Biến Động - Jared Diamond - Chương 11
Thế giới ngày nay – Vũ khí hạt nhân – Biến đổi khí hậu – Nhiên liệu hóa thạch – Nguồn năng lượng thay thế – Tài nguyên thiên nhiên khác – Bất bình đẳng – Khung biến cố
Các chương trước bàn về những biến cố trong giới hạn của các quốc gia riêng lẻ. Người đọc ở nước khác có thể nghĩ về những biến cố tương lai của đất nước họ. Giờ chúng ta hãy xem xét biến cố thế giới đang treo lơ lửng trên đầu: Những nhân tố nào đe dọa các dân tộc và mức sống của con người trên khắp thế giới? Trong trường hợp xấu nhất, điều gì đe dọa sự tồn tại liên tục của nền văn minh toàn cầu?
Tôi xác định bốn vấn đề có khả năng gây nguy hại trên toàn thế giới. Theo thứ tự giảm dần khả năng chứng kiến tấn thảm kịch chứ không phải theo mức độ quan trọng, đó là: những vụ nổ hạt nhân (Ảnh 11.1), biến đổi khí hậu toàn cầu, cạn kiệt tài nguyên toàn cầu và sự bất bình đẳng toàn cầu về mức sống. Những người khác có thể mở rộng danh sách này để đưa vào các vấn đề khác như chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan, các bệnh truyền nhiễm mới, sự va chạm của các tiểu hành tinh và tuyệt chủng sinh học hàng loạt.
Quả bom nguyên tử thả xuống Hiroshima, Nhật Bản ngày 6 tháng 8 năm 1945 đã giết chết khoảng 100.000 người ngay tức thời cộng thêm hàng ngàn người chết sau đó vì bị thương, bỏng và nhiễm độc phóng xạ. Nếu xảy ra chiến tranh mà Ấn Độ và Pakistan, hoặc Mỹ và Nga hay Trung Quốc phóng ra phóng hầu hết kho vũ khí hạt nhân của họ vào nhau thì hàng trăm triệu người sẽ chết ngay lập tức. Nhưng những hậu quả về sau trên toàn thế giới sẽ lớn hơn. Ngay cả khi các vụ nổ bom chỉ giới hạn ở Ấn Độ và Pakistan, hiệu ứng khí quyển của việc kích nổ hàng trăm thiết bị hạt nhân sẽ được cảm nhận trên toàn thế giới, do khói, bồ hóng và bụi từ các quả cầu lửa sẽ chặn hầu hết ánh sáng mặt trời trong vài tuần, tạo ra tình trạng như mùa đông với nhiệt độ giảm nhanh trên toàn cầu, ngăn quang hợp ánh sáng đối với thực vật, phá hủy nhiều đời sống thực vật và động vật, mất mùa toàn cầu và chết đói trên diện rộng. Một kịch bản tồi tệ nhất gọi là “mùa đông hạt nhân”: cái chết của hầu hết nhân loại không chỉ do đói mà còn do cái lạnh, bệnh tật và phóng xạ.
Hai vũ khí hạt nhân được sử dụng duy nhất cho đến nay là những quả bom ở Hiroshima và Nagasaki. Kể từ đó, nỗi sợ chiến tranh hạt nhân trên quy mô lớn đã hình thành nên phông nền cho cuộc đời tôi. Nếu việc kết thúc Chiến tranh Lạnh sau năm 1990 thoạt tiên làm giảm lý do cho nỗi sợ hãi đó, thì những diễn biến tiếp theo lại làm tăng nguy cơ một lần nữa. Kịch bản nào có thể dẫn đến việc sử dụng vũ khí hạt nhân?
