Biến Động - Jared Diamond - Chương 9
- Home
- Biến Động - Jared Diamond
- Chương 9 - Nước Mỹ đang đối mặt với điều gì? Sức mạnh cùng vấn nạn lớn nhất
Nước Mỹ ngày nay – Sự thịnh vượng – Địa lý – Ưu thế của thể chế dân chủ – Những ưu thế khác – Phân cực chính trị – Tại sao? – Phân cực khác
Vào thời điểm tôi đang viết cuốn sách này, nước Mỹ chưa trải qua biến cố nặng nề nào như biến cố Nhật Bản gặp phải sau cuộc viếng thăm bất ngờ của Phó đề đốc Perry vào ngày 8 tháng 7 năm 1853. Tuy nhiên, phần lớn người dân đồng ý rằng nước Mỹ còn những vấn nạn nghiêm trọng hơn. Tình hình hiện tại của Mỹ có thể nói là tương tự Đức thời hậu chiến hay Úc, với một cuộc khủng hoảng dần lộ diện, gồm các vấn đề chính trị-xã hội lẫn quan hệ quốc tế.
Chẳng hạn, trong số các vấn đề liên quan tới quan hệ quốc tế, nhiều người dân Mỹ lo ngại về mối đe dọa lâu dài đến từ sự trỗi dậy của Trung Quốc, nền kinh tế lớn thứ hai thế giới chỉ sau Mỹ. Trung Quốc đông dân gấp bốn lần Mỹ. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc trong nhiều năm qua liên tục vượt Mỹ cũng như các quốc gia lớn khác. Về mặt quân sự, không nước nào có nhiều binh lính bằng Trung Quốc, và mức chi tiêu quân sự của họ cũng chỉ kém nước đứng đầu là Mỹ. Trung Quốc đã sở hữu vũ khí hạt nhân khoảng nửa thế kỷ nay. Về nhiều mặt thuộc lĩnh vực công nghệ tiên tiến (như sản sinh năng lượng thay thế và tàu tốc hành), Mỹ cũng đã bị Trung Quốc vượt mặt. Một chính phủ chuyên chế như của Trung Quốc có thể hoàn thành công việc nhanh hơn nền dân chủ của Mỹ với hai đảng phái chính, với cơ chế kiểm soát và cân bằng. Nhiều người Mỹ cho rằng, việc Trung Quốc vượt Mỹ về kinh tế và quân sự chỉ còn là vấn đề thời gian. Chúng ta ngày càng được nghe nhiều về chuyện thế kỷ 21 là thế kỷ của châu Á, đặc biệt là của Trung Quốc.
Tôi đồng ý rằng các mối lo ngại này không thể bị xem nhẹ. Một mặt, qua những gì tôi đã chứng kiến suốt cuộc đời mình, mỗi thập niên lại có những lý do để coi đó là thời đoạn khó khăn nhất với người Mỹ. Chẳng hạn, thập niên 1940 diễn ra Thế chiến II với Nhật Bản và Đức Quốc xã, thập niên 1950 có Chiến tranh Lạnh, thập niên 1960 xảy ra Khủng hoảng Tên lửa Cuba cùng Chiến tranh Việt Nam – cuộc chiến ảnh hưởng rất lớn tới xã hội Mỹ, và các thập niên tiếp theo cũng không khác gì. Song, ngay cả khi tự nhủ rằng chúng ta nên có thái độ hoài nghi bởi mỗi thập niên lại có nguyên cớ nào đó gây ra nỗi bất an lớn nhất tại chính thời điểm ấy, thì tôi vẫn phải tán thành sự thật là thập niên gần nhất, 2010, đang khiến người dân lo âu nhiều nhất.
Để cho phù hợp, sau khi chương trước thảo luận về những gì nước Nhật đang đối mặt ở phía trước, chương này và chương tiếp theo (Chương 10) cũng đề cập đến những gì mà Mỹ sắp phải đối diện. Cũng như trường hợp Nhật Bản, tôi sẽ tránh tập trung đề cập một chiều vào những điểm sai của Mỹ. Thay vào đó, trước tiên tôi sẽ đưa ra những ưu thế có nền tảng lâu dài. Đối với mỗi ưu thế, tôi sẽ đánh giá ngắn gọn về Trung Quốc trong cùng lĩnh vực đó, để đánh giá tính chân thực đối với nỗi sợ hãi của người Mỹ về việc thời gian đứng về phía Trung Quốc và chống lại Mỹ. Tất nhiên, ngoài Trung Quốc, những quốc gia khác – đặc biệt là Triều Tiên, Nga và Afghanistan – cũng đặt ra nhiều vấn đề với nước Mỹ. Nhưng điều thiết thực hơn cho mục đích của cuốn sách này là so sánh Mỹ với Trung Quốc thay vì với các quốc gia khác, vốn đặt ra cho Mỹ các vấn đề ở phạm vi hẹp hơn vấn đề Trung Quốc. Sau đó, tôi sẽ nêu ra những gì được cho là những vấn nạn cơ bản hiện tại của Mỹ – không phải những vấn đề cần quan tâm tức thời cho cuộc bầu cử năm 2020, mà là những vấn đề mà tôi dự đoán sẽ đứng hàng đầu trong thập niên tới. Như trong chương trước về Nhật Bản, tôi sẽ chỉ thảo luận về các vấn đề cụ thể ở Mỹ và tôi sẽ dành Chương 11 cho các vấn đề thế giới rộng lớn hơn cũng ảnh hưởng đến Mỹ. Cuối cùng, tôi sẽ xem rằng liệu hàng tá hệ quả được dự đoán từ cuốn sách này có thể giúp đỡ hay làm tổn thương người Mỹ trong việc giải quyết những vấn nạn cơ bản hay không.
Đánh giá của tôi về sức mạnh của Mỹ bắt đầu từ thực tế hiện hữu, và đã tồn tại trong nhiều thập niên, rằng Mỹ là quốc gia quyền lực nhất thế giới, đồng thời cũng có nền kinh tế lớn nhất. (Nền kinh tế Trung Quốc có quy mô tiệm cận và một số lĩnh vực còn lớn hơn Mỹ.) Để hiểu nền tảng của quy mô kinh tế to lớn của Mỹ, hãy luôn tự nhắc nhở về sự kiện đề cập ở chương trước giúp chúng ta hiểu về quy mô của nền kinh tế Nhật Bản. Sản lượng hay thu nhập kinh tế quốc gia là sản phẩm của hai yếu tố: dân số quốc gia, nhân với sản lượng hoặc thu nhập bình quân trên mỗi đầu người. Mỹ tiệm cận với quốc gia xếp hạng cao nhất thế giới ở cả hai nhân tố đó, trong khi mọi quốc gia khác chỉ gần tốp đầu vì có một trong hai nhân tố này thấp hơn.
Về dân số, hiện nay Mỹ xếp thứ ba trong danh sách các quốc gia đông dân nhất thế giới (khoảng 340 triệu người), chỉ sau Trung Quốc và Ấn Độ. Song, cả hai nước này, hay nói đúng ra là 16/20 quốc gia đông dân nhất, đều có sản lượng hoặc thu nhập bình quân đầu người thấp, chỉ vào độ 3%-40% so với Mỹ. (Ba nước còn lại trong nhóm 20 nước đứng đầu là Nhật Bản, Đức và Pháp đều là nước giàu với dân số chỉ bằng 21%-39% dân số Mỹ.) Dân số Mỹ đông vì họ sở hữu diện tích đất đai màu mỡ lớn. Nga và Canada là hai quốc gia rộng hơn Mỹ nhưng dân số thấp hơn nhiều bởi lãnh thổ của họ gồm một phần lớn thuộc Bắc Cực, chỉ phù hợp với dân cư thưa thớt và không thể canh tác nông nghiệp.
Bây giờ, việc tôi cho rằng chính dân số lớn của Mỹ là một phần lý do làm nên nền kinh tế lớn lại có vẻ mâu thuẫn với trình bày của tôi ở chương trước, rằng dân số lớn của nước Nhật không phải là một thuận lợi mà thậm chí có thể là bất lợi cho nước này. Lý do cho mâu thuẫn hiển nhiên này là Mỹ giàu tài nguyên, tự cung cấp đủ lương thực và hầu hết các nguyên liệu thô, có diện tích lớn và mật độ dân số thấp hơn 1/10 so với Nhật. Trong khi đó, nước Nhật thiếu tài nguyên, phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu thực phẩm và nguyên liệu thô, có diện tích chưa bằng 1/20 so với Mỹ và rất đông đúc (mật độ dân số gấp hơn 10 lần Mỹ). Điều này có nghĩa là Mỹ có thể hỗ trợ lượng dân số lớn tốt hơn so với Nhật Bản.
Nhân tố khác góp phần vào sản lượng kinh tế hoặc sự giàu có hàng đầu thế giới của Mỹ là sản lượng hoặc sự giàu có tính trên đầu người, do các ưu thế về địa lý, chính trị và xã hội được thảo luận dưới đây. Những cách tính khác nhau để đo lường sản lượng hoặc thu nhập bình quân đầu người bao gồm GDP hoặc thu nhập trên đầu người, được điều chỉnh hoặc không điều chỉnh đối với những khác biệt trong sức mua tương đương (nghĩa là những khác biệt giữa các quốc gia về số lượng hàng hóa mà một đô la thu nhập thực sự có thể mua ở nước đó). Trong mọi phương án tính bình quân đầu người này, Mỹ vẫn vượt trội với mức chênh lệch lớn so với tất cả các quốc gia đông dân khác có nền kinh tế lớn. Những nước ít ỏi trên thế giới có GDP bình quân đầu người hoặc thu nhập cao hơn Mỹ thường là các nước nhỏ (dân số 2-9 triệu người: Kuwait, Na Uy, Qatar, Singapore, Thụy Sĩ và Các Tiểu Vương Quốc Arab Thống Nhất) hoặc quá nhỏ (dân số 30.000-500.000 người: Brunei, Liechtenstein, Luxembourg và San Marino). Sự giàu có của họ chủ yếu đến từ dầu mỏ hoặc tài chính, thu nhập của họ chỉ trải đều trên một ít người, dẫn đến việc tổng sản phẩm quốc nội hay thu nhập trên đầu người cao nhưng lại xếp hạng thấp trong tổng sản lượng kinh tế quốc gia (bằng sản lượng trên đầu người nhân số dân).
