Thư viện Online
  • Trang chủ
  • Sách mới cập nhật
  • Trang chủ
  • Sách mới cập nhật

Những Tấm Lòng Cao Cả - Edmondo De Amicis - Tháng sáu

  1. Home
  2. Những Tấm Lòng Cao Cả - Edmondo De Amicis
  3. Tháng sáu
Prev
Next

32 độ

Thứ sáu, 16

Giờ hiện đang mùa hè. Người ta đã bắt đầu thấy mệt và mất vẻ hồng hào trong những ngày xuân. Cổ và chân cứ muốn khuyu, đầu gục xuống và mắt nhắm lại. Cậu Nelli tội nghiệp khổ sở vì cái nóng, mặt mày tái mét, và đôi khi ngủ li bì, đầu gối lên cuốn vở. Garrone lần nào cũng chú ý giở một quyển sách, đặt đứng trước mặt cậu để cho thầy giáo khỏi trông thấy. Crossi thì có cái kiểu tì cái đầu tóc hung to tướng lên mặt bàn, trông kỳ quái như đầu đã rời khỏi mình. Còn Nobis thì than phiền rằng lớp học quá đông, hít hết không khí. Bây giờ đi học là phải bao nhiêu cố gắng… Ở nhà, nhìn qua cửa sổ thấy những cây to tỏa bóng mát um tùm tha hồ mà chạy nhảy, nghĩ đến việc phải đến giam mình trong lớp học tôi buồn bực, tôi điên lên được. Nhưng vì mẹ rất tốt mà tôi đã nhẫn nhục, mẹ nhìn tôi ái ngại mỗi khi tôi tan học, và khi về đến nhà, xem vở của tôi viết cứ mỗi trang là lại hỏi: “Có mệt quá không con?” Sáng ra, đánh thức tôi dậy, lúc sáu giờ, mẹ lại nói: “Can đảm lên, chẳng còn bao nhiêu ngày nữa, rồi con sẽ về nghỉ ở thôn quê.”

Và mẹ rất có lý khi nhắc cho tôi là có những đứa trẻ làm việc ngoài đồng, dưới mặt trời đổ lửa hay trên bờ cuội sỏi cháy bỏng của các sông lớn, hay trong những xưởng thuỷ tinh, mặt lúc nào cũng cúi trong cái lò lửa. Tất cả những đứa trẻ ấy phải dậy sớm hơn chúng tôi, và chẳng bao giờ được nghỉ lễ, nghỉ hè. Vậy thì phải can đảm lên! Vả lại Derossi đã nêu gương cho chúng tôi đấy, có thể nói là cậu ta không biết nóng, cũng không buồn ngủ, lúc nào cũng linh hoạt nhanh nhẹn, mùa hè cũng như mùa đông. Cậu học không biết mệt, và làm cho những người quanh mình cũng hoạt bát khác nào đã làm cho không khí chung quanh mát đi vì giọng nói của mình.

Cũng còn hai cậu học trò nữa luôn luôn tỉnh táo và chăm chú: cậu Stardi cứng đầu với tự chích vào mình để khỏi buồn ngủ, vì trời càng nóng cậu càng mệt và càng cắn chặt hai hàm răng lại, mở đôi mắt trừng trừng, tưởng như muốn vồ lấy thầy Perboni mà ăn thịt; và Garoffi, nhà kinh doanh, rất bận chế tạo những chiếc quạt giấy màu hồng, trang trí với những hình vẽ lấy ở các bao diêm, để bán cho người này, người nọ. Và can đảm nhất vẫn là cậu Coretti, cậu Coretti đáng thương ấy, dậy từ năm giờ sáng để giúp bố vác củi; đến quãng mười một giờ thì không giương được mắt lên nữa, và đầu cứ gục xuống ngực. Thế nhưng cậu cứ cố vặn vẹo người, đập vào gáy, xin phép ra ngoài để khỏa nước lạnh vào mặt; đôi khi lại bảo những người bên cạnh cấu hộ vào người. Nhưng sáng nay, không thể nào gượng được nữa, cậu đã đánh một giấc ngủ nặng như chì.

Thầy giáo gọi “Coretti”.

Cậu không nghe thấy.

Thầy Perboni hơi bực, nhắc lại “Coretti”.

Bấy giờ một bạn, nhà ở gần cậu đứng dậy thưa: “Bạn Coretti đã phải vác củi từ lúc năm giờ sáng ạ”.

Thầy giáo cứ để cho cậu ngủ, và tiếp tục giảng bài trong nửa tiếng đồng hồ. Rồi thầy nhẹ nhàng đến bàn Coretti, vỗ vào trán cậu để đánh thức cậu dậy.

Trông thấy thầy Perboni trước mặt, Coretti lùi lại, sợ hãi. Nhưng thầy ôm đầu cậu trong hai tay, hôn vào tóc cậu, và nói:

“Thầy không mắng đâu, con ạ! Giấc ngủ của con không phải là của người lười biếng, thầy biết là trước khi đến lớp, con đã phải làm lụng nhiều.”

