Thư viện Online
  • Trang chủ
  • Sách mới cập nhật
  • Trang chủ
  • Sách mới cập nhật

Biến Động - Jared Diamond - Chương 8

  1. Home
  2. Biến Động - Jared Diamond
  3. Chương 8 - Tương lai nào cho nước Nhật?
Next

Nhật Bản ngày nay – Kinh tế – Ưu thế – Nợ công – Phụ nữ – Trẻ em – Dân số già và suy giảm – Di cư – Trung Quốc và Hàn Quốc – Quản lý tài nguyên – Khung biến cố

Chúng ta đã nói về các biến cố xảy ra trong sáu quốc gia. Trong bốn quốc gia đầu tiên, biến cố nổ ra bất ngờ ở những thời điểm giữa 166 năm trước (Nhật Bản thời Minh Trị) và 46 năm trước (Chile). Trong hai quốc gia tiếp theo, biến cố dần lộ diện và đạt tới đỉnh điểm vào khoảng nửa thế kỷ trước. Mặc dù không thể nói biến cố nào được giải quyết hoàn toàn (hay bế tắc hoàn toàn), nhưng nhiều thập niên đã trôi qua đối với mỗi trường hợp đó, đủ để chúng ta có thể thảo luận một cách hữu ích về hệ quả của chúng.

Trong bốn chương tiếp theo, chúng ta thực sự sẽ thảo luận về các biến cố có vẻ đang diễn ra, mà chỉ có tương lai mới cho chúng ta biết liệu chúng có thực sự trở thành biến cố lớn hay không và hệ quả vẫn còn bất định. Nhưng chương này liên quan đến Nhật Bản đương đại, Mỹ và toàn thế giới.

Tương tự như đã nói về các biến cố trước đây bao gồm cả Nhật Bản thời Minh Trị, chúng ta hãy bắt đầu thảo luận về các biến cố hiện tại có thể xảy ra với Nhật. (Trong chương này, tôi sẽ chỉ xem xét các vấn đề cụ thể đối với Nhật, nhưng Nhật dĩ nhiên cũng phải đương đầu với các vấn đề thế giới mà tôi sẽ mổ xẻ trong chương 11.) Bạn bè và người thân Nhật Bản của tôi cùng người Nhật nói chung thừa nhận một số vấn đề quốc gia khiến họ lo lắng. Có những vấn đề khác khiến tôi lo lắng về Nhật Bản, nhưng bản thân người Nhật có xu hướng bác bỏ hoặc lờ đi. Nhưng có quá nhiều cuộc tranh luận về Nhật Bản đã đi đến mức công kích cực đoan hoặc trái lại, sùng bái cực đoan. Vì vậy, hãy mở đầu cuộc thảo luận của chúng ta về các vấn đề của Nhật Bản hiện đại bằng cách điểm qua các điểm mạnh của họ. Chúng ta sẽ thấy rằng, đối với Nhật cũng như nhiều quốc gia khác, một số điểm mạnh lại liên quan đến các vấn đề của nó. Các điểm mạnh mà tôi sẽ đề cập liên quan đến kinh tế Nhật Bản, vốn nhân lực, văn hóa và môi trường.

Ngày nay, Nhật là cường quốc kinh tế thứ ba thế giới, chỉ vừa mới bị Trung Quốc vượt mặt. Nhật Bản chiếm khoảng 8% sản lượng kinh tế thế giới, gần bằng một nửa sản lượng của nền kinh tế hàng đầu (Mỹ), và gấp đôi sản lượng của Anh, một quốc gia nổi tiếng năng suất khác. Nói chung, tổng sản lượng kinh tế quốc gia dựa vào hai con số: dân số trong một quốc gia, nhân với sản lượng trung bình tính theo đầu người. Sản lượng quốc gia Nhật Bản cao vì hai lý do: Nhật Bản có dân số đông (chỉ đứng thứ hai sau Mỹ trong số những nền dân chủ giàu có) và sản lượng trung bình tính theo đầu người cao.

Trong khi nợ trong nước của Nhật thu hút rất nhiều quan tâm (sẽ nói ở đoạn sau), Nhật Bản vẫn là quốc gia cho vay hàng đầu thế giới. Nhật có dự trữ ngoại hối cao thứ hai thế giới và cạnh tranh với Trung Quốc, chủ nợ lớn nhất của Mỹ.

Một yếu tố quan trọng đằng sau sức mạnh kinh tế chính là chi tiêu khủng khiếp của Nhật Bản cho nghiên cứu và phát triển để thúc đẩy đổi mới. Nhật Bản là nước đứng thứ ba thế giới về đầu tư thường niên tuyệt đối vào nghiên cứu và phát triển, chỉ sau Trung Quốc và Mỹ dù dân số ít hơn hai nước này nhiều. Cụ thể, tỉ lệ GDP mà Nhật Bản đầu tư cho nghiên cứu và phát triển là 3,5 %, gần gấp đôi Mỹ (chỉ 1,8%) và vẫn cao hơn rất nhiều so với hai quốc gia khác nổi tiếng vì đầu tư vào nghiên cứu và phát triển là Đức (2,9%) và Trung Quốc (2,0%).

Hằng năm, Diễn đàn Kinh tế Thế giới báo cáo cho các quốc gia một con số gọi là Chỉ số Năng lực cạnh tranh Toàn cầu, chỉ số này tích hợp một tá số liệu ảnh hưởng tới năng suất kinh tế của một quốc gia. Trong nhiều năm liên tục Nhật Bản luôn nằm trong số mười quốc gia hàng đầu thế giới dựa vào chỉ số trên; Nhật Bản, Singapore và Hong Kong (Trung Quốc) là ba nền kinh tế duy nhất ngoài châu Âu và Mỹ lọt vào bảng xếp hạng này. Những nguyên nhân quyết định thứ hạng cao của Nhật bao gồm hai nguyên nhân rõ ràng liên quan đến du khách: cơ sở hạ tầng và mạng lưới giao thông tuyệt vời của Nhật, như đường sắt tốt nhất thế giới chẳng hạn; và lực lượng lao động được giáo dục tốt, đặc biệt thành thạo trong toán học và khoa học (sẽ bàn thêm ở phần sau). Những lý do khác trong danh sách không rõ rệt bằng nhưng vẫn quen thuộc đối với người ngoại quốc đang làm ăn với Nhật Bản. Các lý do này bao gồm: kiểm soát lạm phát; hợp tác lao động/quan hệ lao động; thị trường trong nước cạnh tranh cao; các viện nghiên cứu chất lượng cao đào tạo rất nhiều nhà khoa học và kỹ sư; thị trường nội địa lớn; tỉ lệ thất nghiệp thấp; số bằng sáng chế tính theo đầu người mỗi năm cao hơn bất kỳ quốc gia nào khác; bảo vệ quyền sở hữu và sở hữu trí tuệ; tiếp thu công nghệ nhanh chóng; khách hàng và chủ doanh nghiệp sành sỏi; và nhân viên kinh doanh được đào tạo tốt. Tôi hứa sẽ không đưa ra câu đố về danh sách dài ngoằng này, nhưng thông điệp rút ra thật rõ ràng: có rất nhiều lý do khiến các doanh nghiệp Nhật Bản có sức cạnh tranh cao trên thị trường thế giới.

Cuối cùng, đừng quên một nét đặc trưng của nền kinh tế Nhật Bản đang mang lại lợi nhuận tài chính khổng lồ và cũng có thể gây ra rắc rối trong tương lai. Hai quốc gia duy nhất có nền kinh tế vượt trội Nhật Bản là Mỹ và Trung Quốc, nhưng họ đổ một phần lớn ngân sách vào quân phí. Nhật Bản không tốn khoản phí này, nhờ một điều khoản của hiến pháp năm 1947 do Mỹ áp đặt (nay được đông đảo người dân Nhật Bản tán thành) quy định cắt giảm lực lượng vũ trang Nhật Bản xuống tối thiểu.

Thế mạnh thứ hai của Nhật Bản bên cạnh những thế mạnh về kinh tế, chính là “vốn nhân lực,” hay nói cách khác, là thế mạnh của dân số. Dân số nước này hơn 120 triệu, con người khỏe mạnh và học thức cao. Tuổi thọ của người Nhật cao nhất thế giới: đàn ông là 80 tuổi, phụ nữ là 85 tuổi. Sự bất bình đẳng kinh tế-xã hội vốn làm hạn chế cơ hội của một bộ phận lớn người Mỹ lại đang giảm mạnh ở Nhật: Nhật là quốc gia đứng thứ ba thế giới về bình đẳng trong phân phối thu nhập, chỉ sau Đan Mạch và Thụy Điển. Đó là một phần kết quả của chính sách giáo dục của chính phủ Nhật Bản: trường học ở những vùng khó khăn về kinh tế xã hội có lớp học nhỏ hơn (tỉ lệ giáo viên-học sinh cao hơn) so với những trường học trong vùng giàu có, do vậy, tạo điều kiện dễ dàng cho con em các gia đình nghèo đuổi kịp. (Trái lại, hệ thống giáo dục của Mỹ có xu hướng duy trì sự bất bình đẳng bằng cách nhồi nhét nhiều học sinh hơn vào các lớp học ở khu vực nghèo khó.) Địa vị xã hội ở Nhật Bản phụ thuộc vào giáo dục hơn là vào sự kế thừa và quan hệ gia đình: một lần nữa, nó lại trái ngược với xu thế ở Mỹ. Nói tóm lại, thay vì đầu tư mất cân xứng vào một bộ phận dân chúng thì Nhật Bản đầu tư đồng đều vào tất cả họ – hay chí ít, tất cả công dân nam giới. (Tôi sẽ nói về phụ nữ Nhật sau.)

Tỉ lệ biết chữ và trình độ học vấn ở Nhật Bản gần cao nhất thế giới. Mẫu giáo và trung học phổ thông ở Nhật là hai cấp học gần như được phổ cập nhưng không bắt buộc. Việc kiểm tra sinh viên ở các quốc gia trên thế giới cho thấy sinh viên Nhật Bản xếp thứ tư thế giới về kiến thức toán học và khoa học, trên tất cả các nước châu Âu và Mỹ. Nhật Bản chỉ đứng sau Canada về tỉ lệ người trưởng thành – gần 50% – tiếp tục lên đại học sau khi tốt nghiệp trung học. Song song với những thế mạnh của nền giáo dục là những chỉ trích thường của chính người Nhật Bản, rằng nền giáo dục đó gây quá nhiều áp lực cho học sinh bằng việc chỉ chú tâm vào điểm số mà không quan thiết tới động lực bản thân và khả năng suy nghĩ độc lập. Kết quả là, một khi sinh viên Nhật Bản thoát khỏi môi trường áp lực ở trung học và lên đến đại học, tự nhiên hứng thú học tập của họ giảm dần.

