẫu nhiên, chỉ là một loại may mắn mà thôi. Như thể tin đồn ảo tưởng vọng đến từ một nơi xa xôi. Đã có quá nhiều những tin đồn thất thiệt không có căn cứ như thế, rằng cái này rồi cái kia có hiệu quả đặc biệt đối với những bệnh nhân mắc bệnh nan y.
Rõ ràng là anh đã đón nhận câu chuyện của ông cụ hết sức hoài nghi. Giống như phản ứng khi nghe những chuyện kiểu người ta xào giòi lên ăn, hay đun loại dược thảo nào đó trong một loại nước nào đó mấy lần rồi uống và gọi đó là một phương pháp chữa bệnh dân gian, hay uống thần dược do một vị thần y dồn mọi tâm huyết chuyên chú nghiên cứu thảo dược để tìm ra, lại nữa, hay là tìm đến một chốn cầu nguyện nơi có một bậc cao nhân sở hữu năng lực phi thường, có thể chữa khỏi những căn bệnh nan y…
Bệnh nan y đơn giản chỉ là bài toán mà nền y học hiện đại chưa tìm ra lời giải. Giống như người ta đã khắc phục được bệnh dịch hạch hay bệnh đậu mùa từng biến thời Trung cổ thành một thời kỳ tăm tối, thì một lúc nào đó, cái ngày mà người ta có thể dễ dàng đẩy lùi căn bệnh máu trắng nhất định cũng sẽ đến. Đúng vậy. Thà rằng hãy giận dữ vì sự bất lực hiện tại của y học hiện đại, còn hơn là nghi ngờ vào bản thân nền y học ấy.
“Tôi không dám quả quyết là có thể cứu sống đứa trẻ. Nhưng mà không phải là hoàn toàn không còn cách. Từ ngày mai chú hãy cùng tôi đi đào dược thảo và bắt rắn.”
Anh nhã nhặn từ chối lời đề nghị của ông cụ.
Anh đã sớm chấp nhận cái chết của đứa trẻ. Anh không muốn thừa nhận nhưng đó là sự thật. Và điều mà đứa trẻ mong muốn ngay lúc này chỉ là có bố ở bên cạnh. Điều mà anh mong muốn cũng chính là không phải rời xa đứa trẻ, và có thể kéo dài một phút thành một giờ đồng hồ, có thể xem một ngày như một năm mà sống.
Nhưng ngay ngày hôm sau, anh đã bắt đầu theo ông cụ lên núi.
Không phải xuất phát từ lý do anh tin vào sự hồi phục của ông cụ đến mức phải thay đổi suy nghĩ của mình. Sự thật là câu nói của ông cụ rằng có thể cứu sống đứa trẻ là một cám dỗ mãnh liệt, khiến cả đêm anh băn khoăn không ngủ, nhưng không phải ngay từ đầu anh đã có ý nghĩ sẽ dốc sức đuổi theo cám dỗ ấy.
Buổi chiều hôm qua, ông cụ đã lấy nấm tùng và nấm đông cô ra để chuẩn bị cho bữa tối. Nêm nếm một chút tương ớt rồi xào nấm trong chảo. Anh chưa hề biết rằng đứa trẻ cũng thích ăn nấm như thế. Trước giờ đứa trẻ chưa bao giờ xin thêm cơm, thế mà lần này nó đã ăn một mạch hết veo hai bát cơm.
Điều này thật đáng ngạc nhiên. À không, điều này phải nói là khiến anh biết ơn và vui mừng đến rơi nước mắt. Đúng như người ta đã nói về tấm lòng cha mẹ, chỉ cần nhìn con mình ăn thôi đã thấy no rồi…
“Bố ơi, nấm ngon hết sảy ạ. Giá mà ngày nào cũng được ăn thì tốt biết mấy.”
Có vẻ như thế đã đủ là lý do rõ ràng để anh phải lên núi.
Nấm đông cô, nấm bụng râu, nấm sò, nấm hương, nấm tùng, nấm bông… Anh chỉ mải miết đi lang thang trong núi tìm nấm. Thế nhưng lòng anh lại thấy nặng trĩu. Cái suy nghĩ rằng đứa trẻ đang ngồi thu lu ngoài hiên nhà chờ đợi làm anh cứ chốc chốc lại đưa mắt nhìn xuống phía dưới núi.