Bố tôi

(thư của mẹ)

Thứ bảy, 17

“Không, chắc rằng bạn Coretti của con, cũng như Garrone, không bao giờ lại trả lời bố mình như con đã trả lời bố tối hôm qua, Enrico ạ. Sao lại có thể thế được nhỉ? Con phải hứa với mẹ rằng từ nay trở đi sẽ không thể xảy ra việc như vậy nữa. Mỗi lần mà bố con mắng và con sắp sửa càu nhàu một lời không tốt, thì con hãy nghĩ đến cái ngày, mà ngày ấy chắc chắn sẽ đến không tránh được, cái ngày mà nằm trên giường bệnh sắp chết, bố cho gọi con lại mà nói: “Enrico, bố vĩnh biệt con”. Ôi, con yêu của mẹ, khi con nghe giọng nói của bố lần cuối cùng, và cả rất lâu về sau nữa, con sẽ tự hỏi làm sao mà mình có thể thiếu lễ dộ với bố được! Lúc đó, con sẽ hiểu rằng bố bao giờ cũng là người bạn tốt nhất của con; rằng khi bắt buộc phải phạt con thì chính bố lại đau khổ hơn con, và không bao giờ bố làm cho con phải khóc mà không phải để chữa những thói xấu của con. Đến lúc đó, con sẽ khóc, con sẽ hối hận! Bố giấu con tất cả, trừ lòng nhân hậu và tình yêu thương. Con có biết đâu rằng có những lúc bố mệt mỏi hết sức, tưởng không còn sống được mấy ngày nữa, và những lúc đó bố có lo lắng là vì nghĩ rằng sẽ bỏ con lại một mình, không ai che chở! Biết bao nhiêu lần bị ý nghĩ buồn thảm ấy ám ảnh, bố vào buồng con lúc con đang ngủ! Bố đứng đấy nhìn con, tay cầm ngọn nến, rồi dù mệt mỏi, lại cố gắng bước ra, tiếp tục làm việc. Con lại cũng biết đâu rằng, khi trong lòng bố có những nỗi cay đắng, nỗi thất vọng như thường xảy đến cho tất cả mọi người, thì chỉ nhờ trông thấy con, nhờ sự có mặt của con mà được an ủi. Bố cần tin ở tình thương yêu nồng nhiệt của con, vì tình cảm ấy sẽ đem lại cho mình sự bình yên và lòng can đảm. Con thử nghĩ đối với bố nỗi đau đớn sẽ như thế nào khi đáng lẽ gặp ở con tình thương yêu, thì chỉ thấy vẻ lạnh nhạt và sự bất kính! Con đừng bao giờ phạm lại cái tội vô ơn bạc nghĩa khủng khiếp ấy nữa. Hãy nhớ rằng, ở đời này chẳng có gì bất điệt, và có thể sang năm, hay tháng sau, hay biết đâu ngày mai… con sẽ mất bố, trong khi con còn bé dại…

Ôi! Enrico đáng thương của mẹ, bấy giờ con sẽ thấy bao nhiêu biến đổi xảy ra chung quanh con! Cái nhà này sẽ trống trải như thế nào với mẹ tội nghiệp của con mặc toàn màu đen. Đi đi, con ạ, đi gặp ngay bố đang ở trong phòng làm việc; con hãy bước vào, nhẹ nhàng trên đầu ngón chân, áp trán con vào đầu gối bố và xin bố tha lỗi cho con.

Mẹ của con”.

Về đồng quê

Thứ hai, 19

Bố rất tốt lại tha lỗi cho tôi lần này nữa, và còn cho tôi dự vào buổi về đồng quê chơi, đã bàn với bố Coretti từ hôm thứ tư. Chúng tôi ai cũng thấy cần phải thở một ít không khí trong sạch quang đãng.

Thật vui như hội. Hai giờ chiều hôm qua chúng tôi đã có mặt tại quảng trường Pháp lệnh: Derossi, Garrone, Garoffi, Precossi, Coretti con, và tôi, mang theo trái cây, xúc xích và trứng luộc. Chúng tôi có những cái bát bằng da và những chai vang trắng. Coretti đeo bên sườn cái bi-đông của bố dùng khi còn ở trong quân đội, đựng đầy vang đỏ. Còn cậu bé Precossi, mặc bộ quần áo thợ rèn, ôm chiếc bánh mì hai ki-lô. Chúng tôi đi xe ngựa công cộng ra khỏi thành phố. Rồi thế là chúng tôi chạy qua các bãi cỏ lên các ngọn đồi! Mát quá, bóng rợp, xanh um! Chúng tôi lăn trên cỏ, nhúng mặt xuống các dòng suối cho mát, nhảy qua các hàng rào!… Bố Coretti muốn đi với chúng tôi, bị tụt lại, phải đi theo sau chúng tôi khá xa, áo vét vắt vai, vừa đi vừa hút tẩu thuốc, thỉnh thoảng lại lấy tay đe chứng tôi, nhắc chúng tôi đừng làm thủng đũng quần mình. Precossi huýt sáo. Tôi chưa hề nghe cậu huýt sáo bao giờ. Coretti, lúc nào cũng nhanh nhẹn như con sơn dương, với con dao của mình đã chế tạo ra bao nhiêu thứ: những bánh xe cối xay, những cái đĩa, những ống tiêm.

Derossi hay đứng lại để nói cho chúng tôi biết tên các loài cây và các loài côn trùng. Tôi không hiểu làm thế nào mà cậu biết được tất cả những thứ ấy!… Garrone lặng lẽ ăn bánh mì, nhưng không cắn từng miếng ngon lành như trước nữa… Từ ngày mẹ cậu mất, cậu thay đổi tính tình khác hẳn, tội nghiệp Garrone. Nhưng vẫn là Garrone, luôn luôn tốt như bánh mì mà cậu rất thích ăn; khi có bạn đang lấy đà để nhảy qua một cái hố, là cậu chạy sang bờ bên kia dang tay ra đón; và Precossi vốn sợ bò, hồi bé cậu đã từng bị bò húc, thì mỗi khi có con bò đi qua là Garrone đứng ngay trước mặt cậu. Cứ thế, chúng tôi đến tận Santa Margherita, xuống dốc vừa nhảy, vừa chạy tung tăng, vừa nhào lộn.