Thông tin của tôi dựa trên thông tin được William Perry cung cấp qua trò chuyện và trong cuốn My Journey at the Nuclear Brink (Hành trình của tôi bên bờ vực hạt nhân, xuất bản năm 2015) của ông. Sự nghiệp của Perry dựa trên chuyên môn về các vấn đề hạt nhân, bao gồm phân tích khả năng tấn công bằng vũ khí hạt nhân của Liên Xô ở Cuba cho Tổng thống Kennedy từng ngày một trong khủng hoảng tên lửa hạt nhân ở Cuba năm 1962; bộ trưởng Quốc phòng Mỹ giai đoạn 1994-1997; đàm phán hạt nhân và các vấn đề khác với Triều Tiên, Liên Xô/Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan, Iran và Iraq; đàm phán tháo dỡ các cơ sở hạt nhân của Liên Xô cũ ở Ukraine và Kazakhstan sau khi Liên Xô tan rã cùng nhiều việc khác.
Người ta có thể xác định bốn kịch bản mà đỉnh điểm là vụ nổ bom hạt nhân do các chính phủ (ba kịch bản đầu tiên) hoặc từ các nhóm khủng bố vô chính phủ (kịch bản thứ tư). Kịch bản thường được bàn luận nhất là một cuộc tấn công bất ngờ được hoạch định của một nước có kho vũ khí hạt nhân vào một nước khác cũng trang bị vũ khí hạt nhân. Mục đích của cuộc tấn công bất ngờ này là để tiêu diệt toàn bộ và tức thời kho vũ khí của nước đối địch để đối thủ không còn vũ khí đáp trả. Kịch bản này là một trong những điều đáng sợ nhất trong suốt nhiều thập niên Chiến tranh Lạnh. Do cả Mỹ và Liên Xô đều sở hữu năng lực hạt nhân để tiêu diệt lẫn nhau, nên cuộc tấn công “được lên kế hoạch hợp lý” phải có tính bất ngờ để mong có thể phá hủy khả năng đáp trả của đối phương. Do vậy, để đáp ứng điều này, Mỹ và Liên Xô đều triển khai nhiều hệ thống đa dạng để phóng vũ khí hạt nhân nhằm loại bỏ nguy cơ bị tiêu diệt mọi khả năng đáp trả của mình. Chẳng hạn, Mỹ có ba hệ thống phóng hạt nhân: hầm ngầm chứa tên lửa, tàu ngầm và một phi đội máy bay chở bom. Do đó, ngay cả khi một cuộc tấn công bất ngờ của Liên Xô có phá hủy mọi hầm ngầm – điều khó có khả năng xảy ra do Mỹ có rất nhiều hầm ngầm bao gồm cả hầm giả để đánh lừa, được xây kiên cố chống lại tấn công, lại nhỏ nên đòi hỏi tên lửa Liên Xô phải có độ chính xác cao mới tiêu diệt hết được – thì Mỹ vẫn có thể đáp trả từ máy bay ném bom và tàu ngầm để hủy diệt Liên Xô.
Kết quả là các kho vũ khí hạt nhân của cả Mỹ và Liên Xô đều có khả năng đảm bảo “sự hủy diệt ở cả hai bên,” thế nên sẽ không bao giờ có một cuộc tấn công bất ngờ. Vậy nên cho dù mục tiêu phá hủy năng lực hạt nhân của đối phương hấp dẫn đến mức nào, thì các chiến lược gia Mỹ và Liên Xô đều nhận ra rằng một cuộc tấn công bất ngờ là điều bất hợp lý vì không thể phá hủy tất cả các hệ thống phóng vũ khí hạt nhân của đối phương để ngăn đối phương hủy diệt lại kẻ tấn công. Nhưng những cân nhắc hợp lý này cũng chỉ đem lại sự an ủi tạm thời cho tương lai, vì hiện thời vẫn còn những nhà lãnh đạo khá cực đoan: như Saddam Hussein của Iraq và Kim Jong Un của Triều Tiên cộng thêm một số nhà lãnh đạo ở Đức, Nhật, Mỹ và Nga. Ngoài ra, Ấn Độ và Pakistan mỗi quốc gia chỉ sở hữu một hệ thống phóng tên lửa trên mặt đất: không có tàu ngầm trang bị tên lửa, nên một nhà lãnh đạo Ấn Độ hoặc Pakistan có thể xem một cuộc tấn công bất ngờ là chiến lược hợp lý mang lại cơ hội tốt để tiêu diệt năng lực đáp trả của đối thủ.
