Thư viện Online
  • Trang chủ
  • Sách mới cập nhật
  • Trang chủ
  • Sách mới cập nhật

Con Đường Hồi Giáo - Nguyễn Phương Mai - Chương 2

  1. Home
  2. Con Đường Hồi Giáo - Nguyễn Phương Mai
  3. Chương 2 - Saudi: Trung Đông cấm cung
Prev
Next

Vào năm 570 sau Công Nguyên, ở miền tây bán đảo Ả Rập (Saudi ngày nay), một cậu bé tên là Muhammad chào đời. Cậu không may mồ côi cha mẹ từ nhỏ và được một ông bác nuôi nấng. Năm 25 tuổi, Muhammad và bà chủ giàu có của chàng phải lòng nhau. Bà chủ động cầu hôn. Họ nên duyên và sống hạnh phúc trong suốt hai mươi nhăm năm cho đến khi Khadijah qua đời ở tuổi 65. Làm thử một phép tính nhẩm, bạn sẽ thấy Muhammad 25 xuân xanh cưới Khadijah khi bà đã 40 tuổi, góa chồng với ba cô con gái từ cuộc hôn nhân trước.

Từ đa thần thành độc thần

Ngày ấy, bán đảo Ả Rập nằm kẹp giữa hai vùng lãnh thổ lớn mạnh và luôn kình địch nhau là đế chế La Mã theo Thiên Chúa giáo ở bên trái và đế chế Ba Tư theo giáo phái Zoroastrianism (Bái hỏa giáo) ở bên phải. Cả hai giáo phái này đều là dòng tôn giáo độc thần, thờ một đấng Thượng Đế tối cao duy nhất, tiếng Latin gọi là Deus, tiếng Avestan thời cổ Ba Tư gọi là Ahura Mazda.

Lọt thỏm giữa hai người hùng của thế giới là nơi sinh sống của hàng trăm bộ lạc Ả Rập lớn nhỏ. Một chút tương tự như cuộc sống tôn giáo ở Việt Nam và châu Á, họ đi theo nhiều tín ngưỡng khác nhau (paganism), thờ nhiều linh tượng và thần thánh khác nhau (idolatry), trong đó có một vị thần tôn quý, tiếng Ả Rập phát âm là Allah, cùng nguồn gốc với tiếng Hebrew của Do Thái giáo chỉ Thượng Đế (Elohim), hay tiếng Sankrit của Hindu giáo Ấn Độ (Allah/ Hubal – Thần Mặt Trăng). Như một viên xúc xắc với nhiều mặt khác nhau, Thượng Đế với những tên gọi khác nhau được tôn thờ song song bên cạnh những thần thánh khác. Nơi thờ cúng thường là những khối đá vuông to lớn (kaaba) với hàng trăm bức linh tượng lớn nhỏ của nhiều bộ lạc xếp san sát kề vai thích cánh. Khắp vùng bán đảo Ả Rập có rất nhiều kaaba như vậy cho người dân của tất cả các đạo cùng thờ cúng. Thành Mecca cũng có một kaaba, với 360 linh tượng, mỗi năm thu hút cơ man là người hành hương từ vô số các bộ lạc xung quanh. Bất kể tôn giáo nào, khi đến một kaaba, các tín đồ đều đi vòng quanh khối đá thiêng này bảy vòng. Họ đặt đồ thờ cúng, cầu nguyện và nghỉ lại Mecca, biến nơi đây trở thành một trong những trung tâm tôn giáo lớn và người Mecca kiếm bộn tiền từ túi khách hành hương tứ xứ.

Hẳn nhiên, là một người ngoan đạo, Muhammad chắc chắn cũng từng thờ cúng Thượng Đế cạnh những linh tượng như thế trong suốt hơn ba chục năm đầu của cuộc đời mình, cho đến một hôm, khi đang cầu nguyện và ngồi thiền tại một cái hang đá nhỏ tên là Hiraa, chàng Muhammad trẻ tuổi bỗng bị một vòng hào quang rực rỡ quấn thắt lấy người. Thiên thần Gabriel của đạo Thiên Chúa hiện ra, ra lệnh cho chàng chép lại lời truyền của Người. Và thế là một Muhammad không biết chữ nhưng dưới quyền năng của Đấng Tối Cao, những dòng đầu tiên của kinh thánh được viết ra. “Iqra” tiếng Ả Rập có nghĩa là chép lại, theo biến đổi của luật phát âm mà từ đó mà kinh thánh của đạo Hồi có tên là Quran.

Khadijah không những là người phụ nữ Hồi giáo đầu tiên trên thế giới mà còn là người đầu tiên dang tay che chở cho một Muhammad run rẩy trở về từ hang đá Hiraa, quá sợ hãi vì quyền năng và yêu cầu lớn lao của Thượng Đế đến mức chàng trai trẻ muốn nhảy xuống lũng sâu mà tự tử. Bà an ủi, động viên. Bà dịu dàng và mạnh mẽ, nói rằng hẳn nhiên là Thượng Đế thực sự đã ban cho người chồng yêu thương của mình một sứ mệnh thiêng liêng. Sứ mệnh ấy là lắng nghe và ghi lại lời của Người bằng một ngôn ngữ mới không tì vết.

Từ bao nhiêu ngàn năm nay, những truyền dạy của Thượng Đế đã được các thiên sứ (messenger) khác nhau như Moses, David và Jesus đưa xuống cho loài người qua Kinh Cựu Ước và Tân Ước của Do Thái giáo và Thiên Chúa giáo, nhưng do chuyển dịch ngôn ngữ, do con người còn nhiều sân si, những lời răn ấy đã bị đổi thay không còn trong sạch như nguyên bản. Lần này là lần cuối cùng Thượng Đế dạy dỗ chúng sinh, và cũng là lần cuối cùng một thiên sứ được phép đem lời Người đến cho muôn dân. Sau Muhammad sẽ không còn một thiên sứ nào tái xuất nữa. Kinh Quran sẽ là cuốn kinh thánh cuối cùng đầy đủ nhất, nguyên vẹn nhất. Nó cũng sẽ chỉ có ý nghĩa và quyền năng khi được đọc hiểu theo một thứ tiếng duy nhất: tiếng Ả Rập. Chính vì thế, các tín đồ Hồi giáo dù bất kể quốc tịch nào, khi cầu nguyện cũng đều dùng tiếng Ả Rập.