Ngày thứ hai lên núi, đang đi phía trước, ông cụ gọi anh và bảo:
“Chú biết đây là cái gì không? Là khúc cây thủy tùng sống cả nghìn năm, chết cũng đã nghìn năm, mà truyền thuyết kể rằng giúp ngăn ngừa tai ương đấy. Thế nên anh hãy mang nó về đặt trong phòng đi.”
Đứa trẻ xem xét hết chỗ này chỗ kia trên khúc cây thủy tùng có màu bàng bạc rồi nói:
“Con có thể làm gì nó tùy ý đúng không ạ?”
“Đương nhiên rồi.”
“Nếu vậy thì con sẽ làm đồ chơi. Bố cho con mượn dao xếp đa năng với.”
Anh sờ thử khúc gỗ thì thấy nó khá mềm nên điêu khắc rất thích hợp. Nhưng nếu lỡ đứa trẻ cắt vào tay thì nguy to. Vì đứa trẻ thiếu tiểu cầu nên nếu bị thương có thể sẽ rất khó cầm máu.
Anh liền ngay lập tức cùng đứa trẻ đến Yeorang mua một bộ dao điêu khắc và giấy nhám. Nếu nghĩ về quãng thời gian còn lại thì làm quen với thứ mới lạ quả là một việc vô nghĩa. Tuy nhiên, anh đã mong mỏi thiết tha rằng đứa trẻ sẽ say mê điêu khắc, và quả nhiên đứa trẻ đã chăm chỉ điêu khắc hơn là đọc truyện Bảy viên ngọc rồng hay chơi game Thời đại hàng hải.
Vậy là anh bắt đầu tìm những miếng gỗ mang cho đứa trẻ như chim mẹ tha mồi về tổ mớm cho chim con. Đứa trẻ đã làm quen dần với việc gọt đẽo rồi đánh giấy nhám cho tới khi miếng gỗ nhẵn bóng lên, và chẳng mấy chốc đã cho thấy có năng khiếu nổi trội trong việc này.
Đó là tuần đầu tiên anh loanh quanh tới lui trong thung lũng và sườn núi.
Lên gần tới đỉnh núi Pakji, có hai tảng đá nằm tựa lưng vào nhau, tạo nên một không gian hình chữ “nhân” vừa đủ cho một người chui vào ngồi trong đó. Có vẻ là chỗ lý tưởng để trú mưa, nghĩ vậy anh toan đi ngang qua, nhưng rồi bỗng một thứ gì đó lôi cuốn ánh nhìn của anh. Đó là xương của một loài thú lớn. Hình dáng của bộ xương vẫn còn nguyên vẹn, phần xương đầu gác lên trên chân và hướng ra bên ngoài.
Có lẽ là một con voi già yếu tự biết mình đã tới những giây phút cuối cùng, bèn tách khỏi đàn, hướng tới hang này để từ từ đón nhận cái chết, trong khi nhìn về thế gian vẫn đang tiếp tục ăn uống và sinh sôi.
Lẽ ra anh đã định đi qua thật nhanh. Nhưng anh cố lấy lại tinh thần và nhìn về phía bộ xương của con thú, và một nỗi buồn từ bên trong anh tỏa ra như làn khói. Vì chính anh dường như cũng phiêu bạt đến Sarakgol này để tìm nơi đón nhận cái chết.
“Một con hươu.”
Giọng nói vang lên từ phía sau lưng anh, không biết ông cụ đã đứng đó từ lúc nào.
“Nhìn xương của nó còn nguyên vẹn không bị rải rác tứ phía thế này thì có vẻ như nó không hề bị các động vật khác làm hại mà thịt cứ thế rữa khỏi lớp xương thì phải. Được chừng này thì đúng là thứ hàng tốt nhất rồi. Nấu xương hươu thành cao thì sẽ được cao hươu, có hiệu quả tức thì với bệnh viêm xương cốt đấy.”