Precossi bước qua hàng rào, bị móc toạc một miếng áo, và xấu hổ cứ đứng đấy, mảnh áo rách lủng lẳng. May có Garoffi, lúc nào cũng sẵn đinh ghim trong người, cậu đính tạm lại miếng rách, khéo đến nỗi khó nhận ra được, còn Precossi thì lí nhí theo thói quen “Xin lỗi, xin lỗi”, rồi ù té chạy.

Garoffi không để mất thì giờ, cậu nhặt nhạnh đủ thứ táp nham; khi thấy viên đá nào đấy hơi óng ánh là nhặt bỏ túi, có lẽ nghĩ là đá chứa vàng hay bạc. Và tất cả chúng tôi chạy, nhảy, leo trèo, dưới bóng râm, dưới ánh mặt trời, trên tất cả mọi địa vật, địa hình cho đến khi mệt nhoài, thở dốc, chúng tôi mới dừng lại trên đỉnh một ngọn đồi cao, ngồi cả xuống cỏ để ăn chiều. Từ đó nhìn xuống thấy một bức tranh toàn cảnh đẹp vô cùng: một đồng bằng mênh mông ở dưới chân chúng tôi, và ở đằng xa tít là mạch núi Alpi xanh biếc, đỉnh phủ tuyết.

Chúng tôi đói quá. Bánh mì vào mồm là như tan ra vậy. Bố cậu Coretti đưa cho chúng tôi những mẩu xúc xích để trên những ngọn lá bí dùng làm đĩa. Vừa ăn, chúng tôi vừa nói chuyện về các thầy giáo, các bạn hôm nay không cùng đi chơi được, về các kỳ thi. Precossi hầu như không dám ăn gì, nhưng Garrone lại chọn những miếng ngon nhất đặt vào cái “đĩa” bằng lá cho cậu và bắt cậu phải ăn. Coretti ngồi cạnh bố cậu, hai chân tréo nhau. Trông họ như hai anh em hơn là hai bố con, cả hai đều hồng hào và tươi cười để lộ những hàm răng trắng. Ông bố uống rượu thích thú lắm, vừa uống, vừa bảo chúng tôi: “Bác cần uống hơn học trò, vì đối với các cậu, rượu rất có hại!” Và, đặt một tay lên vai con mình, nói tiếp: “Các cậu yêu lấy thằng bé này, nó là bông hoa của sự ngoan ngoãn, chính tôi nói với các cậu thế đấy”. Và tất cả chúng tôi đều cười, trừ Garrone. Thế rồi bác thở dài và nói: “Ôi, hôm nay tất cả các cậu là những người bạn thân nhau, nhưng vài năm nữa Bottini và Derossi sẽ là luật sư hay giáo sư; còn bốn các cậu thì công nhân, chủ quán, cái quỷ gì nữa!… Và thế là… xin cáo từ tình bạn!”

– Sao thế được ạ? – Derossi trả lời, đối với cháu thì Garrone vẫn mãi mãi là Garrone, Precossi vẫn là Precossi và những bạn khác cũng thế, dù cháu có thành ra Hoàng đế của tất cả các đất Nga đi nữa!

– Hay lắm! – Bố cậu Coretti vừa nói to vừa giơ cốc lên, – thế mới là nói hay. Nắm tay tôi này, bạn thế mới tốt. Và hoan hô trường học! Trường học đã họp những người có chút ít với những người không có chút gì, làm thành một gia đình với nhau.

Tất cả chúng tôi cùng chạm cốc với bác. Trời đã chiều. Chúng tôi xuống đồi vừa chạy vừa hát, tay khoác tay xuống đến bờ sông Po, mà mặt nước đã tối sẫm lại, bên trên bay hàng đàn đom đóm.

Về đến quảng trường Pháp lệnh, chúng tôi chia tay nhau sau khi hẹn sẽ gặp lại nhau tất cả, chủ nhật tới trong buổi lễ phát phần thưởng cho học viên các lớp buổi tối.

Ngày hôm nay thật là đẹp, và tôi về đến nhà vui lòng biết mấy nếu khi bước lên thang gác tối om, tôi không gặp cô giáo cũ của tôi; cô nắm lấy hai tay tôi và nói vào tai tôi: “Vĩnh biệt Enrico, đừng quên cô nhé!”

Tôi biết là cô đang khóc. Khi tôi nói với mẹ là mới gặp cô giáo thì mẹ nói: “Tội nghiệp cô giáo quá! Mẹ lo rằng đây là lần cuối cùng cô đến thăm mẹ. Dù cô vẫn đi đây đi đó và dù cô vẫn còn lên lớp mấy ngày nay, nhưng mẹ thấy cô chẳng còn bao hơi sức nữa!”

Lễ phát phần thưởng cho công nhân

Chủ nhật, 25

Như đã giao hẹn với nhau, tất cả chúng tôi đã đến nhà hát Vittorio Emanuele dự một buổi lễ phát thưởng cho những công nhân học các lớp buổi tối.

Nhà hát đông kín như hôm 14 tháng ba vậy, nhưng lần này gần hết người đến dự đều thuộc giai cấp công nhân.

