Bố Con Cá Gai - Cho Chang-In - Chương 5.1
Nghe tin có người hiến tủy, anh lập tức đưa đứa trẻ lên Seoul.
Không có lý do gì để chậm trễ cả. Sau khi phương pháp cấy ghép tủy, cách duy nhất để cứu đứa trẻ, không còn hy vọng nữa, anh đã rời khỏi bệnh viện. Nhưng giờ đây dường như hy vọng đó lại quay trở lại.
Cách đây hai ngày, anh đã có buổi gặp gỡ tư vấn đầu tiên với trưởng khoa Min.
“Chúng ta vừa uống trà vừa từ từ nói chuyện nhé.” Trưởng khoa Min bắt đầu câu chuyện như vậy, rồi chậm rãi nhâm nhi tách trà.
“Làm công việc của bác sĩ, tôi đã trải qua không ít chuyện. Nhưng hiếm khi tôi thấy đau lòng như ngày Daum xuất viện. Khi Daum tươi cười nói đến mấy lần câu ‘Cháu cảm ơn bác’ và chào tạm biệt, nói thật tôi chỉ mong có cái lỗ chuột ở đó để chui xuống.”
Trưởng khoa Min thổ lộ rằng sau khi đứa trẻ xuất viện, khuôn mặt nó không khi nào rời khỏi suy nghĩ của ông, rồi nói tiếp:
“Anh là một người giám hộ đặc biệt. Không chỉ tôi mà cả đội ngũ bác sĩ ở khu phòng bệnh trẻ em đều nói như vậy. Tất nhiên tôi đã chứng kiến nhiều bà mẹ hết lòng chăm sóc, hy sinh vì con. Nhưng người cha chăm nom đứa con bị bệnh một cách tận tụy như anh thì là lần đầu tiên. Nếu là tôi thì không biết liệu tôi có thể làm được như anh không? Không, chắc là không đâu. Còn về quyết định từ bỏ đứa trẻ thì sao? Tôi đã không thể không suy nghĩ cho anh. Đặc biệt là người làm thơ, chắc có lẽ quyết định đó còn khiến anh đau đớn hơn người bình thường rất nhiều.”
Anh không đồng ý với kết luận rằng người làm thơ thì nỗi đau đớn lớn hơn. Nhưng đấy không phải là điều quan trọng. Anh uống trà ừng ực như nước lọc rồi chờ câu nói tiếp theo của trưởng khoa Min.
“Trên thực tế thì hiếm có trường hợp nào mà chúng tôi phải nhờ cậy đến cơ quan nước ngoài. À không, phải nói là hầu như không có mới phải. Bởi dù có tìm được mẫu tủy phù hợp đi chăng nữa thì việc hiến tặng cũng gặp rất nhiều khó khăn. Dù sao thì chúng tôi cũng đã gửi mẫu tủy của Daum đến Hiệp hội tủy sống Nhật Bản. Và cả Mỹ nữa. Chúng tôi đặc biệt lưu tâm đến Nhật Bản. Ở Nhật Bản tôi quen thân với khá nhiều bác sĩ trong thời gian đi du học. Vì vậy tôi đã trực tiếp nhờ cậy họ để ý giúp trường hợp này. Dù không có gì chắc chắn cả. Nhưng đã cố gắng đến nước này, tôi cũng bớt áy náy. Thật lòng mà nói thì đó là tâm trạng của tôi.”
Nhưng đúng là đã có kỳ tích xảy ra.
Kháng nguyên bạch cầu người được chia làm sáu nhóm, và họ đã tìm ra một mẫu khớp hoàn toàn với đứa trẻ. Một cô gái Nhật Bản hai mươi mốt tuổi tên là Midori. Midori lúc đầu hơi do dự trước việc hiến tủy cho người nước ngoài, nhưng trưởng khoa Min và bạn bè thuyết phục và cô đã đồng ý.
“Tuy nhiên lần này vấn đề nằm ở phía chúng ta. Vì tôi không có cách nào để liên lạc với anh. Anh không biết tôi đã mong anh liên lạc lại như thế nào đâu. May là đúng lúc đó thì mẹ của Daum tìm đến tôi.”
Chỉ là anh đang nghe kể lại những chuyện đã xảy ra. Nhưng anh vẫn có cảm giác như thể đứng ở trên bờ vực cao xa vời vợi. Theo lời trưởng khoa Min thì đó đúng là một kỳ tích, và chỉ cần lỡ chân bước hụt một cái thôi thì tất cả sẽ vụt biến thành bong bóng. Từ thành ý của trưởng khoa Min đã gửi mẫu tủy sống của đứa trẻ ra tận nước ngoài, đến việc tìm được người hiến tặng, sự xuất hiện của người vợ, và cuộc nói chuyện điện thoại với Yeo Jin Hee nữa.
Sau khi nhắc đi nhắc lại câu cảm ơn, anh đặt câu hỏi cho trưởng khoa Min. Đó là hoài nghi đã đeo bám anh suốt hai ngày qua, khiến anh lòng dạ rối bời, bồn chồn, lo lắng không yên.
“Tình trạng của Daum thật sự không tốt. Nếu muốn ghép tủy thì phải tác động đến tế bào ung thư, nhưng liệu nó có thể chịu đựng được quá trình trị liệu ung thư hay không, bác sĩ?”