Ông cụ nói thêm, hẳn là uống thuốc kháng sinh trong thời gian dài đã làm cho xương cốt của đứa trẻ bị yếu đi, thấy anh thường xuyên nắn bóp tay chân cho đứa trẻ thì ông hiểu ra ngay nên vẫn đang đế ý kiếm xương hươu bấy lâu nay.
Ông cụ cẩn thận nhặt từng mảnh xương của con hươu rồi cho vào bao, như một chuyên viên khám nghiệm lão luyện bước vào hiện trường vụ án. Hình ảnh sau cùng đầy tội nghiệp của con hươu cứ chập chờn xuất hiện trước mắt làm anh muốn thử ngăn ông cụ lại nhưng không được.
Ông cụ bảo với đứa trẻ đây là nước cốt xương bò hầm và cho nó ăn một ngày mấy bữa cao hươu. Và đúng là hiệu quả tức thì y như lời ông cụ nói, chỉ sau ba bốn ngày, cơn đau ở tay và chân đã thôi không còn hành hạ đứa trẻ nữa.
Không chỉ có vậy. Khuôn mặt đứa trẻ cũng đang khác đi từng ngày, dần dần nó đã có da có thịt hơn, da dẻ cũng trắng trẻo hồng hào. Nó đã ăn ngon miệng hơn, không bị nôn mửa hay tiêu chảy, các triệu chứng như sốt cao đột ngột hay chảy máu chân răng và co giật cũng không xuất hiện nữa. Nó cũng không còn trằn trọc trở mình rồi tỉnh giấc nhiều lần giữa đêm như trước.
Thật là đáng ngạc nhiên. Tuy không phải khỏi hoàn toàn mà chỉ là số lượng tế bào ung thư máu trắng đã giảm xuống. Như vậy cũng có nghĩa đứa trẻ đang ôm trong mình một quả bom hẹn giờ, chẳng biết khi nào sẽ trở nên tồi tệ. Nhưng rõ ràng là đứa trẻ đã không còn dáng vẻ kiệt quệ như trước kia.
Hay là khả năng nhận định của anh đã cùn mòn mất rồi, cả ngày cứ chốc chốc anh lại lắc đầu nghi ngờ. Mỗi lần như thế, anh lại đưa tay thử mân mê vành tai của đứa trẻ. Nếu hạch bạch huyết dưới tai sưng lên thì dấu hiệu bệnh được cải thiện trông thấy trước mắt chỉ là hão huyền.
Nhưng mỗi khi chạm vào đứa trẻ bằng bàn tay run rẩy, anh lại hồi hộp không biết liệu rằng đứa trẻ có thể hồi sinh như một kỳ tích hay không. Anh chỉ muốn chạy ngay đến bệnh viện để kiểm tra tình trạng của đứa trẻ.
Chỉ cần không đánh mất hy vọng, con người sẽ không chết.
Suốt một thời gian dài anh đã quên điều này. À không, suốt một thời gian dài anh đã phủ nhận cái sự thật ác nghiệt ấy đi. Anh chỉ mong sao đứa trẻ có thể đón nhận giây phút sau cùng không đau đớn. Nhưng đứa trẻ đang ngày càng khỏe lên. Giờ đây, ai nhìn vào cũng thấy nó chẳng khác nào một đứa trẻ bình thường, cả ông cụ cũng công nhận điều đó.
“Chắc là ông Trời đã cảm động trước tấm lòng thành của chú đấy.”
Nghe ông cụ nói vậy, anh bắt đầu quyết tâm vào núi kiếm thức ăn thức uống cho đứa trẻ. Suốt cả ngày anh lang thang trong núi tìm thảo dược, rồi để hái tam chi cửu diệp thảo, anh đã treo mình trên cả vách đá dốc đứng mà không biết mệt mỏi. Hễ nhìn thấy rắn độc là anh lập tức vươn tay ra bắt không hề sợ hãi.
—
Một tháng đã trôi qua cái vèo.
Trong khoảng thời gian ấy, mùa hè đã biến mất không một lời từ biệt. Từ sớm đến tối, những ngọn gió se se lạnh thổi vi vút, và đã thấy cây lá trên đỉnh Pakji rực rỡ sắc màu.