Việc Mỹ có nền kinh tế lớn nhất thế giới cho phép họ cũng có quân đội hùng mạnh nhất thế giới. Trong khi quân đội Trung Quốc đông đảo hơn, thì Mỹ lại đầu tư lâu dài vào công nghệ quân sự và tàu chiến (Ảnh 9.1) nhiều hơn thay vì cân bằng ưu thế của Trung Quốc về số lượng. Chẳng hạn, Mỹ có 10 tàu sân bay chạy bằng năng lượng hạt nhân có khả năng triển khai trên toàn thế giới; chỉ một nước khác (Pháp) có một chiếc duy nhất và rất ít quốc gia nào có tàu sân bay, dù chạy bằng năng lượng hạt nhân hay không. Kết quả, hiện nay Mỹ là cường quốc quân sự toàn cầu duy nhất có thể can thiệp trên khắp thế giới – đó là một thực tế, cho dù người ta có chấp thuận hay không những can thiệp đó.
Không phải ngẫu nhiên mà Mỹ trở nên giàu có về kinh tế và có sức mạnh quân sự. Có nhiều lý do dẫn đến kết quả này, bên cạnh những ưu thế diện tích lớn và dân số lớn đã được đề cập là những ưu thế về địa lý, chính trị, kinh tế và xã hội. Nếu khi đọc những trang sau mà bạn cảm thấy tôi nói quá nhiều về những ưu thế của Mỹ, thì tôi cũng báo trước: những trang này sẽ được tiếp nối bởi nhiều trang khác bàn về những vấn nạn lớn mà Mỹ phải đối mặt.
Về mặt địa lý, Mỹ may mắn được ban tặng một tài sản đất đai tuyệt vời. Toàn bộ 48 bang ở vùng thấp của Mỹ đều nằm trong khu vực ôn đới, là khu vực sản xuất nông nghiệp lớn nhất thế giới, và an toàn nhất về mặt y tế công cộng. Trong khi phần lớn lãnh thổ Trung Quốc cũng nằm trong khu vực ôn đới, nhiều vùng phía nam lại thuộc khu vực cận nhiệt đới, và một phần lan sang vùng nhiệt đới. Đáng quan ngại hơn, lãnh thổ Trung Quốc bao gồm một vùng cao nguyên rộng nhất và cao nhất thế giới, có giá trị nông nghiệp thấp, cộng với một vùng núi cao rộng lớn (bao gồm năm trong số sáu ngọn núi cao nhất thế giới) không mang lại giá trị kinh tế nào cho con người ngoại trừ ngành du lịch leo núi và những dòng sông băng cung cấp nước cho các con sông.
Đất đai vùng ôn đới nói chung màu mỡ hơn so với đất đai vùng nhiệt đới, một phần là do các di sản của các dòng sông băng ở Thời kỳ Băng hà vĩ độ cao liên tục tràn tới rồi rút lui trên cảnh quan, nghiền vụn đá để tạo ra hoặc phơi bày đất đai tươi nguyên. Điều đó không chỉ xảy ra ở Bắc Mỹ mà còn ở phía bắc lục địa Á-Âu, tạo nên độ phì nhiêu cho đất đai vùng Á-Âu. Nhưng băng hà đặc biệt hiệu dụng ở Bắc Mỹ vì một đặc trưng địa lý của riêng vùng đất này mà không một lục địa nào có. Để thấy rõ đặc trưng này, bạn chỉ cần lướt qua bản đồ thế giới và nhanh chóng mô tả hình dạng của mỗi lục địa chỉ trong một câu ngắn gọn. Bạn sẽ thấy Nam Mỹ và châu Phi đều rộng nhất ở khoảng giữa và hẹp dần về phía Nam Cực, trong khi lục địa Á-Âu và Úc rộng ở cả vĩ độ cao và thấp. Nhưng Bắc Mỹ thì lại có hình nêm độc đáo, rộng nhất ở phía Bắc Cực và trở nên hẹp dần ở vĩ độ thấp.
Hình dạng đó tạo nên hiệu ứng cho đất đai vùng Bắc Mỹ. Các dòng sông băng hình thành hàng chục lần ở Bắc Cực trong suốt Thời kỳ Băng hà hay Kỷ Pleistocene rồi tràn về phía nam, cả ở Bắc Mỹ và lục địa Á-Âu. Do hình dạng nêm thon nhọn của Bắc Mỹ, một khối lượng băng lớn hình thành, lan rộng ở vĩ độ cao chuyển thành một dải hẹp hơn và trở thành những dòng sông băng nặng nề hơn khi chúng tràn về phía vĩ độ thấp. Lục địa Á-Âu không có hình nêm nên khối lượng băng hình thành ở vĩ độ cao, di chuyển thành một dải rộng bằng nhau ở vĩ độ thấp. Các lục địa Nam Mỹ, châu Phi và Úc đều chấm dứt ở gần vòng cung Nam Cực nên không thể tạo ra những dải băng tràn về phía bắc. Do đó, việc tạo ra các loại đất tươi và phì nhiêu qua việc các sông băng khởi nguồn từ vĩ độ cao tràn đến rồi rút đi gây hiệu quả nhất ở Bắc Mỹ, kém hiệu quả ở lục địa Á-Âu, và ít hoặc không hiệu quả ở ba lục địa phía nam. Kết quả là những vùng đất phì nhiêu tươi tốt của vùng Đại Bình nguyên Bắc Mỹ khiến những người nông dân nhập cư châu Âu ngạc nhiên và thích thú, và bây giờ tạo thành vùng đất nông nghiệp lớn nhất và có năng suất liên tục nhất (Ảnh 9.2). Do đó, hình dạng nêm của lục địa Bắc Mỹ và lịch sử của các lần băng hà lặp đi lặp lại, kết hợp với lượng mưa điều hòa trên phần lớn lục địa hiện nay, là những lý do cơ bản khiến Mỹ có năng suất nông nghiệp cao và là nước xuất khẩu thực phẩm lớn nhất thế giới. Ngược lại, Trung Quốc có đất đai kém màu mỡ hơn do bị xói mòn và mật độ dân số trung bình cao gấp bốn lần Mỹ, khiến Trung Quốc trở thành một nước nhập khẩu thực phẩm ròng.
Một thuận lợi địa lý quan trọng khác của nước Mỹ chính là đường thủy, ở vùng duyên hải lẫn nội địa. Chúng tạo thành một khoản tiết kiệm lớn do vận chuyển bằng đường biển rẻ hơn từ 10 đến 30 lần so với vận chuyển bằng đường bộ hoặc đường sắt. Các biên giới phía đông (Đại Tây Dương), tây (Thái Bình Dương) và đông nam (vùng bờ Vịnh) của Mỹ bao gồm các bờ biển dài, được nhiều hòn đảo dọc theo bờ biển Đại Tây Dương và vùng bờ Vịnh bao bọc. Do đó, tàu thuyền đi qua hai vùng duyên hải sau cùng thông qua đường thủy nội địa một phần được những hòn đảo này che chắn. Cả ba vùng duyên hải đều có những vùng lõm lớn trong đó có các cảng nước sâu (Ảnh 9.3), như Vịnh Long Island, Vịnh Chesapeake, Vịnh Galveston, Vịnh San Francisco và Vịnh Puget. Kết quả là Mỹ may mắn có nhiều bến cảng tự nhiên được bảo vệ tuyệt vời: chỉ riêng Bờ Đông đã có nhiều hơn tất cả phần còn lại của châu Mỹ phía nam biên giới Mexico. Ngoài ra, Mỹ là cường quốc duy nhất trên thế giới giáp mặt với cả Đại Tây Dương và Thái Bình Dương.
Về các tuyến đường thủy nội địa, Bờ Đông nước Mỹ có nhiều con sông ngắn có thể lưu thông. Nhưng đường thủy nội địa quan trọng nhất của Mỹ vẫn là hệ thống sông Mississippi khổng lồ và các chi lưu lớn (Missouri và các nhánh sông khác) tưới tiêu hơn một nửa diện tích nước Mỹ, bao gồm cả vùng đất nông nghiệp lớn của Mỹ ở Đại Bình nguyên (Hình 8). Nếu không có hệ thống kênh mương và âu thuyền, những rào chắn cản trở việc đi lại trên những con sông, tàu bè có thể di chuyển một mạch 1.200 dặm vào sâu bên trong vùng trung tâm của Mỹ từ Bờ Vịnh (Ảnh 9.4). Ngoài vùng thượng nguồn sông Mississippi là vùng Ngũ Đại Hồ, nhóm hồ lớn nhất thế giới, và cũng được dùng để vận tải nhiều hơn bất kỳ vùng hồ nào. Sông Mississippi và Ngũ Đại Hồ kết hợp tạo thành mạng lưới đường thủy nội địa lớn nhất thế giới. Nếu bổ sung thêm tuyến đường thủy ven biển vào hệ thống Mississippi/Ngũ Đại Hồ thì Mỹ có nhiều tuyến đường thủy vận tải nội địa hơn tất cả các nơi khác trên thế giới cộng lại. Để so sánh, Mexico không có dòng sông lớn nào lưu thông được, và toàn bộ lục địa châu Phi chỉ có một con sông có thể lưu thông ra đại dương (sông Nile). Trung Quốc thì có đường bờ biển ngắn hơn nhiều (chỉ ở phía đông), không có cảng tốt, chỉ một phần nhỏ diện tích đất có thể tiếp cận với các con sông mà tàu bè lưu thông được, và không có hệ thống hồ lớn nào có thể sánh với Ngũ Đại Hồ của Mỹ. Tất cả các tuyến đường thủy đó kết nối phần lớn nước Mỹ và kết nối Mỹ với phần còn lại của thế giới bằng phương tiện giao thông đường thủy rẻ tiền.
Ưu thế của bờ biển nước Mỹ là khả năng phòng thủ chống xâm lược. Có vẻ mâu thuẫn khi vừa ca ngợi vùng duyên hải là phương cách lý tưởng để vận chuyển hàng hóa, bây giờ tôi lại gạt bỏ chúng để nhảy sang ý tưởng khác là chuyển quân. Tất nhiên, lý do là vì việc giao hàng từ một con tàu ngoài khơi rẻ hơn và an toàn hơn so với phương tiện trên đất liền nếu có người chờ sẵn trên đất liền để nhận hàng theo kế hoạch của bạn. Nhưng giao hàng bằng đường biển rất tốn kém và không an toàn nếu có người đang chờ bắn vào bạn. Những cuộc đổ bộ luôn được đánh giá là một trong số các hình thức chiến tranh nguy hiểm nhất: chỉ cần nghĩ đến 58% thương vong của quân đội Canada khi đột kích Dieppe trên bờ biển Pháp vào tháng 8 năm 1942, hoặc 30% thương vong của lính thủy đánh bộ Mỹ để chiếm đảo san hô Tarawa vào tháng 11 năm 1943. Mỹ còn được bảo vệ thêm khi việc chiếm đóng Hawaii và Alaska giúp kiểm soát việc tiếp cận bờ Thái Bình Dương của Mỹ. Những phần biên giới Mỹ không bao gồm bờ biển là biên giới đất liền giáp với Mexico và Canada, nhưng cả hai đều có dân số và quân đội quá nhỏ để đe dọa Mỹ (mặc dù Mỹ cũng từng đánh nhau với mỗi nước ở đầu thế kỷ 19).