Sau khi công nhận chỉ số bạch huyết cầu ác tính của đứa trẻ đang ở mức cao, trưởng khoa Min đột nhiên cất giọng hỏi:
“Thời gian vừa qua anh đã ở đâu?”
“Tôi ở trên núi.”
“Không biết có phải nhờ nguồn nước và bầu không khí trong lành hay không, mà thể lực của Daum đã tốt lên hơn mức tưởng tượng của tôi đấy. Tôi đã lo rằng nếu thể trạng của Daum xuống đến giới hạn, tới mức không thể tiếp nhận tủy ghép nữa thì không biết làm thế nào, nhưng hoàn toàn không như tôi nghĩ.”
Không biết có phải những loại thảo dược tươi mới hái và canh rắn mà anh cho Daum ăn khi còn ở trên núi giờ đã phát huy hiệu quả không nhỉ? Nếu đúng như vậy thì quả là không còn gì đáng mừng hơn.
“Điều quan trọng là ý chí chiến đấu với bệnh tật của bệnh nhân. Tôi tin rằng có anh ở bên cạnh, Daum nhất định sẽ chiến thắng được bệnh tật.”
Trưởng khoa Min nở một nụ cười tràn đầy tự tin nhưng lòng anh thì nặng trĩu. Đứa trẻ vẫn im lặng. Ở bệnh viện Wonju, họ đã đưa ra chẩn đoán đây là một dạng tự kỷ. Như vậy chẳng khác nào đứa trẻ đã nhụt chỉ trước khi bước vào cuộc chiến với bệnh tật, và chừng nào đứa trẻ còn chưa chịu mở miệng cũng tức là ý chí chiến đấu với bệnh tật còn chưa sống lại.
“Dấu hiệu tự kỷ sao? Nói quá rồi. Chỉ là thằng bé muốn nói mà không thể nói được thôi. Đó là do tác động của tế bào ung thư, khiến cho dây thanh quản bị tê liệt. Anh cứ đợi mà xem. Chỉ khoảng ngày mai hoặc ngày kia thôi là cháu có thể hét lên gọi bố rồi ấy chứ.”
Khi chỉ số bạch huyết cầu ác tính giảm xuống do tác dụng của thuốc kháng ung thư, thì dây thanh quản đang bị tê liệt sẽ tự nhiên trở lại bình thường, và điều đó không hề liên quan đến ý chí đấu tranh với bệnh tật. Anh đột ngột nắm hai tay lại và hỏi:
“Vậy chỉ cần ghép tủy là có thể khỏi bệnh hoàn toàn phải không bác sĩ?”
“Bắt đầu từ bây giờ chúng tôi sẽ thật sự tiến hành quá trình ghép. Khâu xử lý trước khi ghép là bước quan trọng then chốt, tiếp sau đó còn phụ thuộc vào thành công của việc ghép tủy, vấn đề cuối cùng là chờ xem cơ thể bệnh nhân có phản ứng đào thải tế bào ghép hay không, cần phải vượt qua tất cả các bước kể trên thì bệnh mới được điều trị dứt điểm.”
Ít nhiều thì với tư cách bác sĩ điều trị chính, câu trả lời của trưởng khoa Min là hợp lý. Tuy nhiên, đó không phải là câu trả lời mà người nhà bệnh nhân thật sự muốn nghe, và anh thì có cảm giác như trưởng khoa Min đang khéo léo tránh câu hỏi của anh.
“Trưởng khoa Min vẫn thường đưa ra con số về tỷ lệ thành công. Mặc dù lo lắng nhưng mặt khác thì nó thật sự cũng trở thành điểm tựa cho tôi.”
“Tỷ lệ sống sót xét về mặt y học là tính trên những trường hợp bệnh không tái phát sau bốn năm điều trị. Bởi vì khả năng bệnh tái phát trở lại sau bốn năm là cực kỳ hiếm, do đó có thể xem như bệnh đã được điều trị dứt điểm. Theo kết quả thống kê lâm sàng dựa trên các trường hợp bệnh máu trắng do hình thành bạch huyết cấp tính thì tỷ lệ sống sót sau khi ghép tủy gần như đạt tới 80%.”
Ôi, 80%.
Tim anh đập thình thịch. Cho dù không quá 20% đi chăng nữa, à không, chỉ cần 10% hy vọng thôi thì anh cũng sẵn sàng đánh đổi tất cả. Nhưng những 80% sao?
“Việc chuẩn bị ghép tủy sẽ được tiến hành ngay. Chúng tôi sẽ lập nhóm điều trị theo chương trình ghép tủy, và Daum sẽ được điều trị một cách bài bản. Bác sĩ chủ trị là tôi. Thông thường thì đây không phải là việc mà trưởng khoa đứng ra phụ trách nhưng tôi đã tự yêu cầu.”
Đó là điều anh mong muốn. Nhưng anh chỉ gật đầu mà không thể bày tỏ hết tâm tư của mình, và trưởng khoa Min thêm vào đó.