Mặc dù không dễ để ước lượng thế mạnh văn hóa, căn tính quốc gia, và chất lượng cuộc sống, nhưng có rất nhiều bằng chứng mang tính giai thoại về những đặc điểm này ở Nhật. Như khách ngoại quốc đến Nhật có thể nhanh chóng nhận ra, thủ đô Tokyo cạnh tranh với Singapore để là thành phố sạch nhất châu Á, và là một trong những nơi sạch nhất thế giới. Đó là vì trẻ em Nhật học cách sạch sẽ và dọn dẹp, như một phần trách nhiệm của chúng là giữ gìn Nhật Bản và trao lại đất nước cho thế hệ tiếp theo. (Các văn bản thông dịch tại các địa điểm khảo cổ Nhật đôi khi trưng ra một cách tự hào bằng chứng về sự sạch sẽ của người Nhật đã có từ thời cổ đại.) Khách tham quan cũng nhận thấy sự an toàn và tỉ lệ tội phạm thấp tại các thành phố Nhật Bản. Tỉ lệ ngồi tù của Nhật Bản nhỏ hơn rất nhiều so với Mỹ: tương ứng là 80.000 người so với gần 2,5 triệu người. Bạo loạn và cướp bóc là rất hiếm ở Nhật. Căng thẳng sắc tộc thấp hơn nhiều so với ở Mỹ và châu Âu, bởi lẽ ở Nhật có sự đồng nhất về sắc dân và chỉ có một số rất ít dân tộc thiểu số. (Đây cũng là một ví dụ khác của một ưu thế mang theo nhiều bất lợi, sẽ được trình bày sau.)

Cuối cùng, thế mạnh của Nhật Bản lại nằm ở những ưu thế to lớn về tự nhiên. Sản lượng nông nghiệp Nhật Bản cao là nhờ sự kết hợp giữa khí hậu ôn hòa, không có sâu bọ của nền nông nghiệp nhiệt đới, mưa lớn tập trung vào mùa hè – mùa cây cối phát triển, và đất núi lửa màu mỡ. Điều này góp phần vào khả năng hỗ trợ một trong những nền công nghiệp có mật độ dân số cao nhất thế giới, trong khi dân chúng và nền nông nghiệp chỉ tập trung ở một tỉ lệ khiêm tốn (12%) diện tích. (Đa số diện tích nước Nhật chủ yếu là đồi núi và rừng cây, chỉ cho phép một lượng nhỏ dân cư tổ chức canh tác nhỏ lẻ.) Chất dinh dưỡng từ đất đai màu mỡ khiến cho sông suối và bờ biển Nhật Bản rất giàu tôm cá, rong biển và nhiều hải sản khác. Nhật Bản đứng thứ sáu trên thế giới về đánh bắt hải sản, trước đây họ chỉ đánh bắt ven biển Nhật Bản nhưng bây giờ đã được tổ chức thành nhiều đội tàu đánh cá Nhật Bản đi khắp các đại dương. Với sự ưu ái về tự nhiên như vậy, Nhật Bản đã là một xứ phi thường trong thời cổ đại, bởi ít nhất là 10.000 năm trước thời kỳ trồng trọt, những người săn bắt-hái lượm Nhật Bản đã lập làng và làm gốm, thay vì sống đời du mục với số tài sản vật chất ít ỏi. Trước khi dân số Nhật Bản bùng nổ trong vòng nửa cuối thế kỷ trước, Nhật Bản đã tự cung cấp đủ lương thực.

Bây giờ hãy nói về trở ngại, khó khăn của đất nước này. Khi được yêu cầu chỉ ra vấn đề nghiêm trọng nhất của Nhật Bản, các nhà kinh tế học thường trả lời, “Đó là khoản nợ quốc gia khổng lồ của chính phủ.” Hiện nay khoản nợ này cao gấp 2,5 lần GDP hằng năm của Nhật, tức giá trị của toàn bộ hàng hóa sản xuất tại Nhật Bản trong một năm. Điều này có nghĩa, ngay cả khi Nhật dành toàn bộ thu nhập và nỗ lực để trả hết nợ quốc gia và không sản xuất gì cho chính họ, thì họ vẫn phải mất hai năm rưỡi để trả nợ. Tệ hơn nữa, khoản nợ đã tăng lên trong nhiều năm. Để so sánh, trong khi các nhà tài chính bảo thủ Mỹ rất quan tâm đến nợ quốc gia, thì khoản này “chỉ” chiếm 1,0 GDP của Mỹ. Hy Lạp và Tây Ban Nha là hai nước châu Âu khét tiếng vì những vấn đề kinh tế của họ, nhưng tỉ lệ nợ/GDP của Nhật cao gấp đôi so với Hy Lạp và gấp bốn lần so với Tây Ban Nha (tính đến thời điểm tôi viết câu này). Khoản nợ của chính phủ Nhật Bản tương đương với khoản nợ của toàn bộ khu vực đồng Euro bao gồm 17 quốc gia, trong khi tổng dân số của họ gấp ba lần Nhật.

Tại sao chính phủ Nhật Bản không sụp đổ hay vỡ nợ từ lâu vì gánh nặng này? Trước hết, phần lớn nợ không thuộc về chủ nợ nước ngoài mà là các cá nhân Nhật Bản, doanh nghiệp Nhật Bản và các quỹ hưu trí sở hữu trái phiếu (nhiều quỹ thuộc sở hữu của chính phủ), và ngân hàng Nhật Bản, nhưng không một đơn vị nào trong số ấy làm khó chính phủ Nhật Bản. Ngược lại, phần lớn nợ của Hy Lạp thuộc về chủ nợ nước ngoài, những người này gây khó dễ và tạo áp lực buộc Hy Lạp thay đổi chính sách tài khóa. Bất chấp tất cả nợ mà chính phủ Nhật đang chịu từ chính người dân Nhật, thì Nhật Bản vẫn là một quốc gia tín dụng ròng đối với nhiều quốc gia khác vốn nợ tiền Nhật Bản. Thứ hai, lãi suất ở Nhật Bản được giữ ở mức thấp (dưới 1%) theo chính sách của chính phủ, với mục đích kiểm soát thanh toán lãi suất của chính phủ. Cuối cùng, các chủ nợ nước ngoài và Nhật Bản vẫn rất tin vào khả năng thanh toán của chính phủ nên họ tiếp tục mua trái phiếu chính phủ. Trên thực tế, đó là phương cách chính mà các cá nhân và doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư tiền tiết kiệm của họ. Nhưng không ai biết được nợ có thể vọt lên cao bao nhiêu trước khi các chủ nợ của Nhật Bản vay tiền mất niềm tin và chính phủ vỡ nợ.

Mặc dù thuế suất thấp, nhưng quy mô khoản nợ và dân số già đồng nghĩa với việc lãi suất nợ và chi phí y tế, an sinh xã hội tiêu tốn phần lớn tiền thuế của chính phủ. Điều này làm giảm sút quỹ tài chính vốn phải luôn sẵn sàng đáp ứng đầu tư vào giáo dục, nghiên cứu và phát triển, cơ sở hạ tầng và các động cơ tăng trưởng kinh tế khác để có thể kích thích doanh thu thuế. Vấn đề càng nghiêm trọng hơn nữa khi thuế suất kéo theo nguồn thu của chính phủ tương đối thấp chiếu theo những tiêu chuẩn của thế giới phát triển. Cuối cùng, khoản nợ chủ yếu nằm trong tay của giới người Nhật già, những người đã đầu tư tiền bạc một cách trực tiếp (bằng cách mua trái phiếu chính phủ) hoặc gián tiếp (bằng cách nhận lương hưu từ quỹ lương hưu đầu tư nhiều vào trái phiếu chính phủ) – trong khi những người Nhật trả lãi suất cho khoản nợ phần lớn là người trẻ Nhật vẫn làm việc và đóng thuế. Vì thế, khoản nợ của Nhật Bản thực sự là khoản tiền mà giới trẻ phải trả cho giới già, tạo thành một cuộc xung đột giữa các thế hệ và một thế chấp trên tương lai Nhật Bản. Thế chấp đang lớn lên bởi vì dân số trẻ Nhật Bản đang suy giảm trong khi dân số già thì tăng lên (xem đoạn sau).

Giải pháp đề ra để giảm nợ bao gồm tăng thuế suất, giảm chi tiêu của chính phủ, và giảm lương hưu của người già Nhật Bản. Những giải pháp này và tất cả các giải pháp khác được cho là quá khó để thực hiện. Do đó, khoản nợ của chính phủ là một vấn đề lớn được thừa nhận rộng rãi suốt một thời gian dài ở Nhật Bản, điều đó đã tiếp tục trở nên tồi tệ hơn trong nhiều năm, và không có thỏa thuận về giải pháp.

Những vấn đề cơ bản khác được chính người Nhật thừa nhận là bốn vấn đề liên quan tới vai trò của phụ nữ, tỉ lệ sinh thấp và có chiều hướng giảm, quy mô dân số giảm, và dân số già. Hãy bắt đầu với vai trò của phụ nữ.

Trên lý thuyết, phụ nữ và đàn ông Nhật Bản bình đẳng với nhau. Hiếp pháp Nhật Bản năm 1947, do chính phủ chiếm đóng Mỹ soạn thảo vẫn còn hiệu lực cho tới ngày hôm nay, trong đó có một điều khoản (do một phụ nữ Mỹ soạn thảo) tuyên bố bình đẳng giới. Điều khoản đó đã được thông qua bất chấp sự phản đối quyết liệt của chính phủ Nhật Bản, và một số nhà lập pháp Nhật Bản vẫn còn muốn thay đổi nó.