“Thời tiết ở vùng núi này, hễ cứ thấy thu sang là y như rằng mùa đông đã chực ập đến.”
Ông cụ bảo vậy. Rằng mùa đông ở đây rất dài và lạnh. Một khi tuyết bắt đầu rơi thì sẽ chất dày, phủ kín cả mái hiên. Và những lúc đó thì chỉ còn biết trói chân trói tay trong nhà không đi đâu được suốt cả mấy ngày liền.
Giá như có thể quay lại Seoul trước khi tuyết rơi thì tốt biết mấy. Được ngắm tuyết thì cũng thích đấy, nhưng mà tôi ghét nhất là bị nhốt trong nhà. Và tôi không thể cứ bỏ bê trường lớp thế này mãi được.
Bây giờ bố đang nấu canh rắn ở trong bếp.
Ôi, món canh rắn đáng sợ.
Tôi đã ăn khoảng gần năm mươi con rắn độc đáng sợ. Hãy thử nghĩ mà xem. Một đứa trẻ mười tuổi mà ăn nhiều rắn đến như thế, lại còn không bỏ sót một ngày nào, nghe có tin được không cơ chứ.
Bố đầu tiên nói rằng đây là canh gà tần sâm. Lúc đầu, tôi cũng đã tưởng thế thật, vì mùi vị khá giống với gà tần sâm. Nhưng tôi vốn cực kỳ thích ăn đùi gà vậy mà dù có xới tung cả nồi canh lên, tôi cũng chẳng tìm thấy một miếng thịt gà nào chứ đừng nói gì đến đùi gà. Chỉ có mỗi nước canh sền sệt. Không thể có chuyện bố gỡ thịt ra ăn một mình được, nên tôi lấy làm lạ lắm.
Thế là cách đây mấy hôm, tôi đã thử rón rén mò xuống bếp. Ặc, tôi suýt thì ngất xỉu. Chẳng phải bố đang lấy cái đũa tre dài cho con rắn vào trong cái nồi đặt trên bếp củi hay sao? Lại còn là một con rắn đang sống và ngọ nguậy nữa chứ. Thì ra đây là lý do mà hôm nào bố cũng để tôi ở nhà một mình đi bắt rắn. Và tôi thì ngày ngày đã ăn cái món canh rắn kinh khủng ấy.
Bố là một kẻ nói dối.
Tôi đùng đùng nổi giận, thét lên rằng tôi sẽ không bao giờ ăn canh rắn nữa. Bố đã xin lỗi tôi. Nhưng bố nói dù gì chăng nữa thì tôi vẫn phải ăn canh rắn. Vì rắn thật sự rất tốt cho sức khỏe của tôi.
Có đúng là ăn rắn thì sẽ tôi sẽ khỏe hơn không? Không thể tin được. Thật lòng mà nói thì đúng là tôi đã khỏe khoắn hơn. Bây giờ thậm chí tôi còn tự tin có thể cùng bố leo lên tận đỉnh núi Pakji ấy chứ. Dù thế nào đi chăng nữa thì rắn vẫn thật là kinh khủng.
Ôi, món canh rắn đáng sợ. Và cả ông bố cố chấp của tôi.
Sau khi ra viện, bố đã nghe theo mọi mong muốn của tôi. Nhưng tôi không thể nào nhượng bộ món canh rắn được. Như thế có khác gì ngày nào cũng phải uống thuốc ở bệnh viện đâu. Nhưng rốt cuộc thì tôi cũng đành giơ hai tay chào thua bố. Vì nếu bố đã khăng khăng làm điều gì thì chắc hẳn đều có lý do cả.
Bây giờ tôi đang đẽo gỗ. Tôi đã hoàn thành được khá nhiều hình rồi. Nào là con sóc, con thỏ, cây thánh giá, nào là khuôn mặt của Seong Ho, và cả Eun Mi cài kẹp tóc hoa trên đầu nữa… Có vẻ như tôi thật sự có năng khiếu điêu khắc đúng như lời bố nói thì phải.