Khadijah có lẽ là người vợ yêu quý nhất, được tôn vinh và trân trọng nhất trong cuộc đời của Muhammad. Tiếc rằng bà đã không thể sống lâu để thể thấy chồng mình làm nên một điều kỳ diệu, thống nhất các bộ lạc vùng bán đảo Ả Rập dưới một tôn giáo mới tên là Islam (người tuân lệnh). Tôn giáo ấy nhanh chóng tràn ngập vùng Trung Đông, cải đạo cả đế chế Ba Tư hùng mạnh và đẩy lui siêu đế chế La Mã về phía châu Âu. Trong vòng sáu thế kỷ, Hồi giáo tỏa ra khắp ba châu lục, đạt đến đỉnh điểm của văn minh và kỹ nghệ vào thế kỷ 13 trong khi châu Âu còn vùi trong mông muội của đêm trường Trung Cổ. Ngày nay, Hồi giáo có số tín đồ lớn thứ hai thế giới (21%), chỉ sau Thiên Chúa giáo (33%).

Trái tim tôn giáo bị đánh cắp

Mecca giờ thuộc địa phận Saudi. Như vậy đương nhiên đây là nơi tôi phải bắt đầu con đường Hồi Giáo của mình. Giữa lúc cuộc trường chinh săn đuổi visa của tôi ngày càng tuyệt vọng thì một cô bạn người Hồi với dụng ý tốt đẹp đã hướng dẫn tôi tìm hiểu về Mecca qua internet. Nguyên văn lời cô ấy như sau: “Đây thưởng ngoạn đi! Rồi để xem Mai có còn muốn cố sống cố chết mò đến Mecca nữa hay không?”

Tôi sửng sốt đến không nói nên lời.

Mecca của thế kỷ 21 ngoài hình ảnh huyền thoại của hàng trăm ngàn tín đồ xoay vòng quanh kaaba mỗi mùa hành hương cũng là nơi thánh đường cổ mang tên bà Fatimah – con gái của Muhammad bị tàn phá, là nơi mộ mẹ đẻ của Muhammad bị xe ủi xóa không còn dấu vết, là nơi ngôi nhà hạnh phúc của Muhammad và Khadijah được tìm ra, lấp đi, rồi xây ở ngay bên cạnh là một hàng… nhà xí công cộng, là nơi đến bản thân phần mộ của Muhammad cũng từng bị đe dọa san phẳng, hay hang đá Hiraa nơi Muhammad nhận lời truyền của Thượng Đế đang bị treo một cái án lửng lơ không biết ngày nào sẽ bị nổ tung thành tro bụi. Mấy năm trước, một thánh đường cổ mang tên cháu ngoại của Muhammad bị đặt bom phá cho tan tành. Những tấm ảnh chụp vụ đặt bom này được bí mật truyền ra ngoài, rõ cả mặt các thầy tu và cảnh sát tôn giáo của Saudi vừa hả hê nhìn gạch ngói bay tung trời, vừa reo hò hoan hỉ chia vui.

Gượm đã! Ai đang hoan hỉ reo hò? Các thầy tu? Các cảnh sát tôn giáo? Thế tức là thế nào? Tại sao giữa vùng đất là trái tim của thế giới Hồi giáo mà vị thiên sứ của nó và gia quyến của ông lại bị các tín đồ nổi tiếng sùng đạo của mình đối xử bạc bẽo đến nhường kia?

Năm 630, sau một thời gian dài phải lánh nạn ở Medina và nhiều trận giao tranh giữa đạo quân của hai thành phố, phe của Muhammad giành thế áp đảo và cuối cùng ông cũng có thể hiên ngang tiến vào quê hương Mecca với tư cách của người chiến thắng. Điều đầu tiên Muhammad thực hiện là đập phá toàn bộ 360 linh tượng trong kaaba, tuyên bố khối đá vuông linh thiêng giờ đã trở thành nơi thờ đức Thượng Đế cao cả chỉ một và duy nhất. Ngoài Thượng Đế, tín đồ Hồi giáo Muslim không được phép cúng bái bất kỳ một ai, người thường, linh tượng cũng như thánh thần.

Gần 1400 năm sau, những tín đồ cuồng tín nhất của Muhhamad đã thể hiện sự trung thành tuyệt đối với giáo lý độc thần tới mức liệt kê cả ngôi mộ của chính ông vào danh sách những linh tượng cần phá bỏ. Việc những người Hồi hành hương đến viếng thăm phần di hài của ông hay hang đá nơi ông từng cầu nguyện được coi là một biến thể của hành động cúng bái linh tượng. Và vì chỉ có Thượng Đế là đấng linh thiêng duy nhất đáng để con người phụng thờ, tất cả di sản như đền đài, thành quách, miếu thờ, mồ mả … có tiềm năng khiến tín đồ nảy ra niềm thành kính đều đáng bị triệt hạ, kể cả việc phải biến nó thành một cái nhà vệ sinh công cộng (!).

Trên thế giới chỉ có vài quốc gia được đặt tên theo dòng họ của gia đình cầm quyền, một trong số đó là Saudi Arabia hay còn gọi là Ả Rập Xê Út. Nhà Saud – khởi đầu chỉ là chủ một bộ lạc nhỏ ở vùng sa mạc Nadj – đến đầu thế kỷ thứ 19 đã bắt tay với một nhánh Hồi giáo khá cực đoan là Wahhabi dần dần đánh chiếm và làm chủ gần như toàn bộ vùng bán đảo Ả Rập, bao gồm cả địa phận Mecca và Medina. Cam kết của nhà Saud và Wahhabi có thể được coi là một trong những cuộc hôn nhân thực dụng nhất giữa quyền lực chính trị và tôn giáo mà theo đó nhà Saud sẽ mang danh lãnh đạo còn giáo lý Hồi dòng Wahhabism sẽ là kim chỉ nam của vương quốc.