Trên thực tế, phụ nữ Nhật Bản phải đối mặt với nhiều rào cản xã hội về bình đẳng giới. Tất nhiên, những rào cản mà tôi sắp mô tả cũng tồn tại ở các quốc gia khác ngoài Nhật Bản. Nhưng những rào cản này – và khoảng cách giới trong y tế, giáo dục, cùng sự tham gia vào lực lượng lao động và chính trị – ở Nhật Bản lớn hơn so với bất kỳ quốc gia công nghiệp giàu có nào khác, ngoại trừ Hàn Quốc. Tôi suy đoán rằng, vì Nhật Bản là quốc gia công nghiệp giàu có, trong đó vai trò của phụ nữ cho tới gần đây hầu hết vẫn là phụ thuộc và rập khuôn. Chẳng hạn, khi đi bộ ở nơi công cộng, một người phụ nữ truyền thống Nhật Bản chắc chắn sẽ ở sau chồng ba bước. Để tóm gọn, tôi sẽ mô tả các rào cản xã hội đối với phụ nữ một cách tổng quát, nhưng tất nhiên rào cản sẽ biến đổi tùy theo vị trí và độ tuổi người Nhật Bản: chẳng hạn, ở nông thôn, rào cản mạnh hơn ở Tokyo và ở người lớn tuổi mạnh hơn so với người trẻ.

Ở nhà, sự phân chia giới tính trong các cặp vợ chồng Nhật thường được gọi là “gói hôn nhân.” Một sự phân chia công việc không hiệu quả thường xảy ra, từ đó một ông chồng lao vào công việc kiếm sống cho cả hai ở bên ngoài và tiêu tốn cả thời gian lẽ ra phải dành cho con cái, trong khi vợ anh ta ở nhà và hi sinh cơ hội phát triển nghề nghiệp. Chủ doanh nghiệp mong đợi nhân viên (chủ yếu là đàn ông) ở lại văn phòng trễ và ra ngoài uống rượu với họ sau giờ làm việc. Điều này gây khó dễ cho các ông chồng Nhật Bản kể cả khi họ muốn chia sẻ việc nhà với vợ. Ông chồng Nhật làm việc nhà ít hơn những ông chồng ở các quốc gia công nghiệp hóa giàu có: chẳng hạn, chỉ bằng 2/3 số giờ mỗi tuần mà các ông chồng Mỹ bỏ ra. Các ông chồng Nhật có vợ đi làm không làm việc nhà nhiều hơn các ông có vợ ở nhà toàn thời gian. Thay vào đó, chủ yếu là những người vợ chăm sóc con cái, chồng của họ, cha mẹ họ, cha mẹ chồng – và quản lý tài chính gia đình trong thời gian rảnh rỗi còn lại. Nhiều bà vợ Nhật ngày nay thề rằng họ sẽ là thế hệ phụ nữ Nhật cuối cùng chịu đựng những trách nhiệm này.

Ở sở làm, phụ nữ Nhật tham gia ít và nhận lương thấp. Sự tham gia lao động ngày càng giảm với mức độ trách nhiệm ngày càng tăng. Trong khi nữ giới chiếm 49% sinh viên đại học Nhật Bản và 45% các công việc cấp đầu vào, thì họ lại chỉ chiếm 14% các vị trí giảng dạy (so với 33%-44% ở Mỹ, Anh, Đức và Pháp), 11% các vị trí quản lý trung cấp đến cao cấp, 2% các vị trí trong hội đồng quản trị, 1% các trong ủy ban điều hành kinh doanh và dưới 1% là CEO. Ở những cấp độ cao hơn, Nhật Bản tụt hậu so với tất cả các nước công nghiệp lớn, ngoại trừ (một lần nữa) Hàn Quốc. Có rất ít phụ nữ tham gia chính trường Nhật Bản, và đất nước này cũng chưa bao giờ có một nữ thủ tướng. Sự chênh lệch mức lương nam/nữ trong công việc toàn thời gian ở Nhật cao thứ ba (chỉ sau Hàn Quốc và Estonia) trong số 35 nước công nghiệp giàu có. Một nhân viên nữ Nhật thường chỉ được hưởng 73% lương so với nam giới cùng trình độ, trong khi mức trung bình ở các nước công nghiệp giàu là 85%, ở New Zealand lên tới 94%. Trở ngại công việc đối với phụ nữ bao gồm: thời gian làm việc dài, kỳ vọng vào sự tương tác giữa nhân viên sau giờ làm việc, và vấn đề ai sẽ chăm sóc con cái nếu một người mẹ đi làm muốn tương tác ngoài xã hội sau giờ làm và nếu chồng của cô cũng không rảnh hoặc không sẵn lòng làm việc đó.

Chăm sóc con cái là một vấn đề nan giải đối với các bà mẹ công sở Nhật. Trên giấy tờ, luật pháp Nhật quy định phụ nữ được nghỉ thai sản bốn tuần trước sinh và tám tuần sau sinh; một số đàn ông Nhật cũng được hưởng chế độ thai sản này; và bộ luật năm 1992 cho phép cha mẹ nghỉ hẳn một năm không lương để chăm con nếu họ muốn. Trên thực tế, hầu hết các ông bố bà mẹ Nhật Bản không lấy phép mà họ được hưởng. Thay vào đó, 70% lao động nữ giới Nhật Bản rời bỏ công sở ngay khi sinh đứa con đầu tiên và đa số không quay trở lại làm việc trong nhiều năm, thậm chí nghỉ hẳn. Trong khi trên danh nghĩa, việc ép buộc một bà mẹ nghỉ việc là bất hợp pháp, nhưng các bà mẹ Nhật vẫn chịu áp lực này. Chăm sóc trẻ nhỏ là bắt buộc đối với các bà mẹ lao động Nhật bởi họ thiếu phụ nữ nhập cư để thuê chăm sóc trẻ tại nhà (xem đoạn sau), và bởi có rất ít trung tâm chăm sóc trẻ nhỏ thuộc nhà nước hoặc tư nhân, khác với tình trạng ở Mỹ và Scandinavia. Mặt khác, quan điểm chung của người Nhật là một bà mẹ phải ở nhà, tự chăm sóc con nhỏ và không làm việc.

Kết quả là tình thế tiến thoái lưỡng nan đối với phụ nữ Nhật Bản ở công sở. Một mặt, hầu hết phụ nữ Nhật đều muốn làm việc, và họ cũng muốn có con, muốn dành thời gian cho con. Mặt khác, các công ty Nhật đầu tư lớn vào đào tạo nhân viên, tuyển dụng vị trí lâu dài, đổi lại họ cũng kỳ vọng người nhân viên đó sẽ gắn bó dài lâu và giữ vững công việc suốt đời. Các công ty không muốn thuê và đào tạo phụ nữ, bởi vì họ dễ bỏ việc khi có con, không muốn làm việc toàn thời gian, và có thể không trở lại sau khi sinh con. Vì lý do đó phụ nữ có xu hướng không được tuyển dụng, và có xu hướng không nhận việc khi trúng tuyển các công việc cấp cao trong doanh nghiệp Nhật Bản.

Thủ tướng đương nhiệm Nhật Bản, Shinzo Abe là một người bảo thủ, trước đây vốn không bày tỏ sự quan tâm đến những vấn đề nữ giới. Tuy nhiên, gần đây ông đã đi ngược lại đường lối, và tuyên bố muốn tìm giải pháp giúp các bà mẹ trở lại công sở – nhiều người nghi ngại điều đó, không phải vì ông đột nhiên tỏ ra quan tâm đến phụ nữ, mà bởi sự sụt giảm dân số Nhật dẫn đến việc thu hẹp lực lượng lao động (sẽ nói thêm ở phần sau). Một nửa dân số Nhật nói chung, và sinh viên tốt nghiệp nói riêng là phụ nữ. Abe đề xuất rằng các bà mẹ có công ăn việc làm có thể nghỉ thai sản ba năm với điều kiện họ sẽ quay trở lại, đồng thời chính phủ mở rộng thêm các trung tâm công cộng chăm sóc trẻ em và các doanh nghiệp sẽ được hỗ trợ tài chính khi thuê lao động nữ. Nhưng rất nhiều phụ nữ Nhật, trong đó có cả một số bạn bè đã tốt nghiệp đại học của tôi từng làm việc tại nước ngoài, đã phản đối đề xuất của Abe. Họ nghi ngờ rằng đó lại là một âm mưu khác của chính phủ để giữ chân phụ nữ ở nhà!

Phần tiếp theo trong chuỗi các vấn đề dân số chính là tỉ lệ sinh thấp và có chiều hướng giảm. Người Nhật hiểu rõ sự nghiêm trọng của vấn đề, nhưng họ không có cách giải quyết.

Tỉ lệ sinh thấp và giảm đang chiếm ưu thế ở các nước thuộc Thế giới Thứ nhất. Nhưng Nhật Bản có tỉ lệ sinh thấp nhất thế giới: trên 1.000 người mỗi năm thì chỉ có 7 trẻ sơ sinh ra đời, trong khi ở Mỹ là 13, trung bình trên thế giới là 19, và ở các nước châu Phi là trên 40. Hơn nữa, tỉ lệ sinh thấp này ở Nhật Bản vẫn đang giảm. Nếu trong những năm gần đây, sự giảm sút này được suy đoán là thường niên, thì có lẽ đến năm 2917, tỉ lệ sinh của Nhật Bản sẽ chạm mốc 0, nghĩa là sẽ không có trẻ sơ sinh nào ở Nhật! Tất nhiên, tình hình không tệ đến mức đó, nhưng thật sự là tỉ lệ sinh vốn rất thấp của Nhật vẫn đang có dấu hiệu giảm sút.

Có một cách khác thể hiện tỉ lệ sinh được gọi là tổng tỉ suất sinh: nghĩa là, tổng số trẻ được sinh ra từ một người phụ nữ trung bình trong toàn bộ cuộc đời. Đối với toàn thế giới, con số trung bình là 2,5 trẻ; đối với các nước thuộc Thế giới Thứ nhất với nền kinh thế lớn nhất thì con số dao động từ 1,3 đến 2,0 trẻ (ở Mỹ là 1,9). Tỉ suất sinh này ở Nhật chỉ đạt 1,27 trẻ, thuộc hạng thấp nhất của biểu đồ; Hàn Quốc và Ba Lan là một trong số ít các quốc gia có tỉ suất sinh thấp hơn. Nhưng số trẻ trung bình mà một người phụ nữ phải sinh để duy trì sự ổn định của dân số – hay còn gọi là tỉ lệ thay thế – phải cao hơn 2,0 một chút. Nhật Bản cùng một số quốc gia thuộc Thế giới Thứ nhất có tỉ suất sinh thấp hơn tỉ lệ thay thế này. Đối với các quốc gia thuộc Thế giới Thứ nhất khác, đó không phải là vấn đề bởi lẽ nhập cư giữ cho quy mô dân số không đổi hoặc thậm chí tăng lên dù giảm sinh. Tuy nhiên, việc nhập cư ở Nhật gần như vắng bóng, nghĩa là dân số Nhật thực sự đang giảm như chúng ta đề cập.

