Thư viện Online
  • Trang chủ
  • Sách mới cập nhật
  • Trang chủ
  • Sách mới cập nhật

Biến Động - Jared Diamond - Chương 10

  1. Home
  2. Biến Động - Jared Diamond
  3. Chương 10 - Tương lai nào cho nước Mỹ? Ba vấn đề “khác”
Prev
Next

Những vấn đề khác – Bầu cử – Bất bình đẳng và bất động – Thì sao nào? – Đầu tư vào tương lai – Khung biến cố

Chương trước đã bắt đầu với những tin tức tốt đẹp về Mỹ hiện tại. Mỹ đã không ngẫu nhiên trở thành quốc gia thịnh vượng nhất và hùng cường nhất, mà bởi vì có một sự kết hợp của vô vàn ưu thế: nhân khẩu, địa lý, chính trị, lịch sử, kinh tế và xã hội. Phần còn lại của chương cũng bàn về tin xấu: sự sụp đổ hiện thời của thỏa hiệp chính trị mà tôi nhận định là vấn đề nghiêm trọng nhất trong số những vấn đề Mỹ đang phải đặc biệt đối diện (và khác với những vấn đề quốc tế đang đe dọa Mỹ).

Chương này sẽ bàn về ba vấn đề lớn “khác,” bắt đầu với những vấn đề liên quan tới bầu cử. Tôi gộp những vấn đề này dưới tên gọi thoạt nghe có vẻ khinh mạn là “những vấn đề khác,” chỉ vì chúng không có quá nhiều tiềm năng cấp thời làm suy yếu chính quyền dân chủ Mỹ cũng như phá vỡ thỏa hiệp. Tuy nhiên, chúng vẫn nghiêm trọng. Bạn đọc có thể tìm hiểu thêm qua cuốn sách The Measure of a Nation (Đo lường một quốc gia) của Howard Friedman, trong đó có hàng loạt biểu đồ so sánh Mỹ với các quốc gia dân chủ lớn khác về nhiều khác biệt được bàn sau đây. Dĩ nhiên, danh sách các vấn đề của Mỹ mà tôi nêu ra ở đây không toàn diện. Những vấn đề tôi không đề cập đến là các mối quan hệ chủng tộc và vai trò của phụ nữ, cả hai đã được cải thiện nhiều so với 50 năm trước song vẫn còn nhức nhối trong xã hội Mỹ. Bốn điều mà tôi chọn bàn luận gồm – một vấn đề trong chương trước, và ba ở chương này – là những vấn đề càng lúc càng nghiêm trọng trong những thập niên gần đây, và theo tôi chúng thực sự là những mối đe dọa ghê gớm đối với nền dân chủ Mỹ và sức mạnh kinh tế hiện nay.

Bầu cử là cốt lõi của bất kỳ nền dân chủ nào. Nếu một quốc gia có hiến pháp hay luật pháp quy định chính quyền dân chủ nhưng công dân không bỏ phiếu hoặc không thể bỏ phiếu thì đó là một quốc gia không xứng đáng được gọi là dân chủ. Trên tiêu chí đó, nước Mỹ chỉ được coi là dân chủ một nửa. Gần nửa dân số Mỹ đủ điều kiện bầu cử thậm chí không bỏ phiếu cho cuộc bầu cử quan trọng nhất, bầu cử tổng thống. Trong bốn kỳ bầu cử tổng thống gần nhất, số cử tri Mỹ không bỏ phiếu mỗi kỳ là khoảng 100 triệu người. Tỉ lệ công dân không bỏ phiếu cho chính quyền địa phương cấp thấp hơn còn cao hơn nhiều. Đơn cử, thành phố Los Angeles (LA) của tôi là một trong những thành phố lớn của Mỹ, và cuộc bầu cử quan trọng nhất của LA là bầu thị trưởng. Tuy nhiên, trong cuộc bầu cử thị trưởng LA gần nhất, 80% cử tri LA không bỏ phiếu.

Có nhiều cách khác nhau để xác định tỉ lệ tham gia bầu cử. Một trong số đó là báo cáo phần trăm dân cư đủ tuổi bầu cử đã thực hiện bỏ phiếu. Một biện pháp khác cho con số cao hơn, đó là tính số phần trăm cử tri đủ điều kiện bầu cử đã bỏ phiếu. (Ở Mỹ chỉ có 92% dân số đủ tuổi bầu cử là đủ điều kiện bỏ phiếu; 8% không đủ điều kiện chủ yếu gồm người di trú, tù nhân, người bị kết án và người mới ra tù.) Biện pháp thứ ba cũng cho một con số cao hơn, đó là báo cáo phần trăm cử tri đăng ký đã bầu cử; chỉ rất ít cử tri đủ điều kiện bầu cử không đăng ký bỏ phiếu vì các lý do mà tôi sẽ trình bày sau đây.

Cả ba biện pháp trên đều đưa đến một kết luận: trong số các nền dân chủ giàu mạnh (được gọi là các nước OECD), Mỹ đứng cuối cùng trong bảng xếp hạng tỉ lệ cử tri đi bầu cử. Cụ thể, tỉ lệ trung bình cử tri đăng ký bầu cử ở các quốc gia dân chủ khác là 93% đối với Úc, nơi bầu cử là bắt buộc theo luật; 89% đối với Bỉ; 58%-80% ở hầu hết các nước dân chủ châu Âu và Đông Á khác. Kể từ khi Indonesia tổ chức lại các cuộc bầu cử dân chủ tự do sau năm 1999, tỉ lệ cử tri Indonesia đi bỏ phiếu dao động từ 86% đến 90%, trong khi đó tỉ lệ này ở Ý từ năm 1948 đã tăng lên 93%.

Để đối chiếu, ta thấy, tỉ lệ cử tri đi bầu của Mỹ trong các kỳ bầu cử quốc gia chỉ đạt 60% ở các năm bầu cử tổng thống, và chỉ đạt 40% ở các kỳ bầu cử Quốc hội giữa nhiệm kỳ. Tỉ lệ cử tri bỏ phiếu cao nhất được ghi nhận trong lịch sử hiện đại Mỹ chỉ đạt 62% trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2008, thậm chí thua xa tỉ lệ bầu cử thấp nhất ở Ý hay ở Indonesia. Khi được hỏi lý do vì sao họ không muốn bỏ phiếu, câu trả lời chung nhất của cử tri Mỹ là họ không tin vào chính phủ, họ không tin vào giá trị bầu cử, hoặc họ không quan tâm đến chính trị.

Nhưng có một nguyên nhân khác mà nhiều người Mỹ đủ điều kiện bầu cử không đi bỏ phiếu: họ không thể, vì họ không đăng ký bỏ phiếu. Đó là một đặc tính khác biệt của nền dân chủ Mỹ cần phải được giải thích. Ở nhiều quốc gia dân chủ, công dân đủ điều kiện bầu cử chẳng phải làm gì để “đăng ký” bầu cử: chính phủ làm chuyện đó cho họ bằng cách tạo một danh sách tự động đăng ký từ những danh sách của chính phủ về bằng lái xe, người đóng thuế, dân cư, hoặc những nguồn cơ sở dữ liệu khác. Chẳng hạn, mọi công dân Đức trên 18 tuổi ở Đức sẽ tự động nhận được một thẻ bầu cử của chính phủ, trên đó thông báo rằng một kỳ bầu cử chuẩn bị diễn ra và họ có đủ điều kiện bỏ phiếu.

Ở Mỹ, chuyện đó phức tạp hơn. Một công dân đủ điều kiện bầu cử không chỉ phải trên 18 tuổi, không ngồi tù hoặc bị kết án: họ còn phải đăng ký bầu cử. Mỹ đã có một lịch sử lâu dài trong việc ngăn cản các nhóm công dân đủ tuổi đi bầu cử – không được đăng ký. Nhóm đông nhất chính là phụ nữ Mỹ, họ không được bầu cử cho đến năm 1919. Những nhóm khác, nổi bật là người Mỹ gốc Phi, cùng những nhóm thiểu số và di dân đã bị cấm đăng ký bởi nhiều trở ngại như cuộc thăm dò ý kiến về thuế, kiểm tra trình độ học vấn, và “các điều khoản thời ông cha.” (Tức là, bạn không thể đăng ký bỏ phiếu nếu ông của bạn từng không thể bỏ phiếu.) Dĩ nhiên luật pháp không nói rõ rằng những biện pháp này nhằm để ngăn người Mỹ gốc Phi đi bầu cử. Tuy nhiên, mọi người hiểu rằng mục đích và kết quả thu được của những rào cản như điều khoản thời ông cha là để ngăn người Mỹ gốc Phi đăng ký bầu cử.