Vấn đề nằm ở chỗ cái giáo lý này vốn đã khe khắt lại ngày càng trở nên cực đoan. Dưới con mắt của các thầy tu dòng Wahhabi, Kinh Quran được hiểu theo những ý nghĩa khắc nghiệt nhất. Bước chân vào thế kỷ 21, đường phố Saudi chỉ có hai màu đen trắng: màu trắng của những vạt áo chùng đàn ông và màu đen của những phụ nữ trùm niqab kín bưng chỉ hở hai con mắt, kể cả những phụ nữ ngoại quốc cũng bị luật pháp bắt buộc mặc áo choàng abaya và trùm khăn kín đầu. Ở trường học Saudi, trẻ em được dạy về sự khác biệt giữa tín đồ dòng Wahhabi – những người chắc chắn sẽ được lên thiên đàng, và phần còn lại của thế giới gồm các tôn giáo khác, kể cả những tín đồ Hồi giáo không thuần khiết – kẻ phạm những tội lỗi dù không tày đình nhưng vẫn không thể tha thứ được – chẳng hạn như việc tưởng nhớ đến Muhhamad nhân ngày sinh nhật ông (!). Chỉ có Thượng Đế mới xứng đáng được tôn vinh.

Và bởi vì chỉ có Thượng Đế mới đáng tôn vinh nên kể cả Liên Hợp Quốc có muốn công nhận và cứu các di sản văn minh cổ ở Saudi cũng là điều không tưởng. Trong danh sách ba di sản mà Saudi cho phép Liên Hợp Quốc tiến hành đánh giá chẳng có nơi nào liên quan đến Hồi giáo. Hơn hai mươi năm qua, 95% trong tổng số hơn một nghìn khu kiến trúc cổ của Saudi đã bị tàn phá. Những nhà khoa học đang lo sợ rằng thậm chí cả những cây cột thời đế chế Hồi giáo cận đại Ottoman còn sót lại trong thánh đường trung tâm cũng sẽ bị chặt đổ vì “can tội” dám ghi khắc tên của nhóm người đi theo Muhammad thuở hàn vi. Những tàn tích cuối cùng của một nền văn minh đa sắc màu cũng như những bằng chứng cuối cùng của một nền văn hóa Hồi giáo cổ gần như cố tình bị triệt tiêu và xóa sổ, đặt vào tay những thầy tu Wahhabi quyền năng tối thượng trong việc viết lại lịch sử tôn giáo và diễn giải triết lý Hồi giáo theo lý lẽ của riêng mình.

Hẳn nhiên Muhammad không thể ngờ rằng việc ông đập 360 bức linh tượng trong kaaba khiến nếu ông có sống dậy cũng khó có thể thanh minh cho việc Wahhabism trở thành niềm cảm hứng cho vô số các tổ chức Hồi giáo cực đoan như Al-Qaeda và Taliban. Chưa hết, việc 360 bức linh tượng tan thành tro bụi từ gần 1400 năm trước được coi là câu trả lời cho việc bức tượng Phật huyền thoại Bamiwam ở Afghanistan cao hơn 50m tồn tại từ trước khi Hồi giáo ra đời bị Taliban đục lỗ vào đầu để nhồi thuốc pháo cho nổ tan tành. Những di sản cuối cùng của một trung tâm Phật giáo cực thịnh từ thế kỷ thứ 2 sau Công Nguyên nằm trên Con đường tơ lụa chỉ trong tích tắc tan thành mây khói.

Chủ nhân mới của một tôn giáo mới

Hẳn nhiên là tôi giận dữ. Cùng với nỗi tức tối đó là một dấu hỏi to tướng đặt ra cho những người bạn Hồi giáo của chính mình: “Tại sao mày không điên lên? Tại sao mày không phát khùng giống như tao? Mày yêu kính Muhammad thậm chí còn hơn cả ông cụ thân sinh của chính bản thân, mày có phát rồ lên không khi nấm mồ của ông ấy bị san phẳng?”

Đám bạn người Hồi của tôi ở châu Âu là một lũ khá hổ lốn về nguồn gốc chủng tộc, nhưng phần lớn là dân trí thức, rất nhiều phóng viên và một vài anh nhà thơ nữa. Có lẽ chính vì cái phông văn hóa này mà cách chúng nó nhìn nhận về tôn giáo của mình khá là thông thoáng. Trả lời câu hỏi của tôi, anh nhà thơ đặt tay lên trái tim, mắt mơ màng: “Mecca là đây chứ đâu!”, còn cô ả phóng viên thì đơn giản hơn, ả ta buông ra đúng một từ: “Hajj”.

Một trong năm điều răn cơ bản của Hồi giáo mà mỗi tín đồ có điều kiện kinh tế và sức khỏe đều phải thực thi một lần trong đời đó là Hajj – hành hương đến Mecca. Mỗi năm có tới mười hai triệu tín đồ đặt chân tới đây và con số này chỉ là một phần nhỏ của tổng cộng hơn một tỉ người Hồi khắp thế giới. Hành hương về thánh địa là lệnh của Thượng Đế. Ngài bảo đi là đi, nhưng đi được hay không thì lại là Saudi quyết định. Mặc dù Quran không quy định nữ tín đồ phải có người nam trong gia đình giám hộ (mahram) nhưng Saudi lại đề ra một đạo luật theo kiểu Wahhabi của mình: “Không có mahram thì không có Hajj”. Mỗi năm, các quốc gia Hồi giáo được phân chỉ tiêu không quá một nghìn tín đồ hành hương trên một triệu dân, vậy nên ai cũng nơm nớp lo việc mình sẽ trở thành một muslim kém phần chân chính nếu như Saudi nổi hứng thắt chặt vòng kiểm soát đạo đức, đuổi cổ tín đồ về nhà hoặc tống họ vào trại giam lỏng vì những nghi ngờ đại loại như: “Tại sao họ của chồng cô và cô lại không giống nhau?” hay “Tại sao cô và người bảo lãnh của cô lại ngồi trên hai chuyến bay khác nhau?”. Năm 2012, ba chiếc máy bay chở muslim hành hương từ Nigeria bị buộc quay đầu về nước. Nói túm lại, nếu bạn kính sợ Thượng Đế, tốt nhất là hãy biết kính sợ quyền lực của nhà Saud trước nhất.