Lần này là tới lượt bố. Thực ra tôi đã muốn đẽo hình khuôn mặt của bố đầu tiên cơ. Nhưng tôi đã cố đợi. Đợi đến khi khả năng của tôi tốt lên ấy. Nhất định ngày mai tôi sẽ hoàn thành. Để còn tặng bố nữa. Và tôi sẽ bắt bố hứa. Là lúc nào bố cũng phải mang theo nó trong túi.
Bố mang món canh rắn đựng trong bát sứ lớn bước vào. Sau khi bị lộ, bố đã không gọi là gà tần sâm nữa mà gọi là thuốc. Vì thuốc thì bắt buộc phải uống rồi. Dù sao thì cũng là những giây phút thật kinh dị.
Tôi giả bộ không biết, lấy giấy nhám mài nhẵn phần khuôn mặt gần mũi trong hình tôi đẽo bố.
“Chắc lớn lên Daum thể nào cũng trở thành nhà điêu khắc thôi.”
Tôi thì có suy nghĩ khác. Tôi tuyệt đối sẽ không trở thành nhà điêu khắc đâu. Vì điêu khắc hay vẽ tranh thì cũng gần giống nhau mà. Nếu thế thì tôi sẽ phải nghe mọi người nói rằng tôi giống mẹ là họa sĩ. Mà tôi ấy à, tôi muốn trở thành nhà thơ, như bố cơ.
Bố vẫn tiếp tục khen ngợi tài năng của tôi. Trong lời khen của bố có ý bảo tôi phải ăn canh rắn đi.
“Con phải uống thuốc chứ.”
Tôi vẫn tiếp tục mài giấy nhám và giả vờ không nghe thấy.
Bố xoa đầu tôi. Giờ đây thì tóc tôi đã mọc lên tua tủa. Mỗi khi nhìn vào gương, tự nhiên tôi lại phì cười vì như thể lâu lắm rồi mới tìm lại được khuôn mặt thật sự của mình. Giá như tóc mọc thật nhanh để bố có thể thỏa thích luồn sâu bàn tay vào trong tóc tôi thì tốt biết mấy. Vì bố rất thích làm thế mà.
“Nào, con hãy uống ực một hơi hết bát canh rồi bố con mình xuống làng đi.”
Bố cứ nhất định phải thế. Luôn cùng lúc đưa ra cả việc tôi thích lẫn việc tôi ghét.
Muốn vào làng thì phải mất khoảng nửa tiếng đồng hồ đi xuống con đường dốc. Ở trong làng có một ngôi trường bỏ hoang. Đến chơi ở trong ngôi trường bỏ hoang ấy thật thú vị. Cảm giác như thể một mình tôi đang chiếm hết ngôi trường ấy vậy. Cứ cách khoảng ba ngày thì chúng tôi lại xuống làng một lần. Mặc dù ngày nào tôi cũng muốn vào làng, nhưng vì bố còn bận vào núi để hái nấm rồi bắt rắn nữa.
Tôi đành phải bịt mũi và nhắm tịt mắt lại để húp hết bát canh rắn.
Chẳng lẽ có mỗi tôi là thế thôi sao? Hay ai cũng thế nhỉ? Dù sao thì cũng thật là buồn cười. Khi không biết đó là canh rắn tôi đã ăn rất ngon. Nhưng bây giờ thì chỉ cần nhìn thôi tôi đã thấy buồn nôn rồi. Dù vậy tôi vẫn cố ăn hết chỗ canh ấy. Vì phải thế thì bố tôi mới vui được.
Tôi thật thích tiết trời không nóng cũng không lạnh này. Cả ngọn gió nơi vùng núi chạy sượt qua chóp mũi, và cả bầu trời cao và xanh như thể được vẽ nên bằng màu nước nữa.
Trong khi nắm tay bố đi xuống theo khe suối, tất cả các loài hoa dọc hai bên đường, nào là hoa cúc nhí, hoa ngải cứu, hoa chuông, hoa thất diệp… đều như gom hết những lời chào trong ba ngày để chào đón tôi vậy. Những chú chim nào bạc má, nào sẻ xanh, sẻ đầu đen, nào chim lội suối nâu, chim gõ kiến, rồi chim sẻ nâu… lũ lượt, ríu rít bay ra từ trong rừng và trong thung lũng. Đám sóc chuột và sóc đỏ thì nhảy lách chách từ cây này sang cây kia rồi nhìn chúng tôi chăm chú.