Một phần lý do của việc giảm tỉ lệ sinh ở Nhật chính là độ tuổi kết hôn lần đầu của họ đã tăng lên: hiện nay là xấp xỉ 30 ở cả nam và nữ. Điều đó có nghĩa là phụ nữ có ít năm trước thời kỳ mãn kinh hơn để thụ thai. Một lý do lớn khác nữa chính là tỉ lệ kết hôn (số lượng kết hôn trên 1.000 người trên một năm) đang giảm nhanh ở Nhật Bản. Bạn có thể bác bỏ rằng, ở nhiều nước phát triển khác tỉ lệ kết hôn cũng giảm nhưng không gây ra sụt giảm nghiêm trọng đối với tỉ lệ sinh như Nhật Bản đang phải đối mặt, vì họ có rất nhiều những ca sinh nở không mong muốn: 40% ở Mỹ, 50% ở Pháp và 66% ở Iceland. Nhưng yếu tố này không áp dụng cho Nhật Bản, nơi tỉ lệ các ca sinh nở không mong muốn chỉ chiếm 2%.

Tại sao người Nhật ngày càng tránh kết hôn và sinh con? Khi được khảo sát về vấn đề này, người Nhật đưa ra một số lý do. Một lý do liên quan đến kinh tế: sống độc thân và sống cùng cha mẹ thì rẻ hơn và thoải mái hơn là ra ngoài, kết hôn, phải trả tiền thuê nhà cộng với tiền nuôi con. Nhất là đối với phụ nữ, kết hôn và làm mẹ có thể là thảm họa kinh tế bởi vì họ sẽ khó kiếm được hoặc giữ được một công việc. Một lý do khác được đưa ra là tự do của việc độc thân, một sự cân nhắc đặc biệt đối với phụ nữ, những người không muốn rơi vào cảnh gánh vác trách nhiệm chăm sóc nhà cửa, chồng con, cha mẹ mình và cha mẹ chồng. Còn một lý do nữa, đó là nhiều thanh niên nam nữ Nhật trong tương quan tỉ lệ, coi rằng một cuộc sống trọn vẹn “không cần thiết” phải kết hôn.

Bất chấp những lập luận phản đối đó, 70% nam giới và nữ giới Nhật chưa kết hôn vẫn bày tỏ rằng họ muốn được lập gia đình. Vậy thì tại sao họ vẫn chưa tìm thấy bạn đời phù hợp? Theo truyền thống thì điều này không đòi hỏi họ phải nỗ lực, bởi vì kết hôn ở Nhật được sắp xếp bởi những người mai mối (gọi là nakoudo), họ lên lịch cho các cuộc phỏng vấn chính thức để những người trẻ độc thân có thể gặp gỡ bạn đời tiềm năng của mình. Kể từ năm 1960 đến nay, đây vẫn là hình thức hôn nhân chiếm ưu thế ở Nhật Bản. Nhưng rồi số người làm nakoudo giảm dần, và tư tưởng phương Tây về hôn nhân lãng mạn tăng lên đã khiến cho các cuộc hôn nhân do mai mối giảm xuống chỉ còn chiếm 5% trên tổng số cuộc hôn nhân. Nhưng nhiều người trẻ hiện đại Nhật Bản quá bận rộn với công việc, quá thiếu kinh nghiệm hẹn hò hoặc quá vụng về để phát triển một mối quan hệ lãng mạn.

Đặc biệt, việc giảm sút các cuộc hôn nhân sắp đặt ở Nhật trong vài thập niên gần đây trùng khớp với sự gia tăng tiếp xúc không gặp mặt bằng liên lạc qua thư điện tử, tin nhắn, điện thoại di động, và do đó kéo theo sự suy giảm kỹ năng giao tiếp xã hội. Một trải nghiệm sâu sắc mà tôi từng chứng kiến là một người bạn Nhật Bản, trong khi dùng bữa ở nhà hàng đã bị ấn tượng bởi một cặp đôi trẻ ăn mặc đẹp, ngồi đối diện nhau ở bàn bên với thái độ lúng túng và im lặng. Cả hai đều cúi đầu và nhìn xuống đầu gối thay vì nhìn nhau. Bạn tôi để ý rằng mỗi người họ đều cầm một chiếc điện thoại để trên đùi và nhắn tin cho nhau. Cuối cùng, người bạn của tôi hiểu ra rằng chàng trai và cô gái nọ cảm thấy quá vụng về để nói chuyện trực tiếp với nhau, cho nên họ phải nhắn tin qua lại giữa cái bàn. Đó không phải là cách tốt để phát triển và hoàn thiện một mối quan hệ lãng mạn! Dĩ nhiên giới trẻ Mỹ cũng nghiện giao tiếp điện tử, nhưng họ (không giống người Nhật đương đại) là những người kế thừa truyền thống hẹn hò.

Tỉ lệ sinh và tỉ lệ kết hôn thấp vẫn đang giảm là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hai vấn đề lớn tồn đọng được công nhận rộng rãi ở Nhật Bản: dân số giảm và dân số già.

Vì tỉ lệ sinh của Nhật Bản trong nhiều năm đã ở dưới mức tỉ lệ thay thế, nên rõ ràng dân số Nhật Bản cuối cùng sẽ ngừng tăng và bắt đầu giảm. Tuy nhiên, thật sốc khi các số liệu thống kê dân số xác nhận rằng thời điểm đáng sợ đó đã thực sự đến. Sau cuộc điều tra dân số thực hiện năm năm một lần, vào năm 2010 đã cho thấy có 128.057.352 người và năm 2015 là 127.100.000 người, tức dân số giảm gần một triệu người. Từ xu hướng hiện tại và phân bố tuổi của dân số Nhật Bản, người ta tính đến năm 2060, dân số nước này sẽ giảm 40 triệu và chỉ còn 80 triệu người.

Hậu quả của sự giảm sút và dịch chuyển dân số từ nông thôn sang thành thị ở Nhật đã bộc lộ rõ. Nhật Bản đang đóng cửa khoảng 500 trường học mỗi năm. Dân số giảm ở nông thôn khiến cho làng mạc và những thị trấn nhỏ bị bỏ hoang. Người ta lo sợ rằng, với dân số không tăng để làm động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thì một Nhật Bản thưa dân sẽ trở nên nghèo hơn và yếu hơn trên trường thế giới. Vào năm 1948, Nhật Bản là quốc gia đông dân thứ năm thế giới, đến năm 2007 họ đã tụt xuống hàng thứ 10, sau Negeria và Banladesh; dự đoán trong vài thập niên tới Nhật sẽ còn tụt hạng so với những nước không phải là cường quốc như Congo hay Ethiopia. Điều đó bị coi là nhục nhã, với giả định ngầm rằng một đất nước ít dân hơn Congo sẽ yếu hơn và ít quan trọng hơn Congo.

Vì vậy, năm 2015, Thủ tướng Abe tuyên bố mục tiêu của chính phủ là duy trì dân số Nhật ít nhất ở mốc 100 triệu, bằng cách tăng tổng tỉ lệ sinh trung bình từ 1,4 lên 1,8 trẻ trên mỗi phụ nữ. Nhưng việc tăng sinh phụ thuộc vào lựa chọn của giới trẻ Nhật Bản hơn là Abe. Tôi từng bàn luận về những nguyên do khiến giới trẻ Nhật, bất chấp việc họ nghĩ rằng Nhật Bản sẽ là quốc gia tốt hơn nếu có nhiều em bé hơn, lại đang chọn không sinh con.

Suy giảm dân số có thực sự là một “thách thức” với Nhật Bản? Nhiều quốc gia có số dân nhỏ hơn Nhật nhưng vẫn giàu có và đóng vai trò quan trọng trên trường quốc tế, như Úc, Phần Lan, Israel, Hà Lan, Singapore, Thụy Điển và Thụy Sĩ. Tất nhiên những nước đó không phải là lãnh đạo quân sự thế giới, nhưng Nhật Bản cũng chẳng có vai trò ấy do hiến pháp và chủ nghĩa hòa bình rộng khắp của họ. Tôi cho rằng Nhật Bản sẽ không tệ đi mà thay vào đó còn tốt hơn nhiều với số dân nhỏ hơn, bởi vì nhu cầu đối với những tài nguyên nội địa và nhập khẩu sẽ ít hơn. Chúng ta sẽ thấy rằng áp lực tài nguyên từng là một trong những tai ương của lịch sử Nhật Bản hiện đại, nó vẫn còn cho tới hôm nay, và chính người Nhật nghĩ rằng đất nước của họ thiếu hụt tài nguyên. Do vậy tôi tin sự suy giảm dân số không phải là vấn đề mà là một trong những ưu thế của họ.

Dù quan tâm đến sự suy giảm dân số, nhưng người Nhật phải thừa nhận rằng dân số già mới là vấn đề nghiêm trọng hơn. Nhật Bản đã là quốc gia có tuổi thọ cao nhất thế giới (84 tuổi, so với 77 ở Mỹ, và chỉ 40-45 ở một số quốc gia châu Phi), và có tỉ lệ người già cao nhất. Ngay lúc này, 23% dân số Nhật có tuổi thọ trên 65, và 6% trên 80. Đến năm 2050, ước đoán những con số này sẽ đạt tương ứng 40% và 16%. (Con số tương quan ở Mali, quốc gia châu Phi là 3% và 0,1%.) Đến khi đó, người già trên 80 tuổi ở Nhật sẽ đông hơn trẻ em dưới 14 tuổi, và người già trên 65 tuổi sẽ đông hơn gấp ba lần số trẻ em này.

Bạn lưu ý rằng, cá nhân tôi không có gì chống đối những người ở độ tuổi 80. (Như thế thì khác gì tự căm ghét mình, vì tôi bây giờ đã 82 rồi.) Nhưng như vậy có quá nhiều phúc lợi, và điều đó đúng với người già. Một số lượng lớn người già tạo ra gánh nặng đối với hệ thống y tế quốc gia, bởi người già có nhiều bệnh hơn so với người trẻ: đặc biệt là bệnh mạn tính, không thể chữa khỏi, khó chữa, hoặc chi phí điều trị đắt đỏ như bệnh tim mạch và mất trí nhớ. Khi phần trăm dân số trên 65 tuổi tăng lên, thì tỉ lệ phần trăm dân số nghỉ hưu cũng tăng, và tỉ lệ phần trăm lao động giảm. Điều đó có nghĩa là lao động trẻ không đủ làm nguồn lực chủ yếu bù đắp cho số lượng hưu trí tăng lên: bằng cách hỗ trợ trực tiếp tài chính và chăm sóc trong gia đình, hoặc hỗ trợ gián tiếp bằng quỹ lương hưu của chính phủ và hệ thống y tế mà lao động trẻ phải đóng thuế vào đó. Tỉ lệ người lao động trên người nghỉ hưu ở Nhật đã giảm một cách khủng khiếp: năm 1965 là 9 lao động trên một hưu trí, nay là 2,4 và ước tính đến năm 2050 chỉ còn 1,3.