Do đó, Mỹ hầu như miễn nhiễm với việc bị xâm lăng. Trong lịch sử nước Mỹ độc lập, chưa nước nào từng có ý định đó; Mỹ chưa từng dính vào cuộc chiến trên đất nước mình với cường quốc nước ngoài nào kể từ Chiến tranh Mexico 1846-1848, mà chính Mỹ lại là bên khởi xướng. Ngay cả những cuộc đột kích đơn thuần vào lục địa Mỹ cũng không đáng kể: cuộc đột kích của Anh vào Washington trong Cuộc chiến 1812, cuộc đột kích của Pancho Villa vào Columbus ở New Mexico năm 1916, một quả pháo được bắn đi từ tàu ngầm Nhật Bản trong Thế chiến II vào thành phố ven biển Santa Barbara và sáu thường dân Mỹ bị thiệt mạng bởi khinh khí cầu chứa đầy chất nổ của Nhật trong Thế chiến II. Trong khi đó, mọi nước lớn khác đều bị xâm chiếm (Nhật, Trung Quốc, Pháp, Đức, Ấn Độ) hay bị chiếm đóng (Nhật, Ý, Hàn Quốc, Đức), hoặc bị đe dọa xâm lược (Liên hiệp Anh) ở thế kỷ trước. Đặc biệt, Trung Quốc không chỉ bị tấn công ồ ạt từ biển và bị Nhật chiếm đóng lâu dài từ năm 1937 đến năm 1945, mà còn bị Anh, Pháp và Nhật tấn công từ ngoài biển vào đất liền ở thế kỷ 19; gần đây còn gây chiến với Nga, Ấn Độ và Việt Nam ở biên giới đất liền; và trong quá khứ luôn bị những đạo quân vùng Trung Á tấn công, hai trong số đó (người Mông Cổ và người Mãn Châu) đã thành công trong việc chinh phục toàn bộ Trung Quốc.
Đó là những ưu thế về địa lý của Mỹ. Bây giờ, hãy xem xét các ưu thế chính trị, bắt đầu bằng việc chính phủ Mỹ là một nền dân chủ liên tục trong suốt 230 năm tồn tại của đất nước này. Ngược lại, Trung Quốc lại có chính phủ chuyên chế phi dân chủ không ngừng trong suốt 2.240 năm tồn tại của quốc gia này.
Điều gì thực sự là những ưu thế của nền dân chủ – hay chí ít cũng là những ưu thế tiềm năng? (Tôi nhấn mạnh đến “tiềm năng” vì như chúng ta sẽ chứng kiến, chính phủ Mỹ được cho là dân chủ đang đánh mất những ưu thế tiềm năng đó bằng việc đi chệch hướng khỏi nền dân chủ thật sự.) Ngày nay, người Mỹ ngày càng bị vỡ mộng với nền dân chủ, đôi khi họ còn ghen tị với thể chế của Trung Quốc do khả năng quyết định và thực hiện các chính sách hợp lý một cách nhanh chóng. Không nghi ngờ gì việc các chính phủ dân chủ thường mất nhiều thời gian trong quyết định và thực hiện chính sách hơn các chế độ toàn trị, do bản chất của dân chủ là kiểm tra, cân bằng và dựa trên sự phổ biến rộng rãi (do đó tốn kém thời gian). Ví dụ như việc Trung Quốc sử dụng xăng không chì chỉ mất một năm, trong khi chính sách đó đòi hỏi một thập niên tranh luận và giằng co trước tòa án Mỹ. Mỹ ghen tị với việc Trung Quốc nhanh chóng vượt xa Mỹ trong việc xây dựng mạng lưới vận chuyển đường sắt tốc độ cao, hệ thống tàu điện ngầm trong thành phố, và truyền tải năng lượng ở khoảng cách xa. Những người hoài nghi về thể chế dân chủ cũng có thể đưa dẫn chứng về các nhà lãnh đạo dễ gây tai hại lên nắm quyền lực thông qua bầu cử dân chủ.
Những bất lợi của nền dân chủ là có thật. Nhưng các chế độ toàn trị còn tồi tệ hơn nhiều, thường gây tai họa và bất lợi. Không một ai, trong lịch sử 5.400 năm của chế độ trung ương tập quyền trên mọi châu lục, có thể đảm bảo rằng phần lớn các chính sách được thực thi với tốc độ đáng ghen tị của các chế độ toàn trị là những chính sách tốt đẹp. Chỉ cần nghĩ về các chính sách tự hủy hoại khủng khiếp mà Trung Quốc cũng thực hiện nhanh chóng, và hậu quả của nó không gì sánh bằng ở bất kỳ nền dân chủ lớn nào trong Thế giới Thứ nhất. Những chính sách tự hủy hoại đó bao gồm việc Trung Quốc xảy ra nạn đói trên diện rộng từ năm 1958 đến năm 1962 khiến nhiều người bỏ mạng, đình hoãn hệ thống giáo dục để huy động giáo viên ra đồng làm việc cùng với nông dân và sau đó tạo ra mức độ ô nhiễm không khí tồi tệ nhất thế giới. Chỉ cần ô nhiễm không khí ở Mỹ tồi tệ bằng một nửa như hiện nay ở nhiều thành phố lớn của Trung Quốc, cử tri Mỹ sẽ than phiền và gạt bỏ chính phủ đương nhiệm trong cuộc bầu cử sau. Cũng như nghĩ về các chính sách tự hủy hoại nặng nề hơn nữa được các chính phủ độc tài ở Đức và Nhật Bản thực hiện trong thập niên 1930 mà không lấy ý kiến rộng rãi khiến các nước này rơi vào chiến tranh, giết chết hàng triệu công dân của họ (chưa kể hơn 20 triệu công dân của các quốc gia khác). Đó là lý do tại sao khi đáp lại việc có người trình bày những than phiền thường lệ về khuyết điểm của nền dân chủ, Winston Churchill lại châm biếm rằng nền dân chủ quả là thể chế tồi tệ nhất, ngoại trừ mọi thể chế khác từng được áp dụng từ trước đến nay.
Những ưu thế của chính phủ dân chủ thì rất nhiều. Trong một nền dân chủ, mọi công dân hầu như có thể đưa ra bất kỳ ý tưởng nào để tranh luận, ngay cả khi ý tưởng ban đầu là buộc tội chính phủ đang nắm quyền. Tranh luận và phản đối để bày tỏ ý tưởng là chính sách tốt nhất, nhưng trong chế độ độc tài, ý tưởng sẽ không bao giờ được tranh luận và những điểm tốt của nó sẽ không bao giờ được chấp nhận.
Dẫn chứng điển hình trong lịch sử Mỹ gần đây chính là khi chính phủ Mỹ cứ kiên trì theo đuổi một chính sách cho thấy là không tốt đẹp, và vì các cuộc biểu tình phản đối chính sách đó rất mạnh mẽ, nên quyết định cuối cùng của chính phủ là chấm dứt chính sách gây chiến ở Việt Nam (Ảnh 9.5). Ngược lại, người Đức năm 1941 không có cơ hội tranh luận về quyết định điên rồ của Hitler trong việc xâm chiếm Liên Xô và sau đó tuyên chiến với Mỹ trong khi đang có chiến tranh với Anh.
Một ưu thế cơ bản khác của nền dân chủ là công dân biết rằng ý tưởng của họ đang được lắng nghe và tranh luận. Kể cả khi ý tưởng của họ không được áp dụng ngay, họ biết rằng mình sẽ có những cơ hội khác để thắng thế trong các cuộc bầu cử ở tương lai. Không có dân chủ, công dân dễ cảm thấy thất vọng, và kết luận chính xác rằng lựa chọn duy nhất của họ là dùng đến bạo lực, thậm chí cố lật đổ chính phủ. Kiến thức cho thấy rằng những van xả mang tính hòa bình để tự do bày tỏ tư tưởng làm giảm nguy cơ bạo lực dân sự. Một người bạn hay hoài nghi nhưng sắc sảo về chính trị nhận xét với tôi rằng: “Điều có giá trị ở nền dân chủ là vẻ ngoài của nền dân chủ.” Bằng cách diễn đạt này, ý của bạn tôi là vẻ ngoài của nền dân chủ có thể đủ can ngăn công dân sử dụng bạo lực, ngay cả khi (như hiện thực ở Mỹ) nền dân chủ thực sự đang bị cản trở theo những cách không nhìn thấy được.
Một ưu thế cơ bản nữa của nền dân chủ chính là sự thỏa hiệp, cần thiết cho việc vận hành thể chế. Thỏa hiệp giảm thiểu sự chuyên chế của những người nắm quyền, những người có thể bỏ qua các quan điểm đối nghịch. Đổi lại, thỏa hiệp cũng có nghĩa là một thiểu số bất bình phải đồng ý không làm tê liệt chính phủ.
Vẫn còn một ưu thế cơ bản khác của nền dân chủ là, trong các nền dân chủ hiện đại với quyền bầu cử phổ quát, mọi công dân đều có thể bỏ phiếu. Do đó, chính phủ nắm quyền có động cơ đầu tư vào mọi công dân, những người nhờ đó có được cơ hội việc làm hữu ích, thay vì những cơ hội đó chỉ dành cho một tầng lớp tinh hoa độc tài ít ỏi.
Ngoài những ưu thế của những nền dân chủ nói chung, Mỹ còn có được những ưu thế hơn từ hình thức dân chủ cụ thể của họ, đó là chính phủ liên bang. Trong một hệ thống liên bang, những chức năng quan trọng của chính phủ được dành cho các đơn vị dân chủ trong khu vực chứ không phải là đặc quyền của một chính phủ trung ương tập quyền duy nhất. Phiên bản Mỹ của một hệ thống liên bang bao gồm 50 bang, trên thực tế thường có nghĩa là 50 thử nghiệm cạnh tranh kiểm tra các giải pháp khác nhau cho cùng một vấn đề, để từ đó có thể rút ra giải pháp nào vận hành tốt nhất. Chẳng hạn, các bang Mỹ cho phép (Oregon) hoặc cấm (Alabama) hỗ trợ tự tử, và các loại thuế bang cao (California) hoặc thấp (Montana). Một dẫn chứng khác, khi tôi lớn lên ở bang Massachusetts phía đông bắc nước Mỹ, người California đầu tiên mà tôi gặp giải thích với tôi rằng California đã trở thành bang duy nhất của Mỹ áp dụng luật cho phép ô tô rẽ phải khi gặp đèn đỏ ở giao lộ, sau khi đã dừng lại hẳn. Ở Mỹ, luật giao thông như vậy là đặc quyền của từng bang chứ không phải của chính phủ liên bang. Vào đầu thập niên 1960, đối với công dân Massachusetts cũng như với các công dân ở các bang khác của Mỹ, điều này có vẻ như là một ý tưởng cực kỳ nguy hiểm mà chỉ những người California điên rồ mới mơ ước được thử. Nhưng khi bang California thực hiện thử nghiệm, nó lại chứng minh là an toàn và các bang khác có thể học hỏi từ California, sau cùng mọi bang đều áp dụng luật này (Ảnh 9.6).