Trong trường hợp bạn cho rằng những trở ngại ấy đã phai nhạt từ lâu, thì tại bang Florida năm 2000, khoảng 100.000 cử tri tiềm năng, phần lớn theo phe Dân chủ, đã bị loại khỏi danh sách đăng ký bầu cử. Việc loại trừ đó đã tác động lớn đến sự xoay chuyển kết quả của Florida trong kỳ bầu cử tổng thống năm 2000, theo đó, chức tổng thống Mỹ thuộc về George Bush thay vì Al Gore – một tác động hiệu quả hơn nhiều so với các cuộc tranh cãi công khai sau này về việc loại bỏ hàng trăm lá phiếu đục lỗ mà theo đó kết quả bầu cử thường bị phân bổ sai. Lỗ hổng cơ bản trong hệ thống đăng ký bầu cử Mỹ chính là, ở Florida và nhiều bang khác, danh sách đăng ký bầu cử và quy trình bầu cử được kiểm soát bởi quy cách của mỗi đảng phái ở cấp bang và địa phương, chứ không phải bởi quy cách phi đảng phái ở cấp độ quốc gia. Cán bộ đảng phái thường tìm cách gây khó khăn cho công dân trong việc bầu cử nếu họ có vẻ nghiêng về đảng đối lập.

Bước mở rộng hoành tráng nhất của thủ tục đăng ký bầu cử trong lịch sử hiện đại Mỹ chính là Đạo luật Quyền Bầu cử năm 1965, trong đó cấm các “bài kiểm tra trình độ” để đăng ký và cho chính quyền liên bang giám sát các khu vực bầu cử có mô hình hạn chế đăng ký trước đó. Kết quả là tỉ lệ đăng ký bầu cử của người Mỹ gốc Phi ở miền nam nước Mỹ nhảy vọt từ 31% lên 73%, và số quan chức Mỹ gốc Phi được bầu trên toàn quốc cũng tăng từ 500 đến hơn 10.000 người. Quốc hội đã nhất trí cải tổ đạo luật đó vào đầu năm 2006. Nhưng vào năm 2013, Tòa án Tối cao Mỹ, với số phiếu đồng ý là 5 trên 4 lá phản đối, đã bãi bỏ luật của Quốc hội năm 1965 nhằm xác định các địa phương phải chịu sự giám sát, với lý do là luật đó không còn cần thiết vì tiến bộ trong sự đăng ký bầu cử của công dân Mỹ gốc Phi. Kết quả là các cơ quan lập pháp bang vội vàng áp dụng các trở ngại mới trong việc đăng ký bầu cử, tạo ra sự khác biệt lớn giữa các bang. Cho tới năm 2004, không bang nào trong số 50 bang yêu cầu cử tri tiềm năng phải trình thẻ căn cước do chính phủ cấp để được đăng ký hoặc bỏ phiếu. Chỉ có hai bang áp dụng yêu cầu này vào năm 2008. Nhưng ngay lập tức sau quyết định của Tòa án Tối cao, 14 bang áp dụng yêu cầu trình thẻ căn cước ảnh (thường là bằng lái hoặc hộ chiếu) hoặc áp dụng những hạn chế khác, và phần lớn các bang hiện nay đang hoặc sắp sửa tiến hành như vậy.

Cũng như các điều khoản ông cha trước đó vốn không nhằm trực tiếp vào người Mỹ gốc Phi nhưng lại rất thành công trong việc tước đi quyền bầu cử của họ, các biện pháp hạn chế bầu cử hiện đại cũng có ý đồ và thành quả tương tự. Tỉ lệ phần trăm cử tri tiềm năng có căn cước ảnh theo yêu cầu (phụ thuộc vào nhóm tuổi, có thể cao hơn ba lần) ở nhóm người da trắng cao hơn nhiều so với nhóm Mỹ gốc Phi hoặc nhóm Mỹ Latin, và ở nhóm người giàu cao hơn nhóm người nghèo. Lý do là những người tầm thường không có quan hệ trực tiếp để xứng đáng với quyền bầu cử: chẳng hạn, người nghèo, và người Mỹ gốc Phi nói chung, có khả năng không có bằng lái xe vì họ chưa trả tiền phạt giao thông. Bang Alabama đã đóng cửa các văn phòng cấp bằng lái xe (DMV) tại các khu vực đông dân cư Mỹ gốc Phi. Trước sự la ó của công luận, Alabama mở lại các văn phòng này – nhưng chỉ một ngày trong tháng. Bang Texas chỉ mở cửa các văn phòng DMV trong một phần ba số hạt, buộc cử tri tiềm năng phải chạy xe tới 250 dặm nếu họ quyết tâm lấy được căn cước ảnh bằng cách nhận bằng lái xe.

Những trở ngại trong đăng ký và bỏ phiếu cũng khác nhau ở mỗi bang. Một số bang “gần gũi với cử tri” theo nghĩa họ cho phép cử tri đăng ký vào đúng Ngày Bầu cử, hoặc cử tri gửi phiếu bầu đến thay vì phải xuất hiện tại nơi bỏ phiếu, hoặc họ mở cửa các văn phòng bầu cử vào buổi chiều và cuối tuần. Những bang khác “thiếu thân thiện với cử tri” vì yêu sách cử tri phải đăng ký trong thời gian ngắn trước ngày bầu cử, hay chỉ mở cửa các địa điểm bỏ phiếu trong giờ hành chính hoặc cuối tuần. Nhưng người nghèo (bao gồm phần lớn các nhóm thiểu số) không thể bỏ việc và xếp hàng đợi đăng ký hay bỏ phiếu được.

Tất cả những trở ngại có chọn lọc này góp phần đưa đến một thực tế là các cử tri có tỉ lệ tham gia trên 80% nằm ở nhóm người Mỹ thu nhập trên 150.000 đô la, nhưng dưới 50% là nhóm người Mỹ thu nhập dưới 20.000 đô la. Những trở ngại này không chỉ ảnh hưởng đến bầu cử tổng thống Mỹ mà còn ảnh hưởng mật thiết đến bầu cử Quốc hội, các cuộc bầu cử bang, địa phương mỗi năm.

Những hạn chế đối với sự tham gia bỏ phiếu của người Mỹ, dù xuất phát từ lựa chọn tự nguyện của cử tri hay bị ép buộc thì cũng tạo ra mặt trái của những ưu thế cốt lõi của nền dân chủ Mỹ mà tôi đã bàn luận trong chương trước. Những ưu thế đó bao gồm: cơ hội để công dân tranh luận, đánh giá, và chọn lựa bất kỳ đề xuất nào; công dân hiểu rằng họ được lắng nghe, và họ có quyền bộc lộ chính kiến ôn hòa; giảm thiểu nguy cơ bạo lực dân sự; khuyến khích thỏa hiệp; khuyến khích chính phủ đầu tư vào mọi công dân (vì rõ ràng là họ bỏ phiếu), hơn là chỉ đầu tư cho một bộ phận công dân ưu tú. Trong chừng mực mà người Mỹ chọn không bỏ phiếu, không được thông tin đầy đủ khi bỏ phiếu, hoặc không thể bỏ phiếu, thì chúng ta đang mất đi những ưu thế ấy.

Không cuộc thảo luận nào về nền dân chủ hiện đại Mỹ có thể coi là hoàn chỉnh nếu không nhắc đến đặc điểm thường xuyên bị chỉ trích nhất của nó: sự bùng nổ trong chi phí của chiến dịch tranh cử, đặc biệt do chuyển đổi từ quảng cáo truyền thông in ấn rẻ tiền sang quảng cáo truyền hình đắt tiền. Các chiến dịch đã dần dà được tài trợ chủ yếu bởi những nhóm lợi ích giàu có. Thời gian diễn ra chiến dịch tranh cử cũng là một sự bùng nổ khác, kéo dài từ lần bầu cử trước tới lần bầu cử sau. Hệ quả là, chính trị gia Mỹ buộc phải dành phần lớn thời gian (một nghị sĩ đã nghỉ hưu bạn tôi cho biết ông bỏ ra 80% thời gian) để kêu gọi gây quỹ và vận động chiến dịch thay vì cho nhiệm vụ quản lý; những công dân có trình độ cao không được khuyến khích chạy đua vào văn phòng chính phủ; và thông tin chiến dịch đầu tiên bị rút ngắn xuống còn 30 giây, sau đó là các tweet ngắn trên Twitter. Trái lại, mỗi cuộc tranh luận nổi tiếng giữa Abraham Lincoln và Stephen Douglas trước thềm tranh cử thượng nghị sĩ bang Illinois năm 1858 kéo dài tận sáu giờ đồng hồ. Trong khi rõ ràng chỉ một bộ phận cử tri Illinois theo dõi các cuộc tranh luận, thì nội dung của chúng đã được phổ biến rộng rãi trên báo chí. Không quốc gia nào sánh được với Mỹ trong chi phí và hoạt động không ngừng nghỉ của các chiến dịch chính trị. Ngược lại, ở Anh, luật pháp chỉ cho phép chiến dịch tranh cử diễn ra trước kỳ bầu cử vài tuần, và số tiền bỏ ra cho mục đích của chiến dịch cũng bị luật pháp hạn chế.