Nhưng bạn có thể phản đối rằng Nhật Bản không phải là quốc gia duy nhất có tỉ lệ sinh giảm, có dân số già, cùng gia tăng gánh nặng lên quỹ lương hưu và hệ thống an sinh xã hội. Những vấn đề tương tự cũng đang xảy ra trên khắp thế giới phát triển; Nhật Bản chỉ là đang đối mặt với những thách thức này ở mức độ căng thẳng hơn. Mỹ cũng quan ngại về việc hệ thống an sinh xã hội suy giảm trong tương lai. Tất cả các quốc gia châu Âu cũng có tỉ lệ sinh thấp hơn giá trị thay thế, hai trong số các nước này thậm chí còn có tỉ lệ sinh thấp hơn của Nhật Bản. Nhưng Mỹ và châu Âu không lo ngại về các vấn đề này như Nhật, bởi họ không bị mắc kẹt trong việc suy giảm dân số và dân số ngày càng già đi một cách khủng khiếp như ở Nhật. Tại sao không? Bằng cách nào họ đã thoát khỏi những cái bẫy này?

Câu trả lời liên quan đến vấn đề đầu tiên trong ba vấn đề nổi cộm ở Nhật nhưng không được họ thừa nhận rộng rãi, như tôi đã đề cập. Đó chính là việc Nhật Bản thiếu vắng nguồn nhập cư.

Nhật Bản, như họ vẫn tự hào, là sắc dân thuần chủng hay quốc gia đông đúc đồng nhất hàng đầu thế giới. Họ không chào đón người nhập cư, và càng khó khăn hơn nữa cho ai đã vào Nhật và muốn nhập quốc tịch. Tỉ lệ phần trăm dân nhập cư và con cái người nhập cư chiếm 28% tổng dân số ở Úc, 21% ở Canada, 16% ở Thụy Điển, và 14% ở Mỹ, nhưng ở Nhật chỉ là 1,9%.

Trong số người tị nạn đang xin cư trú, Thụy Điển chấp nhận 92%, Đức 70%, Canada 48% nhưng Nhật chỉ chấp nhận 0,2%. (Chẳng hạn, Nhật chỉ chấp nhận 6 và 11 người tị nạn trong các năm 2013 và 2014.) Lao động nước ngoài chiếm 15% lực lượng lao động tại Mỹ và 9% tại Đức, nhưng chỉ chiếm 1,3% tại Nhật. Hiện nay Nhật Bản chấp nhận lao động nước ngoài tạm thời (được gọi là lao động khách) có visa từ một đến ba năm nhờ vào trình độ kỹ thuật cao của họ (như thợ đóng tàu hay công nhân xây dựng cho thế vận hội Olympic Tokyo 2020). Song những lao động ngoại quốc này rất khó để lấy được thẻ cư trú dài hạn hoặc quốc tịch Nhật Bản.

Cuộc di dân đáng kể duy nhất đến Nhật Bản thời hiện đại là cuộc di dân của vài triệu người Triều Tiên trước Thế chiến II, khi Triều Tiên còn là thuộc địa của Nhật Bản. Tuy nhiên, phần lớn người Triều Tiên này nhập cư không tự nguyện hoặc được nhập khẩu làm nô lệ lao động. Chẳng hạn, người ta ít biết rằng 10% số nạn nhân bị chết ở Hiroshima bởi quả bom nguyên tử đầu tiên là người lao động Triều Tiên làm việc tại đây.

Một vài bộ trưởng Nhật Bản gần đây kêu gọi nhập cư nhiều hơn. Như ông Shigeru Ishiba, bộ trưởng phụ trách các vấn đề địa phương, nói rằng, “Xưa kia, người Nhật di cư đến nam và bắc Mỹ đã hòa nhập được với dân chúng địa phương đồng thời vẫn duy trì niềm tự hào là người Nhật… Thật vô lý khi từ chối người nước ngoài đến Nhật Bản trong khi người dân của chúng ta làm điều tương tự ở nước ngoài.” Chẳng hạn, Peru đã có một tổng thống người Nhật,10 trong khi Mỹ có các thượng nghị sĩ, thành viên Quốc hội và hiệu trưởng trường đại học là người Nhật. Nhưng chính phủ Nhật hiện vẫn không xem xét lại chính sách phản đối nhập cư.

Sự phản đối của chính phủ Nhật Bản phản ánh quan điểm tiêu cực về nhập cư mà công dân Nhật thể hiện qua nhiều cuộc thăm dò dư luận, trong đó thái độ của người Nhật tỏ ra khác biệt so với những nước giàu có khác. Tỉ lệ người Nhật phản đối tăng lượng người nhập cư là 63%, 72% cho rằng nhập cư làm tăng tỉ lệ tội phạm, 80% cho rằng người nhập cư không đem lại sự cải tiến xã hội bằng ý tưởng mới, khác với 57-75% người Mỹ, Canada và Úc tin rằng người nhập cư sẽ cải thiện xã hội. Trái lại, rất ít người Nhật (chỉ 0,5%) coi nhập cư là vấn đề nghiêm trọng mà quốc gia đang đối mặt, trong khi con số này ở người Mỹ, Pháp, Thụy Điển và Anh lên tới 15%.

Xin nói rõ: tôi không cho rằng sự phản đối nhập cư của người Nhật là “sai lầm” và cần thay đổi. Ở mọi quốc gia, nhập cư tạo ra khó khăn đồng thời mang lại lợi ích. Đây là vấn đề để mỗi quốc gia cân nhắc những lợi ích và những khó khăn, để đi đến chính sách nhập cư của riêng họ. Không có gì ngạc nhiên khi Nhật Bản, một quốc gia đồng nhất về dân tộc có lịch sử cô lập lâu dài và không có người nhập cư, rất coi trọng tính đồng nhất dân tộc của họ, trong khi Mỹ, một quốc gia đa chủng tộc với đa số công dân người nhập cư thì không coi sự đồng nhất dân tộc là giá trị. Thay vào đó, thách thức nan giải của Nhật Bản là họ phải chịu đựng những vấn đề được thừa nhận rộng rãi mà các quốc gia khác giảm thiểu bằng cách nhập cư, nhưng Nhật Bản thì không tìm ra cách giải quyết nào mà không cần phải nhập cư.

Vấn đề lớn nhất là vấn đề liên quan được thảo luận ở trên về tỉ lệ sinh giảm, dân số già và gánh nặng kinh tế do ngày càng ít người lao động trẻ khỏe nộp thuế để hỗ trợ cho quỹ hưu và chi phí chăm sóc y tế cho người hưu trí ngày càng tăng đồng thời các vấn đề sức khỏe liên quan đến tuổi già cũng tăng. Tuy Mỹ, Canada, Úc và Tây Âu cũng phải đương đầu với tỉ lệ sinh giảm và già hóa dân số bản địa như Nhật nhưng những quốc gia này giảm thiểu hệ quả bằng cách đón nhận số lượng lớn lao động nhập cư trẻ tuổi. Nhật Bản không thể bù đắp lực lượng lao động đang suy giảm bằng cách thuê các bà mẹ học thức không có việc làm, vì ở Nhật khó lòng có một lượng lớn phụ nữ nhập cư được thuê làm nhân viên chăm sóc trẻ em tư nhân bởi rất nhiều bà mẹ làm việc như ở Mỹ. Ở Nhật cũng không tồn tại một lượng lớn đàn ông và phụ nữ nhập cư làm công việc chăm sóc người già, làm điều dưỡng và nhân viên bệnh viện như ở Mỹ.(Tôi viết những dòng này trong khi đang hồi phục sau một trải nghiệm kinh hoàng về cái chết của một người thân Nhật mắc bệnh nan y, gia đình bà được ủy thác lo ăn uống và giặt giũ cho bà khi bà nằm viện.)

Mặc dù sự đổi mới diễn ra rất mạnh mẽ ở Nhật, bằng chứng là số lượng lớn bằng sáng chế được trao cho các nhà phát minh Nhật, tuy nhiên người Nhật vẫn lo lắng vì họ có ít những sáng tạo đột phá so với những gì mà người ta mong đợi ở sự đầu tư lớn của nước này vào nghiên cứu và phát triển. Điều này được phản ánh bằng số lượng giải Nobel khiêm tốn mà các nhà khoa học Nhật Bản được trao tặng. Hầu hết những nhà khoa học Mỹ nhận giải Nobel là thế hệ nhập cư đầu tiên hoặc là con cái của thế hệ này. Nhưng trong số các nhà khoa học Nhật Bản cũng như trong xã hội Nhật Bản nói chung rất hiếm có người nhập cư và con cái của họ. Mối tương quan giữa nhập cư và giải Nobel này thật dễ hiểu khi nó cho thấy sự sẵn sàng chấp nhận rủi ro và thử nghiệm một điều gì thực sự mới mẻ chính là điều kiện tiên quyết cho cả việc di cư và đổi mới ở cấp độ cao nhất.

Về ngắn hạn, Nhật Bản không sẵn sàng giải quyết các vấn đề này bằng nhập cư. Về lâu dài, không thể biết liệu người Nhật có tiếp tục chịu đựng những vấn đề này không, hay thay vào đó họ chọn giải quyết bằng cách thay đổi chính sách nhập cư, hoặc sẽ tìm ra giải pháp nào đó khác ngoài nhập cư. Nếu Nhật Bản quyết định đánh giá lại vấn đề nhập cư, thì chính sách của Canada có thể là mô hình hợp lý, trong đó chú trọng đánh giá người nộp đơn dựa trên cơ sở giá trị tiềm năng mà người đó mang đến cho Canada.