Bạn có thể phản đối rằng việc được phép hoặc cấm rẽ phải khi đèn đỏ sau khi dừng hẳn chưa đủ quan trọng để thuyết phục bạn về những ưu thế của hệ thống liên bang. Một thử nghiệm có kết quả gần đây được Thống đốc Brownback của bang Kansas thực hiện. Ông cho rằng đối với công dân của bang, việc cắt giảm thuế nhà nước quan trọng hơn một hệ thống giáo dục công cộng được tài trợ. Do đó, bắt đầu vào năm 2012, ông giảm thu nhập thuế của bang đến mức những cắt giảm mạnh mẽ nền giáo dục công cộng trở nên cần thiết ở Kansas. Các bang khác của Mỹ quan tâm theo dõi kết quả của thử nghiệm này. Đến năm 2017, kết quả từ Kansas đã thuyết phục ngay cả các nhà lập pháp Kansas thuộc cùng đảng với Thống đốc Brownback rằng việc cắt giảm giáo dục công cộng không phải là một ý tưởng hay, vì vậy họ lại bỏ phiếu thuận để tăng thuế bang một lần nữa. Điều này đồng nghĩa với việc hệ thống liên bang của Mỹ vẫn cho phép một bang tự kiểm tra ý tưởng đó và để 49 bang khác học hỏi từ những gì diễn ra trong một bang.
Trên đây là một số ưu thế lớn của nền dân chủ Mỹ mà Trung Quốc không có. Theo tôi, việc thiếu những ưu thế đó là nhược điểm lớn nhất sẽ khiến Trung Quốc không bắt kịp thu nhập bình quân đầu người ở Mỹ – khi nào nước Mỹ vẫn tồn tại nền dân chủ và Trung Quốc thì vẫn không chuyển hóa sang nền dân chủ. Điều đó khiến tôi lặp lại một lần nữa: một quốc gia dân chủ trên danh nghĩa sẽ mất những ưu thế đó nếu nền dân chủ bị xâm phạm nghiêm trọng, và còn hơn thế nếu xảy ra điều dưới đây. Tôi cũng thừa nhận rằng dân chủ không nhất thiết phải là lựa chọn tốt nhất cho mọi quốc gia; nhất là sẽ khó để nền dân chủ thắng thế ở các quốc gia thiếu các điều kiện tiên quyết về số cử tri có tri thức và một căn tính quốc gia được chấp nhận rộng rãi.
Tôi cũng sẽ đề cập ngắn gọn tới hai ưu thế chính trị khác của Mỹ bên cạnh chính phủ dân chủ. Mỹ áp dụng việc kiểm soát dân sự không ngừng nghỉ trong toàn bộ lịch sử đất nước. Điều này đã không xảy ra với Trung Quốc hay hầu hết các nước Mỹ Latin, và cũng không xảy ra với nước Nhật trong giai đoạn từ thập niên 1930 đến năm 1945. Mỹ có tệ nạn tham nhũng tương đối thấp theo tiêu chuẩn thế giới, mặc dù còn kém Đan Mạch, Singapore, và 20 nước khác. Tham nhũng gây nguy hại cho một nước hay một doanh nghiệp, vì những quyết định thường bị tác động bởi những điều có lợi cho các chính trị gia hoặc doanh nhân tham nhũng, dù quyết định đó có thể gây bất lợi cho đất nước hoặc toàn bộ các doanh nghiệp. Tham nhũng cũng gây nguy hại cho doanh nghiệp vì nó có nghĩa là họ không thể tin vào những hợp đồng trói buộc, điều này cũng là một khuyết điểm lớn lao khác của Trung Quốc, nơi có tình trạng tham nhũng công khai. Nhưng ở Mỹ cũng có nhiều vụ tham nhũng kín, do Phố Wall cùng các thực thể và cá nhân giàu có khác tác động đến chính sách và hành động của chính phủ Mỹ bằng các biện pháp vận động hành lang và bầu cử. Mặc dù các khoản chi tiền đó là hợp pháp ở Mỹ, nhưng chúng cũng đạt được kết quả tương tự như những khoản chi phí bất hợp pháp kiếm được do tham nhũng. Điều này có nghĩa là các nhà lập pháp hoặc quan chức áp dụng các chính sách hoặc hành động gây hại cho lợi ích công cộng, nhưng có lợi cho người chi tiền, và đôi khi cũng có lợi cho các nhà lập pháp hoặc quan chức chính phủ.
Ưu thế gần cuối của Mỹ mà tôi đề cập đến là những lợi ích quen thuộc nhất mà hầu hết người Mỹ sẽ nêu ra trước khi nghĩ đến những ưu thế địa lý và chính trị cơ bản mà tôi đã biện giải đến giờ. Nước Mỹ có đặc trưng (ít nhất là cho đến gần đây – xem thêm ở Chương 10) là tính linh động kinh tế xã hội cao. Lý tưởng và thực tế của Mỹ về những người khố rách áo ôm trở nên giàu có, nghĩa là (hay được hiểu) có thể biến những người siêng năng làm việc, dù xuất thân nghèo khổ hay trở nên nghèo khổ, đều có cơ hội trở nên giàu có. Đó là một động lực lớn thúc đẩy mọi người làm việc siêng năng và cũng có nghĩa là nước Mỹ đã tận dụng tốt phần lớn nguồn nhân lực tiềm năng của mình.
Tính ưu việt của Mỹ là ngay cả những người trẻ cũng có thể tạo dựng thành công các doanh nghiệp. (Hãy nghĩ về các công ty Amazon, Apple, Facebook, Google, Microsoft và vô số các công ty mới ít thu hút nhưng vẫn sinh lãi.)
Nước Mỹ có một lịch sử lâu dài về đầu tư của chính phủ liên bang, bang và địa phương cũng như tư nhân vào giáo dục, cơ sở hạ tầng, vốn nhân lực, nghiên cứu và phát triển (Trung Quốc gần đây mới bắt kịp về đầu tư vào những lĩnh vực này). Kết quả là, Mỹ vượt trên phần còn lại của thế giới cộng lại trong mọi lĩnh vực khoa học chính yếu, được lượng định qua các bài nghiên cứu được ấn hành hay số lượng giải Nobel. Một nửa trong số mười trường đại học và viện nghiên cứu khoa học tốt nhất thế giới đều thuộc về nước Mỹ. Trong gần một thế kỷ rưỡi, Mỹ luôn nắm giữ ưu thế cạnh tranh to lớn trong các phát minh, công nghệ và thực hành sản xuất sáng tạo – dẫn chứng qua việc sản xuất hàng loạt linh kiện thay thế cho súng kíp của Eli Whitney, các nhà máy lắp ráp theo công nghệ dây chuyền của Henry Ford, sáng chế máy bay có động cơ của anh em nhà Wright; pin kiềm, bóng đèn điện, máy chiếu phim và máy ghi âm của Thomas Edison (Ảnh 9.7); điện thoại của Alexander Graham Bell; và gần đây hơn, thiết bị bán dẫn của Phòng thí nghiệm công ty điện thoại Bell, đưa người lên mặt trăng, điện thoại di động, Internet và thư điện tử.
Ưu thế cuối cùng tôi muốn nói đến chính là điều mà ngày nay nhiều người Mỹ không cho là một ưu thế: di dân (Ảnh 9.8). Tất nhiên, nó tạo ra các vấn đề mà bây giờ còn tác động đến tâm trí của chúng ta. Nhưng có một thực tế hiển nhiên là mọi người Mỹ ngày nay đều là di dân hoặc là hậu duệ của những di dân. Đại đa số dân Mỹ đều là di dân trong vòng bốn thế kỷ qua (ông bà tôi đến Mỹ vào năm 1890 và năm 1904). Ngay cả người Mỹ bản địa cũng là hậu duệ của những di dân đến đây từ ít nhất 13.000 năm trước.
Để hiểu những lợi ích cơ bản của người nhập cư, hãy hình dung bạn có thể chia dân số của bất kỳ quốc gia nào thành hai nhóm: một nhóm bao gồm bình quân những người trẻ nhất, khỏe mạnh nhất, táo bạo nhất, chịu được nhiều rủi ro nhất, làm việc chăm chỉ nhất, có tham vọng và sáng tạo nhất; nhóm kia bao gồm những người khác. Chuyển nhóm đầu tiên sang một nước khác và để nhóm thứ hai ở lại trong nước. Việc chuyển hóa có chọn lọc đó cũng tương tự như quyết định di dân và thành quả của nó. Do đó, không có gì ngạc nhiên khi hơn một phần ba số người Mỹ đoạt giải Nobel đều sinh trưởng ở nước ngoài, và hơn một nửa là người nhập cư hay con cháu của người nhập cư. Điều này là do để có nghiên cứu được trao giải Nobel đòi hỏi cùng những phẩm chất tương tự về sự táo bạo, chấp nhận rủi ro, làm việc chăm chỉ, có tham vọng và tính sáng tạo. Những người nhập cư và hậu duệ của họ cũng đóng góp một phần cho nghệ thuật, âm nhạc, ẩm thực và thể thao của nước Mỹ.
Mọi điều mà tôi mô tả trong chương này có thể tóm gọn như sau: nước Mỹ được thụ hưởng những ưu thế to lớn. Nhưng các quốc gia cũng có thể phung phí ưu thế đó, như trường hợp Argentina. Có những dấu hiệu cảnh báo rằng ngày nay Mỹ có thể đang lãng phí ưu thế của mình. Một trong số những dấu hiệu cảnh báo cao đó là bốn vấn đề liên kết với nhau đang góp phần phá vỡ nền dân chủ Mỹ, một trong những thế mạnh lịch sử của Mỹ. Tôi sẽ dành phần còn lại của chương này cho vấn đề đầu tiên và nghiêm trọng nhất trong tập hợp bốn vấn đề đó. Chương tiếp theo (Chương 10) sẽ bàn luận về ba vấn đề “khác” cũng rất nghiêm trọng. Chúng được xếp như “những vấn đề khác” chỉ vì bị che khuất bởi vấn đề lớn nhất của Mỹ.