Và thế là trên danh nghĩa kẻ chiếm đóng và sau đó trị vì Mecca và Medina, Saudi nghiễm nhiên trở thành thủ lĩnh tôn giáo của hơn một tỉ tín đồ sùng đạo, có toàn quyền quyết định và rao giảng thế nào là triết lý Hồi theo ý nghĩa thuần khiết nhất, trong sạch nhất, cao quý nhất. Sự khiếp nhược trước quyền năng lớn lao này khiến cho rất nhiều người Hồi trở nên dao động, bối rối, thậm chí đánh rơi cả khả năng tự phán xét theo lý lẽ thường tình mà nghiêng theo cách chỉ dạy của Saudi, bất luận điều đó có ngang tai trái mắt cỡ nào. Thế nên mới xảy ra những chuyện trái khoáy như khi một họa sĩ Đan Mạch vẽ tranh châm biếm Muhammad, hay một gã trời ơi đất hỡi làm một bộ phim hạng bét về cuộc đời ông thì hàng triệu tín đồ nổi cơn cuồng nộ, nhưng việc phần mộ của ông bị dọa san phẳng hay căn nhà của ông bị biến thành nhà xí công cộng thì hầu như chẳng ai buồn hoặc dám đoái hoài.

Nếu bạn kiếm tìm những hình ảnh về Mecca trên internet, tôi chắc chắn ai trong số chúng ta cũng đều phải trầm trồ trước sự uy nghiêm thần bí của khối kaaba đen tuyền giữa rực rỡ tráng lệ của hàng trăm nghìn ánh đèn lung linh tỏa ra từ vô số các… khách sạn và khu thương mại sang trọng xung quanh. Trên danh nghĩa chịu trách nhiệm đón tiếp các tín đồ hành hương, Saudi dường như có thêm một cái lý do rất chính đáng để tiếp tục san phẳng các di tích Hồi giáo cổ và thay thế bằng các công trình kiến trúc ngày càng to hơn, cao hơn, đắt tiền hơn, trong đó có cả dự án tòa tháp cao nhất thế giới và việc mở rộng hành lang cầu nguyện xung quanh kaaba để đạt được sức chứa hai nhăm triệu người. Tiền tuôn chảy về Saudi từ túi những kẻ hành hương giàu sụ muốn ngả lưng trong những căn phòng giá 500 trăm đô la một đêm với cửa sổ nhìn xuống kaaba. Và để đạt được điều đó thì việc san phẳng căn nhà của Abu Bakr – vị lãnh tụ tôn giáo kế nhiệm Muhammad (caliph) để thay bằng một cái khách sạn siêu sang Hilton là điều hợp lý. Rốt cuộc là, ai cho phép tín đồ Hồi giáo tôn thờ một cái nhà?

Nhưng rõ ràng là hình như ai đó đang ngấm ngầm cho phép Saudi tôn thờ đồng tiền. Có lẽ Saudi đang âm thầm chuẩn bị cho tương lai của vương quốc khi mà nguồn dầu lửa đem lại 86% ngân sách quốc gia sẽ bắt đầu hạ sản lượng từ sau năm 2030. Dầu nhiều đến đâu rồi cũng đến ngày sẽ hết, chỉ có Hajj là không bao giờ ngưng nghỉ. Đó chính là nguồn dầu mới cho Saudi, nguồn tiền mới cho Saudi, nguồn năng lượng không bao giờ cạn cho Saudi.

Dường như sau 1400 năm, kịch bản Mecca thời paganism đã chính thức quay trở lại. Đó là khi Muhammad vẫn còn là một chàng trẻ tuổi không tiền, không mẹ cha, không địa vị.

Xét cho cùng, Muhammad là một hình mẫu khá đặc trưng để có thể phần nào so sánh, dù là khá khập khiễng, với những thần tượng của người nghèo thời lý tưởng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa sơ khởi. Sinh ra trong một gia đình khốn khó, là trẻ mồ côi và mù chữ, Muhammad thấm hơn ai hết cuộc sống bần hàn của một đứa trẻ thiếu nơi nương tựa. Lớn lên tại Mecca, địa vị của một đứa trẻ không cha không mẹ phải sống nhờ vào sự chở che của họ hàng và sự chăm sóc của một phụ nữ nô lệ da đen khiến chàng trai trẻ Muhammad sớm có một trái tim đồng cảm vô hạn với người nghèo, tầng lớp nô bộc, trẻ em mồ côi, người tàn tật và đặc biệt là phụ nữ. Trên tất cả, trước mắt Muhammad là hố phân cách giàu nghèo khủng khiếp giữa những gia tộc nắm giữ nguồn thu nhập khổng lồ từ khách hành hương và những gia tộc không chen chân được vào dòng chảy cuồn cuộn của xã hội thương mại hóa tôn giáo. Đối với Muhammad, sự suy đồi đạo đức bởi sức mạnh của đồng tiền chỉ có thể được cứu rỗi bằng một lý tưởng trong sạch và thuần khiết, nơi trí óc, niềm tin và sức lực của con người phải được phục vụ cho một mục đích cao cả không dính bụi trần: Islam – thờ phụng đức Thượng Đế chỉ một và duy nhất. Trong mắt của Thượng Đế loài người thảy đều là con cháu của Adam và Eva, đều có quyền được tôn trọng, quyền bình đẳng, quyền học hành, quyền ăn no mặc ấm, và quyền được mưu cầu hạnh phúc.