“Vì tôi đã nhiều lần nhắc đến việc tái phát nên tôi có thể đoán được tâm tư của anh. Tuy nhiên, lần này thì tôi dám mạnh dạn khẳng định. Hãy tin tưởng ở tôi. Hãy tin tưởng ở tôi và cùng nhau chiến đấu. Chúng ta có hy vọng. À không, chắc chắn là Daum sẽ được điều trị khỏi hoàn toàn và có thể xuất viện với nụ cười trên môi. Khi đó chắc chắn là tôi sẽ tự tin mà đón nhận lời chào tạm biệt của Daum.”
—
Tôi đang chờ bố.
Tôi đã đợi bố suốt hai tiếng đồng hồ từ lúc tỉnh giấc tới giờ rồi. Không biết là bố đã đi đâu nhỉ. Không biết có phải vì nghĩ là có mẹ rồi nên bố có thể đi đâu tùy ý hay không. Thời gian chờ đợi càng dài tôi càng giận. Nhưng mà dù thế đi nữa tôi cũng không muốn thể hiện sự tức giận với mẹ.
Mẹ ngày nào cũng đến. Còn nước Pháp hay việc vẽ tranh thì sao chứ. Vẫn biết nước Pháp và việc vẽ tranh không phải là thứ có thể dễ dàng bay đi mất tiêu chỉ trong mấy ngày, nhưng dù sao tôi cũng muốn mẹ nhanh chóng quay trở lại cái nơi quan trọng đối với mẹ ấy.
Mỗi khi có mẹ ở cạnh thì tôi lại thấy thật khó chịu. Như thể người tôi bị gập lại làm đôi rồi nhét vào trong một cái thùng ấy. Có lẽ mẹ cũng như vậy. Từ nãy tới giờ cứ năm phút mẹ lại xem đồng hồ một lần.
Dù mẹ có làm thế thì tôi cũng chẳng nghĩ mẹ có việc gì quá bận rộn cả. Chắc là thói quen của mẹ thôi. Thói quen chỉ mới xuất hiện ở trong bệnh viện ấy mà.
Mẹ quả thật là không hề hợp với bệnh viện một chút nào. Không chỉ có tôi mà ngay cả những người khác trong phòng bệnh chắc cũng sẽ nghĩ như vậy. Tất nhiên là không thể nói gì về việc mẹ đến bệnh viện cả. Nhưng giá như mẹ chỉ trang điểm nhẹ nhàng một chút thôi có phải tốt không. Quần áo cũng mặc giản dị thôi, và giá mẹ đừng có đi giày cao gót đến thì tốt biết mấy.
Mẹ lấy trong tủ lạnh ra một hộp dứa đóng hộp và hỏi tôi:
“Con ăn không?”
Tôi lập tức lắc đầu.
“Thế con ăn cháo hạt thông nhé?”
Tôi lắc đầu tỏ vẻ không thích.
“Vậy thì con phải uống sữa chứ?”
Lần này thì tôi chỉ im lặng nhìn mẹ.
Khuôn mặt mẹ đỏ lên. Ôi, hình như mẹ nổi giận rồi. Không biết mình có bị ăn roi không nữa. Như ngày xưa ấy. Bố chẳng bao giờ lớn tiếng với mình, trong khi mẹ thì động một chút là cho mình ăn roi ngay.
Tôi lén quay đầu về phía cửa sổ, từ sau gáy, giọng nói lạnh lùng của mẹ vang đến.
“Sao cứ nhất định phải là bố cho ăn thì nó mới chịu ăn thế không biết?”
Mẹ thật sự không biết lý do sao? Tôi muốn hỏi mẹ như vậy. Nhưng tôi chỉ tiếp tục nhìn chằm chằm ra ngoài cửa sổ.
“Con ghét mẹ đến thế à?”
Không phải mẹ hỏi vì muốn nghe câu trả lời. Vì mẹ cũng không biết là tôi đã nói lại được, ừ đúng rồi mà, mẹ có rất nhiều điều không biết về tôi.
Buổi sáng khi tôi vừa mở mắt, đã có một điều kỳ lạ xảy ra. Đó là cảm giác cái nút chai to đùng chặn ngang cổ họng tôi đã biến đi đâu mất. A a, tôi thử hắng giọng khe khẽ. Thế rồi, tiếng “A” thoát ra khỏi miệng.
Từ lúc đó đến giờ tôi vẫn đang chờ bố. Vừa chờ tôi vừa tưởng tượng đến khuôn mặt tươi cười của bố. Tôi đã hạ quyết tâm rồi. Khi có thể nói được thì tôi sẽ gọi bố đầu tiên.
Tôi nghe thấy tiếng cửa mở. Tôi vội ngoái đầu lại nhìn về phía cửa. Thất vọng, thất vọng, thất vọng tràn trề. Đó là bác Lông Mũi.
Tôi đã gặp bác Lông Mũi hai lần. Lần đầu tiên là khi tôi từ Wonju lên Seoul. Khi đó bác đến thăm tôi cùng với mẹ. Bác đội mũ nồi và nuôi lông mũi dài gần chạm đến tận môi, thế nên tôi liền đặt biệt danh cho bác ngay.
Mẹ liền đi về phía bác Lông Mũi. Sau khi nói chuyện một lát, mẹ khoác tay bác Lông Mũi và tiến về phía tôi. Mỗi lần nhìn bác Lông Mũi là tôi lại thấy lo lắng. Nếu như bác Lông Mũi mà xì mũi thì lông mũi sẽ dính đầy nước mũi hết cả. Mà lại chẳng thể nào lấy bàn chải mà quẹt đi như đánh răng được…
“Cháu khỏe chứ, Daum?”