Vấn đề cốt yếu tiếp theo chính là sự bất bình đẳng. Hãy xem người Mỹ nghĩ gì về bình đẳng và bất bình đẳng ở Mỹ, làm sao đo đếm nó, và Mỹ được xếp hạng thế nào về bất bình đẳng và về sự dịch chuyển kinh tế-xã hội so với các nền dân chủ lớn khác. Và, nếu bất bình đẳng trỗi mạnh – thì sao? Nói cách khác, nếu thực sự nhiều người Mỹ nghèo đói, và cam chịu nghèo đói, thì dĩ nhiên là quá đáng buồn cho họ với tư cách cá nhân, nhưng – điều đó có tệ hại cho người giàu Mỹ, và cho toàn thể nước Mỹ không?

Khi được hỏi về bình đẳng và bất bình đẳng tại Mỹ, người dân Mỹ thường trả lời rằng bình đẳng là giá trị cốt lõi của Mỹ, như đã được nêu trong câu thứ hai của Tuyên ngôn Độc lập năm 1776: “Chúng ta khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng, tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng…” Xin lưu ý, tuy vậy, tuyên ngôn này không tuyên bố rằng tất cả đàn ông (và ngày nay, bao gồm cả phụ nữ) thực sự bình đẳng hoặc xứng đáng có thu nhập như nhau. Thay vào đó, tuyên ngôn chỉ tiếp tục nói rằng mọi người đều có một số quyền không thể bác bỏ. Nhưng ngay cả lời khẳng định giản dị đó cũng đã là một vấn đề lớn theo quan điểm của nhân loại năm 1776, là thời kỳ mà quý tộc, nông dân và tăng lữ ở các quốc gia châu Âu có những quyền lợi hợp khác nhau nhau, và nếu bị xét xử, họ sẽ xuất hiện ở những tòa án khác nhau. Như vậy, Tuyên ngôn Độc lập thực sự tôn vinh quyền bình đẳng về luật pháp như một giá trị cốt lõi của Mỹ, ít nhất là về mặt lý thuyết. Còn bất bình đẳng về kinh tế ở Mỹ thực sự là gì?

Bất bình đẳng kinh tế trong một quốc gia có thể được đo lường bằng nhiều cách. Một câu hỏi liên quan đến giá trị dùng để so sánh giữa mọi người là: tổng thu nhập trước thuế? Hay tổng thu nhập ròng, sau khi trừ đi các loại thuế, và bổ sung thanh toán an sinh xã hội và tem phiếu thực phẩm? Hay của cải hay tất cả tài sản của họ? Sự khác biệt ở từng cá nhân trong mỗi một giá trị trên cũng có thể được đo lường bằng nhiều cách, chẳng hạn như bằng hệ số Gini; bằng so sánh thu nhập của 1% số người giàu nhất với 1% số người nghèo nhất; bằng tính toán tỉ lệ phần trăm GDP thuộc về 1% số người giàu nhất; bằng tính toán tỉ lệ phần trăm tỉ phú trên dân số cả nước.

Hãy chỉ khoanh vùng đối chiếu với những nền dân chủ lớn, như vậy chúng ta sẽ không làm một cuộc so sánh khập khiễng giữa chế độ dân chủ với chế độ độc tài như Guinea Xích Đạo, nơi mà một người (tổng thống) sở hữu gần như toàn bộ thu nhập và tài sản quốc gia. Giữa những nền dân chủ lớn, có những sự khác biệt ở chỗ quốc gia nào được cho là bình đẳng nhất, còn phụ thuộc vào việc đo lường bình đẳng như thế nào. Tuy nhiên, đối với nền dân chủ lớn có sự bất bình đẳng cao nhất, mọi thông số so sánh và phép đo lường đều dẫn tới một kết luận chung: nền dân chủ lớn bất bình đẳng nhất chính là Mỹ. Điều đó đã tồn tại rất lâu, và bất bình đẳng trong xã hội Mỹ vẫn đang tiếp tục gia tăng.

Một vài con số về việc gia tăng sự bất bình đẳng của nền kinh tế Mỹ hiện nay được trích dẫn thường xuyên và trở nên quen thuộc. Chẳng hạn, số người Mỹ giàu nhất chiếm tỉ lệ thu nhập quốc dân không cân đối tăng từ 1% đến dưới 10% trong thập niên 1970 nay đã lên hơn 25%. Sự bất bình đẳng này cũng đang gia tăng ngay trong tầng lớp những người Mỹ giàu có: 1% người Mỹ giàu nhất đã tăng thu nhập của họ tương ứng nhiều hơn so với 5% người giàu nhất, trong đó có 0,1% người giàu nhất vượt trội hẳn; và giá trị tài sản ròng của ba người giàu nhất nước Mỹ (hiện tại là Jeff Bezos, Bill Gates và Warren Buffett) kết hợp lại bằng với giá trị tài sản ròng của 130 triệu người Mỹ nghèo nhất. Tỉ lệ số tỉ phú của Mỹ cao gấp đôi so với các nước dân chủ lớn có tỉ lệ cao nhất tiếp theo (Canada và Đức), và gấp bảy lần so với hầu hết các nước dân chủ lớn khác. Thu nhập trung bình của một CEO người Mỹ, vốn đã gấp 40 lần thu nhập của một người lao động trung bình trong cùng một công ty vào năm 1980, hiện nay gấp hàng trăm lần so với thu nhập của người lao động trung bình trong công ty. Ngược lại, trong khi tình trạng kinh tế của người Mỹ giàu vượt quá các nước dân chủ lớn khác, thì tình trạng kinh tế của người Mỹ nghèo lại thấp hơn so với các nước này.

Phân biệt giàu nghèo ngày càng sâu sắc là do có sự kết hợp giữa các chính sách của chính phủ Mỹ và thái độ của dân Mỹ. Về chính sách, “tái phân phối” ở Mỹ – nghĩa là chính sách trong việc chuyển tiền từ người giàu hơn sang người nghèo hơn – yếu ớt hơn so với các nước dân chủ lớn khác. Chẳng hạn, thuế suất thu nhập, phúc lợi xã hội và chi dùng tem phiếu hay trợ cấp dành cho người thu nhập hạn chế ở Mỹ tương đối thấp so với phần lớn các nước dân chủ giàu mạnh khác. Một trong những lý do đưa ra là niềm tin, vốn được phổ biến ở Mỹ hơn các nước khác, cho rằng người nghèo luôn nghèo vì đó là lỗi của họ, rằng họ chỉ trở nên giàu có nếu họ chịu khó làm việc, và rằng sự trợ giúp của chính phủ cho người thu nhập thấp (bằng tem phiếu thực phẩm chẳng hạn) bị lạm dụng tràn lan và khiến người nghèo trở nên giàu có một cách bất chính (gọi là “nữ hoàng phúc lợi”). Một phần lý giải nữa chính là các hạn chế đối với đăng ký bầu cử và bầu cử, và chi phí tài trợ chiến dịch mà tôi đã bàn trong phần trước. Những vấn đề này gây ra sự chênh lệch quyền lực chính trị về phía người giàu bằng cách tạo điều kiện cho họ hơn là những người nghèo trong việc đăng ký, bầu cử và gây ảnh hưởng tới các chính trị gia.

Liên quan mật thiết tới vấn đề bất bình đẳng kinh tế mà tôi vừa nêu chính là vấn đề dịch chuyển kinh tế-xã hội: nghĩa là khả năng các cá nhân Mỹ có thể vượt qua bất bình đẳng kinh tế, và người nghèo Mỹ có thể trở nên giàu có. Người Mỹ, hơn những công dân các quốc gia khác, tin rằng đất nước của họ thực sự là mảnh đất ưu đãi nhân tài, trong đó người dân nhận được phần thưởng xứng đáng với năng lực cá nhân của họ. Điều này được hình tượng hóa bằng một ngạn ngữ đúng chất Mỹ “làm giàu nhanh chóng”: người Mỹ tin rằng một di dân nghèo với hai bàn tay trắng có thể trở nên giàu có bằng năng lực và bằng sự siêng năng. Niềm tin trọng yếu đó có thực đúng không?