Cả cuộc đời mình, đặc biệt là từ khi chiếm được Mecca, Muhammad đã làm hết sức có thể để biến mơ ước đó thành hiện thực. Đối với Muhammad, việc đập tan 360 bức linh tượng trong kaaba có thể được coi như việc triệt bỏ tận gốc một xã hội thương mại hóa tôn giáo nơi đồng tiền là kẻ thống trị và đạo đức chỉ biết quỵ gối cúi đầu. Là lãnh tụ tôn giáo nhưng ông sống một cuộc đời giản đơn, mộc mạc. Những chế tài luật pháp cơ bản nhất của Hồi giáo được ông gây dựng dựa trên nền tảng về quyền bình đẳng, điển hình là zakat – một trong năm điều răn cơ bản của Islam: mỗi tín đồ đều có trách nhiệm trích một phần tài sản của mình để chia cho người nghèo. Caliph kế nhiệm ông – Abu Bakr – nâng điều răn này lên thành luật pháp để đảm bảo cho mỗi công dân, bất kể đàn ông, đàn bà, phụ nữ, trẻ em đều có thu nhập tối thiểu là 20 dirham. Ngày nay, chỉ tính riêng ở Anh, người Hồi trung bình mỗi năm đóng góp vào quỹ phúc lợi 567 đô la, nhiều hơn người Do Thái (412 đô la), người Thiên Chúa Tin Lành (308 đô la), người Thiên Chúa Công giáo (272 đô la) và người vô thần (177 đô la).

Tôi luôn tự hỏi liệu Muhammad ở dưới tấc đất sâu kia nghĩ gì nếu ông biết được rằng Mecca của 1400 năm sau đang dần dần trở thành Mecca của hơn 1400 năm trước, khi tôn giáo gián tiếp được coi là cỗ máy in tiền? Trả 500 đô la cho một ngày trong khách sạn siêu sang để đêm nằm qua cửa sổ nhìn được xuống kaaba – nơi được coi là trung tâm của vũ trụ, nơi giàu nghèo sang hèn không phân biệt, mới thấy được sự hão huyền của những giấc mơ. Gần 1400 năm trước, Muhammad đã đập tan cuộc hôn nhân giữa sức mạnh của đồng tiền và tự do tín ngưỡng. Mỹ mãn và đầy quyền năng, trên danh Thượng Đế tối cao và thiên sứ cuối cùng của Người, gần 1400 năm sau, Mecca là hiện thân của một cuộc hôn nhân vô tiền khoáng hậu giữa hai kẻ phối ngẫu hầu như không ai có thể ngờ tới: chủ nghĩa tư bản và Hồi giáo cực đoan.

Khách đến nhà là tiễn!

Công cuộc chinh chiến visa Saudi của tôi càng lúc càng lâm vào bế tắc. Nhiều công ty chặc lưỡi nhắn nhủ rằng giá như tôi là đàn ông thì họ sẽ ngay lập tức mời tôi sang Saudi không một giây chần chừ. Trường đại học duy nhất nơi nam sinh và nữ sinh được học chung không có môn tôi giảng dạy và cũng không thèm trả lời thư. Tôi tìm hiểu thì được biết phần lớn trong tổng số gần hai triệu phụ nữ châu Á sang Saudi lao động thường là người giúp việc. Cương quyết không để cho bất kỳ một ý tưởng điên rồ nào của tôi kịp thành hình, một anh bạn lập tức kéo tôi đi thăm cuộc triển lãm ảnh Nô lệ thời hiện đại ở bán đảo Ả Rập, và thế là suốt cả tuần sau đó ngày nào tôi cũng gặp ác mộng. Cuộc sống tình dục tù túng cả đời chỉ nhìn thấy một vài khuôn mặt phụ nữ trong gia đình khiến chỉ cần gõ vào google hai từ “Saudi” và “maid” là sẽ có cảm giác đàn ông Saudi chẳng khác gì một lũ yêu râu xanh: xâm phạm tình dục, cưỡng hiếp tập thể, bắt làm việc quá sức, quịt tiền lương, đánh đập, chuyển đổi, cho mượn, qua tay nhiều người. Câu chuyện của một cô gái Philippines bị ông chủ hãm hại ngay cả khi xe cảnh sát đang đậu ở ngoài để tìm cách cứu cô thoát hiểm khiến tôi bàng hoàng suốt mấy ngày trời. Tình trạng lạm dụng xảy ra thường xuyên đến mức Ấn Độ phải ra quyết định cấm phụ nữ dưới 40 tuổi xuất khẩu qua Saudi. Tháng 7 năm 2013, báo Phụ Nữ đăng tin không ít cô gái Việt Nam trong số hơn 700 người sang đây làm ôsin bị quỵt lương dù mức trả vô cùng ít ỏi chỉ có sáu hoặc bảy triệu đồng tiền Việt. Có người chỉ được ăn bánh mì, ăn bí ăn khoai, hoặc bị ép phải lau dọn nhà cửa cho nhiều chủ cùng một lúc. Một phụ nữ khác bằng tuổi tôi thậm chí đã mất tích không còn dấu vết. Tôi đọc tin mà lặng hết cả người, tự dưng hiểu ngay tại sao một vài gã Saudi mang danh bạn bè trên mạng lại săn đón mình thái quá như thế. Chừng hơn tháng sau, tôi thậm chí còn nhận được một email rất thẳng thắn: “Chào em! Giấy tờ visa của em đã gần xong rồi! Xin em gửi cho tôi một cái ảnh để tôi còn đón em ở sân bay và make sex together!”.

Nếu Muhammad sống lại, tôi chắc hẳn ông sẽ vô cùng bàng hoàng trước sự méo mó của di sản mà ông đã đổ tâm dốc sức gây dựng. Vào thời kỳ ông còn sống, chính nhờ Hồi giáo và các chế tài luật Shariah mà lần đầu tiên trong lịch sử tôn giáo độc thần phụ nữ được chính thức đứng ngang hàng với nam giới về quyền con người. Lần đầu tiên có một tôn giáo quy định đàn ông bị giới hạn số vợ họ có thể lấy (bốn vợ), không phải vì họ siêu việt hơn đàn bà mà do quyền lợi của những phụ nữ có chồng chết trận phải được chăm sóc. Shariah cũng quy định đàn ông chỉ được quyền lấy thêm vợ khi họ có thể đảm bảo việc đối xử công bằng và khả năng lo toan tài chính cho đại gia đình. Lần đầu tiên tôn giáo quy định phụ nữ có quyền thừa kế, quyền sở hữu tài sản, quyền ly hôn, thậm chí quyền yêu cầu chồng phải có trách nhiệm không lơ là cuộc sống tình dục với mình. Lần đầu tiên trẻ em gái được chính thức bảo vệ bằng tuyên ngôn tôn giáo. Lần đầu tiên các bậc cha mẹ được yêu cầu phải bảo vệ trẻ gái, cho trẻ gái được học hành thì mới được lên thiên đàng. Lần đầu tiên người mẹ được tôn vinh ở vị trí đỉnh cao. Muhammad từng nhấn mạnh “chúng ta phải yêu thương mẹ mình nhất, nhì cũng là mẹ, ba cũng là mẹ, sau đó mới đến người cha”. Bằng tất cả những gì ông làm được vào cái thời mà phụ nữ còn bị coi như của cải trong nhà, đàn ông lấy vợ đuổi vợ vô tội vạ, và những hài nhi nữ bị vùi vào cát sa mạc, thì Muhammad xứng đáng là nhà cải cách xã hội kiệt xuất và là người tiên phong trong phong trào giải phóng phụ nữ.