Mỗi khi bác Lông Mũi nói thì thật kỳ lạ, lông mũi của bác cũng đung đưa theo. Tôi vẫn chưa biết rốt cuộc thì bác Lông Mũi là ai. Bác làm gì? Bác với mẹ có quan hệ thế nào nhỉ?
Tôi đang định sẽ hỏi bố. Nhưng thực ra thì tôi không mấy tự tin. Nếu như bác Lông Mũi và mẹ rất thân thiết với nhau thì chắc là bố sẽ thất vọng lắm lắm.
Hình như bố vẫn còn yêu mẹ. Tôi chưa từng nghe thấy bố nói xấu mẹ bao giờ cả. Vấn đề là ở mẹ ấy chứ. Mẹ nói là mẹ không yêu bố nữa. Ánh mắt của mẹ khi nhìn bố nhọn hoắt như mảnh thủy tinh vỡ vậy. Giọng nói của mẹ thì lạnh lùng hết sức.
Mẹ chẳng hề thay đổi chút nào so với trước kia. Không biết ở nước Pháp, mẹ có bị nhốt ở dưới lớp băng như chú khủng long nhỏ Dooly* không nhỉ, ý nghĩ này cứ không ngừng luẩn quẩn trong đầu tôi. Thế nên mẹ mới chẳng hề già đi, suy nghĩ cũng chẳng lớn lên, và tấm lòng của mẹ với bố cũng chẳng thay đổi?
Mẹ vừa tìm túi xách vừa nói:
“Mẹ có việc gấp phải đi ngay. Daum à, con ở một mình được chứ?”
Thật là một câu hỏi buồn cười. Mẹ đã cầm túi xách trên tay rồi thì còn hỏi ý tôi làm gì nữa chứ. Dù tôi có nói gì thì mẹ cũng sẽ đi mất thôi mà.
“Con chỉ cần ở một lúc thôi. Bố con sẽ đến ngay ấy mà.”
Mẹ kéo chăn đến tận cổ cho tôi rồi thơm vào má tôi. Rồi mẹ khoác tay bác Lông Mũi rời khỏi phòng bệnh.
Tôi lấy tay mân mê má nơi môi mẹ chạm vào. Hình như có một cái bóng đèn nhỏ bật sáng trong tim tôi vậy. Tại sao vậy nhỉ? Là do lớp son môi màu đỏ dính trên ngón tay ư? Ôi, tôi không biết nữa.
Tôi nhanh chóng tắt bóng đèn nhỏ đó đi luôn. Và tôi suy nghĩ, về sự hiện diện của bác Lông Mũi. Liệu có phải là mẹ và bác Lông Mũi sẽ kết hôn với nhau không? Làm gì có chuyện đó, làm gì có… Bác Lông Mũi phải già hơn mẹ đến mười, à không, đến hai mươi tuổi ấy chứ. Nếu lấy người hơn mình nhiều tuổi thế, thì rõ ràng là đầu mẹ có vấn đề rồi.
Nghe nói bệnh tình của tôi đã tái phát, và tôi lại phải điều trị trở lại. Và việc điều trị sẽ mệt hơn rất nhiều so với những lần trước. Giây phút nghe bố nói, nước mắt bắt đầu trào ra từ mắt tôi như cái vòi nước bị hỏng.
Bệnh máu trắng gớm ghiếc đến chán ngán.
Từ lúc nằm ở bệnh viện Wonju tôi cũng đoán chắc là bệnh của mình lại tái phát rồi. Sau khi quay trở lại Seoul và nhập viện, tôi biết rằng mình đã đoán đúng. Tôi cũng đã nhận thức được phần nào cuộc điều trị kinh khủng này. Nhưng nghe bố nói tôi vẫn khóc. Như một kẻ ngốc nghếch vậy.
“Bố hiểu cảm giác của Daum mà. Bố mà không biết thì còn ai biết được cơ chứ? Con cứ khóc thoải mái đi.”
Nói rồi bố lấy mu bàn tay lau nước mắt cho tôi. Tôi quay đầu đi và vùi luôn đầu vào gối.
Tôi chán ghét tất cả. Cả bố, cả Chúa Jesus, cả bản thân mình nữa.
Tại sao tất cả lại không để cho mình yên cơ chứ? Mình ấy mà, mình chỉ muốn được sống như những đứa trẻ khác thôi. Mình ghét phải thở dài mỗi khi nhìn lũ bạn cười đùa, trò chuyện hay chạy nhảy. Chẳng lẽ không đảo lộn mọi thứ lên, làm cho mình phải khổ sở thì không được à? Bố lại đưa mình đến bệnh viện làm gì? Chúa Jesus sao không chữa bệnh cho mình? Tại sao giữa bao nhiêu là bệnh thì lại bắt mình phải mắc bệnh máu trắng, tại sao không làm mình chết quách đi cho xong mà suốt ngày bị bệnh máu trắng kéo lê lết cơ chứ?
Bố vỗ nhè nhẹ lên vai tôi hồi lâu, rồi đến lúc tôi kiệt sức vì khóc. Khóc rõ ràng cũng là một việc rất mệt mỏi.