Ở gian giữa là học sinh trường Đồng ca. Họ đang hát một bài tụng ca tặng những chiến sĩ đã hy sinh cho Tổ quốc, bài hát hay đến nỗi vừa hết là tất cả mọi người đều đứng dậy vỗ tay và hô: bis nên đã phải hát lại lần nữa.

Tiếp ngay theo đấy những người được thưởng bắt đầu đi diễu qua trước ông thị trưởng, ông tỉnh trưởng và rất nhiều tân khách, là những người đã tặng sách, sổ tiết kiệm, văn bằng và cả huy chương.

Tôi trông thấy cậu bé thợ nề ngồi ở một góc, cạnh mẹ cậu, và xa hơn một chút là thầy hiệu trưởng của chúng tôi, và đằng sau thầy là mái tóc màu đỏ của thầy giáo lớp hai của tôi.

Chúng tôi thấy diễu qua những người được thưởng ở các trường hội họa: thợ vàng bạc, thợ chạm kim khí, thợ in đá và cả thợ mộc, thợ nề; tiếp theo là học viên các trường thương nghiệp, các trường âm nhạc, trong đó có những cô gái và những công nhân mặc lễ phục. Người ta vỗ tay mừng họ dữ quá, họ có vẻ vui sướng lắm. Sau cùng đến các học viên các trường sơ đẳng buổi tối.

Đẹp biết mấy cái cảnh họ diễu qua, những người thuộc đủ mọi nghề, ăn mặc đủ kiểu; những người đầu hai thứ tóc, những trẻ con các gia đình công nhân, những người công nhân râu đen rậm. Nhứng người trẻ tuổi thì vui vẻ nhanh nhẹn, những người lớn tuổi có vẻ hơi lúng túng. Quần chúng vỗ tay hoan nghênh cả người trẻ lẫn người già. Nhưng không ai cười như trong buổi phát thưởng cho chúng tôi. Tất cả mọi khuôn mặt đều chăm chú và nghiêm trang.

Nhiều người được thưởng có vợ con, ngồi tầng dưới; và có những chú bé thấy bố trên sân khấu thì gọi vang lên, giơ tay chỉ theo và cười to.

Diễu qua còn có những nông dân, những người bốc vác, trong số có một người đánh giày mà bố biết, và ông tỉnh trưởng trao cho người ấy một tấm bằng. Sau người ấy tôi thấy bước tới một ông khổng lồ mà tôi đã gặp ở đâu rồi… đó là bố cậu bé thợ nề được phần thưởng thứ nhì. Tôi nhớ lại tối hôm thấy bác ấy trên gác xép, ngồi bên giường bệnh của đứa con sắp chết, và tôi liền đưa mắt tìm cậu bé thợ nề. Tội nghiệp, cậu đang nhìn bố vẻ mặt xúc động.

Vừa lúc ấy, một tràng vỗ tay như sấm nổi lên làm tôi chú ý nhìn lên sân khấu, đang đứng đấy là một cậu bé nạo ống khói, mặt mũi đã rửa sạch, nhưng vẫn bộ quần áo màu bồ hóng. Ông thị trưởng nói với cậu, tay nắm tay cậu.

Sau cậu bé nạo ống khói đến lượt một người nấu bếp, rồi một người quét đường lên nhận huy chương.

Tôi cảm thấy trong lòng không hiểu là cái gì, như một niềm tôn kính sâu sắc, một mối thiện cảm lớn lao đối với tất cả những người lao động ấy, những chủ gia đình ấy, tôi nghĩ rằng ngoài công việc hàng ngày, họ đã phải cố gắng thêm biết bao nhiêu mới được những phần thưởng này, họ đã phải bớt đi bao nhiêu giờ ngủ mà họ rất cần, họ đã phải bắt cái bộ óc vốn ít quen học hành và hai bàn tay chai sạn trong lao động cố gắng đến ngần nào.

Trong dòng người diễu qua có một cậu thợ học việc, mặc cái áo chẽn dài của bố cho mượn, thấy rõ hai bàn tay dài quá phải vén lên, khi nhận phần thưởng.

Một vài tiếng cười vừa bật ra đã bị những tràng vỗ tay át đi. Sau cậu là một cụ già đầu hói, tóc bạc lơ thơ, những người lính pháo thủ trong số đó có mấy chú học lớp buổi tối ở khu chúng tôi, rồi những người làm thuế quan và những người lính cảnh vệ thành phố, những người canh gác các trường học cho chúng tôi.

Sau cùng, học sinh trường đồng ca hát lại bài hát yêu nước một lần nữa, lần này dạt dào, sôi nổi, đến nỗi không ai dám vỗ tay và người ta ra về, xúc động, từ từ, lặng lẽ.

Chỉ phút chốc đường phố đã đầy người. Cậu bé nạo ống khói đứng trước cửa rạp hát, tay cầm quyển sách bìa đỏ mới được thưởng, chung quanh là một số tân khách đang ân cần hỏi chuyện. Nhiều người ra về đều chào nhau: công nhân, trẻ em, vệ binh, thầy giáo. Thầy giáo lớp hai của tôi đi ra cùng với hai người lính pháo thủ. Nhưng cảm động nhất là cảnh những người vợ công nhân bế con, và các chú bé này hai bàn tay nhỏ xíu cầm tấm bằng khen của bố và chìa ra khoe một cách tự hào với người qua đường.