Nhưng tiếc thay Saudi bây giờ đã khác với bán đảo Ả Rập ngày xưa. 1400 năm trước nơi đây con người phá biên giới nối liền các bộ lạc, Saudi bây giờ đóng cửa biên giới không cho cả khách du lịch vào thăm. Ngôi nhà Saudi không có cửa cho khách đến nhà. 1400 năm trước xứ này chỉ có cát với cát, Saudi bây giờ ngụp trong vũng dầu, nhiều tiền đến mức có thể xây một bức tường thành toàn bằng vàng cao một mét quanh quốc gia làm đường biên. 1400 năm trước ở Mecca phụ nữ làm sếp, góa bụa vẫn lấy trai tân, lại còn chủ động đòi cưới. Saudi bây giờ bất kể phụ nữ nào cũng phải có đàn ông giám hộ, mấy năm trước họ còn chỉ là một cái tên trên chứng minh thư của đàn ông. Họ cần giấy phép của đàn ông để đi học, đi làm, đi bệnh viện, mở tài khoản, đi du lịch, thậm chí đi ra ngoài đường là phải có đàn ông trong gia đình đi theo. Saudi là quốc gia cuối cùng phụ nữ vẫn chưa có quyền đi bầu cử vì các thầy tu cho rằng trách nhiệm của phụ nữ là chăm lo gia đình, không được lái xe vì vô số lý do, trong đó lý do mới nhất là khoa học đã chứng minh ngồi sau tay lái có hại cho… e hèm… tử cung (!). Hầu hết giới thầy tu Wahhabi cho rằng việc lái xe yêu cầu phụ nữ phải bỏ khăn bịt mặt, cho phép phụ nữ dễ giao du với nam giới không quen biết, và là một hành động phá vỡ truyền thống văn hóa. Phụ nữ ở Saudi, kể cả người nước ngoài, đều phải thuê lái xe riêng. Hẳn nhiên việc này trái với Shariah khi không cho phép phụ nữ giao du với người nam không phải là họ hàng. Từ đây mà bao nhiêu chuyện như hài kịch xảy ra. Thậm chí năm 2010, một fatwa (ý kiến tôn giáo) từ phía giới thầy tu Wahhabi khuyên phụ nữ nên cho các tài xế taxi của mình… bú tí, vì như thế theo nguyên tắc “rada” (tình máu mủ được nuôi dưỡng bằng sữa) tài xế sẽ trở thành người trong gia đình và được phép ở bên phụ nữ mà không cần người giám hộ. Chuyện thật mà như đùa. Không biết chính xác bao nhiêu người thực thi, nhưng điều đó chỉ làm rõ thêm sự phi lý của việc khăng khăng bắt cuộc sống hiện đại phải bó khuôn theo luật lệ truyền thống.

Đương nhiên, luật là một chuyện mà thực tế cuộc sống lại là chuyện khác. Không phải gia đình nào cũng có chồng, cha, anh rảnh việc đưa đón, hoặc có tài xế riêng (có bú tí cũng như không bú tí). Phụ nữ Saudi nhiều khi bị dồn vào thế bắt buộc phải dùng các lái xe quen biết từ các công ty taxi có uy tín, hoặc đặt chỗ trước các taxi công cộng vì họ thậm chí còn vừa mới bị tước mất quyền vẫy taxi trên đường. Nếu có biến cố như lạm dụng tình dục xảy ra thì phụ nữ luôn là người cùng chịu tội vì đã dám ngồi cùng xe với người nam không quen biết. Năm 2009, một phụ nữ 23 tuổi đã bị hãm hiếp tập thể và có thai. Cô bị phạt một năm tù và chịu đánh 100 roi sau khi sinh con. Những vụ việc động trời như thế từ Saudi cứ thỉnh thoảng lại làm thế giới giật mình thon thót. Khủng khiếp nhất là mấy năm trước, một vụ cháy nổ xảy ra nhưng các cô gái trong nhà bị một số thầy tu ngăn không cho chạy ra ngoài vì không kịp… lấy khăn trùm đầu. Kết quả là 15 nữ sinh chết thảm thương.

Oái ăm thay, một trong những lý do khiến vị trí xã hội của phụ nữ Saudi ở mức độ bét cùng thế giới như vậy (130/134) lại xuất phát từ sự may mắn vô song mà người Saudi tin rằng Thượng Đế đã hào phóng ban tặng cho những tín đồ xứng đáng nhất của mình: dầu mỏ. Saudi nắm trong tay 1/5 trữ lượng dầu của thế giới. Nhưng nền công nghiệp dầu mỏ đặc biệt hướng về lao động nam, cộng với các khoản trợ cấp gia đình dồi dào khiến cho việc 60% sinh viên đại học là nữ giới nhưng phụ nữ Saudi chỉ chiếm có 17% lực lượng lao động của cả vương quốc.

Nói đi cũng phải nói lại, vì phụ nữ Saudi có cái nhìn về bình đẳng nam nữ khác hẳn với phần còn lại của thế giới. Một bộ phận lớn phụ nữ cho rằng họ “có quyền” được có người nam giám hộ, “có quyền” được bảo vệ bản thân bằng cách che mặt, và bình đẳng giới phải đi liền với chức năng giới, nghĩa là đàn bà có việc của đàn bà và đàn ông có việc của đàn ông. Tuy nhiên, một thực tế vẫn không thể phủ nhận được là phụ nữ Saudi so với chị em trên thế giới còn khá nhiều uẩn ức. Nói ví von một cách cay đắng, vị thế của họ còn kém cả vị thế của một phụ nữ Mecca 1400 năm trước.