Một kịch bản thứ hai liên quan đến hàng loạt các tính toán sai lầm gây tình trạng leo thang phản ứng của chính phủ đối thủ, và áp lực từ giới tướng lĩnh lên vị nguyên thủ nước họ để đáp trả, mà đỉnh điểm là các cuộc tấn công hạt nhân bất ngờ mà cả hai bên đều không muốn. Điển hình là Khủng hoảng Tên lửa Cuba năm 1962, khi Tổng bí thư Liên Xô Khrushchev đánh giá thấp Tổng thống Mỹ Kennedy tại cuộc họp Vienna năm 1961, ông ta mắc sai lầm vì cho rằng sẽ không bị phản ứng khi cho lắp đặt tên lửa của Liên Xô ở Cuba. Khi Mỹ phát hiện, các tướng lĩnh Mỹ đã thúc giục Kennedy hủy diệt chúng tức thì (hậu quả là có nguy cơ bị Liên Xô phản công) và cảnh báo Kennedy rằng có khả năng ông ta sẽ bị luận tội nếu không làm thế. May thay, Kennedy đã chọn phương tiện đáp trả ít quyết liệt hơn, Khrushchev cũng thế, nên một “ngày tận thế” đã được ngăn chặn. Nhưng đó là một tình huống cận kề mà sau này chúng ta mới rõ, khi cả hai nước giải mật tài liệu. Chẳng hạn, vào ngày đầu tiên của Khủng hoảng Tên lửa Cuba kéo dài một tuần, Kennedy tuyên bố công khai rằng bất kỳ vụ phóng tên lửa nào của Liên Xô từ Cuba sẽ gặp “một phản ứng đáp trả thích đáng [của Mỹ] đối với Liên Xô.” Nhưng trên nguyên tắc, các thuyền trưởng tàu ngầm Liên Xô có quyền phóng ngư lôi hạt nhân mà không cần xin ý kiến giới lãnh đạo Liên Xô ở Moscow. Một thuyền trưởng tàu ngầm Liên Xô đã định bắn ngư lôi hạt nhân vào chiếc khu trục hạm Mỹ đang đe dọa chiếc tàu của mình; chỉ nhờ sự can thiệp của các sĩ quan khác trên tàu mới ngăn cản ông ta thực hiện điều này. Nếu viên thuyền trưởng Liên Xô thực hiện ý định của mình, Kennedy có thể đã phải đối mặt với áp lực bất khả kháng là phải đáp trả, dẫn đến phản ứng đáp trả mạnh mẽ hơn của Khrushchev…
Một tính toán sai lầm tương tự có thể dẫn đến chiến tranh hạt nhân ngày nay. Chẳng hạn, Triều Tiên hiện có các tên lửa tầm trung có khả năng phóng đến Nhật Bản và Hàn Quốc, và cũng đã phóng một tên lửa đạn đạo xuyên lục địa, dự định có thể bay tới Mỹ. Khi Triều Tiên hoàn thành việc phát triển loại vũ khí này, họ có thể chứng minh điều này qua việc phóng một tên lửa hướng đến Mỹ. Mỹ sẽ coi đó là một sự khiêu khích không thể chấp nhận được, đặc biệt là nếu loại tên lửa này đến gần Mỹ hơn dự định. Một tổng thống Mỹ sau đó có thể phải đối mặt với áp lực phải đáp trả, điều này sẽ tạo ra sự ức chế buộc các nhà lãnh đạo Trung Quốc phải đáp trả để bảo vệ đồng minh Triều Tiên của họ.