Bố giúp tôi nằm xoay người trở lại rồi nói:
“Con hãy thử nghĩ xem nhé, có người nào đó có mười điều ước, trong khi một người khác lại chỉ có duy nhất một điều ước thôi. Cả hai người cùng cầu nguyện với Chúa Jesus. Chúa Jesus sẽ nghe điều ước của người nào nhỉ? Nếu mà nghe theo người có mười điều ước thì Chúa Jesus sẽ vô cùng mệt mỏi. Nhưng nếu chỉ có một điều ước thôi thì khác đấy. Với bố, bố chỉ có duy nhất một điều ước mà thôi. Và bố đã xin Chúa Jesus hãy biến điều ước thành hiện thực. Bố còn dọa rằng nếu mà Chúa Jesus không lắng nghe điều ước này thì bố sẽ không tin Chúa nữa. Thế rồi Chúa Jesus đã hứa là nhất định sẽ nghe theo điều ước của bố đấy. Con không tò mò đó là điều ước gì sao?”
“Có ạ.” Tôi đáp với giọng nấc nghẹn của một chú chuột nhắt.”
“Daum của chúng ta lớn thật nhanh và cưới Eun Mi làm vợ.”
“Bố, làm gì có điều ước buồn cười thế?”
Tôi phì cười. Tôi có cảm giác như ai đó đang cù nách mình vậy. Bố ơi, nếu mà con muốn lấy Eun Mi thì còn phải đợi hơn mười năm nữa cơ. Tôi thầm nghĩ như vậy.
Vì thế nên, điều ước của bố, chính là mong tôi khỏe mạnh trở lại. Để khỏe mạnh trở lại có nghĩa là tôi phải chiến đấu với bệnh máu trắng và chiến thắng. Nếu muốn chiến đấu và chiến thắng thì dù có đau đớn như thế nào tôi cũng phải chịu đựng.
“Nhưng bố ơi! Con điều trị, điều trị, rồi lại điều trị, nhưng bệnh cứ tái phát đấy thôi?”
“Bệnh của Daum cũng giống như cái cây bị mắc bệnh ấy. Mỗi lần điều trị cái cây lại bị cắt bỏ. Nhưng cái cây vẫn không chết và còn tiếp tục đâm cành ra nữa. Thế nên lần này các bác sĩ đã quyết định sẽ nhổ lấy bộ rễ cây lên rồi. Đây là lần cuối cùng. Sau lần điều trị này thì bệnh sẽ không tái phát nữa đâu. Không tái phát nữa đâu…”
Bố lặp đi lặp lại mấy lần câu cuối. Tôi biết đó là mong muốn của bố. Nhưng từ khóe mắt tôi, nước mắt lại bắt đầu trào ra.
“Một ngày không xa Daum sẽ khỏe trở lại, và bố sẽ đi nhà thờ với Daum… Chỉ cần nghĩ thế thôi tự nhiên bố cũng thấy có động lực hẳn lên. Nhưng hình như Daum không nghĩ giống bố nhỉ?”
Không đâu. Daum cũng muốn được sống. Daum không muốn chết. Từ khi ở Sarakgol đã như thế, khi ở bệnh viện Wonju cũng như thế, và ngay cả bây giờ cũng như thế. Nhưng mà tôi sợ lắm.
Bố giải thích cho tôi nghe về lần điều trị ngày xưa với lần này khác nhau như thế nào suốt một hồi. Bố bảo lần trước xuất viện không phải vì bệnh của tôi đã đỡ. Mà bởi phải cấy tủy sống giống y hệt với của tôi vào cơ thể thì tôi mới sống được, nhưng vì khi ấy lại chưa tìm thấy tủy sống giống của tôi.
“Khi đó cả bệnh viện và bố đã đều đầu hàng trước bệnh của Daum. Vì không có cách nào để điều trị. Lý do bố con mình đến Sarakgol cũng vì như vậy.”
Bệnh máu trắng là một căn bệnh đáng sợ, chỉ cần sơ sẩy một chút thôi là nó có thể giết chết tôi. Có lẽ nếu cứ ở Sarakgol mãi thì biết đâu tôi đã chết rồi ấy chứ. Nếu vậy thì bố phải làm sao đây?
Trong đầu tôi tự nhiên lại nổi lên hình ảnh một con cá gai. Con cá gai bố tội nghiệp không ăn không ngủ chỉ chăm sóc cho con mình ấy mà.
“Khó khăn lắm các bác sĩ mới tìm ra được mẫu tủy sống giống hệt với Daum đấy. Bố cũng không muốn nhìn Daum phải khổ sở nữa. Nhưng chỉ vì sợ khổ mà để tuột mất cơ hội có thể khỏi bệnh hoàn toàn thì có được không? Bố thật sự muốn Daum thành người lớn rồi kết hôn, rồi cũng trở thành bố. Nhưng Daum cứ chỉ khóc lóc yếu ớt như thế này thì khỏi bệnh sao được?”
Tôi vừa lắc đầu thì bố liền dí dí ngón tay trỏ vào má tôi.