Đi đến đâu bố chỉ cho tôi biết đến đó. Về hoa và chim thì không có cái gì mà bố lại không biết cả.
Ở trước cổng trường có dựng một bảng thông báo. Trên bảng có viết là vào năm 1989, chỉ có hai học sinh cuối cùng tốt nghiệp và trường đã đóng cửa kể từ đó, vậy là đã mười năm trôi qua rồi. Theo lời bố thì những người dân làm rẫy ở đây đã rời đến thành phố hết cả, nên trường học cũng vì thế mà đóng cửa. Tức là ngôi trường này đã đóng cửa trước cả khi tôi được sinh ra rồi.
Dù sao thì ở sân vận động của trường vẫn còn lại cầu trượt, xà đu tập thể dục, bập bênh và khung thành bóng đá. Ở vườn hoa trước cửa lớp học, những bông hoa hướng dương và hoa mào gà vẫn nở. Tất cả những đứa trẻ từng tưới nước và nhổ cỏ cho vườn hoa đã đi, nhưng có vẻ như những bông hoa vẫn không thể quên ngày xưa, vẫn tự đâm chồi và bung nở.
Và cả bức tường đầy những nét vẽ bậy cũng vẫn còn y nguyên.
“Yeong Seok ngốc. Byeong Tae còn ngốc hơn.”
Mỗi khi nhìn những nét vẽ nguệch ngoạc ấy, tôi lại thấy thật buồn. Vì tôi nghĩ rằng Yeong Seok hay Byeong Tae có lẽ cũng đã cô đơn như tôi vậy. Thế nên cách đây mấy ngày, tôi đã viết tên của tôi lên bức tường đó. Một chữ rất nhỏ thôi.
Hôm nay chúng tôi đến chỗ xà đu tập thể dục trước tiên. Bố lại bắt tôi tập đu xà. Rõ ràng là chẳng có tác dụng gì cả. Vì dù đã cố treo mình lên xà rất nhiều lần rồi nhưng đến bây giờ tôi vẫn chưa đu lên được một lần nào cả.
“Con hãy hít một hơi thật sâu xem nào. Sau khi hít vào thì lấy hơi thật mạnh ở bụng rồi đu thử lên.”
Bố đỡ lấy eo tôi rồi giúp tôi nắm lấy xà. Đúng rồi, đúng rồi, thêm một chút nữa thôi. Tiếng reo cổ vũ của bố vang khắp sân vận động.
Ôi, cái gì thế này. Cuối cùng thì tôi cũng làm được. Tôi thành công rồi.
“Con làm tốt lắm, tốt lắm.”
Bố khuỵu đầu gối xuống nền đất, nhanh tay đỡ lấy tôi. Tôi như ngạt thở. Tôi vừa tì cằm vào vai bố vừa nói:
“Mục tiêu tiếp theo của con là hai cái.”
“Mục tiêu tiếp theo nữa đương nhiên sẽ là ba cái.”
Bố cười thật tươi. Nhưng hai mắt bố thì ầng ậng nước mắt. Vui mừng đến rơi nước mắt. Câu nói này có vẻ đúng thật. Thực ra thì mũi tôi cũng cay cay như chườm một túi đá lạnh buốt vào chóp mũi ấy.
Chúng tôi băng qua sán vận động, đi qua cột cờ rồi bước vào trong lớp học. Ngôi trường có tất cả ba lớp học. Trong đó, chúng tôi đã chọn lớp học mà các học sinh lớp Ba và lớp Bốn từng cùng sử dụng. Chẳng phải là hiển nhiên hay sao? Nói gì thì tôi cũng là học sinh lớp Ba mà.
Tôi nhìn một vòng quanh lớp học. Chẳng có gì khác so với ba ngày trước đây cả.