Đầu tiên, và theo tôi là điều đáng quan ngại nhất, trong những vấn đề cơ bản hiện đang đe dọa nền dân chủ Mỹ là việc thỏa hiệp chính trị ngày càng nhanh chóng biến chất. Như tôi đã giải thích trước đây, thỏa hiệp chính trị là một trong những ưu thế cơ bản của các nền dân chủ so với chế độ độc tài, do nó làm giảm hoặc ngăn chặn sự chuyên chế từ phe đa số và bị tê liệt do phe thiểu số thất bại. Hiến pháp Mỹ tìm cách tạo áp lực cho sự thỏa hiệp bằng cách nghĩ ra các hệ thống kiểm tra và cân bằng. Chẳng hạn, tổng thống lãnh đạo chính sách của chính phủ, nhưng Quốc hội kiểm soát ngân sách chính phủ, và chủ tịch Hạ viện đưa ra chương trình nghị sự của Hạ viện để thực hiện các đề xuất của tổng thống. Nếu đại diện trong Quốc hội không đồng ý với nhau, và việc này thường xuyên xảy ra, và nếu những người ủng hộ một quan điểm không thể tập hợp đủ số phiếu để áp đặt ý chí của họ, thì phải đạt được thỏa hiệp trước khi chính phủ có thể thực hiện.
Đương nhiên các cuộc đấu tranh chính trị dữ dội xảy ra thường xuyên, và thỉnh thoảng cũng xuất hiện tình trạng chuyên chế của phe đa số hoặc tê liệt chính trị do phe thiểu số trong lịch sử Mỹ. Song, trừ trường hợp ngoại lệ trong việc phá vỡ thỏa hiệp dẫn đến cuộc Nội chiến 1861-1865, thì các thỏa hiệp luôn đạt được. Một dẫn chứng thời nay là mối quan hệ giữa Tổng thống đảng Cộng hòa Ronald Reagan và Chủ tịch Hạ viện đảng Dân chủ Thomas “Tip” O’Neill trong giai đoạn 1981-1986 (Ảnh 9.9). Cả hai đều là những chính trị gia lành nghề, cá tính mạnh mẽ và đối nghịch với nhau về triết lý chính trị và trong nhiều hoặc hầu hết các vấn đề chính sách, bất đồng ý kiến và đấu nhau về mặt chính trị ở các vấn đề lớn; tuy nhiên, họ tôn trọng nhau, công nhận quyền lập hiến và chơi theo luật. Dù O’Neill không thích chương trình kinh tế của Reagan, ông vẫn công nhận quyền lập hiến của Tổng thống khi đề xuất một chương trình nghị sự để thông qua dự luật, lên lịch để Hạ viện bỏ phiếu thông qua và tuân thủ lịch trình nghị sự đó. Dưới thời Reagan và O’Neill, chính phủ liên bang đã vận hành như sau: đáp ứng thời hạn, ngân sách được phê duyệt, không xảy ra việc chính phủ ngưng hoạt động và hiếm khi bị đe dọa bởi những thủ thuật ngăn trở. Có những điều luật quan trọng mà Reagan và O’Neill cùng những người thuộc phe phái với họ bất đồng, nhưng họ vẫn thành công trong việc đạt được thỏa hiệp, bao gồm các chương trình giảm thuế, cải cách mã số thuế liên bang, chính sách nhập cư, cải cách an sinh xã hội, giảm chi tiêu phi quân sự, và tăng chi tiêu quân sự. Trong khi các ứng cử viên cho vị trí thẩm phán liên bang của Reagan thường không theo ý thích của đảng viên Dân chủ, nên những người này tìm đủ cách ngăn chặn một số ứng viên, thì Reagan vẫn có thể bổ nhiệm hơn một nửa số thẩm phán liên bang, trong đó có ba trong số chín chánh án của Tòa án Tối cao.
Nhưng kể từ giữa thập niên 1990, thỏa hiệp chính trị ở Mỹ trở nên tồi tệ, đặc biệt là từ khoảng năm 2005. Thỏa hiệp thường bị phá vỡ, không chỉ giữa hai đảng Dân chủ và Cộng hòa, mà còn giữa những cánh ít ôn hòa và ôn hòa hơn ở mỗi đảng. Đặc biệt trong đảng Cộng hòa điều này lại đúng, cánh Đảng Trà cực đoan hơn đưa ra những thách thức bầu cử sơ bộ chống lại các ứng viên Cộng hòa ôn hòa thường thỏa hiệp với phe Dân chủ khi họ tái ứng cử. Kết quả là, Quốc hội nhiệm kỳ 2014-2016 thông qua ít đạo luật nhất so với bất cứ thời kỳ Quốc hội nào trong lịch sử Mỹ gần đây, trễ hạn sử dụng ngân sách, và chính phủ có nguy cơ hoặc từng phải ngừng hoạt động.
Về một ví dụ điển hình cho sự phá vỡ thỏa hiệp của Mỹ, hãy xem các thủ thuật ngăn trở và đề cử ứng viên của tổng thống bị ách lại. Thủ thuật ngăn trở là một chiến thuật được chấp nhận ở Thượng viện Mỹ theo các quy tắc của Thượng viện (không quy định trong Hiến pháp), theo đó một thiểu số thượng nghị sĩ (hay thậm chí chỉ một) phản đối một kiến nghị bằng cách trình bày bài nói không ngừng nghỉ (hoặc đe dọa sẽ sử dụng thủ thuật ngăn trở filibuster) để buộc thỏa hiệp hoặc rút lại kiến nghị đó. (Bài phát biểu không ngừng nghỉ lập kỷ lục vào năm 1967 kéo dài hơn 24 tiếng: Ảnh 9.10.) Những quy tắc của Thượng viện cho phép một thủ thuật ngăn trở được kết thúc bằng một cuộc “bỏ phiếu nhanh,” không đơn giản chỉ với đa số quá bán thượng nghị sĩ mà phải là đại đa số (từ 60 trên 100 người trở lên). Trên thực tế, một thủ thuật ngăn trở cho phép một nhóm thiểu số kiên quyết có thể chiến thắng trong việc việc buộc thỏa hiệp, trong khi “bỏ phiếu nhanh” lại cho phép một nhóm đại đa số từ chối thỏa hiệp.
Mặc dù rõ ràng là có khả năng bị lạm dụng – nghĩa là, dùng thủ thuật ngăn trở tạo ra sự tê liệt và “bỏ phiếu nhanh” tạo ra sự chuyên chế – hệ thống này vẫn vận hành ổn thỏa trong hầu hết lịch sử nước Mỹ. Các nhóm thiểu số cũng như đại đa số đều nhận ra khả năng lạm dụng này và hiếm khi sử dụng thủ thuật ngăn trở, và việc “bỏ phiếu nhanh” thậm chí còn hiếm hơn nữa. Dưới 43 đời tổng thống Mỹ đầu tiên và 220 năm đầu tiên của chính phủ lập hiến, Thượng viện chỉ phản đối tổng cộng 68 ứng viên do tổng thống đề cử cho các vị trí chính phủ theo thủ thuật ngăn trở. Nhưng khi Tổng thống Dân chủ Obama được bầu vào năm 2008, các nhà lãnh đạo đảng Cộng hòa đã tuyên bố ý định chặn bất cứ điều gì mà ông đề xuất; và chỉ trong 4 năm, họ đã thực thi việc chặn 79 đề cử của Obama bằng thủ thuật này, nhiều hơn toàn bộ 220 năm trước đó. Các nghị sĩ đảng Dân chủ phản ứng bằng cách hủy bỏ yêu cầu đại đa số trong phê chuẩn các ứng cử viên tổng thống, chỉ trừ các vị trí chánh án Tòa án Tối cao, từ đó vừa có thể đạt đủ nhân sự chính phủ vừa giảm áp lực của một thiểu số bất mãn.
Một thủ thuật ngăn trở chỉ là phương pháp cực đoan và ít thường xuyên nhất để ngăn trở việc công nhận của các ứng cử viên tổng thống. Trong nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống Obama từ năm 2012 đến 2016, Thượng viện do đảng Cộng hòa kiểm soát đã hạn chế số lượng thẩm phán được tổng thống đề cử xuống thấp nhất tính từ đầu thập niên 1950, và số lượng thẩm phán tòa phúc thẩm (cấp tòa dưới Tòa án Tối cao) cũng thấp nhất tính từ những năm 1800 trở lại. Chiến thuật thường xuyên nhất được sử dụng để chặn các đề cử là từ chối lên lịch họp ủy ban Thượng viện để xem xét đề cử; chiến thuật thường xuyên tiếp theo là từ chối sắp xếp một cuộc bỏ phiếu đầy đủ của Thượng viện về một đề cử do ủy ban Thượng viện liên quan đề xuất. Chẳng hạn, một ứng viên cho chức vụ đại sứ không bao giờ được công nhận vì ông ta đã chết sau khi chờ đợi suốt hơn hai năm cho cuộc bỏ phiếu công nhận chức danh. Ngay cả những chức danh để điền khuyết ít quyền lực hay ít gây tranh cãi so với vị trí thẩm phán hay đại sứ cũng bị ngăn trở. Một người bạn của tôi được đề cử vào vị trí thứ nhì trong Cơ quan Khí quyển và Đại dương Quốc gia, đã rút đơn ứng cử sau một năm chờ đợi vẫn không được công nhận.
Tại sao việc phá vỡ thỏa hiệp chính trị này lại tăng tốc trong vòng hai thập niên qua? Ngoài những tác hại khác mà nó gây ra, nó còn ngày càng gia tăng khi khiến những người chủ trương thỏa hiệp tỏ ra miễn cưỡng trong việc phục vụ chính phủ như một người đại diện được bầu ra. Hai người bạn của tôi, vốn là những thượng nghị sĩ lâu nay rất được kính trọng, và nếu tiếp tục tái tranh cử, họ dễ thành công một lần nữa, nhưng họ đã chọn quyết định rút lui vì quá thất vọng với bầu không khí chính trị tại Quốc hội. Khi tôi hỏi những đại diện dân cử và những người có kinh nghiệm làm việc trong Quốc hội về những nguyên nhân của xu hướng trên, họ đưa ra những lời giải thích bao gồm ba điều sau đây.