Cái chết của cô giáo tôi

Thứ ba, 27

Trong khi chúng tôi đang ở nhà hát Vittorio Emanuele thì cô giáo tội nghiệp của tôi hấp hối. Cô mất lúc hai giờ, bảy ngày sau khi đến thăm mẹ. Thầy hiệu trưởng báo tin buồn cho chúng tôi sáng hôm qua và nói thêm:

“Những cậu nào là học trò cũ của cô đều biết lòng cô tốt biết bao nhiêu và cô yêu trẻ đến thế nào; cô là một người mẹ đối với các con đó.

“Cô không còn nữa! Một căn bệnh ghê gớm đã làm cô hao mòn từ lâu. Giá cô không phải làm việc để kiếm ăn thì cô đã có thể nghỉ chữa bệnh, và có thể khỏi bệnh được. Cô cũng có thể sống thêm vài tháng nữa nếu cô xin nghỉ phép một thời gian; nhưng cô lại không muốn xa học trò của mình, cho đến ngày mà sức cô không còn cho phép cô làm theo ý muốn được nữa. Chiều thứ bảy ngày mười bảy, cô từ biệt học trò, buồn rầu, chắc chắn rằng mình sẽ không bao giờ gặp lại họ nữa. Cô còn khuyên học trò những lời rất bổ ích, ôm hôn tất cả mọi người, rồi vừa khóc vừa chạy nhanh ra khỏi lớp. Từ nay, các con không còn thấy lại cô nữa. Các con hãy luôn luôn nhớ đến cô, các con ạ!”

Cậu Precossi là học trò cũ của cô ở lớp một, gục đầu vào bàn mà khóc. Chiều hôm qua, tan học tất cả chúng tôi đến nhà cô để đi đưa đám. Chiếc xe tang đã đỗ trước nhà và rất đông người đã đứng chờ, họ nói chuyện với nhau khe khẽ.

Thầy hiệu trưởng ở đấy cùng với các thầy giáo, cô giáo của trường, và nhiều thầy cô của nhiều khu khác mà trước kia cô đã từng dạy. Hầu hết học trò lớp cô đều đến cùng với mẹ họ. Khoảng năm chục học sinh của khu Baretti mang đến một vờng hoa lớn, và những học sinh khác thì mang những bó hoa hồng; đã có rất nhiều vòng hoa đặt trong xe tang. Một vòng hoa lớn, ghi dòng chữ “Kính viếng hương hồn cô giáo của chúng con. Học sinh lớp bốn”; dưới đó là một vòng hoa bé hơn của học sinh lớp một.

Ôi! Cô giáo đáng thương! Cô tốt biết bao nhiêu đối với tôi. Bao nhiêu năm trời, cô đã kiên nhẫn đến thế nào, chịu khó đến thế nào! Sách của cô, cô đã để lại hết cho học trò; cái lọ mực cô cho người này; bức tranh nhỏ cô cho người kia, cô cho tất cả những gì mà cô đã có trên đời.

Hai ngày trước khi chết, cô đã yêu cầu thầy hiệu trưởng đừng cho phép các học trò bé quá đi theo đám tang của cô, sợ các em khóc. Cô đã làm nhiều việc tốt, cô đã chịu đựng nhiều đau khổ và giờ cô đã mất. Cô giáo đáng thương! Vĩnh biệt! Vĩnh biệt cô mãi mãi, cô giáo quý mến của tôi! Niềm tưởng nhớ đau buồn nhưng dịu dàng trong thời thơ ấu của tôi!

Những lời cảm ơn

Thứ tư, 28

Cô giáo đáng thương của tôi muốn dạy cho hết năm học của mình, nhưng cô đã mất, ba ngày trước khi giảng hết các bài.

Ngày kia chúng tôi sẽ còn đến lớp để nghe đọc truyện hàng tháng cuối cùng nhan đề: “Một vụ đắm tàu” rồi sau đó là hết! Thứ bảy mồng 1 tháng bảy sẽ bắt đầu các bài thi. Thế là một năm học nữa đã qua, năm thứ tư đã hết. Năm học đáng lẽ tốt đẹp, nếu không có cái chết của cô giáo đáng thương của tôi.

Khi tôi nhớ lại những điều hiểu biết của mình hồi tháng mười năm ngoái thì tôi thấy là đã hiểu biết hơn lên nhiều lắm: tôi đã có được biết bao nhiêu điều mới lạ trong trí nhớ! Những điều suy nghĩ, tôi đã biết viết và nói ra tốt hơn nhiều. Tôi có thể giúp cho những người lớn hơn tôi trong việc tính toán sổ sách hay trong công việc làm ăn của họ. Bây giờ tôi thấy hiểu kỹ hơn tất cả những gì tôi đọc… Thế nhưng biết bao nhiêu người đã thúc đẩy tôi học tập; người bằng cách này, người bằng cách khác! Hôm nay, tôi xin cám ơn tất cả mọi người… Trước hết, tôi cám ơn thầy giáo kính yêu, thầy rất thương yêu tôi và khoan dung đối với tôi và mỗi một tiến bộ của tôi đều phải đổi bằng sự hao tổn sức khỏe của thầy…

Tôi cám ơn Derossi, bạn tốt của tôi, mà những lời giải thích hoạt bát và rõ ràng đã bao lần làm cho tôi hiểu được nhiều điều rất khó, và vượt lên những khó khăn của các buổi thi. Tôi cám ơn Stardi, trung thực và vững vàng, đã cho tôi thấy là nghị lực sắt đá sẽ làm cho người ta thành công trong mọi việc như thế nào, Garrone, người bạn tốt bụng và hào hiệp, đã làm cho tất cả những ai quen biết cũng trở nên hào hiệp và tốt bụng; và các bạn nữa, Precossi và Coretti luôn luôn đem cho tôi lòng can đảm trong những lúc phiền muộn và sự yên tĩnh trong việc học tập.