Vấn đề tiếp theo mà Nhật Bản lờ đi, sau vấn đề nhập cư, chính là hệ quả của thái độ của Nhật trong thời chiến đối với các nước Trung Quốc và Triều Tiên đang ảnh hưởng tới mối quan hệ ngày nay giữa họ. Trước và trong Thế chiến II, Nhật Bản từng làm những điều khủng khiếp đối với dân chúng ở các nước châu Á khác, nhất là Trung Quốc và Triều Tiên. Rất lâu trước khi Nhật chính thức tuyên bố chiến tranh vào ngày 7 tháng 12 năm 1941, Nhật đã tiến hành một cuộc chiến toàn diện không công khai đối với Trung Quốc kể từ năm 1937. Trong cuộc chiến đó, quân đội Nhật đã giết chết hàng triệu người Trung Quốc, có hàng trăm nghìn thường dân đã phải bỏ mạng ở Nam Kinh từ tháng 12 năm 1937 đến tháng 1 năm 1938, và nhiều người khác bị giết để trả thù cho cuộc không kích Doolittle xảy ra hồi tháng 4 năm 1942. Mặc dù ngày nay Nhật ra sức phủ nhận những cuộc thảm sát này, nhưng có nhiều tài liệu đã được dẫn ra. (Bạn có thể xem hơn 400 bức hình trong tập sách của Shi Young và James Yin có tên The Rape of Nanking: An Undeniable History in Photographs [Tội ác Nam Kinh: Lịch sử không thể bác bỏ qua những bức ảnh], xuất bản năm 1999.) Nhật Bản thôn tính Triều Tiên vào năm 1910, bắt buộc trường học Triều Tiên sử dụng tiếng Nhật thay vì tiếng Hàn trong 35 năm Nhật chiếm đóng, cưỡng ép rất nhiều phụ nữ Triều Tiên và phụ nữ mang quốc tịch khác trở thành nô lệ tình dục trong các nhà thổ cho lính Nhật, và buộc vô số đàn ông Triều Tiên lao dịch không khác gì nô lệ cho quân đội Nhật.

Kết quả là làn sóng căm thù Nhật Bản lan rộng khắp Trung Quốc và Triều Tiên ngày nay. Theo quan điểm của người Trung Quốc và Triều Tiên, Nhật Bản không thừa nhận một cách thẳng thắn, không xin lỗi hoặc bày tỏ ân hận đối với sự tàn bạo mà họ gây ra trong thời chiến. Dân số Trung Quốc đông gấp 11 lần Nhật Bản, trong khi dân số của cả Triều Tiên và Hàn Quốc nhỉnh hơn nửa dân số Nhật. Cả Trung Quốc và Triều Tiên đều có vũ khí hạt nhân. Trung Quốc, Triều Tiên và Hàn Quốc đều có quân đội hùng mạnh, được trang bị tốt, trong khi lực lượng vũ trang Nhật Bản vẫn rất mỏng vì hiến pháp Nhật bị Mỹ áp đặt, cộng với ngày nay, chủ nghĩa hòa bình lan rộng tại Nhật Bản. Bắc Triều Tiên thỉnh thoảng lại phóng tên lửa qua Nhật để chứng tỏ khả năng tiếp cận nước này. Nhật Bản lại còn đang vướng mắc tranh chấp với Trung Quốc và Hàn Quốc về những hòn đảo nhỏ không có người ở, không có giá trị nội tại nhưng quan trọng vì tài nguyên cá, khí đốt và khoáng sản trong mỗi vùng biển đảo. Tôi cho rằng về lâu dài, sự kết hợp của những thực tế này là mối nguy khôn lường cho Nhật Bản.

Dưới góc nhìn của người châu Á về quan điểm của Nhật Bản đối với Thế chiến II, Lý Quang Diệu, một nhà quan sát sắc sảo, thủ tướng Singapore trong nhiều thập niên, đã trở nên quen thuộc với Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc và các nhà lãnh đạo của họ, nhận xét: “Không như Đức, người Nhật đã không tự phấn chấn và tự loại bỏ chất độc ra khỏi hệ thống của họ. Họ không giáo dục giới trẻ về sai lầm mà họ đã làm. Hashimoto [một thủ tướng Nhật Bản] đã bày tỏ ‘sự hối tiếc sâu sắc nhất’ trong lễ kỷ niệm 52 năm kết thúc Thế chiến II (1997) và ‘sự ân hận tự đáy lòng’ trong chuyến thăm Bắc Kinh vào tháng 9 năm 1997. Tuy nhiên, ông không xin lỗi, như người Trung Quốc và Hàn Quốc mong muốn nhà lãnh đạo Nhật Bản làm. Tôi không hiểu tại sao người Nhật không sẵn lòng thừa nhận quá khứ, xin lỗi về nó và tiếp tục tiến lên. Vì một số lý do, họ không muốn xin lỗi. Xin lỗi tức là thừa nhận đã làm sai. Nhưng bày tỏ sự ân hận hoặc hối tiếc chỉ đơn thuần là bày tỏ cảm xúc chủ quan hiện tại của họ. Họ phủ nhận vụ thảm sát Nam Kinh; phủ nhận những người phụ nữ Hàn Quốc, Philippines, Hà Lan và những người phụ nữ khác đã bị bắt cóc hoặc bị ép buộc trở thành ‘phụ nữ giải khuây’ (một uyển ngữ của nô lệ tình dục) cho binh lính Nhật Bản ở mặt trận chiến tranh; phủ nhận đã thực hiện các thí nghiệm sinh học tàn khốc trên các tù nhân Trung Quốc, Hàn Quốc, Mông Cổ, Nga và các tù nhân khác ở Mãn Châu. Đối với mỗi vụ việc, chỉ sau khi không thể bác bỏ được bằng chứng từ hồ sơ của chính họ, họ mới miễn cưỡng thừa nhận. Điều này làm dấy lên những nghi ngờ về ý đồ trong tương lai của Nhật Bản. Thái độ hiện tại của Nhật Bản là một dấu hiệu cho thấy hành vi trong tương lai của họ. Nếu họ xấu hổ về quá khứ, họ sẽ ít có khả năng lặp lại nó.”

Hằng năm, các lớp của tôi tại Đại học California ở Los Angeles bao gồm các sinh viên đến từ Nhật Bản, nói chuyện với tôi về việc học ở đó và về những trải nghiệm của họ khi đến California. Họ nói với tôi rằng các lớp học lịch sử của họ ở các trường học Nhật Bản dành ít thời gian cho Thế chiến II (“bởi vì cuộc chiến đó chỉ kéo dài vài năm trong hàng ngàn năm lịch sử Nhật Bản”), kể rất ít hoặc không nói gì về vai trò kẻ xâm lược của Nhật Bản, nhấn mạnh vai trò nạn nhân của Nhật Bản (của hai quả bom nguyên tử đã giết chết 120.000 người Nhật) thay vì chịu trách nhiệm về cái chết của hàng triệu người khác cộng với hàng triệu binh sĩ và thường dân Nhật Bản, và đổ lỗi cho Mỹ bằng cách nào đó đã lừa Nhật Bản để phát động chiến tranh. (Nói một cách công bằng, sách giáo khoa Hàn Quốc, Trung Quốc và Mỹ cũng cho thấy quan điểm bị bóp méo của họ về Thế chiến II.) Học sinh Nhật Bản của tôi bị sốc khi tham gia các hiệp hội châu Á ở Los Angeles, gặp gỡ các học sinh Hàn Quốc và Trung Quốc, và lần đầu tiên được nghe về những hành động thời chiến của Nhật Bản từ những sinh viên đến từ những quốc gia khác, những hành động vẫn còn khơi dậy sự căm thù Nhật Bản.

Tuy nhiên, một số sinh viên Nhật Bản của tôi và nhiều người Nhật Bản khác đã chỉ ra rất nhiều lời xin lỗi của các chính trị gia Nhật Bản, và hỏi “Nhật Bản đã xin lỗi đủ chưa?” Một câu trả lời ngắn gọn là: chưa, bởi vì những lời xin lỗi nghe có vẻ lạc lõng, thiếu thuyết phục và lập lờ với những tuyên bố giảm thiểu hoặc chối bỏ trách nhiệm của Nhật Bản. Một câu trả lời dài hơn là so sánh cách tiếp cận đối nghịch giữa Nhật Bản và Đức đối với các di sản lịch sử gần đây của họ và hỏi tại sao cách tiếp cận của Đức lại thuyết phục được kẻ thù trước đây trong khi cách tiếp cận của Nhật Bản không thuyết phục được nạn nhân chính là Trung Quốc và Triều Tiên. Chương 6 đã mô tả nhiều cách thức mà các nhà lãnh đạo Đức bày tỏ sự hối tiếc và trách nhiệm, và trong đó các học sinh Đức được dạy để đối mặt với những gì đất nước họ đã làm. Người Trung Quốc và Hàn Quốc có thể bị thuyết phục về sự chân thành của Nhật Bản nếu họ dùng những câu trả lời tương tự như người Đức: chẳng hạn, nếu thủ tướng Nhật đến Nam Kinh, quỳ gối trước nhân dân Trung Quốc và xin lỗi vì những cuộc thảm sát mà Nhật đã gây ra ở Nam Kinh thời chiến tranh; nếu trên khắp Nhật Bản có các bảo tàng, di tích và trại tù binh cũ với hình ảnh và lời giải thích chi tiết về sự tàn bạo của thời chiến; nếu học sinh Nhật Bản thường xuyên được đưa đi học ở những địa điểm như vậy ở Nhật Bản và đến các địa điểm bên ngoài Nhật Bản như Nam Kinh, Sandakan, Bataan và Saipan; và nếu Nhật Bản nỗ lực nhiều hơn để mô tả các nạn nhân của họ trong thời chiến thay vì mô tả các nạn nhân người Nhật trong chiến tranh. Tất cả những hành động này không tồn tại và không thể tưởng tượng được ở Nhật Bản, nhưng chúng lại được thực hiện rộng rãi ở Đức. Trước khi được tiến hành tại Nhật Bản, người Trung Quốc và Triều Tiên vẫn sẽ tiếp tục không tin lời xin lỗi theo kịch bản của Nhật Bản và căm ghét Nhật Bản. Và chừng nào Trung Quốc và Triều Tiên được trang bị vũ khí trong khi Nhật Bản vẫn không có phương tiện để tự vệ, thì một mối nguy lớn vẫn sẽ tiếp tục treo trên đầu Nhật Bản.