Một phương pháp mà các nhà xã hội học từng dùng để khảo nghiệm sự tin tưởng này chính là so sánh, giữa nhiều quốc gia khác nhau, các hệ số tương quan của thu nhập (hay các mức thu nhập của những người cùng thế hệ) của người trưởng thành và thu nhập của cha mẹ họ. Một hệ số tương quan 1,0 nói lên rằng thu nhập tương ứng của cha mẹ và con cái họ hoàn toàn tương ứng nhau: những người có thu nhập cao là con của những bậc cha mẹ có thu nhập cao, và những người có thu nhập thấp là con của những bậc cha mẹ có thu nhập thấp, con cái của những gia đình có thu nhập thấp không có cơ hội để đạt được thu nhập cao, và dịch chuyển kinh tế-xã hội khi đó là bằng không. Ở cực đối lập, nếu hệ số tương quan là bằng không, điều đó có nghĩa là con cái của những bậc cha mẹ có thu nhập thấp có cơ hội lớn để đạt được thu nhập cao như con cái của những bậc cha mẹ có thu nhập cao, và dịch chuyển kinh tế-xã hội khi đó ở mức cao.

Kết luận của những nghiên cứu như vậy cho thấy ở Mỹ, sự dịch chuyển kinh tế-xã hội thấp hơn, và hệ số tương quan thu nhập giữa các thế hệ trong gia đình cao hơn so với những nước dân chủ lớn khác. Chẳng hạn, 42% con cái của những người thuộc 20% nhóm nghèo nhất của thế hệ trước sẽ rơi vào 20% nghèo nhất của chính thế hệ họ, trong khi chỉ 8% con cái của những người nghèo nhất này thực hiện được sự đổi đời bằng cách lọt vào nhóm 20% giàu nhất. Các tỉ lệ trên ở các nước vùng Scandinavia vào khoảng 26% (thấp hơn so với 42% của Mỹ) và 13% (cao hơn so với 8% của Mỹ).

Buồn thay, vấn đề càng lúc càng trầm trọng thêm: bất bình đẳng kinh tế gia tăng, và dịch chuyển kinh tế-xã hội giảm đi trong những thập niên vừa qua ở Mỹ. Chính quyền Mỹ ở mọi cấp độ càng lúc càng bị người giàu thao túng, kết quả là các điều luật được chính quyền thông qua (như điều khoản đăng ký bầu cử và chính sách thuế) chỉ ủng hộ người giàu, khiến cho các ứng viên được người giàu hậu thuẫn càng dễ thắng trong các kỳ tranh cử sắp tới và rồi lại thông qua nhiều luật ủng hộ người giàu hơn, khiến cho chính quyền Mỹ càng ngày càng chịu ảnh hưởng hơn… gây ra hệ quả là… v.v. Điều này nghe có vẻ là một trò đùa tệ hại, nhưng đó là một sự thật của lịch sử Mỹ gần đây.

Nói tóm lại, niềm tin của người Mỹ vào tính khả thi của sự đổi đời chỉ là một huyền thoại. Con đường đổi đời ở Mỹ kém khả thi hơn những nước dân chủ lớn khác. Lời giải thích xem chừng thỏa đáng chính là cha mẹ giàu có xu hướng học hành đàng hoàng sẽ đầu tư tiền của nhiều hơn vào giáo dục, và mang lại nhiều cơ hội nghề nghiệp ưu thế hơn cho con so với cha mẹ nghèo. Chẳng hạn, con cái của gia đình Mỹ khá giả có khả năng hoàn thành bậc đại học cao gấp mười lần so với con cái nhà nghèo. Như Richard Reeves và Isabel Sawhill từng viết, “Hãy chọn cha mẹ bạn một cách cẩn trọng!”

Giờ hãy quay lại với câu hỏi mà tôi đã đặt ra ở đầu thảo luận về bất bình đẳng. Thừa nhận rằng đó là một vấn đề đạo đức nghiêm trọng, và đó là điều thật đáng tiếc cho những cá nhân không may nghèo đói – vậy thì sao? Nó cũng và một vấn đề kinh tế và an ninh của Mỹ nói chung? Nó có gây ra bất kỳ tổn hại nào đối với những người Mỹ giàu có đang sống giữa những người Mỹ nghèo không?

Tôi nghẹn ngào khi đặt ra câu hỏi ích kỷ về sự tổn hại. Có phải chỉ vấn đề đạo đức là đủ lý do liên quan tới bất bình đẳng? Nhưng sự thật tàn khốc là con người bị điều khiển không chỉ bởi sự cân nhắc đạo đức mà còn bởi tư lợi. Nhiều người Mỹ khá giả sẽ quan tâm hơn đến bất bình đẳng nếu họ nhận ra điều đó ảnh hưởng một cách cá nhân đến họ, giống như nó là một vấn đề đạo đức trừu tượng.

Vợ tôi và tôi đã nhận được một câu trả lời cá nhân cho câu hỏi “Thì sao nào?” vào ngày 29 tháng 4 năm 1992, sau khi chúng tôi để lũ trẻ ở nhà với cô trông trẻ, đáp máy bay từ Los Angeles tới khách sạn Chicago để tham dự một cuộc hội thảo. Khi chúng tôi gặp gỡ bạn bè ở sảnh khách sạn, họ nói, “Về phòng của các bạn và bật tivi lên. Các bạn sẽ không thích điều các bạn thấy đâu.” Chúng tôi làm theo, mở tivi, và thấy rằng bạo loạn không kiểm soát, cướp bóc, hỏa hoạn, và giết chóc (được gọi là những cuộc bạo loạn Rodney King) đã nổ ra ở các quận thiểu số nghèo đói thuộc trung tâm Los Angeles và đang lan rộng khắp đường phố ra vùng lân cận (Ảnh 10.1). Ngay lúc đó, chúng tôi đoán rằng bọn trẻ đang ở trong xe hơi với cô trông trẻ, và đang trên đường từ trường về nhà. Chúng tôi trải qua mấy giờ đồng hồ lo sợ cho tới khi cô trông trẻ gọi điện xác nhận rằng cô ấy và lũ trẻ đã về nhà an toàn. Tất cả những điều mà cảnh sát LA với lực lượng áp đảo có thể làm để bảo vệ các khu vực giàu có của LA khỏi những kẻ nổi loạn là chăng những dải băng nhựa vàng của cảnh sát để phong tỏa các con phố chính.

Trong dịp đặc biệt đó, người nổi loạn không tấn công những quận giàu có hơn, và trong các cuộc bạo động lớn ở khu Watts thuộc LA năm 1965 họ cũng không làm điều này. (Cả cuộc bạo loạn Rodney King và bạo động khu Watts đều là bạo loạn sắc tộc, được kích động bởi sự kỳ thị chủng tộc dẫn tới bất bình đẳng kinh tế và cảm giác tuyệt vọng.) Nhưng một điều có thể chắc chắn là tương lai sẽ có thêm nhiều bạo động ở LA và nhiều thành phố lớn khác của Mỹ. Với việc bất bình đẳng gia tăng, kỳ thị chủng tộc dai dẳng, và dịch chuyển kinh tế-xã hội sụt giảm, những người Mỹ nghèo hơn sẽ nhận thấy phần lớn con cái họ ít có cơ hội kiếm được thu nhập tốt hoặc thậm chí là để cải thiện chút ít tình trạng kinh tế của họ. Trong tương lai dự đoán được, Mỹ sẽ nếm trải những cuộc bạo loạn ở đô thị mà nơi đó, băng cách ly của cảnh sát sẽ không đủ sức ngăn chặn người nổi loạn trút bỏ sự thất vọng lên những người giàu có. Đến khi đó, nhiều người Mỹ khá giả sẽ nhận được câu trả lời của chính họ cho câu hỏi, “Việc những người Mỹ giàu có sống giữa những người Mỹ nghèo có gây ra bất kỳ tổn hại nào không?” Câu trả lời là: có, nó gây ra bất ổn cá nhân.

Dẫu cho những người Mỹ giàu có sống ở một khoảng cách an toàn xa những người bạo loạn thì họ vẫn sẽ nhận được một câu trả lời khác cho câu hỏi “Thì sao nào?” – một câu trả lời ít cuồng bạo hơn, nhưng vẫn tác động ghê gớm lên túi tiền và lối sống của họ. Câu trả lời này bao hàm vấn đề còn lại trong bốn vấn đề cốt lõi mà nước Mỹ đang phải đối diện: những hệ quả kinh tế của suy thoái đầu tư Mỹ trong vốn nhân lực và các mục đích công lợi khác. Những hệ quả này sẽ được cảm nhận bởi mọi tầng lớp dân chúng Mỹ, bao gồm cả những người giàu có.