Điều thứ nhất là sự gia tăng tổn phí trong các chiến dịch tranh cử khiến các nhà tài trợ trở nên quan trọng hơn so với trước đây. Trong khi một số ứng cử viên cho chức vụ cao thành công trong việc tìm nguồn tài trợ cho các chiến dịch bằng cách thu thập nhiều khoản quyên góp nhỏ, thì nhiều hoặc hầu hết các ứng cử viên khác buộc phải dựa vào một số ít các nhà tài trợ lớn. Tất nhiên, những nhà tài trợ lớn đó bỏ tiền ra vì họ có các mục đích cụ thể và họ ủng hộ các ứng cử viên hỗ trợ các mục tiêu đó chứ không ủng hộ các ứng cử viên trung dung thường hay thỏa hiệp. Như một người bạn không còn ảo tưởng đã viết thư cho tôi sau khi nghỉ hưu với sự nghiệp chính trị kéo dài, “Về tất cả các vấn đề mà chúng ta gặp phải, tôi nghĩ rằng sự lệch lạc tiền bạc trong hệ thống chính trị và cuộc sống cá nhân gây thiệt hại lớn nhất. Các chính trị gia và kết quả chính trị được đổi chác ở quy mô lớn hơn bao giờ hết… việc vung tiền cho mục đích chính trị làm hủy hoại thời gian, tiền bạc và lòng nhiệt thành… những lịch trình chính trị bị uốn cong theo tiền bạc, việc rao giảng chính trị ngày càng tệ hại, và các chính trị gia lại không biết nhau khi họ phải đi lại như con thoi đến các khu vực cử tri của mình.”
Điểm cuối cùng mà bạn tôi nêu ra là lời giải thích cho điều thứ nhì: hiện nay, việc phát triển đi lại bằng hàng không nội địa đã tạo các kết nối nhanh chóng và thường xuyên giữa thủ đô Washington D.C. với mọi bang của Mỹ. Trước đây, các đại diện dân cử phục vụ tại Quốc hội ở Washington suốt tuần; sau đó họ phải ở lại Washington vào cuối tuần vì không thể về bang nhà rồi trở lại làm việc chỉ trong một ngày; nên gia đình họ sống luôn ở Washington D.C., và con cái họ đi học luôn ở đó. Vào những ngày cuối tuần, các ông bà nghị sĩ cùng cả gia đình hay gặp gỡ giao tiếp với nhau, họ biết rõ gia đình của nhau như những người bạn chứ không chỉ là đối thủ chính trị hay đồng minh. Tuy nhiên, ngày nay do chi phí cao trong các chiến dịch bầu cử gây áp lực cho các nghị sĩ phải thường xuyên thăm bang nhà của mình để gây quỹ, và sự tăng trưởng của du lịch hàng không nội địa làm điều đó khả thi. Nhiều nghị sĩ lại để gia đình mình sống ở bang nhà, nơi con cái họ đang theo học. Con cái của các nghị sĩ không còn chơi với nhau, còn họ thì không còn quen thân với gia đình đồng nghiệp nữa mà chỉ xem nhau là chính trị gia. Hiện nay, khoảng 80 trong số 535 thành viên của Quốc hội không còn giữ một căn hộ hoặc nhà ở Washington, mà chỉ ngủ lại trong văn phòng suốt thời gian làm việc rồi bay về quê nhà ngày cuối tuần.
Điều thứ ba cũng là lời giải thích cho việc phá vỡ thỏa hiệp liên quan đến thuật ngữ gọi là “gian lận khu vực bầu cử” bằng cách phân chia lại khu vực bầu cử của bang về mặt địa lý để tạo ưu thế cho một đảng, giúp đảng đó có tỉ lệ đại diện được bầu cao hơn so với toàn bộ tỉ lệ cử tri của bang chọn đảng đó. Đây không phải là một điều gì lạ lẫm với nền chính trị Mỹ. Thực ra, thuật ngữ này xuất phát từ tên Thống đốc Elbridge Gerry của bang Massachusetts, vào năm 1812, ông này đã phân chia các khu vực trong bang của mình nhằm mục đích làm tăng số lượng dân biểu được bầu thuộc đảng của ông ta. Việc hình thành các khu vực mới tạo ra hình dạng phân bố kỳ lạ về mặt địa lý, một trong những khu vực này trông giống với như con kỳ nhông, do đó nảy sinh thuật ngữ này (Ảnh 9.11).
Ngày nay, sau mỗi cuộc điều tra dân số quốc gia 10 năm một lần để tái cơ cấu số lượng ghế Hạ viện giữa các bang, thì mỗi cơ quan lập pháp bang có thể vẽ lại ranh giới khu vực lập pháp của bang đó. Đặc biệt, càng ngày những cơ quan lập pháp bang do đảng Cộng hòa kiểm soát càng ưa vẽ lại ranh giới để tập trung càng nhiều cử tri có khả năng ủng hộ đảng Dân chủ vào những khu vực nhỏ nhất mà đảng Dân chủ áp đảo (thường là ở thành thị) – do đó khiến những cử tri có khả năng theo đảng Dân chủ còn lại phân tán sang các khu vực có số lượng cử tri Cộng hòa dù số lượng khiêm tốn nhưng đáng tin cậy (thường là các khu vực nông thôn). Gần đây, Tòa án Tối cao Mỹ đã bác bỏ một kế hoạch tái phân chia do cơ quan lập pháp bang North Carolina thuộc kiểm soát của đảng Cộng hòa soạn ra, lưu ý rằng ranh giới những khu vực không có ý nghĩa gì về mặt địa lý nhưng được vẽ ra “với độ chính xác như trong phẫu thuật” để làm tăng số lượng đại diện của đảng Cộng hòa và gây bất lợi cho phe Dân chủ.
Hậu quả của việc “gian lận khu vực bầu cử” đối với thỏa hiệp chính trị là nó cho thấy rõ hơn trước những đảng nào và chính sách nào mà đa số cử tri của khu vực bầu cử có thể ủng hộ. Do đó, các ứng cử viên có khả năng bị đánh bại nếu họ chọn đứng ở vị trí trung dung để lôi cuốn cử tri của cả hai đảng. Thay vào đó, các ứng cử viên biết rằng họ nên ngả theo bên dự kiến sẽ giành chiến thắng trong khu vực gian lận bầu cử đó. Tuy gian lận khu vực bầu cử dường như đóng vai trò nhất định trong tính phân cực chính trị hiện tại, vẫn có một số lý do khiến nó không phải là toàn bộ lời giải thích: việc gian lận khu vực bầu cử không thể giải thích được sự phân cực tại Thượng viện (vì các bang chỉ được chia thành những khu vực bầu cử đối với Hạ viện chứ không phải đối với bầu cử Thượng viện, vậy mà các thượng nghị sĩ giờ đây cũng không thỏa hiệp như các thành viên Hạ viện); sự gian lận khu vực bầu cử không giải thích được sự phân cực ở các khu vực được vẽ lại; và ngay ở những nơi được vẽ lại thì sự phân cực chính trị đã đi trước sự gian lận khu vực bầu cử.
Tuy nhiên, cả ba lý thuyết về sự phân cực của chính trị Mỹ – gây quỹ, du lịch hàng không nội địa và gian lận khu vực bầu cử – chỉ để tìm cách giải thích sự phân cực của một nhóm nhỏ các chính trị gia Mỹ. Trên thực tế, vấn đề còn rộng lớn hơn nhiều: người Mỹ nói chung đang trở nên phân cực và không thỏa hiệp về mặt chính trị. Chỉ cần nhìn vào một bản đồ kết quả cuộc bầu cử tổng thống năm 2016, màu đỏ hay màu xanh ở các bang lần lượt hiển thị việc bầu chọn cho đảng Cộng hòa hoặc Dân chủ. Bạn sẽ thấy vùng duyên hải và các thành phố lớn ở Mỹ hiện nay ủng hộ đảng Dân chủ, trong khi các khu vực nội địa và nông thôn thuộc về đảng Cộng hòa. Mỗi đảng chính trị ngày càng trở nên đồng nhất và cực đoan trong hệ tư tưởng: những người Cộng hòa ngày càng bảo thủ mạnh mẽ, những người Dân chủ thì ngày càng tự do hơn, còn những người trung dung ở hai đảng thì ngày càng giảm bớt. Những khảo sát cho thấy nhiều người Mỹ của mỗi đảng ngày càng không khoan dung với người bên đảng kia, coi bên kia là mối nguy hiểm thực sự đối với sự thịnh vượng của nước Mỹ, không muốn một người thân của mình kết hôn với một người ủng hộ bên kia và muốn sống trong một khu vực nơi mọi người có cùng quan điểm chính trị với mình. Nếu là một độc giả người Mỹ, bạn có thể tự mình kiểm tra sự tách biệt này: cá nhân bạn quen biết bao nhiêu người, và trong số bạn bè ấy có ai bảo rằng họ đã bỏ phiếu cho ứng cử viên tổng thống của đảng đối lập trong năm 2016 không?
Do vậy, lời giải đáp không chỉ là tại sao các chính trị gia Mỹ ngày càng trở nên không thỏa hiệp, không lệ thuộc vào các chính trị gia khác. Chúng ta cũng cần hiểu lý do tại sao cử tri Mỹ trở nên không khoan dung và không thỏa hiệp về mặt chính trị. Các chính trị gia của chúng ta đơn thuần chỉ tuân theo mong muốn của cử tri.
Về sự phân cực chính trị của toàn xã hội Mỹ, thường có một lời giải thích là do “thông tin độc tôn.” Khi tôi còn nhỏ, chưa có truyền hình cáp; ở thành phố Boston của tôi thì mãi đến năm 1948 mới có chương trình truyền hình đầu tiên đủ thể loại; và trong nhiều năm sau đó, người Mỹ vẫn chỉ xem tin tức chủ yếu từ ba mạng truyền hình, ba tuần san và nhật báo lớn. Hầu hết người Mỹ đều đọc những nguồn thông tin tương tự, không nguồn nào trong số đó xác định rõ ràng quan điểm bảo thủ hay tự do và cũng không cắt xén thông tin. Giờ đây, với sự phát triển của truyền hình cáp, website tin tức và Facebook cùng với sự suy giảm các tuần san trên thị trường, người Mỹ chọn nguồn thông tin theo quan điểm cố hữu trước đó của họ. Nhìn vào hóa đơn truyền hình cáp hằng tháng của mình, tôi thấy có thể chọn giữa 477 kênh: không chỉ kênh Fox News hay MSNBC tùy vào việc tôi nghiêng về phe nào, bảo thủ hay tự do, mà còn các kênh dành cho châu Phi, thể thao đại học vùng duyên hải Đại Tây Dương, nấu ăn, tội phạm, Pháp, khúc côn cầu, nữ trang, cuộc sống của người Do Thái, nước Nga, quần vợt, thời tiết và vô số các chủ đề cùng quan điểm có phạm vi thu hẹp khác. Do đó, tôi vẫn có thể chọn duy trì các mối quan tâm và quan điểm hiện tại của mình và không bị phân tâm bởi các chủ đề khác cùng các quan điểm không thích hợp. Kết quả là: tôi giam mình vào lĩnh vực chính trị của mình, lao vào những tập hợp “sự kiện” cho riêng mình và tiếp tục bỏ phiếu cho đảng mà mình luôn ưa thích, tôi không biết động cơ thúc đẩy những người ủng hộ đảng kia và tất nhiên tôi muốn các đại biểu của mình khước từ mọi thỏa hiệp với những đại biểu không đồng ý với mình.