Nhưng cám ơn hơn hết là bố, bố rất tốt của con, người thầy giáo đầu tiên của con, người bạn đầu tiên của con; bố đã khuyên con bao nhiêu điều bổ ích, đã dạy cho con biết bao nhiêu thứ. Trong khi bố vì con mà làm việc, và giấu con mọi nỗi lo buồn, bố đã tìm cách làm cho việc học tập của con được dễ dàng, và đời sống của con được dễ chịu; và mẹ rất tốt của con, đã chia sẻ tất cả những nỗi buồn của con, mẹ đã học, đã làm, đã khóc vì con, phải, vì con. Con xin quỳ trước mặt mẹ như hồi con còn bé, và con xin cám ơn bố và mẹ với tất cả tình thương yêu mà bố mẹ đã truyền vào tim con, suốt trong mười hai năm hy sinh và thương yêu ấy!

Một vụ đắm tàu

(Truyện đọc hàng tháng cuối cùng)

Cách đây mấy năm, vào một buổi sáng tháng mười hai, một chiếc tàu thủy chạy bằng hơi nước rời khỏi cảng Liverpool. Trên tàu có hơn hai trăm người, kể cả sáu chục trong thủy thủ đoàn. Thuyền trưởng và hầu hết thủy thủ đều là người Anh.

Trong số hành khách có nhiều người Ý: ba nhà buôn, một linh mục và nhiều nhạc sĩ. Tàu đi về hướng đảo Malta. Thời tiết xấu.

Phía đằng mũi tàu, trong số hành khách đi hạng ba, có một cậu bé người Ý, khoảng mười hai tuổi, bé người so với tuổi nhưng vạm vỡ, với nét mặt khắc khổ và cương nghị của những người đảo Sicilia. Cậu ngồi đấy một mình, trên một đống thừng, tay chống vào một chiếc vali đã cũ, đựng quần áo. Da mặt màu bánh mật, tóc đen, xoăn lại, rủ xuống đến cổ; cậu bé tội nghiệp ăn mặc tồi tàn, một khăn quàng cũ phủ lên hai vai, một bên vai quàng sợi dây đeo cái túi da. Cậu đưa mắt nhìn quanh vẻ lo ngại, nhìn hành khách, con tàu, các thủy thủ chạy ngang trước mặt, nhìn mặt biển đang gầm thét. Trông cậu như vừa phải chịu một nỗi buồn lớn trong gia đình: vẻ mặt ngây thơ mà cái nhìn âu sầu.

Tàu vừa mới nhổ neo được một lúc thì một thủy thủ người Ý tóc hoa râm, lên phía đằng mũi, tay dắt một cô con gái, dừng lại trước mặt cậu bé Sicilia và nói: “Đưa đến cho cháu một cô bạn đường đây, Mario à!” Xong, người thủy thủ đi nơi khác.

Cô gái ngồi lên đống dây thừng, cạnh cậu bé. Họ nhìn nhau.

“Đằng ấy về đâu đấy?” cậu bé Sicilia hỏi.

“Về Malta, đi qua Napoli, – cô bé trả lời. Rồi nói thêm – Mình về gặp lại bố mẹ đang chờ mình. Mình tên là Giulietta Faggiani”.

Cậu bé không nói gì hết. Một lúc sau, cậu lấy trong túi da chiếc bánh mì và những quả khô, cô bé thì có bánh bích quy. Họ cùng ăn.

“Vui đấy, người thủy thủ kêu lên khi đi qua, – sắp nhảy múa rồi đây”.

Gió thổi mạnh lên, con tàu tròng trành dữ dội. Nhưng hai đứa trẻ không có máu say sóng, chẳng hề để ý gì cả.

Cô gái mỉm cười. Tuổi cô cũng gần bằng tuổi người bạn đồng hành, nhưng cao hơn, cũng nước da bánh mật, chắc cũng đã chịu khổ, ăn mặc cũng rất xoàng xĩnh. Một cái khăn mùi xoa màu đỏ buộc mớ tóc xoăn cắt ngắn. Hai tai đeo hai chiếc khuyên bạc.

Họ kể cho nhau nghe chuyện mình. Cậu bé là con mồ côi, bố là công nhân, mới chết ở Liverpool mấy hôm trước, và ông lãnh sự Ý thấy cậu bơ vơ mới gửi cậu về quê ở Palermo. Ở đấy cậu mong tìm được vài người có họ xa.

Cô bé thì được một người cô rất thương đưa sang London hồi năm ngoái; bố mẹ cô quá nghèo gửi con đi một thời gian, và người cô hứa sau này nhận cô làm người thừa kế gia tài của mình. Nhưng chỉ mấy tháng sau thì người cô bị một chiếc xe ngựa chẹt chết, không để lại một xu nào. Ông lãnh sự Ý cũng cho cô trở về nước.

Cả hai đều được gửi cho chú thủy thủ người Ý.