“Daum suy nghĩ như thế nào, đó mới là điều quan trọng nhất. Mình có thể chịu đựng được. Mình tuyệt đối sẽ không chịu thua bệnh tật, mình nhất định sẽ khỏe mạnh trở lại… Chỉ cần con suy nghĩ như thế. Bố tin là nhất định Daum sẽ làm được.”
Bố thật sai lầm khi quá tin tôi. Tôi ấy mà, tôi chỉ là đứa bé mới gần mười tuổi thôi. Nhưng tôi biết nghe lời bố, tôi chỉ được nghĩ tích cực thôi. Nhất định. Phải như thế thì tôi mới không biến bố thành con cá gai bố tội nghiệp.
Bố lấy cái gì đó ở trong túi ra. Đó là miếng gỗ mà tôi đã đẽo tặng bố. Bố đặt nó vào tay tôi.
“Thời gian vừa qua bố đã rất mệt mỏi. Mỗi lúc như thế bố lại nhìn miếng gỗ đẽo này và nghĩ. Hãy cố gắng lên, đừng lo lắng, sẽ ổn thôi mà. Bây giờ là tới lượt Daum đấy. Mỗi khi mệt mỏi con hãy nhìn vào miếng gỗ đẽo này và suy nghĩ nhé. Giống như bố ấy. Làm như thế con sẽ có thêm sức mạnh. Và bố sẽ ở bên cạnh con. Có bố ở đây rồi thì Daum còn gì phải lo lắng nữa nhỉ?”
—
Ngay sau khi vượt qua một ngọn núi thì lại gặp một con sông sâu, và sau khi vùng vẫy để vượt qua con sông thì lại phải đối mặt với một vách đá dựng đứng. Ngày dần tàn và khi đường trở về bị chặn đứng, cả thân xác mệt mỏi đến khốn khổ.
Đó chính là tâm trạng của anh lúc này. Cứ nghĩ đến số tiền ghép tủy cho đứa trẻ là anh lại có cảm giác như đang đứng dưới chân thẫn thờ ngước nhìn lên vách đá dựng đứng. Nhưng đó là vách đá mà dù cho có trầy da tróc vẩy, rách đầu gối, bật móng tay, dù có thương tích đầy mình thì bằng mọi giá anh cũng phải bò lên cho kỳ được.
Đó chính là dấu chấm hết. Là nhà ga cuối cùng của tuyệt vọng và nỗi đau đớn, của hỗn loạn rối ren và cả xót xa. Chỉ cần lên tới đỉnh vách đá thôi thì thân xác khốn khổ của anh có thể tìm được nơi nghỉ ngơi. Đó là nơi vừa có thể nhìn xuống con đường đã qua, vừa có thể mỉm cười nói rằng mi đã vất vả nhiều rồi.
Hai mươi triệu won. Đó là số tiền mà anh phải đặt cọc trước khi tiến hành phẫu thuật cấy ghép tủy.
Và còn hai mươi triệu won nữa. Đó là số tiền ước tính phải chi cho các loại điều trị trước khi ghép tủy, cho đến tận giai đoạn tiếp nhận và phục hồi. Ngoài ra thì người hiến tặng tủy là người nước ngoài nên còn phải dự trù trước các chi phí như vé máy bay và nơi ở nữa.
Nghĩ đến việc bệnh của đứa trẻ có thể được chữa khỏi hoàn toàn thì con số ấy chẳng đáng gì. Nhưng với những gì anh còn lại lúc này thì ngay cả tiền điều trị một ngày cũng chẳng cáng đáng nổi.
Việc không có tiền chỉ là điều phiền toái, chứ không lý nào lại trở thành nỗi bất hạnh được. Thế nên anh đã từng nghĩ không có lý do gì mà lại phải nản chí vì không có tiền cả. Nhưng khi đứa trẻ bắt đầu bước vào cuộc chiến với bệnh tật thì anh đã thật sự cảm nhận được đó chỉ là ý nghĩ của kẻ mơ mộng xa rời hiện thực mà thôi. Tuy tiền không mang lại hạnh phúc nhưng nó có khả năng đẩy người ta xuống hố sâu của bất hạnh đến chừng nào cũng được.
Từ buổi sáng anh đã chạy long nhong khắp nơi. Anh gặp bạn bè, rồi ghé thăm hết nhà xuất bản này đến nhà xuất bản khác. Anh vứt bỏ lòng tự trọng của mình. Anh kiếm tìm nhà xuất bản với tâm trạng giá có thể bán rẻ thân mình đi thì anh cũng sẵn sàng. Mỗi ngày cứ trôi qua như thế một cách chóng vánh, và khi mờ tối con đường trở về bệnh viện ảm đạm đã xa càng xa lại đón bước anh về.
Giám đốc Hong In Soo của nhà xuất bản Myeong In đến muộn hơn so với giờ hẹn một tiếng đồng hồ.
Hôm qua lúc gặp nhau, Lee Guk Seong đã nói. Tốt hơn là cậu hãy xin việc đi. Vị trí tổng biên tập ở nhà xuất bản của anh rể mình hình như đang trống đấy. Mình sẽ nói hộ cậu. Có vẻ Lee Guk Seong đã liên lạc trước rồi nhưng giám đốc Hong hình như vẫn quên cuộc hẹn.
Là phía chủ động liên hệ, anh mở lời trước.