Ba giờ trên thánh địa

Tôi mất gần một năm xin visa đi Saudi không được, rốt cuộc đành tính kế chót, bay đi Dubai với hai vé máy bay và nối chuyến ở sân bay Jeddah. Không vào Saudi được thì thôi đặt chân đến cái sân bay cũng là chạm chân vào đất thánh rồi. Vẫn chiếc ba lô 11 cân như chuyến bỏ nhà bỏ việc đi bụi hai năm trước, nhật ký hành trình của tôi vào cái ngày 20 tháng 1 năm 2012 đại để là như sau:

9 giờ sáng

Sau ba lần kiểm tra an ninh tại sân bay Mumbai, đi vào bên trong cửa hành lang nối máy bay rồi, tôi thở hắt ra khi nhìn thấy một cái bàn kê sát ngay lối lên máy bay. Ông nhân viên an ninh không thèm soát túi của tôi mà chỉ lo lắng: “Cô có cái áo nào trùm kín người không? Ở sân bay Jeddah (Saudi), người ta sẽ không cho cô vào sân bay hở hang như thế này đâu”. Tôi trỏ cái khăn lụa to tướng, nghĩ bụng áo hở có hai cánh tay thôi, che tí là được.

Chuyến bay cất cánh với một bài kinh cầu Thượng Đế phù hộ cho hành khách và phi hành đoàn đi đến nơi về đến chốn.

9 giờ 45 phút

Tôi mở hàng loạt kênh ti vi. Bên cạnh 80% phim Hollywood là các chương trình Hồi giáo. Ask Huda chẳng hạn, nhận điện thoại từ các tín đồ khắp nơi trên thế giới và trả lời đủ các câu hỏi thập cẩm. Một chương trình khác toàn các cậu chíp hôi hỏi về tình yêu, kiểu “Bố mẹ chọn vợ cho con, xin hỏi con có thể cưới cô ấy và mong tình yêu rồi sẽ đến?” Chương trình cuối cùng tôi xem trước khi ngó ra ngoài cửa sổ nhìn sa mạc trải dài dưới cánh máy bay và lăn quay ra ngủ là một diễn đàn về mối tương quan giữa Kinh Quran và khoa học.

1 giờ 30 phút chiều

Máy bay hạ cánh xuống Jeddha. Như lời dặn, tôi lập tức đến trình báo ở bàn đón tiếp gần nhất. Cầm chiếc vé máy bay của tôi gí mũi vào xem đến mười phút, người đàn ông to béo phía sau máy tính mới hiểu ra là tôi cần nối chuyến tới một cửa sân bay khác vì tôi mua hai vé máy bay riêng biệt chứ không phải hành khách nối chuyến tự động với một vé như thường lệ. Và thế là tình huống này cấu thành một sự kiện, vì ai dám để một phụ nữ lang thang một mình từ cửa sân bay này tới sân bay khác không người giám hộ. Ông ta lập tức kêu tôi đưa hộ chiếu và quay lại với hai nhân viên sân bay. Họ bàn cãi, gọi điện, hỏi ý kiến hết ban này đến phòng nọ. Một anh an ninh chạy đi chạy lại như đèn cù, mỗi lần trở về lại chỉ trỏ sang tôi mặt nhăn như phải bả. Rõ ràng là họ không biết nên làm gì để xử lý cái con bé tôi đang ngồi vắt chân chữ ngũ, mặt không giấu nổi vẻ tò mò (cố nén mà không được!). Có một giọng nói đắc thắng vọng ra từ trong cái đầu tinh quái của tôi: “Ờ! Đấy! Chị Hai này bay được đến đây rồi đấy! Có giỏi thì nhét chị đây quay lại Mumbai đi! Để xem mấy người xử trí vụ này thế nào. Đã đến được đây rồi kiểu gì thì chị cũng cóc sợ!”

2 giờ chiều

Quyết định đầu tiên được đưa ra. Tôi được dẫn giải đến một cái xe buýt to tướng, trỗng hoác, đầu xe đề “Đặc biệt khẩn cấp”. Anh an ninh khoát tay kêu tôi lên xe rồi táo tợn ngồi xuống cạnh tôi. Anh hỏi han tí đỉnh, rồi… chạm vào tay tôi tí đỉnh. Tôi miệng cười như nghé nhưng bụng hoang mang không biết xe còn đi bao lâu, nếu cái gã chết tiệt này nổi cơn dê cụ lên thì mình nên đạp cửa kêu cứu hay đá cho một phát vào cái chân giữa. Có lẽ nên kêu cứu thì an toàn hơn, lỡ gây thương vong gì thì toi. Tôi đã đọc đủ nhiều về Saudi để biết rằng cái xứ này phạt nhau toàn quật roi mấy trăm cái rồi cho ngồi tù dưỡng thương.

2 giờ 15 phút

Xe dừng lại trước cổng sân bay số 2. Anh dê cụ còn cố vớt vát một cái chạm tay nữa trước khi giao tôi cho anh an ninh tiếp theo. Anh này mặt đằng đằng sát khí, kêu tôi ngồi chờ hẳn hai mươi phút để chạy đi lo giấy tờ và thông báo đến các phòng ban. Khi anh quay lại, một bóng đen to tướng đi cùng anh, kín mít từ đầu đến chân. Tôi được khoát tay mời vào một cái cabin kín cửa. Cái bóng đen đi sát đằng sau. Khi cửa được khóa trái, cái bóng bỏ tấm khăn phủ kín đầu, để lộ một khuôn mặt phụ nữ cực kỳ xinh đẹp, da trắng mịn, mắt xanh sẫm, mũi dọc dừa, môi mọng ướt. Cái cô tiên ấy tươi cười sờ nắn góc tay góc chân tôi, một thủ tục an ninh rất bình thường trong sân bay. Trước khi cô tiên kịp che đầu biến thành bóng đen, tôi vọt miệng hỏi: “Không ai được nhìn thấy chị à?” – Cô tiên cười toét miệng: “Tất nhiên là chỉ có bố, anh em trai và chồng tôi thôi. Ai ngu gì mà cho mấy ông không quen biết xem mặt!”