Để tồn tại, tất cả các dân tộc đều phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên tái tạo, bao gồm cây cối, cá, lớp đất mặt, nước sạch và không khí sạch. Tất cả những tài nguyên đó đặt ra nhiều vấn đề về quản lý mà các nhà khoa học đã có quá nhiều kinh nghiệm. Nếu các khu rừng và nghề đánh bắt cá trên thế giới được quản lý một cách tốt nhất theo khuyến nghị, thì ta có thể thu hoạch lâm sản và thủy sản lâu dài, với số lượng đủ để đáp ứng nhu cầu của dân số thế giới hiện tại. Đáng buồn thay, việc thu hoạch thực tế vẫn mang tính phá hủy và không bền vững. Hầu hết các khu rừng trên thế giới đang bị thu hẹp và hầu hết nghề đánh bắt cá đang suy giảm hoặc đã sụp đổ. Nhưng không quốc gia nào có thể tự túc mọi nguồn tài nguyên thiên nhiên; tất cả các nước phải nhập khẩu ít nhất một số tài nguyên. Do đó ở hầu hết các quốc gia đều có các cơ quan chính phủ, chi nhánh của các tổ chức môi trường quốc tế (như Quỹ Động vật hoang dã Thế giới và Bảo tồn Quốc tế) và các tổ chức môi trường địa phương đang nỗ lực để giải quyết những vấn đề này.

Những thách thức này đặc biệt nghiêm trọng đối với Nhật Bản. Trước năm 1853, khi Nhật Bản đóng cửa với thế giới bên ngoài và nhập khẩu không đáng kể, thì họ vẫn tự cung tự cấp nguồn tài nguyên thiên nhiên. Buộc phải phụ thuộc vào các khu rừng của chính mình và bị báo động bởi sự suy giảm của chúng vào những năm 1600, Nhật Bản đã phát triển các phương pháp lâm nghiệp khoa học độc lập với Đức và Thụy Sĩ, để quản lý các khu rừng của mình. Ngày nay, do sự bùng nổ dân số của Nhật Bản kể từ năm 1853, mức sống và mức tiêu thụ tăng cao, dân số đông đúc trong một khu vực nhỏ và cần nguyên liệu thô cần thiết cho nền kinh tế công nghiệp hiện đại, Nhật Bản đã trở thành một trong những nhà nhập khẩu tài nguyên thiên nhiên lớn nhất thế giới. Trong số các tài nguyên không tái tạo, hầu hết mọi nhu cầu của Nhật Bản về dầu, khí đốt tự nhiên, niken, nhôm, nitrat, kali, và phốt phát, và hầu hết các nhu cầu về sắt, than và đồng đều phải được nhập khẩu. Trong số các tài nguyên thiên nhiên tái tạo, Nhật Bản được xếp hạng là nhà nhập khẩu hàng đầu thế giới hoặc thứ hai hoặc thứ ba về hải sản, gỗ tròn, gỗ dán, gỗ cứng nhiệt đới, vật liệu giấy và bột giấy.

Đó là một danh sách dài các tài nguyên thiết yếu mà Nhật Bản phụ thuộc vào nhập khẩu. Khi bất kỳ tài nguyên nào trong số này trở nên cạn kiệt trên toàn thế giới, Nhật Bản sẽ là quốc gia đầu tiên hoặc là một trong những quốc gia đầu tiên gánh chịu hậu quả. Nhật Bản cũng là quốc gia lớn phụ thuộc nhiều nhất vào thực phẩm nhập khẩu để nuôi sống công dân. Nhật Bản ngày nay có tỉ lệ cao nhất (hệ số 20) về nhập khẩu nông sản so với xuất khẩu nông sản giữa các nước lớn. Hàn Quốc xếp thứ nhì với hệ số 6, trong khi Mỹ, Brazil, Ấn Độ, Úc và khá nhiều quốc gia lớn khác lại là các nhà xuất khẩu thực phẩm thuần túy.

Do đó, người Nhật có lý do chính đáng để xem đất nước họ nghèo tài nguyên. Và cũng vì vậy, người ta kỳ vọng rằng Nhật Bản, trong vai trò quốc gia phát triển với sự phụ thuộc lớn nhất vào nhập khẩu tài nguyên, sẽ được thúc đẩy bởi lợi ích để trở thành nhà quảng bá hàng đầu thế giới về khai thác tài nguyên bền vững. Nhất là, Nhật Bản phải sử dụng chính sách hợp lý để đi đầu trong việc khai thác bền vững các nghề cá và rừng trên thế giới mà Nhật Bản vốn bị phụ thuộc.

Nghịch lý thay, điều ngược lại đang diễn ra. Là giám đốc của Quỹ Động vật hoang dã Thế giới ở Mỹ và Tổ chức Bảo tồn Quốc tế, tôi được nghe nhiều về các chính sách quốc gia về quản lý tài nguyên mà hai tổ chức này giải quyết. Tôi cũng được nghe rất nhiều về các chính sách của Nhật Bản nói riêng, từ bạn bè và đồng nghiệp Nhật Bản. Nhật Bản dường như là quốc gia phát triển với sự hỗ trợ ít nhất và sự phản đối mạnh mẽ nhất đối với các chính sách tài nguyên bền vững ở nước ngoài. Lượng nhập khẩu lâm sản Nhật Bản có nguồn gốc bất hợp pháp và không được khai thác bền vững cao hơn nhiều so với các quốc gia thuộc Liên minh Châu Âu hoặc Mỹ, cho dù tính theo đầu người hoặc tính theo tỉ lệ phần trăm của tổng nhập khẩu lâm sản. Nhật Bản là quốc gia tiên phong trong việc chống lại quy định thận trọng trong đánh bắt cá đại dương và cá voi. Sau đây là hai ví dụ.

Ví dụ đầu tiên của tôi liên quan đến cá ngừ vây xanh Đại Tây Dương và Địa Trung Hải, đặc biệt được đánh giá cao và tiêu thụ ở Nhật Bản dưới dạng sashimi hoặc sushi. Một con cá ngừ lớn nhập khẩu gần đây được bán ở Nhật Bản với mức giá hơn 1.000.000 đô la. Những con cá ngừ này đang suy giảm mạnh do bị đánh bắt quá mức, và điều đó kích thích các nỗ lực bảo tồn nguồn tài nguyên quý giá này bằng cách đồng ý đánh bắt bền vững và áp dụng hạn ngạch đánh bắt cá. Thật đáng kinh ngạc, khi nguồn cá ngừ đó được đề xuất trong danh sách bảo vệ quốc tế năm 2010 (được gọi là danh sách CITES), Nhật Bản lại không phải là quốc gia khởi xướng. Thay vào đó, Nhật Bản xem việc ngăn chặn thành công đề xuất này là một chiến thắng ngoại giao.

Ví dụ thứ hai của tôi là Nhật Bản ngày nay là quốc gia săn bắt cá voi hàng đầu và liên tục nhất. Ủy ban Cá voi Quốc tế xác định hạn ngạch săn cá voi. Hằng năm, Nhật Bản hợp pháp hóa hạn ngạch đó bằng cách giết một số lượng lớn cá voi cho mục đích nghiên cứu, sau đó xuất bản ít hoặc không có nghiên cứu nào về những con cá voi đã chết và thay vào đó là bán chúng để lấy thịt. Tuy nhiên, nhu cầu của người tiêu dùng Nhật Bản đối với thịt cá voi là thấp và đang giảm, và thịt cá voi bị lãng phí thành thức ăn cho chó và phân bón hơn là cho con người. Duy trì việc săn bắt cá voi là một thiệt hại kinh tế đối với Nhật Bản, bởi vì ngành đánh bắt cá voi của nước này được chính phủ trợ cấp rất nhiều theo nhiều cách: trợ cấp trực tiếp cho chính các tàu săn cá voi; chi phí bổ sung cho nhiều tàu hộ tống và bảo vệ các tàu săn cá voi; và các chi phí tiềm ẩn của cái gọi là viện trợ nước ngoài trả cho các quốc gia không săn bắt cá voi nhưng là thành viên của Ủy ban Cá voi Quốc tế, như một khoản hối lộ để đổi lấy phiếu bầu ủng hộ săn bắt cá voi của họ.

Tại sao Nhật Bản theo đuổi những lập trường này? Những người bạn Nhật của tôi đã đưa ra ba lời giải thích. Đầu tiên, người dân Nhật Bản trân trọng hình ảnh sống hòa hợp với thiên nhiên và theo truyền thống họ quản lý rừng của mình một cách bền vững – nhưng không phải là rừng và cá ở nước ngoài mà hiện tại họ khai thác. Thứ hai, niềm tự hào dân tộc Nhật Bản không thích cúi đầu trước áp lực quốc tế. Nhật Bản đặc biệt không muốn bị coi là nhượng bộ trong các chiến dịch chống săn bắt cá voi của tổ chức Hòa bình Xanh và Sea Shepherd, và trước áp lực quốc tế trong việc điều tiết ngành săn cá ngừ vây xanh. Người ta có thể mô tả Nhật Bản là kẻ chống lệnh cấm săn cá voi, chứ không phải là kẻ săn cá voi. Cuối cùng, nhận thức về tài nguyên nội địa hạn chế của Nhật Bản đã khiến họ trong 140 năm qua phải duy trì, vì cốt lõi của an ninh quốc gia và vì yếu tố then chốt trong chính sách đối ngoại của nước này, tuyên bố quyền khai thác không hạn chế tài nguyên thiên nhiên thế giới. Mặc dù sự khăng khăng đó là một chính sách khả thi trong quá khứ khi tài nguyên thế giới dư thừa, nhưng khi nguồn cung vượt quá nhu cầu, chính sách này không còn khả thi trong thời đại ngày nay bởi nguồn tài nguyên đang suy giảm.

Đối với một người ngoài cuộc ngưỡng mộ Nhật Bản như tôi, sự phản đối của họ trước việc sử dụng bền vững tài nguyên ở nước ngoài là điều đáng buồn và tự hủy hoại. Nỗ lực giành lấy các nguồn tài nguyên ở nước ngoài đã thúc đẩy Nhật Bản thực hiện hành vi tự hủy hoại một lần trước đây, khi họ gây chiến đồng thời với Trung Quốc, Mỹ, Anh, Úc, New Zealand và Hà Lan. Thất bại sau đó là không thể tránh khỏi. Bây giờ cũng vậy, thất bại một lần nữa là không thể tránh khỏi – không phải bởi sự chinh phục quân sự, mà là sự cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên có thể tái tạo và không tái tạo ở nước ngoài. Nếu tôi là nhà độc tài xấu xa của một quốc gia ghét Nhật Bản và muốn hủy hoại nó mà không cần phải dùng đến chiến tranh, tôi sẽ làm chính xác những gì Nhật Bản đang làm với chính mình: tôi sẽ phá hủy các tài nguyên ở nước ngoài mà Nhật Bản phụ thuộc.