Sự cần thiết của việc đầu tư vào một tương lai nào đó, của cá nhân hay quốc gia, là hiển nhiên. Nếu hiện nay ta giàu nhưng chỉ để tiền đó mà không đầu tư, hay đầu tư không khôn ngoan, thì chỉ còn là vấn đề thời gian trước khi ta không còn giàu nữa. Điều này có thực sự liên quan gì đến nước Mỹ hiện nay không?

Câu trả lời đầu tiên có thể là: Dĩ nhiên không! Nhiều người coi đầu tư tư nhân của Mỹ rất cao, táo bạo, sáng tạo, và cực kỳ sinh lợi. Ở Mỹ, việc nhận được nguồn vốn khởi nghiệp và thử nghiệm ý tưởng thương mại tiềm năng là khá dễ so với những nước khác. Như chúng ta đã thấy Microsoft, Facebook, Google, Paypal, Uber và nhiều doanh nghiệp Mỹ khác chỉ vừa mới thành lập nhưng đã là những gã khổng lồ của thế giới. Thông qua bạn bè trong lĩnh vực đầu tư mạo hiểm, tôi đã thấy được lý do tại sao đầu tư tư nhân của Mỹ lại thành công đến vậy.

Vốn đầu tư mạo hiểm lên đến hàng triệu (hoặc hàng trăm triệu) đô la, họ chia nhỏ đầu tư cho rất nhiều doanh nghiệp mới hình thành. Phần lớn những doanh nghiệp đó sẽ thất bại, nhưng có một hoặc vài doanh nghiệp có thể thành công ở quy mô lớn đem lại lợi nhuận khổng lồ cho các nhà đầu tư ban đầu. Những ý tưởng mà các bạn tôi làm trong đầu tư mạo hiểm khi bỏ ra số vốn khổng lồ không những đa dạng ở mặt công nghệ tài chính mà còn là những ý tưởng có mức rủi ro cực cao. Sự thuận lợi trong việc nhận vốn đầu tư khởi nghiệp tư nhân chính là một lý do lớn cho sự thống trị của Mỹ trong sự phát triển bùng nổ các doanh nghiệp mới.

Để minh họa cho sự dễ dàng này, tôi sẽ liệt kê tám ý tưởng mà hơn chục năm trước tôi từng coi là điên khùng và có nguy cơ thất bại cao. Hai trong tám ý tưởng đó (tôi gọi là loại A) giờ đây đã trở nên rất thành công và tạo ra các doanh nghiệp đáng giá hàng chục tỉ đô la; hai ý tưởng (loại B) từng thu hút những nhà đầu tư giàu có nhưng không cho thấy thành công; hai ý tưởng (loại C) từng cho thấy thành công và thu hút vốn đầu tư mạo hiểm nhưng không (chưa) phải là doanh nghiệp lớn; và hai ý tưởng (loại D) mà giờ đây tôi cho là lừa bịp và không thu hút được vốn đầu tư nào (theo như tôi biết). Những ý tưởng đó là: 1. Một loại máy điện từ chống cá mập dành cho người bơi; 2. Một vòng cổ chó truyền điện từ cho biết hoạt động của con chó cũng như vị trí của nó hệt với máy GPS; 3. Công nghệ cấy DNA trong tử cung cho phép con chó của bạn đẻ ra một con cáo lông bạc giá trị; 4. Một phương tiện xã hội cho phép bạn đăng ảnh và văn bản trực tuyến nhưng tự động xóa chúng trong vòng 24 tiếng; 5. Một cái kén vận chuyển người với tốc độ máy bay trong các ống chân không; 6. Công nghệ cho phép bạn cho một người xa lạ thuê một căn phòng trong nhà bạn, nếu bạn thực sự muốn làm như vậy; 7. Công nghệ làm lạnh xác ngay khi bạn vừa qua đời, như vậy bạn có thể được làm sống lại trong tương lai khi các bác sĩ tìm ra cách chữa căn bệnh đã giết chết bạn; và 8. Một hóa chất phun lên da bạn cho phép bạn “thở”dưới nước suốt 15 phút.

Bạn có thể phân loại những ý tưởng này theo A, B, C, D một cách chuẩn xác không? Tôi cá rằng ít người trong số bạn đọc phân loại đúng hết tám ý tưởng này.11 Điều đó nói lên rằng cho dù những ý tưởng ban đầu nghe có vẻ rất điên khùng nhưng vẫn thu hút được vốn khởi nghiệp ở Mỹ, vẫn có cơ hội để thể hiện, và (nếu thành công) có thể mở rộng ra thế giới như những doanh nghiệp nhiều tỉ đô la.

Một lý do khác để bác bỏ những lo lắng ban đầu liên quan đến đầu tư Mỹ vào tương lai chính là sự vượt trội của khoa học và kỹ thuật ở Mỹ, thứ chiếm 40% sản lượng kinh tế Mỹ: tỉ lệ cao nhất trong tất cả các nền dân chủ. Mỹ dẫn đầu thế giới về các bài báo khoa học chất lượng cao trong mọi lĩnh vực chính của khoa học: hóa học, vật lý, sinh học, khoa học Trái đất và môi trường. Phân nửa các viện nghiên cứu khoa học và công nghệ đứng đầu thế giới là của Mỹ. Mỹ dẫn đầu thế giới về chi phí tuyệt đối cho nghiên cứu và phát triển (dù không phải là chi phí tương đối: Israel, Hàn Quốc và Nhật Bản đều có tỉ lệ phần trăm GDP đầu tư cho khoa học và kỹ thuật cao hơn Mỹ.) Bên cạnh những lý do tích cực thì vẫn có một lý do bi quan đối với đầu tư của Mỹ cho tương lai: đầu tư công lợi của chính phủ Mỹ sụt giảm, như trong các lĩnh vực giáo dục, cơ sở hạ tầng, nghiên cứu và phát triển phi quân sự; và chi tiêu vô tội vạ của chính phủ cho những mục tiêu không mang lại lợi ích kinh tế. Các phân khúc ngày càng lớn của dân chúng Mỹ ngày nay chế giễu đầu tư của chính phủ là “chủ nghĩa xã hội.” Ngược lại, đầu tư của chính phủ là một trong hai chức năng lâu đời nhất của chính phủ. Kể từ khi những chính quyền đầu tiên hình thành cách đây 5.400 năm, họ đã thực hành hai chức năng chính: giữ hòa bình nội bộ bằng độc chiếm quyền lực, giải quyết tranh chấp và ngăn cấm công dân sử dụng bạo lực để tự giải quyết tranh chấp với nhau; tái phân phối tài sản cá nhân để đầu tư cho các mục tiêu lớn hơn – trong trường hợp xấu nhất, là làm giàu cho tầng lớp thượng lưu; trong trường hợp tốt nhất, là phát huy lợi ích của toàn xã hội. Dĩ nhiên, phần lớn đầu tư là của tư nhân, do các cá nhân và các công ty giàu có mong muốn thu lợi từ đầu tư của họ. Nhưng nhiều lợi nhuận tiềm năng không thể thu hút được đầu tư tư nhân, bởi lẽ lợi nhuận đó nằm quá xa trong tương lai (như lợi nhuận từ giáo dục phổ cập tiểu học), hoặc vì lợi nhuận bị phân tán cho toàn xã hội thay vì tập trung trong các lĩnh vực mang lại lợi nhuận cho nhà đầu tư tư nhân (như những lợi nhuận của sở cứu hỏa, thị chính, đường bộ, và giáo dục phổ cập). Ngay cả những người Mỹ ủng hộ nhiệt thành nhất cho một chính quyền nhỏ cũng không lên án kinh phí của sở cứu hỏa, cao tốc liên bang, và giáo dục công là “chủ nghĩa xã hội.”

Kết quả là Mỹ đang mất đi ưu thế cạnh tranh dựa trên một lực lượng lao động có giáo dục, trên khoa học và kỹ thuật. Ít ra có ba xu thế đang góp phần vào tình trạng suy thoái này: sự giảm thiểu chi phí dành cho giáo dục, kết quả yếu kém mà chúng ta nhận được từ số tiền đầu tư cho giáo dục, và sự chênh lệch lớn về chất lượng giáo dục mà người Mỹ thụ hưởng.

Quỹ đầu tư giáo dục của chính phủ (đặc biệt là giáo dục bậc cao) đã giảm xuống kể từ đầu thế kỷ này. Bất chấp dân số tăng lên, ngân sách giáo dục chỉ tăng 1/25 so với ngân sách dành cho nhà tù, đến mức hàng chục bang Mỹ ngày nay đang chi cho hệ thống nhà tù nhiều hơn là cho hệ thống giáo dục bậc cao.