3 giờ kém 15

Qua cửa an ninh, tôi được đưa đến khu cổng lên máy bay và chờ ở một quán café sang trọng ngay sát phòng an ninh. Lần này không ai còn nhăm nhăm đứng cạnh tôi canh chừng nữa. Tuy nhiên tôi cũng không dám chạy quanh vì hộ chiếu và giấy tờ vẫn bị giữ, chắc có lẽ cho đến tận lúc lên máy bay. Tôi nhìn quanh, ngắm nghía cái phần bé nhỏ của cuộc sống Saudi trong khu chờ sân bay. Khung cảnh xung quanh tôi như một cuốn phim quay bởi một đạo diễn mù màu. Những người đàn ông chậm rãi trong áo dài trắng và khăn trắng. Những người phụ nữ tóc búi cao trùm khăn kiêu hãnh bước bên cạnh trong áo choàng đen. Phần lớn họ che kín mặt, nhưng cũng rất nhiều người chỉ che phần tóc, để lộ những khuôn mặt đẹp bí ẩn. Mọi thứ xung quanh tôi đều sáng loáng, sạch bong, sang trọng và quý phái, hệt như một căn phòng triển lãm nội thất hiện đại theo trường phái tối giản minimalism.

3 giờ rưỡi chiều

Đúng mười lăm phút trước khi cổng máy bay mở, tôi được trao trả hộ chiếu. Tôi chuyển đến ngồi trên những băng ghế chờ, nhận thấy rõ ràng những ánh mắt tò mò chạy dọc trên cơ thể mình. Chiếc khăn lụa hồng của tôi bay theo từng bước chân. Có lẽ tôi là đốm màu sắc duy nhất di chuyển trong cái thế giới đen trắng nửa thực nửa mơ này.

4 giờ kém 20

Trên đường ra xếp hàng, tôi dừng lại ở một hiệu sách nhỏ. Một cậu bé nhân viên còn rất trẻ chủ động hỏi tôi có cần trợ giúp. Tôi kể cho cậu nghe về việc mình bị quấy rối trên xe buýt. Cậu bé tái mặt, rối rít xin lỗi. Cậu chắp tay khổ sở xin tôi đừng nghĩ ai ở Saudi cũng tệ hại như vậy. Thoắt cái cậu đã biến đi và quay lại với một cuốn sách nhỏ trên tay: “Đây là món quà tôi tặng chị! Mong chị nhận giúp!” Tôi liếc xuống tựa đề: “Clear your doubts about Islam”[Xóa bỏ những nghi ngờ của bạn về Hồi giáo], ngẩng lên và mỉm cười: “Shukran!”[Cảm ơn]

Bí mật “khủng khiếp” của ba tôi

Hồi tôi còn bé tí, ba tôi – một đại tá cả đời xa nhà với các cuộc chinh phạt – từng giữ trong phòng một ngăn tủ khóa kín. Tôi luôn băn khoăn tự hỏi ba giấu cái gì trong đó mà lúc nào cửa tủ cũng phải đóng chặt: Súng? Thuốc độc? Hay là một con quái vật cũng nên. Tưởng tượng nào cũng xấu xí, vì tất nhiên là nếu nó đẹp đẽ thì chắc chắn ba đã dành nó cho con gái cưng. Nhiều năm sau, ba tôi mắc bệnh ung thư. Vào một ngày rất gần khi ông qua đời, ba tôi gọi tôi đến và đưa cho tôi bí mật ông cất giữ từ bao năm qua.

Đó là một cuốn kinh thánh. Một cuốn kinh thánh nhỏ xíu có bìa da thuộc màu đỏ thẫm.

Tôi không bao giờ hỏi tại sao ba tôi lại giữ một cuốn kinh thánh nhỏ xíu bao nhiêu năm trong tủ như thế, nhưng tôi đoán đó là một kỷ vật buồn trong đời chinh chiến của ông, góc sách nham nhở vết sém cháy và cái bìa da có chỗ đã thẫm đen lại bởi mồ hôi và cát bụi. Giờ đây, mỗi lần nhớ lại tuổi thơ với những phút ngồi khoanh chân chống cằm chăm chăm nhìn vào cái tủ khóa chặt và để trí tưởng tượng mặc sức tung hoành, tôi không khỏi bật cười. Chẳng có hình dung nào có thể xa rời sự thật hơn là con quái vật trong khi thực tế lại là một cuốn thánh kinh.

Và vì thế, cho đến giờ tôi vẫn băn khoăn tự hỏi liệu những hiểu biết và ấn tượng về Saudi của mình sẽ có thể xa rời thực tế đến chừng nào? Thực lòng mà nói, tôi cầu mong sao mình sẽ sai toàn tập. Saudi đóng cửa đã bao năm và thế giới này đã có quá đủ thời gian để trí tưởng tượng tung hoành về những gì đang diễn ra trong lòng vương quốc. Tôi thường nghĩ về cậu bé nhân viên trẻ tuổi ở sân bay Jeddha và thầm gửi đến em lời nhắn nhủ: “Abdullah à! Đã đến lúc cánh cửa tủ phải mở ra rồi!”

Prev
Next

Có thể bạn muốn đọc thêm

muon-kiep-nhan-sinh-2
Muôn Kiếp Nhân Sinh 2 – Nguyên Phong
January 11, 2024
hanh-trinh-ve-phuong-dong-blair-spalding
Hành Trình Về Phương Đông – Baird T. Spalding
March 6, 2023
muon-kiep-nhan-sinh-Nguyen-Phong
Muôn Kiếp Nhân Sinh – Nguyên Phong
October 29, 2021
duong-xua-may-trang-thich-nhat-hanh
Đường Xưa Mây Trắng – Thích Nhất Hạnh
March 20, 2023

ThuVienOnline © 2026