Cuối cùng, hãy xem xét tương lai nào dành cho Nhật Bản dưới ánh sáng của 12 nhân tố dự đoán của chúng ta. Nếu coi đó là một bài tập học thuật đơn thuần, chúng ta chỉ có thể hỏi liệu với các nhân tố dự đoán như vậy, Nhật Bản có khả năng thành công trong việc giải quyết các vấn đề hiện tại hay không. Hữu ích hơn, chúng ta có thể đề xuất phương cách mà người Nhật có thể sử dụng các yếu tố này để nghĩ ra giải pháp và vượt qua một số trở ngại mà hiện tại họ đang tạo ra cho chính mình.

Một nguyên nhân cho sự lạc quan là Nhật Bản luôn thành công trong việc giải quyết các biến cố (nhân tố số 8 trong Bảng 1.2). Hai lần trong thời hiện đại, Nhật Bản đã cho thấy những câu chuyện thành công nổi bật của quốc gia về việc đánh giá lại và thay đổi có chọn lọc. Những thay đổi mạnh mẽ nhất xuất hiện cùng Minh Trị Duy Tân bắt đầu vào năm 1868. Việc hạm đội của Phó đề đốc Perry bắt buộc Nhật Bản mở cửa vào năm 1853 đã làm dấy lên nỗi ám ảnh rằng Nhật Bản, giống như rất nhiều quốc gia ngoài châu Âu khác, có thể bị các cường quốc phương Tây xâm chiếm. Nhật Bản đã tự cứu mình bằng một chương trình thay đổi có chọn lọc. Họ vứt bỏ sự cô lập quốc tế, vứt bỏ chính phủ do một shogun điều hành, tầng lớp samurai và hệ thống phong kiến. Họ đã thông qua một hiến pháp, nội các chính phủ, quân đội quốc gia, công nghiệp hóa, hệ thống ngân hàng kiểu châu Âu, hệ thống trường học mới, và nhiều quần áo, thực phẩm và âm nhạc phương Tây. Đồng thời, họ giữ lại hoàng đế, ngôn ngữ, hệ thống chữ viết và hầu hết văn hóa. Nhật Bản do đó không chỉ giữ được độc lập mà còn trở thành quốc gia ngoài phương Tây đầu tiên cạnh tranh với phương Tây về sự giàu có và quyền lực. Một lần nữa, sau Thế chiến II, Nhật Bản đã có những thay đổi có chọn lọc mạnh mẽ hơn, vứt bỏ truyền thống quân sự và niềm tin vào hoàng đế, họ áp dụng nền dân chủ và hiến pháp mới, và phát triển hoặc vực dậy nền kinh tế xuất khẩu.

Một nguyên nhân lớn khác cho sự lạc quan là dấu vết lịch sử cho thấy sự kiên nhẫn và khả năng phục hồi sau thất bại và thua trận (nhân tố số 9) của Nhật Bản, như lời thừa nhận của Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu, người có lời chỉ trích Nhật Bản trong phần trước: “Bất chấp những trải nghiệm của tôi trong thời kỳ Nhật chiếm đóng và những tính cách Nhật từng khiến tôi sợ hãi, giờ đây tôi tôn trọng và ngưỡng mộ họ. Sự đoàn kết, kỷ luật, thông minh, cần cù và sẵn sàng hi sinh vì dân tộc của họ khiến họ trở thành một lực lượng sản xuất mạnh mẽ. Ý thức được sự nghèo nàn về tài nguyên, họ tiếp tục nỗ lực để đạt được điều không thể đạt được. Vì giá trị văn hóa của họ, họ sẽ là những người sống sót cô đơn sau bất kỳ thảm họa nào. Thỉnh thoảng họ bị tấn công bởi các thế lực không thể đoán trước của thiên nhiên – động đất, bão và sóng thần. Họ thu nhặt thương vong, tự đứng dậy và xây dựng lại… Tôi đã rất ngạc nhiên thấy cuộc sống trở lại bình thường ở Kobe khi tôi đến thăm vào tháng 11 năm 1996, một năm rưỡi sau trận động đất [kinh hoàng]. Họ đã vượt qua thảm họa này trong chốc lát và ổn định nếp sống mới.”

Các nhân tố khác trong danh sách các ưu thế của Nhật Bản là sự tự do lựa chọn mà Nhật Bản có được khi là một quần đảo không có hàng xóm chung biên giới đất liền (nhân tố số 12), được bù đắp bởi sự gần gũi với Trung Quốc và Hàn Quốc; căn tính quốc gia, niềm tự hào và sự gắn kết mạnh mẽ (nhân tố số 6); sự hỗ trợ thân thiện hoặc ít nhất là sự trung lập nhân từ mà Nhật Bản nhận được từ nhiều đối tác thương mại khác ngoài Trung Quốc và Hàn Quốc (nhân tố số 4); và các mô hình sẵn có mà các quốc gia khác đưa ra để giải quyết một số vấn đề chính của Nhật Bản nếu họ chọn sử dụng các mô hình đó (nhân tố số 5: xem đoạn sau). Ưu thế lớn hơn nữa của Nhật Bản là sức mạnh kinh tế, nhân lực, văn hóa và môi trường như đã được thảo luận trong những trang đầu tiên của chương này.

Bù lại những ưu thế này là ba yếu tố trong danh sách của tôi. Tôi đề cập đến chúng không phải để thúc đẩy sự bi quan, mà để tập trung chú ý vào thái độ mà Nhật Bản sẽ phải thay đổi nếu họ muốn giải quyết các vấn đề hiện tại. Giá trị cốt lõi truyền thống chính là một trở ngại vì hiện nó đã trở nên không phù hợp do hoàn cảnh thay đổi (nhân tố số 11): Nhật Bản tiếp tục nỗ lực để bảo đảm quyền khai thác không hạn chế tài nguyên thiên nhiên như thể chúng là siêu dư thừa, thay vì nỗ lực hợp tác quốc tế để khai thác chừng mực một cách bền vững. Một trở ngại khác là câu chuyện của Nhật Bản về Thế chiến II tập trung vào sự tự thương thân và xem họ là nạn nhân, thay vì chấp nhận trách nhiệm của Nhật Bản đối với chiến tranh và các hành động của họ (nhân tố số 2). Trong chính sách quốc gia cũng như trong cuộc sống cá nhân, vấn đề sẽ không thể giải quyết nếu người ta vẫn phủ nhận trách nhiệm của chính mình. Nhật Bản sẽ phải noi theo tấm gương của Đức về việc thừa nhận trách nhiệm, nếu Nhật Bản muốn cải thiện mối quan hệ với Trung Quốc và Triều Tiên.

Trở ngại còn lại, theo tôi, chính là thiếu việc tự đánh giá trung thực, mang tính thực tế trong một số lĩnh vực chính (nhân tố số 7). Hai ví dụ chúng ta vừa đề cập liên quan đến nhập khẩu tài nguyên và câu chuyện về Thế chiến II. Một ví dụ khác là niềm tin sai lệch của Nhật Bản vào sự tối quan trọng của việc ngăn chặn sự suy giảm dân số. Tuy việc giảm từ 127 triệu xuống còn 20 triệu người sẽ thực sự gây ra vấn đề, nhưng tôi thấy không có bất lợi nào trong việc giảm xuống còn 80 triệu, mà thay vào đó là một ưu thế rất lớn: cụ thể là giảm sự thèm khát của Nhật Bản đối với tài nguyên nhập khẩu, điều đã ám ảnh lịch sử Nhật Bản hiện đại. Nhật Bản rất hùng mạnh vì có nhiều ưu thế như đã nêu ở phần đầu của chương này, chứ không phải vì dân số Nhật Bản hiện tại là 127 triệu, bằng Mexico, cao hơn 80 triệu của Đức.

Còn một lĩnh vực cần phải được tự đánh giá là nhập cư. Đó là phương pháp mà nhiều quốc gia sử dụng để giải quyết các vấn đề vốn được Nhật Bản coi là nghiêm trọng: đặc biệt, khi tỉ lệ lao động trẻ so với người nghỉ hưu lớn tuổi đang giảm, chăm sóc trẻ em không có nhiều lựa chọn và không đủ người chăm sóc cho người già. Một lựa chọn là Nhật Bản nên xem xét nhập cư theo mô hình rất thành công của Canada, hoặc dựa trên kinh nghiệm của những người di cư Nhật Bản đến Mỹ và Nam Mỹ. Một lựa chọn thay thế là Nhật Bản tiếp tục nói không với nhập cư và thay vào đó áp dụng một số thay đổi rõ ràng: ví dụ: mở rộng lực lượng lao động bản địa Nhật Bản bằng cách loại bỏ những trở ngại khiến phụ nữ không tham gia lực lượng lao động, và tăng số lượng thị thực có thời hạn được cấp cho nhân viên nước ngoài để làm việc chăm sóc trẻ em, điều dưỡng và chăm sóc người già. Không có bí mật nào về những giải pháp khả thi này, mỗi giải pháp đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng. Những gì cần thiết là mạnh mẽ chịu cuộc đại phẫu, tìm kiếm đồng thuận về một giải pháp và tránh tình trạng tê liệt hiện tại tiếp diễn.

Làm thế nào Nhật Bản đối diện với những thách thức trong thập niên tới? Trên thực tế, những vấn đề mà Nhật Bản hiện đang gặp phải ít ghê gớm hơn những vấn đề mà họ từng đối mặt khi chính sách cô lập lâu dài của họ đột ngột kết thúc vào năm 1853, hoặc khi Nhật Bản hoàn toàn bại trận vào tháng 8 năm 1945. Nhật Bản từng phục hồi mạnh mẽ sau những chấn thương đó, nên tôi hi vọng rằng ngày nay, một lần nữa, Nhật Bản có thể đánh giá lại một cách có chọn lọc các giá trị cốt lõi của mình, loại bỏ những giá trị không còn ý nghĩa, giữ lại những giá trị vẫn còn ý nghĩa và kết hợp chúng với một số giá trị mới thích ứng với sự biến động của hoàn cảnh hiện đại.

Next

Có thể bạn muốn đọc thêm

21-bai-hoc-cho-the-ky-21-Yuval-Noah-Harari
21 Bài Học Cho Thế Kỷ 21 – Yuval Noah Harari
February 23, 2021
sapiens-yuval-noah-harari
Sapiens: Lược Sử Loài Người – Yuval Noah Harari
February 22, 2023
nhung-tu-nha-cua-dia-ly-tim-marshall
Những Tù Nhân Của Địa Lý – Tim Marshall
April 15, 2022
sung-vi-trung-va-thep-jared-diamond
Súng, Vi Trùng Và Thép – Jared Diamond
April 25, 2023

ThuVienOnline © 2026