“Thế đấy, – cô bé nói, – bố mẹ mình tưởng mình sẽ trở về giàu có, nhưng sẽ gặp lại cơn vẫn nghèo như trước. Nhưng bố mẹ mình thương mình lắm, nên dù thế nào mình cũng được đón tiếp vui vẻ. Còn các em trai mình nữa, chúng nó sẽ vui biết mấy. khi gặp lại mình. Mình có bốn đứa em cơ, đều còn nhỏ tí, mình là chị cả. Mình may quần áo cho bọn chúng… Mình về nhà thì vui phải biết. Đến nơi mình bước vào rón rén…”

Rồi cô hỏi người bạn đường:

– Thế cậu cũng sắp gặp lại bố mẹ chứ?

– Ừ, nếu bố mẹ muốn mình về…

– Thế bố mẹ cậu không yêu cậu à?

– Mình cũng chẳng biết nữa.

– Đến lễ Giáng sinh này, mình mười ba tuổi – cô gái nói.

Họ còn nói chuyện về biển và những người chung quanh. Suốt cả ngày, họ ở cạnh nhau, thỉnh thoảng lại nói với nhau vài câu. Hành khách tưởng họ là anh em. Cô bé đan một chiếc bít tất, cậu bé có vẻ tư lự. Mặt biển mỗi lúc sóng một to.

Đến tối, lúc chia tay đi ngủ, cô bé nói với Mario:

“Ngủ ngon nhé!”

– Rồi chẳng ai ngủ yên được đâu, các cháu ạ! – người thủy thủ Ý nói, khi chạy ngang qua vì ông thuyền trưởng gọi.

Mario định chúc lại bạn nhỏ “ngủ ngon” thì bỗng một ngọn sóng lớn làm cậu ướt hết và xô cậu ngã vào chiếc ghế dài…

“Có bị thương không?” cô bé kêu to và chạy lại. Hành khách đều hối hả đi xuống khoang tàu, không ai chú ý đến hai người. Cô bé quỳ xuống bên cạnh Mario đang choáng váng, lau máu ở trán cậu, rồi lấy cái khăn đỏ đang trùm băng cho bạn. Trong khi ôm đầu cậu để buộc băng thì một giọt máu giây vào cái áo vàng của cô.

Mario tỉnh lại dần và đứng lên.

– Đã đỡ chưa? – cô bé hỏi.

– Chẳng sao đâu, – cậu trả lời.

– Thôi ngủ ngon nhé! – Giulietta nói.

– Ngủ ngon! – Mario chúc lại.

Rồi họ đi xuống phòng ngủ.

Người thủy thủ đã đoán đúng. Hai đứa bé chưa kịp ngủ thì một cơn bão đã nổi lên. Thật khác nào một cuộc tấn công dữ dội, chỉ một chốc đã đánh gãy một cột buồm, cuốn mất ba chiếc thuyền treo ở các ròng rọc phía ngoài mạn tàu, và cả ba con bò ở đằng trước mũi.

Quang cảnh trên tàu hỗn loạn không tả được. Mọi người đều hoảng hốt, kinh hoàng: tiếng kêu, tiếng khóc, tiếng cầu nguyện đến não lòng. Cơn bão mỗi lúc một mạnh lên, suốt cả đêm và rạng sáng thì đến lúc dữ dội hết sức.

Những đợt sóng khủng khiếp tràn qua con tàu, khi theo chiều ngang, khi theo chiều dọc, cuốn đi hoặc đập tan hết mọi vật gặp phải. Sàn tàu phía trên khoang máy bị sụt, nước ào vào ầm ầm dập tắt hết lửa, những người thợ đốt lò đã phải chạy đi nơi khác. Đâu đâu cũng có nước xối xuống, lênh láng khắp nơi.

Một tiếng nói vang lên: “Bơm nước ra!” Đó là tiếng của ông thuyền trưởng.

Thủy thủ lao đi lấy bơm, nhưng một ngọn sóng lớn bất ngờ đập mạnh vào phía đằng lái, giật đứt các dây chằng, làm tung các cánh cửa, rồi phun nước vào trong như vòi rồng.

Hành khách sợ quá chừng, vào nấp cả trong gian phòng lớn. Có lúc, thấy thuyền trưởng vào, tất cả mọi người đều nhao nhao lên hỏi: “Thuyền trưởng! Thuyền trưởng! Liệu có việc gì không? Còn chút hy vọng nào không? Cứu chúng tôi với!”

Ông thuyền trưởng chờ cho mọi người im lặng, mới lạnh lùng nói: “Hãy kiên nhẫn chịu đựng”.

Một người đàn bà một mình thét lên: “Thương hại tôi với”.

Không ai còn nói lên được một lời nữa, nỗi khiếp sợ làm cho những người khốn khổ kia như tê dại. Một hồi lâu trôi qua, im lặng như trong cõi chết, trôi qua. Người ta nhìn nhau, hốc hác, kinh hoàng. Có một lúc, ông thuyền trưởng thử cho hạ xuống biển một chiếc thuyền. Năm thủy thủ bước vào, chiếc thuyền từ từ hạ xuống… Vừa mới chạm mặt biển, một đợt sóng to đã xô đến lật úp ngay chiếc thuyền. Hai thủy thủ chết đuối, trong đó có người thủy thủ Ý. Những người khác phải chật vật lắm mới nắm được đầu dây để leo lên tàu. Sau cơn thử thách, chính các thủy thủ cũng đã nản lòng. Hai tiếng đồng hồ trôi qua… Con tàu chìm dần, nước ngập đến các bao lơn.