Xu hướng thứ hai liên quan đến sự suy giảm năng lực của sinh viên Mỹ so với tiêu chuẩn thế giới. Trong toán học, kiến thức khoa học và điểm kiểm tra, sinh viên Mỹ ngày nay bị xếp hạng thấp trong số những nền dân chủ lớn. Điều đó thật nguy hiểm, bởi lẽ nền kinh tế Mỹ quá phụ thuộc vào khoa học và công nghệ, và vì giáo dục toán học và khoa học cộng với nhiều năm đèn sách là những yếu tố hàng đầu của sự phát triển kinh tế quốc gia. Nhưng chi phí giáo dục dành cho mỗi sinh viên dù sụt giảm nhưng vẫn cao hơn mặt bằng chung thế giới. Điều đó có nghĩa là nước Mỹ đang đầu tư không hiệu quả vào giáo dục. Tại sao?

Một phần lớn của câu trả lời chính là, ở Hàn Quốc, Phần Lan, Đức, và nhiều nước dân chủ khác, nghề dạy học thu hút được những sinh viên giỏi nhất, bởi vì giáo viên được trả lương cao và có địa vị xã hội cao, dẫn đến tình trạng ít luân chuyển nghề nghiệp ở giáo viên. Thí sinh Hàn Quốc muốn trở thành giáo viên tiểu học phải có điểm số thuộc top 5% trong kỳ thi đại học toàn quốc, và cứ mỗi một vị trí dạy học bậc trung học lại có 12 giáo viên ứng tuyển. Ngược lại, giáo viên Mỹ có mức lương tương đối thấp nhất (nghĩa là tương quan với mức lương trung bình của mọi ngành nghề) trong số các nước dân chủ lớn. Ở bang Montana của Mỹ, nơi vợ tôi và tôi thường tới nghỉ hè mỗi năm, lương của giáo viên gần như ở mức thê thảm, và giáo viên phải làm thêm một, hai công việc khác ngoài giờ (ví dụ đóng gói trong các siêu thị) để có thể duy trì cuộc sống. Mọi giáo viên ở Hàn Quốc, Singapore và Phần Lan đều nằm trong số một phần ba tổng học sinh xếp đầu lớp khi còn đi học, nhưng gần nửa giáo viên Mỹ lại nằm trong một phần ba tổng học sinh xếp hạng cuối. Trong suốt 53 năm tôi dạy học ở Đại học California, Los Angeles, một trường thu hút nhiều sinh viên giỏi, chỉ có duy nhất một sinh viên nói với tôi rằng cậu ấy muốn sau này trở thành giáo viên.

Xu hướng còn lại góp phần làm giảm nguồn lực có trình độ chính là sự chênh lệch lớn trong giáo dục Mỹ, ở cấp độ giữa và ngay trong các bang. Khác với phần lớn các nước dân chủ phát triển, nơi chính phủ quốc gia tài trợ cho giáo dục và thiết lập tiêu chuẩn, ở Mỹ trách nhiệm này thuộc về các bang và chính quyền địa phương. Chi phí dành cho mỗi sinh viên đại học công chênh lệch đến 11 lần giữa các bang, tùy thuộc vào mức độ giàu có, thuế thu nhập, và triết lý chính trị của bang đó. Ngay trong một bang, chi phí này cũng thay đổi tùy theo khu vực: những quận nghèo và những bang nghèo hơn thì có ít trường được đài thọ tử tế hơn. Thực tế này có xu hướng làm cho sự chênh lệch địa lý trong nghèo đói ở Mỹ tự kéo giãn, bởi lẽ giáo dục vô cùng quan trọng đối với hiệu suất kinh tế. Chất lượng giáo dục cũng rất khác biệt giữa trường công và trường tư trong cùng một quận, vì trường tư thu học phí thì thu hút con em nhà giàu, trả lương cho giáo viên hậu hĩnh hơn, lớp học ít sinh viên hơn, và cung cấp một nền giáo dục tốt hơn nhiều. Điều này không tồn tại ở Phần Lan, nơi chính phủ quốc gia tự trả lương cho giáo viên của trường tư cũng như trường công hậu hĩnh như nhau, vì vậy, phụ huynh Phần Lan (khác với phụ huynh Mỹ) không thể bỏ tiền mua một nền giáo dục tốt hơn cho con của họ bằng cách gửi chúng vào trường tư.

Thông điệp mang lại của việc chính phủ Mỹ giảm đầu tư vào trường công là gì, và thông điệp của sự chênh lệnh đáng kể giữa những cơ hội thụ hưởng nền giáo dục dành cho trẻ em Mỹ là gì? Điều đó có nghĩa là Mỹ đang hạn chế đầu tư vào tương lai của hầu hết người Mỹ. Trong khi Mỹ có số dân đông nhất trong số các nước dân chủ giàu có, phần lớn người dân lại không được đào tạo kỹ năng để làm động lực cho sự phát triển kinh tế quốc gia. Nhưng Mỹ đang phải cạnh tranh với những nước như Hàn Quốc, Đức, Nhật và Phần Lan, là những nước đầu tư cho giáo dục của tất cả con em họ. Nếu bạn thấy hiển nhiên vì những nước đó có dân số thấp hơn Mỹ – chẳng hạn, nếu bạn cảm thấy 20% học sinh Mỹ vẫn nhỉnh hơn 100% học sinh Hàn Quốc – thì hãy nhớ rằng Trung Quốc, đất nước có dân số gấp năm lần Mỹ, hiện đang tiến hành một chương trình gấp rút nhằm cải thiện cơ hội thụ hưởng giáo dục cho con em họ. Đó là điềm xấu cho tương lai của ưu thế cạnh tranh mà nền kinh tế Mỹ vốn sở hữu cho đến tận lúc này.

Tất cả những sự thật này nêu lên một nghịch lý. Mỹ là quốc gia giàu nhất thế giới. Vậy tiền của nước Mỹ đi đâu nếu nó không được chính phủ đầu tư vào tương lai của chính mình?

Một phần câu trả lời là phần lớn tiền nằm trong túi người đóng thuế; gánh nặng thuế của Mỹ thấp hơn so với phần lớn các nền dân chủ giàu có khác. Phần khác của câu trả lời là phần lớn thuế của Mỹ sẽ được chính phủ đầu tư cho nhà tù, quân đội và y tế. Trong cả ba lĩnh vực này, chi tiêu của Mỹ vượt xa các nền dân chủ lớn khác. Không ai có thể cho rằng nhà tù của Mỹ, trong đó nhấn mạnh đến hình phạt và răn đe thay vì cải tạo và huấn luyện lại, là những khoản đầu tư vào tương lai. Chắc chắn, chi tiêu quân sự là những cuộc đầu tư cho tương lai: nhưng tại sao Mỹ phải đổ tiền nhiều hơn so với Liên minh Châu Âu, trong khi dân số của họ gần gấp đôi của Mỹ, nhưng chi phí quân sự của họ để đảm bảo tương lai lại do Mỹ gánh một cách mất cân xứng? Đối với chi tiêu y tế, coi đó là đầu tư cho tương lai có vẻ thật tự nhiên – cho đến khi ta xem xét việc sử dụng và kết quả đầu tư đó. Về kết quả đầu tư y tế, Mỹ xếp dưới tất cả các nước dân chủ lớn, dựa vào các chỉ số như tuổi thọ, tỉ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh, và tỉ lệ tử vong ở người mẹ. Đó là vì chi tiêu lớn liên quan đến y tế của Mỹ cho những mục đích không mang lại kết quả cao về sức khỏe, chẳng hạn các công ty bảo hiểm đánh phí bảo hiểm cao, chi phí hành chính cao, giá thuốc kê đơn cao, phí bảo hiểm thuốc sai và thuốc cấm cao, và phòng cấp cứu đắt tiền với phần lớn dân số không có bảo hiểm không đủ khả năng hưởng dịch vụ không khẩn cấp.

Chúng ta đã bắt đầu hai chương về Mỹ bằng cách liệt kê các thế mạnh quốc gia. Sau đó chúng ta đã thảo luận theo quan điểm của tôi về những vấn đề nghiêm trọng nhất đang diễn ra. Hãy kết thúc những chương đó bằng việc nhìn vào những vấn đề trong khung biến cố và thay đổi của cuốn sách này.

Trong số 12 nhân tố được liệt kê ở Bảng 1.2, nhân tố nào thúc đẩy, và nhân tố nào cản trở triển vọng giải quyết các vấn đề bằng cách áp dụng những thay đổi có chọn lọc? Động lực của tôi trong việc sử dụng khuôn khổ này cho Mỹ không chỉ vì lợi ích học thuật, mà còn là hi vọng mang đến cho người Mỹ một số hướng dẫn trong việc tìm ra giải pháp. Nếu ta có thể hiểu rõ các nhân tố cản trở tìm kiếm, thì nhận thức đó có thể giúp ta tập trung tìm cách ứng phó với những cản trở kia.