“Tôi nghe Guk Seong nói là anh đang tìm người cho vị trí tổng biên tập.”
“Guk Seong đã nói với tôi qua điện thoại rồi. Thật sự là anh có ý định làm việc với chúng tôi sao?”
“Nếu anh cho tôi cơ hội thì tôi sẽ làm việc chăm chỉ.”
“Nhưng ý tôi là, tôi băn khoăn tại sao mà anh Jeong lại có ý định gửi gắm sự nghiệp vào tay chúng tôi. Nếu nhìn vào kinh nghiệm hay năng lực thì chẳng phải anh nên làm việc ở một nhà xuất bản nổi tiếng hơn sao?”
“Ở đâu cũng có ưu nhược điểm riêng. Nhưng tôi muốn lựa chọn nhà xuất bản Myeong In vì đó là nơi tôi có thể phát huy tối đa năng lực của mình.”
Anh cảm giác như có một con côn trùng nhiều chân đang bò qua bò lại trên mặt. Nếu là trước đây thì anh không thể thốt ra một câu như vậy. Nhưng giờ anh lại nói chắc nịch trước ánh mắt nghi ngờ của giám đốc Hong.
“Nếu vậy thì chúng ta hãy cùng làm tốt nhé.”
Giám đốc Hong chìa tay ra, còn anh thì cúi đầu nhận lấy cái bắt tay. Nhưng quyết định như vậy thì có phần vội vàng, nên anh thận trọng mở lời.
“Tôi muốn nói một chút về vấn đề lương…”
“Tổng biên tập trước đây đã nhận mức lương là một triệu năm trăm won. Tôi tin tưởng vào năng lực của anh Jeong nên cũng tạm thời đưa ra mức một triệu năm trăm won.”
Đã có nhà xuất bản đề nghị với anh mức lương hai triệu won. Nhưng đến nước này thì anh cũng không quay lại được nữa. Giám đốc Hong tiếp lời.
“Hiện tại thì tình hình của chúng tôi cũng không đến nỗi nào nên tạm thời có thể coi đó là một mức phù hợp. Nhưng nếu anh Jeong có ý khác thì chúng tôi cũng có thể cân nhắc.”
“Như thế là tôi được ưu ái quá rồi. Tôi chỉ muốn phiền anh một việc hơi khó nói.”
Đó là giây phút mà nếu có thể thì anh muốn im lặng. Nhưng anh không có cách nào khác để thuyết phục giám đốc Hong. Sau khi giải thích về tình trạng của đứa trẻ, anh thêm vào:
“Tôi muốn dốc toàn bộ khả năng và sức lực cho giám đốc. Từ lên kế hoạch, biên tập cho đến kinh doanh, tôi sẽ không nề hà bất cứ việc gì và cố gắng hết mình. Đổi lại rất mong anh sẽ ứng trước cho tôi tiền lương ba năm.”
Giám đốc Hong mang vẻ mặt như thể đang ngủ thì bị tát một cái, rồi lắc đầu và nói:
“Tôi hiểu tình cảnh của anh Jeong. Nhưng ở vị trí của tôi thì đó thật là một đề nghị khó có thể chấp nhận được. À không, chắc là các nơi khác cũng thế thôi. Chuẩn bị đủ số tiền đó đã khó, mà vốn công việc con người nay mai còn chưa thể chắc chắn được điều gì.”
Anh không thể đồng ý rằng đây thật sự là một yêu cầu quá sức. Vì con số mà anh đưa ra chỉ bằng số tiền thăm dò mang tính chất chào hỏi ban đầu khi các nhà xuất bản đang trong thời kỳ làm ăn tốt.
Rõ ràng tôi cũng đâu có muốn nhận ngay một cục tiền. Chỉ cần nghĩ đến việc sống trong ba năm mà không có lương đã thấy thật ảm đạm. Nhưng số tiền điều trị của đứa trẻ thì không phải là thứ có thể trả góp được. Nếu phải viết giấy cam kết thì tôi sẽ viết ngay. Hãy tin ở tôi. Nhất định tôi sẽ đưa nhà xuất bản phát triển hơn.
Anh cứ lặp đi lặp lại những lời giống nhau. Mà có lẽ đối với giám đốc Hong, đó chỉ là tiếng vọng hão huyền mà thôi. Cuối cùng thì giám đốc Hong vẫn lắc đầu.
Nếu như điều kiện trả lương trước không được chấp nhận thì bản thân việc xin việc không còn ý nghĩa gì nữa. Thỏa hiệp cũng là vô ích. Dường như đây chỉ là cách để anh xác nhận lại lần nữa sự vô dụng của mình, và một mảnh hy vọng lại vừa bị cướp đi.
Anh vừa đứng dậy khỏi chỗ ngồi thì giám đốc Hong liền nói:
“Anh Jeong, thay vì xin việc thì sao anh không thử suy nghĩ lại về tập thơ mà lần trước chúng ta đã nói chuyện, thế chẳng phải hơn ư?”
Có vẻ như giám đốc Hong muốn nói chuyện nghiêm túc về tập thơ đó. Một tập thơ gồm khoảng hai mươi bài thơ vô thưởng vô phạt rồi trang trí bắt mắt, trên bìa có hình một bông hoa.