Một kịch bản hợp lý khác về việc đáp trả ngoài ý muốn do tính toán sai lầm liên quan đến hai nước Pakistan và Ấn Độ. Những kẻ khủng bố Pakistan đã tiến hành một cuộc tấn công phi hạt nhân gây chết người vào thành phố Mumbai của Ấn Độ vào năm 2008. Trong tương lai gần, những kẻ khủng bố Pakistan có thể tiến hành một cuộc tấn công táo tợn hơn (ví dụ như vào thủ đô New Delhi của Ấn Độ); dù không rõ chính phủ Pakistan có đứng đằng sau vụ tấn công hay không, nhưng các nhà lãnh đạo Ấn Độ sẽ chịu áp lực phải xâm chiếm một số vùng lân cận của Pakistan, để loại bỏ mối đe dọa khủng bố ở đó; các nhà lãnh đạo Pakistan, sau đó cũng chịu áp lực phải sử dụng số vũ khí hạt nhân chiến thuật nhỏ bé của mình “chỉ” để chống trả do tính toán sai lầm rằng Ấn Độ sẽ xem việc sử dụng vũ khí hạt nhân hạn chế là “chấp nhận được” và không phải đáp trả mạnh mẽ; nhưng các nhà lãnh đạo Ấn Độ lại bị áp lực phải đáp trả bằng vũ khí hạt nhân.
Dường như đối với tôi, cả hai tình huống có thể dẫn đến chiến tranh hạt nhân từ việc đánh giá sai này đều có thể bắt đầu lộ diện trong thập niên tới. Điều không chắc chắn chủ yếu liên quan đến việc liệu các nhà lãnh đạo có biết điểm dừng như trong cuộc khủng hoảng tên lửa ở Cuba hay liệu sự leo thang sẽ dẫn đến bùng nổ hoàn toàn.
Kịch bản thứ ba có thể đẩy đến đỉnh điểm thành một cuộc chiến tranh hạt nhân là việc đọc nhầm các dấu hiệu cảnh báo kỹ thuật. Cả Mỹ và Nga đều có hệ thống cảnh báo sớm để phát hiện một vụ phóng tên lửa tấn công của đối thủ. Một khi tên lửa được phóng đi, đang trên hành trình bay và được phát hiện, tổng thống Mỹ hoặc Nga có khoảng 10 phút để quyết định có nên thực hiện một cuộc tấn công đáp trả trước khi tên lửa tiến đến phá hủy hệ thống tên lửa mặt đất của đất nước mình. Tên lửa khi đã phóng ra thì không thể thu hồi, nên chỉ có một thời gian tối thiểu để đánh giá xem cảnh báo sớm là có thật hay chỉ là báo động sai do lỗi kỹ thuật, và có nên nhấn nút để hủy diệt hàng trăm triệu sinh mạng hay không.
Nhưng các hệ thống phát hiện tên lửa cũng giống như mọi công nghệ phức tạp khác, có thể gặp trục trặc và giải mã sai lầm. Đã có ít nhất ba trường hợp báo động sai do hệ thống phát hiện của Mỹ đưa ra. Chẳng hạn vào ngày 9 tháng 11 năm 1979, viên tướng Mỹ phụ trách giám sát hệ thống đã gọi điện cho Thứ trưởng Quốc phòng William Perry ở thời điểm đó, vào lúc nửa đêm để trình bày “máy tính cảnh báo của tôi hiển thị 200 tên lửa tầm xa đang trên đường bay từ Liên Xô đến Mỹ.” Nhưng rồi viên tướng này kết luận rằng tín hiệu đó có lẽ là một báo động nhầm, Perry không đánh thức Tổng thống Carter và Carter đã không nhấn nút để phải giết hàng trăm triệu người Xô Viết một cách không cần thiết. Cuối cùng, đúng là tín hiệu đó là một báo động nhầm do lỗi của con người: một nhà vận hành máy tính đã đưa nhầm vào máy tính hệ thống cảnh báo của Mỹ một cuộn băng huấn luyện mô phỏng việc phóng 200 đầu đạn hạt nhân tầm xa của Liên Xô. Chúng ta cũng biết ít nhất một báo động nhầm từ hệ thống phát hiện của Nga: một tên lửa phi quân sự được phóng vào năm 1995 từ một hòn đảo ngoài khơi Na Uy hướng về phía Bắc Cực đã bị xác định nhầm bởi thuật toán theo dõi tự động của radar Nga, cho rằng nó được phóng đi từ một tàu ngầm Mỹ.