Những nhân tố khích lệ một kết quả tốt đẹp bao gồm các ưu thế vật chất hoặc một phần vật chất, và các ưu thế văn hóa. Một tập hợp các ưu thế một phần vật chất bao gồm ưu thế nhân khẩu học với dân số cao; ưu thế địa lý với lãnh thổ rộng lớn, vị trí ôn đới, đất đai màu mỡ, đường thủy nội địa và ven biển sâu rộng; ưu thế chính trị với nền dân chủ liên bang, dân sự kiểm soát dân sự, và tham nhũng tương đối thấp; ưu thế lịch sử về cơ hội cá nhân, đầu tư của chính phủ, và sự hợp nhất người nhập cư. Đó là những lý do chính khiến Mỹ ngày nay, và trong một thời gian dài, là cường quốc số một và là nền kinh tế lớn nhất thế giới. Một tập hợp các ưu thế hoàn toàn vật chất khác chính là tập hợp của các ưu thế địa lý mang lại cho nước Mỹ sự tự do lựa chọn tuyệt vời nhất (nhân tố số 12, Bảng 1.2) so với bất kỳ quốc gia nào trên thế giới: đại dương mênh mông bảo vệ nước Mỹ ở hai phía, và biên giới đất liền không có sự đe dọa và các nước láng giềng thưa thớt dân cư bảo vệ chúng ta ở hai phía còn lại. Do đó, Mỹ không có nguy cơ bị xâm lược trong tương lai gần, nhưng trái lại, hai trong số sáu nước được bàn luận trong sách này (Đức và Nhật) từng bị thôn tính và chiếm đóng cách đây không lâu, và hai nước khác (Phần Lan và Úc) từng bị tấn công. Nhưng tên lửa đạn đạo liên lục địa, toàn cầu hóa kinh tế, và sự di cư dễ dãi không kiểm soát nhờ giao thông vận tải hiện đại giờ đây đã làm giảm đi sự tự do mà nước Mỹ có được từ những ràng buộc về địa lý trước đây.

Về ưu thế văn hóa, một trong số đó là ý thức mạnh mẽ về căn tính quốc gia (nhân tố số 6). Trong suốt lịch sử đất nước, hầu hết người Mỹ đều cho rằng nước Mỹ là duy nhất, tuyệt vời, và là một quốc gia đáng tự hào. Những người không phải là người Mỹ thường bình luận về sự lạc quan và thái độ “tích cực”của người Mỹ: họ nhìn nhận vấn đề như một sự tồn tại cần được giải quyết.

Ưu thế văn hóa khác của Mỹ chính là tính linh hoạt (nhân tố số 10), tự thân nó được thể hiện qua nhiều cách. Người Mỹ chuyển nhà trung bình năm năm một lần, nhiều hơn công dân của các nước dân chủ khác mà tôi nói đến. Sự chuyển giao quyền lực giữa hai đảng phái lớn nhất thường xuyên diễn ra, với chín lần ở cấp tổng thống trong vòng 70 năm qua. Lịch sử lâu dài của việc duy trì đồng thời hai đảng phái chính trị lớn – đảng Dân chủ kể từ năm 1820, và đảng Cộng Hòa từ năm 1854 – thực sự là dấu hiệu của sự linh hoạt hơn là cứng nhắc. Đó là bởi vì, bất cứ khi nào có một đảng thứ ba manh nha hoạt động (như đảng Bull Moose của Theodore Roosevelt, đảng Tiến bộ của Henry Wallace, và đảng Độc lập Mỹ của George Wallace), thì nó cũng sớm phai nhạt vì đường lối của nó sẽ bị sáp nhập một phần vào một trong hai đảng lớn. Tính linh hoạt liên quan đến giá trị cốt lõi cũng là một nét đặc trưng của Mỹ. Một mặt, yêu sách giá trị cốt lõi (nhân tố số 11) về tự do, bình đẳng và dân chủ không được đàm phán chính thức (mặc dù có những điểm mù trong việc áp dụng các giá trị đó). Mặt khác, Mỹ trong 70 năm qua đã vứt bỏ những giá trị lâu bền bị coi là lỗi thời: chính sách cô lập ngoại giao đã bị gạt sang một bên sau Thế chiến II, và sự kỳ thị phụ nữ cũng như phân biệt chủng tộc đã thoái trào từ năm 1950.

Bây giờ, hãy nói về những hạn chế. Những bước đầu tiên của bất kỳ quốc gia nào trong việc giải quyết biến cố chính là đạt được sự đồng thuận rằng quốc gia đó đang thực sự đối mặt với biến cố (nhân tố số 1); nhận trách nhiệm về các vấn đề của họ (nhân tố số 2), thay vì đổ lỗi cho “người khác”(các quốc gia hoặc các nhóm khác trong cùng một quốc gia); và thực hiện một sự tự đánh giá trung thực về những gì đang tốt và không tốt (nhân tố số 7). Nước Mỹ vẫn chưa thống nhất được trong những bước đầu tiên này. Trong khi người Mỹ ngày càng quan tâm đến điều kiện quốc gia, thì chưa có một sự đồng thuận quốc gia về những việc sai lầm. Tự đánh giá trung thực không đủ. Không có một sự công nhận rộng rãi rằng những vấn đều cơ bản là sự phân cực, tỉ lệ cử tri và những trở ngại trong đăng ký bầu cử, bất bình đẳng và dịch chuyển kinh tế-xã hội, suy thoái đầu tư chính phủ vào giáo dục và công lợi. Rất nhiều chính trị gia Mỹ và cử tri đang làm việc vất vả để khiến cho những vấn đề đó tồi tệ hơn thay vì giải quyết chúng. Rất nhiều người Mỹ tìm cách đổ lỗi cho người khác: những đích ngắm ưa thích gồm có Trung Quốc, Mexico và những người nhập cư bất hợp pháp.

Những người Mỹ khá giả và có tầm ảnh hưởng với quyền lực không cân xứng có xu thế nhận thấy điều gì đó không ổn, nhưng thay vì dùng của cải và quyền lực để tìm kiếm giải pháp, họ lại tìm cách đưa chính họ và gia đình trốn chạy khỏi những vấn đề của xã hội Mỹ. Các chiến lược trốn chạy đang được ưa chuộng gồm có mua bất động sản ở New Zealand (quốc gia tách biệt nhất thuộc Thế giới Thứ nhất), hoặc chuyển đổi các hầm phóng tên lửa bỏ hoang của Mỹ thành những boong-ke tiện nghi xa hoa (Ảnh 10.2). Nhưng một nền tiểu văn minh xa hoa trong boong-ke, hoặc thậm chí là một xã hội tách biệt thuộc Thế giới Thứ nhất ở New Zealand có thể sống sót được bao lâu nếu nước Mỹ bên ngoài sụp đổ: Vài ngày? Vài tuần? Thậm chí vài tháng? Quan điểm này được gói gọn trong đoạn trao đổi cay đắng sau:

Hỏi: Bao giờ nước Mỹ mới nhìn nhận các vấn đề của họ một cách nghiêm túc?

Đáp : Khi người Mỹ giàu có và quyền lực bắt đầu cảm thấy không an toàn về mặt thể chất.

Về câu trả lời này, tôi muốn thêm rằng: khi người Mỹ giàu có và quyền lực nhận ra không điều gì họ làm có thể giữ cho họ an toàn về thể chất, nếu hầu hết những người Mỹ khác vẫn giận dữ, thất vọng, và thực sự vô vọng. Một bất lợi lớn khác đó là: trong số hàng chục dự đoán ứng phó thành công (Bảng 1.2), dự đoán không thể hiện rõ chất Mỹ nhất chính là sự tự nguyện học hỏi từ những hình mẫu ứng phó luân phiên mà những quốc gia khác đã làm (nhân tố số 5). Sự khước từ học hỏi này liên quan đến niềm tin vào “chủ nghĩa biệt” Mỹ: nghĩa là, niềm tin rằng nước Mỹ độc nhất đến nỗi chẳng điều gì xảy ra ở nước khác lại có thể áp dụng cho nước Mỹ. Dĩ nhiên chuyện đó thật ngớ ngẩn: mặc dù Mỹ thực sự khác biệt về nhiều mặt, nhưng mọi con người, mọi xã hội, mọi chính quyền và mọi nền dân chủ đều có những đặc điểm chung cho phép mỗi người học được từ người khác một điều gì đó.