Anh lom khom ngồi xuống rồi nói:
“Tôi có thể làm thơ nhưng tôi không tin nó có kiếm ra tiền.”
“Còn tùy thuộc xem anh Jeong viết hấp dẫn đến đâu, và phía chúng tôi trang trí trình bày đẹp đến mức nào đã chứ. Trước tiên quan trọng là anh Jeong hãy viết những bài thơ không khó, những bài thơ dễ đọc ấy. Ví dụ như…”
Ví dụ như những bài thơ ủy mị và phù hợp tâm lý của các cô gái mới lớn. Chắc là giám đốc Hong định nói như thế. Nhưng giám đốc Hong lại đưa ra một đề nghị hoàn toàn nằm ngoài dự liệu của anh.
“Cuộc sống ngắn ngủi của đứa con trai, và tình cha da diết hy sinh thân mình để kéo dài cuộc sống cho con… Hãy hình tượng hóa tâm tư của anh Jeong thành thơ. Giống như viết nhật ký ấy. Tôi có dự cảm rất tốt về tập thơ này đấy. Chưa biết chừng sẽ thành công lớn ấy chứ.”
Anh có thể làm một vài bài thơ kiểu như thế.
Jeong Ho Yeon vì tiền mà quỳ dưới gót chân thiên hạ. Hắn cứ tự giả nghèo giả khổ thế thôi. Đúng vậy, cứ ra sức chỉ trích, phê phán đi. Nếu có thể bán được thân mình hay linh hồn thì anh cũng sẵn sàng, đâu có gì ghê gớm cơ chứ. Nhưng đặt đứa trẻ vào trong câu chuyện này thì thật là một sự xúc phạm khó có thể chịu đựng được.
Anh đan tay vào nhau rồi ngồi lún sâu hơn vào trong ghế xô pha. Trong lòng anh đang sôi lên vì giận dữ, nhưng anh vẫn quyết đợi đến cùng.
“Đứng ở vị trí của anh Jeong thì chắc khó có thể chấp nhận ngay lập tức, nhưng chẳng phải là những cảm xúc chân thực đều xuất phát từ trải nghiệm của cuộc sống hay sao? Lại cũng không phải là điều gì làm hạ thấp giá trị của thơ ca. Hãy làm theo lời tôi đi. Mấy chục năm làm xuất bản, lần đầu tiên tôi có cảm giác chắc chắn như thế này đấy. Cứ tin lời tôi mà xem.”
Giám đốc Hong hào hứng đến độ nói bắn cả nước bọt ra ngoài. Chưa biết chừng ông ta còn đang động não nghĩ mấy câu quảng cáo cũng nên. Không khác gì anh, một biên tập viên, khi đứng trước một bản thảo cũng thường cân nhắc xem nó có thể bán bao nhiêu bản trước khi gật đầu đồng ý hay lắc đầu từ chối.
Không biết nên phản ứng thế nào, từ đầu đến cuối anh vẫn chỉ im lặng. Nhưng câu hỏi của giám đốc Hong ngay sau đó thật sự đã đánh gục anh.
“Chẳng phải anh cần cứu sống đứa trẻ hay sao?”
Anh nhắm chặt mắt lại. Cho dù là chửi bới hay tức giận, tất cả những cảm xúc ấy đều thật xa xỉ và thừa thãi. Bởi hiện thực đã rõ rành rành và vô cùng nghiệt ngã. Đó là phải cứu sống đứa trẻ. Chẳng phải anh đã thề rằng nếu cứu được đứa trẻ thì thậm chí anh còn có thể hy sinh mạng sống của mình hay sao.
“Tôi sẽ đưa ra cho anh một mức nhuận bút rộng rãi.”
“Bao nhiêu ạ…”
“Có thể lên tới năm triệu.”
Anh vừa ngoảnh đầu đi thì giám đốc Hong vội vã tiếp lời.
“Chắc là anh Jeong cũng đã nắm rõ tình hình của giới xuất bản rồi đấy. Năm triệu cho một tập thơ chẳng phải là một số tiền rất lớn hay sao? Dạo này ngay cả tiểu thuyết ba tập cũng khó có thể nhận được số tiền như thế. Vì thế đó là con số đáng ao ước đối với một tập thơ rồi. Chỉ riêng những bản thảo tự túc chi phí xuất bản cũng đang chất đầy trong tủ hồ sơ của tôi kia kìa.”
Anh hỏi giám đốc Hong về khả năng từ bỏ nhận tiền nhuận bút trên số lượng sách phát hành, để nhận tiền ngay một lần. Đó là lựa chọn mà nếu có thể thì tác giả thường tránh.
Giám đốc Hong suy nghĩ hồi lâu rồi trả lời:
“Tôi sẽ trả anh thêm năm triệu nữa. Chắc là anh Jeong cũng hiểu tôi không thể mạo hiểm đưa ra con số lớn hơn chứ?”
Khoảng cách giữa mười triệu và bốn mươi triệu là bao nhiêu nhỉ? Bằng khoảng cách từ đây đến ngọn lửa lập lòe nơi ngôi nhà hẻo lánh nằm trên núi? Hay là khoảng cách từ trái đất đến hành tinh cuối cùng trong Hệ Mặt Trời…
Anh nói sẽ trả lời sớm rồi đứng dậy.