Hiện nay, hầu hết người Mỹ sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội như Facebook và Twitter. Hai người bạn của tôi, vốn dĩ không liên quan gì với nhau, một theo đảng Dân chủ và người còn lại theo đảng Cộng hòa, giải thích cho tôi cách tài khoản Facebook của họ đóng vai trò là bộ lọc thông tin chính của họ. Người theo đảng Dân chủ (một thanh niên) chia sẻ thông tin và bình luận cho bạn bè trên Facebook của họ, và những người này cũng lần lượt đăng thông tin của mình; anh ta chọn kết bạn với họ một phần vì họ chia sẻ quan điểm của mình. Khi có người đăng thông tin theo quan điểm của Đảng Cộng hòa, anh ấy sẽ “hủy kết bạn” với người đó, loại cô ấy ra khỏi danh sách bạn bè của mình. Những người mà anh ấy hủy kết bạn bao gồm cả cô chú ruột, anh ấy hủy luôn cả việc thăm hỏi chỉ vì quan điểm thân Cộng hòa của họ. Suốt ngày anh ấy kiểm tra tài khoản Facebook của mình trên iPhone và sử dụng nó để tìm đọc các bài báo online phù hợp với quan điểm của mình nhưng không đăng ký báo giấy hay xem tivi. Người bạn kia theo phe Cộng hòa, cũng cho tôi thấy một tài khoản tương tự, với những người quen biết mà cô ấy hủy kết bạn là những người đăng bài theo quan điểm Dân chủ. Kết quả: mỗi người bạn của tôi chỉ tiếp nhận thông tin định sẵn trong phạm vi hẹp.
Nhưng thậm chí việc mở rộng câu hỏi của chúng ta về tính phân cực chính trị ở Mỹ ngày nay – từ việc chỉ bàn về quan điểm phân cực của các chính trị gia, đến việc nói đến quan điểm phân cực của toàn bộ cử tri nước Mỹ – cũng quá hạn hẹp. Nó chỉ mới đặt vấn đề về sự phân cực trong lĩnh vực chính trị. Tuy nhiên, hiện tượng này thậm chí còn rộng lớn hơn: sự phân cực, tính không khoan dung và lạm dụng cũng đang gia tăng trong các lĩnh vực khác của đời sống Mỹ bên cạnh lĩnh vực chính trị. Những độc giả người Mỹ trên 40 tuổi, xin xem lại những thay đổi mà bạn từng chứng kiến về hành vi ứng xử trong thang máy của người Mỹ (giờ đây những người đang chờ vào thang máy ít khi chờ những người trong thang máy bước ra); giảm tác phong lịch sự trong giao thông (không nhường người lái xe khác); sự thân thiện khi gặp nhau trên đường đi dạo và trên đường phố (người Mỹ dưới 40 tuổi ít chào người lạ hơn so với người trên 40 tuổi); và trên hết, trong nhiều giới, những “phát biểu” đủ loại ngày càng bị lạm dụng, đặc biệt là trong giao tiếp điện tử.
Tôi đã trải nghiệm những xu thế này ngay khi bước vào đời sống nghiên cứu học thuật của Mỹ vào năm 1955. Các cuộc tranh luận học thuật ở Mỹ ngày nay trở nên thô bạo hơn so với 60 năm trước. Khi khởi đầu sự nghiệp học thuật, tôi tham gia vào các cuộc tranh luận cũng giống như bây giờ. Nhưng trước đây tôi xem các nhà khoa học bất đồng ý kiến trong tranh luận như bạn bè cá nhân chứ không phải là kẻ thù cá nhân. Chẳng hạn, tôi nhớ một chuyến nghỉ ngơi ở Anh sau một hội nghị sinh lý học, tôi còn đi tham quan các tu viện dòng Cistercian bị hủy hoại với một nhà sinh lý học người Mỹ tốt bụng và hiền lành mà tôi rất không đồng ý về cơ chế vận chuyển nước qua biểu mô tại hội nghị. Ngày nay, điều này không thể xảy ra được mà thay vào đó, bây giờ tôi liên tục bị kiện cáo, hoặc bị dọa đưa ra tòa và chịu sự lăng mạ từ các học giả không đồng ý với tôi. Những đơn vị chủ nhà mời tôi thuyết trình đã buộc phải thuê vệ sĩ để che chở tôi khỏi những chỉ trích giận dữ. Một học giả đã kết luận trong bài điểm sách về một trong những cuốn sách của tôi với dòng chữ “Hãy câm miệng lại!” Đời sống học thuật phản ánh cuộc sống của người Mỹ nói chung, cũng như các chính trị gia, cử tri, người đi thang máy, người lái xe và người đi bộ.
Những đấu trường trong cuộc sống Mỹ là những khía cạnh của cùng một hiện tượng được bàn luận rộng rãi: sự suy thoái của cái gọi là “vốn xã hội.” Theo định nghĩa của nhà khoa học chính trị Robert Putnam trong cuốn Bowling Alone (Chơi Bowling một mình): “… vốn xã hội đề cập đến các kết nối giữa các cá nhân – mạng xã hội cùng các chuẩn mực tương hỗ và đáng tin cậy phát sinh từ chúng. Theo nghĩa đó, vốn xã hội có liên quan mật thiết đến cái mà một số người gọi là ‘phẩm hạnh công dân’.” Đó là sự tin tưởng, tình bạn, liên kết nhóm, sự giúp đỡ và mong cầu giúp đỡ được xây dựng qua việc tích cực tham gia và trở thành thành viên của các nhóm, từ câu lạc bộ sách, câu lạc bộ bowling, câu lạc bộ bài Bridge, cộng đồng sinh hoạt nhà thờ, các tổ chức cộng đồng và hội phụ huynh-giáo viên đến các tổ chức chính trị, hiệp hội nghề chuyên nghiệp, câu lạc bộ thiện nguyện Rotary, họp hành trong thị trấn, nghiệp đoàn, hiệp hội cựu chiến binh, và nhiều hội đoàn khác. Việc tham gia vào các hoạt động nhóm như vậy thúc đẩy sự tương hỗ: nghĩa là, làm những điều cho người khác và với người khác, tin tưởng họ, đồng thời cũng dựa vào họ và các thành viên khác trong nhóm để hỗ trợ cho bạn. Nhưng người Mỹ ngày càng giảm tham gia vào các nhóm thường gặp nhau trực tiếp như thế, trong khi việc tham gia vào các nhóm trực tuyến mà không bao giờ gặp, nhìn hoặc nghe thấy nhau ngày càng gia tăng.
Một lời giải thích mà Putnam và nhiều người khác đưa ra về sự suy thoái vốn xã hội ở Mỹ là sự gia tăng giao tiếp gián tiếp gây mất mát cho việc giao tiếp trực diện. Điện thoại xuất hiện vào năm 1890 nhưng đến khoảng năm 1957 mới bão hòa thị trường Mỹ. Đài phát thanh khởi sự bão hòa từ năm 1923 đến năm 1937 và truyền hình thì từ năm 1948 đến năm 1955. Thay đổi lớn nhất mới nảy sinh gần đây là Internet, điện thoại di động và tin nhắn điện tử. Chúng ta sử dụng radio và truyền hình để tiếp nhận thông tin và giải trí, trong khi điện thoại và những phương tiện điện tử gần đây cũng cho những mục đích tương tự nhưng cộng với giao tiếp. Nhưng trước khi phát minh ra chữ viết, mọi thông tin và giao tiếp của con người thường phải mặt đối mặt khi mọi người nói chuyện với nhau hay cùng xem/nghe trình diễn (diễn giả, nhạc sĩ và diễn viên). Mặc dù các rạp chiếu phim phát triển sau năm 1900 không đem lại thú vui trực diện, nhưng chí ít thì chúng cũng đưa mọi người ra khỏi nhà để nhập vào các nhóm xã hội và thường được cùng bạn bè thưởng thức như một phần mở rộng của việc đi xem diễn giả, nhạc sĩ, và diễn viên cùng bạn bè.
Tuy nhiên, ngày nay nhiều trò giải trí của chúng ta – điện thoại thông minh, iPod và trò chơi điện tử – mang tính đơn độc hơn là xã hội. Chúng được chọn lựa để giải trí mang tính cá nhân cũng như thông tin chính trị được lựa chọn mang tính riêng tư; tuy vậy, truyền hình hiện vẫn là hình thức giải trí phổ biến nhất đối với người Mỹ, giữ người Mỹ ở nhà, dù chỉ còn là trên danh nghĩa với các thành viên trong gia đình. Người Mỹ dành thời gian xem truyền hình cùng nhau gấp ba đến bốn lần so với nói chuyện với nhau và ít nhất một phần ba tổng thời gian xem truyền hình chỉ riêng một mình (thường là trên Internet thay vì ngồi trước màn hình tivi).
Hệ quả là những người nghiện xem truyền hình ít tin tưởng người khác và ít tham gia tổ chức tự nguyện hơn so với những người không nghiện. Trước khi đổ lỗi cho việc xem truyền hình gây ra những hành vi đó, người ta có thể phản bác: cái gì là nguyên nhân và cái gì là kết quả, hoặc hai tập hợp hiện tượng này chỉ tương quan với nhau chứ không phải hành vi này là nguyên nhân của hành vi kia? Một khảo sát tình cờ ở Canada đã làm sáng tỏ câu hỏi này. Trong một thung lũng ở Canada có ba thị trấn lẽ ra thì giống nhau, nhưng một trong số đó nằm ngoài tầm phủ sóng truyền hình phục vụ trong vùng. Sau cùng, khi thị trấn đó được phủ sóng thì việc tham gia vào các câu lạc bộ và các cuộc họp lại giảm đi so với trước đó, xuống đến mức tương đương với hai thị trấn kia. Điều này cho thấy rằng việc xem truyền hình gây ra sự suy giảm tham gia cộng đồng; đó không phải là trường hợp mà những người vốn đã không tham gia sau đó lại chọn xem truyền hình.