Đặc biệt, người hàng xóm Canada, cũng như Mỹ, là một nền dân chủ giàu mạnh với lãnh thổ rộng lớn, mật độ dân số thấp, tiếng Anh là ngôn ngữ phổ biến, tự do lựa chọn bắt nguồn từ các rào cản địa lý phòng vệ, nguồn tài nguyên khoáng sản dồi dào, và dân số đa phần là người nhập cư đến từ năm 1600. Mặc dù vai trò trên thế giới của Canada khác với vai trò của Mỹ, nhưng cả Canada và Mỹ đều có chung những vấn đề nhân đạo toàn cầu. Rất nhiều những đường lối xã hội và chính trị của Canada khác biệt đáng kể so với Mỹ, chẳng hạn như liên quan đến các kế hoạch y tế quốc gia, nhập cư, giáo dục, nhà tù, và cân bằng giữa lợi ích cộng đồng và cá nhân. Một vài vấn đề mà người Mỹ coi như không hóa giải được thì người Canada lại giải quyết theo cách nhận được sự ủng hộ rộng rãi của công chúng. Chẳng hạn, tiêu chí xét duyệt dân nhập cư của Canada chi tiết và hợp lý hơn của Mỹ. Do đó, 80% người Canada cho rằng dân nhập cư có lợi cho nền kinh tế Canada – khác xa với sự chia rẽ trong xã hội Mỹ về nhập cư. Nhưng sự ngó lơ của Mỹ đối với người láng giềng Canada thật đáng kinh ngạc. Bởi vì hầu hết người Canada nói tiếng Anh, sống ngay cạnh nước Mỹ, và cùng chia sẻ với Mỹ cùng một hệ thống mã vùng điện thoại, nên nhiều người Mỹ thậm chí không nghĩ rằng Canada là một thực thể riêng biệt. Họ không nhận ra Canada khác biệt như thế nào, và người Mỹ có thể học hỏi được bao nhiêu từ những mô hình của Canada nhằm giải quyết những vấn đề nan giải.

Quan điểm của người Mỹ về Tây Âu thoạt tiên không giống như quan điểm về Canada. Rõ ràng Tây Âu khác với Mỹ, theo kiểu không rõ ràng như Canada trong mắt chúng ta. Không giống Canada, Tây Âu ở xa Mỹ, mất ít nhất năm giờ bay để đến được đó thay vì một chuyến chạy xe ngắn, họ chủ yếu nói nhiều ngôn ngữ thay vì sử dụng tiếng Anh như ngôn ngữ thứ nhất, và có một lịch sử lâu đời không phải chỉ dựa trên những lớp người di dân mới đây. Tuy nhiên, các quốc gia Tây Âu là những nền dân chủ giàu có, đối mặt với những vấn đề tương tự như Mỹ về y tế, giáo dục, nhà tù và nhiều vấn đề khác, mà họ luôn giải quyết theo các hướng khác biệt. Đặc biệt, các chính phủ châu Âu hỗ trợ y tế, giao thông công cộng, giáo dục, người cao tuổi, nghệ thuật, và nhiều khía cạnh khác của đời sống bằng nguồn đầu tư của chính phủ với các chính sách kiểu “xã hội chủ nghĩa” mà người Mỹ có xu hướng gạt bỏ. Mặc dù thu nhập bình quân đầu người ở Mỹ cao hơn một chút so với hầu hết các nước châu Âu, nhưng tuổi thọ trung bình và mức độ hài lòng cá nhân ở Tây Âu vẫn luôn cao hơn Mỹ.

Điều này cho thấy các mô hình Tây Âu có thể dạy cho nước Mỹ khá nhiều. Nhưng lịch sử gần đây của Mỹ không có mấy phái đoàn được chính quyền gửi qua học tập mô hình Tây Âu và Canada, tương tự như các phái đoàn chính phủ Nhật Bản thời Minh Trị đã làm. Đó là bởi vì niềm tin rằng phương pháp của Mỹ ưu việt hơn của Tây Âu và Canada, và Mỹ là một trường hợp đặc biệt mà các giải pháp của Tây Âu và Canada không thể nào áp dụng được. Thái độ tiêu cực đó tước đi lựa chọn mà rất nhiều cá nhân và quốc gia đã thấy hữu ích trong việc giải quyết biến cố: học hỏi từ những hình mẫu mà những nước khác đã giải quyết các biến cố tương tự.

Hai nhân tố còn lại tạo thành một bất lợi nhỏ và một thông điệp kết hợp. Bất lợi nhỏ là người Mỹ đã không được tôi luyện để khoan dung cho sự bấp bênh và thất bại của quốc gia (nhân tố số 9), điều này va chạm với thái độ “tích cực” và kỳ vọng thành công của họ. So với người Anh từng ứng phó với sự sỉ nhục của Khủng hoảng Suez năm 1956, và so với người Nhật và người Đức từng phục hồi sau thất bại thảm hại trong Thế chiến II (người Đức còn thất bại trong cả Thế chiến I), thì người Mỹ coi sự thất bại trong Chiến tranh Việt Nam là sự chia rẽ dân tộc và khó lòng dung thứ. Những kinh nghiệm vượt qua các biến cố trước đây đã đưa Mỹ lên một vị trí hỗn hợp (nhân tố số 8). Nước Mỹ chưa từng thất bại trong chiến tranh và bị chiếm đóng như Nhật và Đức, cũng chưa từng bị xâm lược như Phần Lan, cũng chưa từng bị tấn công hay đe dọa xâm chiếm như Anh và Úc. Nước Mỹ cũng chưa từng phải chịu một cuộc cải tổ lớn như Nhật Bản những năm 1869-1912, như Anh quốc những năm 1945-1946 và những thập niên sau đó. Nhưng Mỹ đã vượt qua một cuộc nội chiến dai dẳng đe dọa tới sự thống nhất quốc gia, đã thoát ra khỏi cuộc Đại Suy thoái những năm 1930, và đã chuyển đổi thành công từ sự tách biệt hòa bình sang nỗ lực chiến tranh toàn diện trong Thế chiến II.

Trong những đoạn trước tôi đã liệt kê những nhân tố dự đoán áp dụng cho Mỹ. Các đặc điểm địa lý mang lại cho Mỹ sự tự do lựa chọn, ý thức mạnh mẽ về căn tính quốc gia, và lịch sử về tính linh hoạt là những nhân tố gợi sự tiên lượng tốt. Những nhân tố cản trở một kết quả tốt là sự thiếu đồng thuận trong việc thừa nhận một biến cố đang bắt đầu manh nha, sự đổ lỗi thường xuyên các vấn đề cho người khác thay vì nhận trách nhiệm, nỗ lực của những người Mỹ quyền lực trong việc bảo vệ chính họ thay vì cải tạo đất nước, và sự không sẵn lòng học hỏi từ mô hình của các quốc gia khác. Những nhân tố này không dự đoán rằng Mỹ sẽ chọn cách giải quyết vấn đề; chúng chỉ dự đoán việc Mỹ có thể sẽ chọn cách giải quyết ra sao.

Điều gì sẽ xảy ra với nước Mỹ? Chuyện đó phụ thuộc vào các lựa chọn. Những ưu thế cốt lõi vô cùng lớn mà Mỹ có được cho phép họ đảm bảo một tương lai rạng rỡ như trong quá khứ, nếu họ ứng phó với những trở ngại tự họ bày ra trước mắt. Nhưng Mỹ đang lãng phí những ưu thế đó. Các quốc gia khác trước đây cũng từng hưởng những ưu thế mà ngày nay chính họ đã lãng phí. Các quốc gia khác trước đây cũng từng đối mặt với những biến cố quốc gia dữ dội hoặc chậm rãi lộ diện như biến cố hiện tại của Mỹ. Một số trong những quốc gia đó, như Nhật Bản thời Minh Trị hay Phần Lan và Đức sau chiến tranh, đã thành công trong việc đổi mới triệt để trong một thời gian dài và cuối cùng cũng giải quyết được những biến cố. Phải chờ xem liệu người Mỹ chúng ta có chọn lập một hàng rào không (nhân tố số 3), không phải dọc theo biên giới Mexico mà là hàng rào giữa những đặc điểm của một xã hội Mỹ đang vận hành tốt đẹp với những đặc điểm không tốt; và liệu chúng ta có thay đổi được những đặc điểm bên trong hàng rào tạo nên biến cố đang lớn dần kia không.

Prev
Next

Có thể bạn muốn đọc thêm

21-bai-hoc-cho-the-ky-21-Yuval-Noah-Harari
21 Bài Học Cho Thế Kỷ 21 – Yuval Noah Harari
February 23, 2021
sung-vi-trung-va-thep-jared-diamond
Súng, Vi Trùng Và Thép – Jared Diamond
April 25, 2023
nhung-tu-nha-cua-dia-ly-tim-marshall
Những Tù Nhân Của Địa Lý – Tim Marshall
April 15, 2022
sapiens-yuval-noah-harari
Sapiens: Lược Sử Loài Người – Yuval Noah Harari
February 22, 2023

ThuVienOnline © 2026