Bàn và ghế chất đầy phía cuối lớp, rồi chiếc ấm nước màu vàng để ở bên cạnh tủ đựng dụng cụ vệ sinh vẫn y nguyên. Cả những bức tranh dán đầy trên mục “Tài năng của chúng ta” cũng không hề suy suyển… Đúng rồi mà. Ở một ngôi làng ẩn sâu trong núi, và lại là một ngôi trường bỏ hoang như thế này, thì có ai tìm đến cơ chứ. Thế nên dù có mười năm nữa trôi qua thì chắc cái dáng vẻ ngày xưa vẫn cứ thế thôi.
Lúc nào bố cũng mang bàn ghế đến phía trước bục giảng rồi bắt tôi ngồi xuống. Từ bây giờ thì bố sẽ là thầy giáo, còn tôi là một học sinh ngoan.
Bố nhặt một mấu phấn rơi ở khe giữa sàn nhà rồi viết lên bảng năm phép tính nhân phân số, năm phép chia phân số. Cái này thì dễ như ăn kẹo ấy mà. Vì siêu sao Toán học có thể giải làu làu cả những bài giải phương trình của các anh lớp Sáu chính là tôi đây.
Môn Toán thât là thú vị. Nhưng Eun Mi lại cực ghét môn Toán. Eun Mi bảo môn Toán khó nhằn làm bạn ấy đau cả đầu. Vì thế nên tôi đã nói với Eun Mi rằng làm toán cũng giống y như đi tìm một bức tranh đang bị giấu ấy. Nếu cứ tìm tòi thì một lúc nào đó nó sẽ tự động đập vào mắt mình. Làm toán cũng như vậy, chỉ cần một lần biết cách làm là sẽ tự động làm được các câu tương tự.
Hình như Eun Mi đã hiểu ý tôi ngay lập tức, vì bạn ấy rất thông minh mà. Nhưng mà không biết bây giờ Eun Mi đang làm gì? Không biết Eun Mi có nghĩ đến tôi không nhỉ?
Tôi muốn viết thư cho Eun Mi. Nội dung thư thì tôi đã nghĩ sẵn từ trước rồi. Tôi sẽ bắt đầu bằng: “Eun Mi à, mình đang rất rất là khỏe.” Nhưng tiếc là tôi lại không biết địa chỉ nhà Eun Mi. Chán thế cơ chứ. Tất nhiên là tôi có thể gửi đến nhà thờ, chắc chắn Eun Mi sẽ nhận được thư. Nhưng mà thế thì tôi sẽ bị lộ với những đứa bạn khác mất.
“Bài lần này rất khó đấy. Em nào giải được bài này thì giơ tay lên nào.”
Bố vừa đứng chống một tay xuống bàn giáo viên, vừa nói như một thầy giáo thật sự. Tôi liền nhanh nhảu giơ tay phải lên.
“Em Jeong Daum nào.”
Nếu bố là thầy giáo thật thì chắc chắn sẽ được nhiều học sinh yêu mến lắm cho mà xem. Vì bố hiểu rõ lòng tôi hơn cả tôi nên chắc là với những đứa trẻ khác cũng thế thôi.
Tôi đã nhẩm tính rồi viết đáp án của mười câu lên bảng, đợi bố sẽ cho tôi một trăm điểm.
“Hóa ra con khỉ cũng trượt khỏi cành cây nhỉ?”
Ôi không… Tôi đã làm sai câu cuối cùng mất rồi.
Tên ngốc, tên khờ, tên đầu đất này. Làm thế nào mà tôi lại quên rút gọn phân số cơ chứ. Tôi giận dữ với chính mình.
Tôi ấy à, tôi có rất nhiều thứ thua kém những đứa trẻ khác.
Tôi mà chạy thì kiểu gì cũng rớt lại sau cùng, tôi cũng chẳng thể leo lên cầu trượt. Tôi thậm chí không được xếp vào đội bóng đá, và đu xà ngang thì cố hết sức cũng chỉ được một cái. Tôi còn thấp bé, yếu ớt, và hễ một cái là lại đau ốm phải nhập viện… Thế nên tôi đã quyết tâm phải học thật giỏi, tôi phải học giỏi để không thua kém bất cứ ai.