Ở những vùng xa xôi của New Guinea nơi tôi đi thực địa và cũng là nơi chưa có công nghệ truyền thông mới, mọi thông tin liên lạc vẫn phải trực diện và tham dự đầy đủ – cũng như ở Mỹ trước đây. Người New Guinea dành phần lớn thời gian giao tiếp với nhau. Trái với các cuộc trò chuyện thưa thớt và không tập trung của người Mỹ, các cuộc đối thoại truyền thống ở New Guinea không bị gián đoạn khi phải nhìn vào điện thoại di động trong tay, cũng không phải nhấn phím gửi email hay tin nhắn trong khi trò chuyện với một người nhưng nhưng chỉ tiếp nhận một phần sự tham gia của họ. Con trai của một nhà truyền giáo người Mỹ lớn lên ở một ngôi làng New Guinea và khi chuyển đến Mỹ học trung học đã mô tả cú sốc của mình khi phát hiện ra sự khác biệt giữa cách chơi đùa của trẻ em ở New Guinea và ở Mỹ. Ở New Guinea, trẻ em ở một ngôi làng đi lang thang từ túp lều này sang túp lều khác cả ngày. Ở Mỹ, như bạn tôi phát hiện, “Trẻ em về nhà, đóng cửa và xem truyền hình một mình.”
Bình quân, người dùng điện thoại di động ở Mỹ cứ sau bốn phút lại kiểm tra điện thoại một lần, dành ít nhất sáu giờ mỗi ngày để nhìn vào màn hình của điện thoại di động hoặc máy tính và dành hơn 10 giờ mỗi ngày (hầu hết thời gian không ngủ) để kết nối với một số thiết bị điện tử. Kết quả là hầu hết người Mỹ không còn trải nghiệm với nhau như những con người sống động với gương mặt và chuyển động cơ thể mà chúng ta thường thấy, giọng nói mà chúng ta thường nghe và con người mà chúng ta thường hiểu được. Thay vào đó, chúng ta trải nghiệm lẫn nhau chủ yếu qua tin nhắn kỹ thuật số trên màn hình hay đôi khi chỉ là giọng nói qua điện thoại di động. Chúng ta có xu hướng bị ức chế mạnh mẽ để không trở nên thô lỗ với một người sống chỉ cách chúng ta nửa mét, những người chúng ta có thể nhìn và nghe thấy. Nhưng chúng ta mất đi những ức chế khi con người chỉ được thể hiện qua từ ngữ trên màn hình. Việc ứng xử thô lỗ và tùy tiện bằng từ ngữ trên màn hình dễ dàng hơn là đối mặt với một con người sinh động nhìn thẳng vào mặt bạn. Vì vậy, một khi chúng ta đã quen với việc lăng mạ ở khoảng cách gián tiếp, thì bước tiếp theo là lăng mạ một con người sinh động sẽ dễ dàng hơn.
Tuy nhiên, lời giải thích đó về sự đổ vỡ của thỏa hiệp chính trị và hành vi lịch thiệp ở Mỹ nói chung hiển nhiên sẽ bị phản đối. Việc giao tiếp gián tiếp không chỉ bùng nổ ở Mỹ mà còn trên toàn thế giới, đặc biệt là ở các nước giàu có. Người Ý và người Nhật sử dụng điện thoại di động chẳng kém gì người Mỹ. Thế nhưng tại sao sự thỏa hiệp chính trị không suy giảm và sự thô thiển mang tính xã hội vẫn không gia tăng ở các nước giàu khác?
Tôi có thể nghĩ đến hai lời giải thích khả dĩ. Một là, trong thế kỷ 20, truyền thông điện tử và nhiều phát minh công nghệ khác hình thành đầu tiên ở Mỹ, sau đó chúng và những hệ quả của chúng lan sang các nước giàu khác. Với lý giải này, Mỹ chỉ là nước đầu tiên chứ không phải duy nhất có đổ vỡ thỏa hiệp chính trị, cùng với điện thoại và truyền hình phổ biến ở khắp nơi. Trên thực tế, những người bạn Anh nói với tôi rằng sự xúc phạm cá nhân ở Anh bây giờ nhiều hơn so với lúc tôi ở đó 60 năm trước, trong khi những người bạn Úc nói với tôi rằng sự không thỏa hiệp đang gia tăng trong đời sống chính trị Úc. Nếu lời giải thích này là chính xác, thì sẽ chỉ là vấn đề thời gian trước khi các nước phát triển giàu có khác cũng gặp phải tình trạng bế tắc chính trị ở mức độ mà Mỹ đã vướng vào.
Một lời giải thích khả dĩ khác là từ quá khứ, do nhiều lý do, nước Mỹ đến hôm nay vẫn có ít vốn xã hội để đề kháng với sự xuất hiện của những sức mạnh công nghệ hiện đại làm mất đi cá tính con người. Diện tích nước Mỹ lớn hơn 25 lần so với bất kỳ quốc gia giàu có nào ngoại trừ Canada. Ngược lại, mật độ dân số Mỹ – những người được chia theo khu vực – thấp hơn tới 10 lần so với hầu hết các quốc gia giàu có khác; chỉ có Canada, Úc và Iceland là dân cư thưa thớt hơn. Mỹ luôn đặt trọng tâm mạnh mẽ vào cá nhân, so với sự nhấn mạnh của châu Âu và Nhật Bản đối với cộng đồng; chỉ có Úc vượt qua Mỹ về xếp hạng chủ nghĩa cá nhân giữa các quốc gia giàu có. Người Mỹ di chuyển thường xuyên, trung bình cứ sau năm năm. Do khoảng cách không gian ở Mỹ quá rộng lớn so với ở Nhật hay bất kỳ quốc gia Tây Âu nào nên khi người Mỹ di chuyển, họ có thể xa hẳn những người bạn cũ so với những người Nhật Bản và châu Âu ít di chuyển. Do đó, người Mỹ có nhiều mối quan hệ xã hội ngắn ngủi hơn và bạn bè dễ lìa xa thay vì nhiều người bạn thân thiết sống cận kề.
Nhưng diện tích và khoảng cách trong phạm vi nước Mỹ đã cố định và không suy giảm. Người Mỹ không thể từ bỏ điện thoại di động hay ít di chuyển thường xuyên hơn. Do đó, nếu lời giải thích này kết nối sự suy giảm thỏa hiệp chính trị của Mỹ với các nhân tố làm nền tảng vốn xã hội thấp là chính xác, thì thỏa hiệp chính trị vẫn sẽ có nguy cơ đổ vỡ cao hơn ở Mỹ so với các nước giàu khác. Điều này không có nghĩa là nước Mỹ chắc chắn sẽ phải chịu đựng sự bế tắc chính trị ngày càng tồi tệ hơn; mà có nghĩa là nó đòi hỏi các nhà lãnh đạo chính trị và cử tri Mỹ phải nỗ lực nhận thức hơn để ngăn chặn tình trạng bế tắc của Mỹ so với các nước khác.
Cuốn sách này đã bàn về hai quốc gia – Chile và Indonesia – do phá vỡ thỏa hiệp chính trị dẫn đến việc một bên áp đặt chế độ độc tài quân sự mà mục tiêu rõ ràng là tiêu diệt phía bên kia. Viễn cảnh này có vẻ vô lý với hầu hết người Mỹ và cũng có vẻ vô lý với những người bạn Chile của tôi khi tôi ở đó vào năm 1967, nếu hồi ấy có ai bày tỏ nỗi e ngại về kết quả có thể xảy ra. Vậy mà nó đã xảy ra ở Chile vào năm 1973.
Người Mỹ có thể phản bác rằng “nhưng nước Mỹ thì khác với Chile!” Vâng, tất nhiên Mỹ khác với Chile. Một số khác biệt khiến Mỹ ít có khả năng suy thoái thành một chế độ độc tài quân sự bạo lực như Chile – nhưng cũng có một số khác biệt khiến Mỹ lại có nhiều khả năng hơn. Những nhân tố khiến kết quả tồi tệ đó ít có khả năng xảy ra ở Mỹ bao gồm truyền thống dân chủ mạnh mẽ hơn, lý tưởng của nước Mỹ về chủ nghĩa bình đẳng trong lịch sử, không có tình trạng chuyên chế sở hữu đất đai cha truyền con nối như ở Chile, cũng như quân đội hoàn toàn đứng ngoài chính trị trong suốt lịch sử nước Mỹ. (Quân đội Chile từng nhúng tay vào chính trị hai lần trước năm 1973.) Nhưng mặt khác, các nhân tố tạo ra kết cục tồi tệ ở Mỹ nhiều hơn hẳn ở Chile, bao gồm quyền sở hữu súng tư nhân ở Mỹ, bạo lực cá nhân cả trong hiện tại lẫn quá khứ, và lịch sử bạo lực chống lại các nhóm dân cư (chống lại người Mỹ gốc Phi, người Mỹ bản địa và một số nhóm người nhập cư). Tôi đồng ý rằng các bước để tiến đến một chế độ độc tài quân sự ở Mỹ sẽ khác với các bước diễn ra ở Chile vào năm 1973. Mỹ rất khó có khả năng để xảy ra hành động cướp chính quyền của giới quân sự. Thay vào đó, tôi tiên đoán rằng một chính đảng nắm quyền lực trong chính phủ Mỹ hay trong các bang sẽ ngày càng thao túng việc đăng ký cử tri, sắp xếp ngành tư pháp bằng các thẩm phán cùng phe phái, sử dụng tòa án để đánh tráo kết quả bầu cử, rồi sau đó kích động “thực thi pháp luật” và sử dụng đến cảnh sát, Vệ binh Quốc gia, quân đội dự bị, hay chính quân đội để đàn áp phe đối lập chính trị. Đó là lý do tại sao tôi coi sự phân cực chính trị là vấn đề nguy hiểm nhất đối với nước Mỹ ngày nay – nguy hiểm hơn nhiều so với việc cạnh tranh đến từ Trung Quốc hoặc Mexico, điều khiến các nhà lãnh đạo chính trị Mỹ bị ám ảnh. Không có cách nào để Trung Quốc hay Mexico hủy diệt được nước Mỹ. Chỉ người Mỹ mới có thể hủy hoại chính họ. Chúng ta sẽ quay trở lại vấn đề này trong chương tiếp theo, sau khi cân nhắc những vấn đề cơ bản khác mà nước Mỹ phải đối mặt, và các nhân tố thuận lợi hay đối nghịch với những thay đổi có chọn lọc nhằm ngăn chặn kịch bản nghiệt ngã đó.