Bấy giờ, một cảnh tượng khủng khiếp diễn ra trên sàn tàu. Những bà mẹ ôm chặt con vào lòng một cách tuyệt vọng; những người bạn ôm hôn nhau vĩnh biệt. Có người xuống các buồng dưới để khỏi phải nhìn thấy mặt biển.

Một hành khách tự bắn một phát súng ngắn, ngã vật xuống cầu thang và tắt thở. Những người khốn khổ khác, trước cái chết đang đến gần, chen chúc nhau như điên cuồng.

Người ta nghe lẫn lộn, hỗn độn những tiếng kêu khóc tiếng hét của trẻ em, những giọng xé óc lạ lùng, và người ta đã thấy chỗ này chỗ kia những người không cử động, kinh hoàng, đôi mắt mở to nhưng không nhìn thấy gì nữa, như mắt người điên. Mario và Giulietta, hai tay ôm chặt một cột buồm, mắt nhìn chằm chằm ra biển. Mặt biển đã yên hơn một chút, nhưng con tàu vẫn tiếp tục chìm từ từ. Chỉ vài phút nữa là nó sẽ nằm dưới đáy biển.

“Thả xuồng xuống biển!” ông thuyền trưởng ra lệnh.

Chiếc xuồng cuối cùng được hạ xuống mặt nước. Mười bốn thủy thủ và ba người khách xuống theo.

Ông thuyền trưởng ở lại trên tàu.

– Xuống đây với chúng tôi! – Người ta gọi ông từ bên dưới.

– Tôi phải chết ở vị trí. – thuyền trưởng nói. Những người thủy thủ ở dưới lại kêu to: “Chúng ta sẽ gặp một chiếc tàu khác và sẽ được cứu sống. Xuống ngay, không chết mất!”

– Tôi ở lại!

Những người thủy thủ lại hướng về hành khách và kêu to: “Còn chỗ cho một người, một người đàn bà!”

Một người đàn bà bước ra, ông thuyền trưởng dìu bên cánh tay nhưng nhìn thấy chiếc xuồng cách xa tàu, không đủ can đảm nhảy xuống, người đàn bà lại ngã xuống sàn tàu. Những người đàn bà khác thì đều đã ngất đi hay gần như chết cả.

Những người thủy thủ lại kêu to: “Cho một đứa bé xuống!”

Nghe vậy, cậu bé xứ Sicilia và cô bạn đường, từ nãy đứng im như đã hóa đá, bỗng như sực tỉnh, với khả năng sinh tồn, họ lao ra thành tàu và hét: “Tôi! Tôi!” và xô đẩy nhau như hai con dã thú.

“Đứa bé thôi! – Những người thủy thủ kêu, – thuyền nặng lắm rồi, đứa bé thôi”.

Nghe thế, cô gái sững sờ, buông thõng hai tay, đứng im, nhìn Mario với đôi mắt như của người sắp chết.

Mario cũng nhìn cô gái một phút, và trông thấy vết máu trên áo cô, nhớ lại việc làm tốt bụng của người bạn nhỏ, và một ý nghĩ cao thượng vụt đến làm rạng rỡ khuôn mặt cậu.

Những người thủy thủ lại sốt ruột hét lên: “Cho đứa bé xuống đi!”

Thế là Mario hét to, giọng chẳng có gì là của một người ở trần thế nữa: “Cô ấy nhẹ hơn tôi! Giulietta, xuống đi! Bạn còn bố còn mẹ, tôi chỉ có một mình… Tôi nhường chỗ cho bạn… Xuống ngay đi!”

– Vứt con bé xuống đây, – những người thủy thủ lại giục.

Mario liền ôm ngang lưng Giulietta và ném xuống. Cô bé thét lên một tiếng và rơi xuống nước. Một thủy thủ nắm được tay cô và lôi lên xuồng. Cậu bé xứ Sicilia đứng ở mạn tàu, đầu ngửng cao, mái tóc bay trước gió, bất động, cao cả, tuyệt vời.

Chiếc xuồng đã kịp ra xa để tránh bị cuốn vào vùng nước xoáy khi chiếc tàu chìm xuống biển.

Bấy giờ Giulietta, cho đến lúc ấy bàng hoàng chẳng biết gì cả, ngước mắt nhìn Mario và bật ra khóc nức nở, giơ hai tay lên về phía cậu, Giulietta thét lên: “Vĩnh biệt, Mario! Vĩnh biệt! Vĩnh biệt! Vĩnh biệt!”

“Vĩnh biệt!” cậu bé đáp lại.

Chiếc xuồng bơi nhanh ra xa trên mặt biển hung dữ, dưới bầu trời âm u. Trên tàu chẳng còn nghe ai kêu gào nữa, nước đã tràn qua sàn tàu.

Giulietta úp mặt vào hai tay. Khi cô ngửng đầu lên và nhìn ra mặt biển, chiếc tàu đã biến mất rồi…

 

Prev
Next

Có thể bạn muốn đọc thêm

that-lac-coi-nguoi-dazai-osamu
Thất Lạc Cõi Người – Dazai Osamu
June 3, 2023
giet-con-chim-nhai-harper-lee
Giết Con Chim Nhại – Harper Lee
February 28, 2023
den-khong-hat-bong-watanabe-dzunichi
Đèn Không Hắt Bóng – Watanabe Dzunichi
June 10, 2023
tram-nam-co-don
Trăm Năm Cô Đơn – Gabriel Garcia Marquez
November 9, 2022

ThuVienOnline © 2026