Những sự cố này minh họa một điểm quan trọng. Một tín hiệu cảnh báo không rõ ràng và những báo động nhầm theo dự kiến vẫn có thể xảy ra, nhưng cũng có khả năng xảy ra những vụ phóng tên lửa và cảnh báo thực. Do đó, khi có cảnh báo, nhân viên trực và tổng thống Mỹ (hay nhân viên trực và tổng thống Nga trong tình huống tương ứng) phải diễn giải cảnh báo trong bối cảnh hiện thời: hiện tình thế giới như thế nào khiến người Nga (hay người Mỹ) có thể gánh chịu rủi ro khủng khiếp khi tiến hành một cuộc tấn công mà hẳn nhiên sẽ nhận hậu quả bằng một sự đáp trả hủy diệt hàng loạt ngay tức thời? Vào ngày 9 tháng 11 năm 1979, không có sự kiện thế giới nào thúc đẩy một vụ phóng tên lửa, mối quan hệ Xô-Mỹ cũng không gặp rắc rối nghiêm trọng, và viên tướng phụ trách giám sát cùng William Perry cảm thấy tự tin khi diễn giải tín hiệu cảnh báo là một báo động nhầm.
Nhưng rủi thay, bối cảnh an ủi đó không còn chiếm ưu thế. Mặc dù việc kết thúc Chiến tranh Lạnh được kỳ vọng sẽ làm giảm hoặc loại bỏ nguy cơ chiến tranh hạt nhân giữa Nga và Mỹ, nhưng kết quả thì ngược lại: nguy cơ bây giờ cao hơn bất cứ lúc nào kể từ Khủng hoảng Tên lửa Cuba. Lời giải thích là tình trạng xấu đi trong quan hệ và liên lạc giữa Nga và Mỹ: điều này một phần do các chính sách gần đây của Tổng thống Nga Putin, và một phần do các chính sách đầy khinh suất của Mỹ. Cuối thập niên 1990, chính phủ Mỹ đã phạm sai lầm khi xem nước Nga hậu Liên Xô là yếu đuối và không còn đáng được coi trọng. Theo thái độ mới đó, Mỹ đã hấp tấp mở rộng khối NATO để bao vây các nước Cộng hòa Baltic, trước đây là một phần của Liên Xô, ủng hộ sự can thiệp của quân đội NATO chống lại Serbia trước sự phản đối mạnh mẽ của Nga và đặt tên lửa đạn đạo ở Đông Âu, được cho là để ngăn chặn tên lửa của Iran. Các nhà lãnh đạo Nga có thể thấy được sự đe dọa từ những vụ việc đó và các hành động khác của Mỹ.
Chính sách của Mỹ đối với Nga hiện nay đã bỏ qua bài học mà các nhà lãnh đạo Phần Lan rút ra từ mối đe dọa của Liên Xô sau năm 1945: cách duy nhất để đảm bảo an toàn cho Phần Lan là tham gia vào các cuộc thảo luận thẳng thắn với Liên Xô và thuyết phục Liên Xô rằng Phần Lan có thể tin tưởng được và không phải là một mối đe dọa. Ngày nay, Mỹ và Nga tạo ra mối đe dọa lớn lao cho nhau, từ việc diễn giải sai có thể dẫn đến một cuộc tấn công không lên kế hoạch trước – do hai nước này không duy trì mối liên lạc thường xuyên một cách thẳng thắn, đồng thời cũng không thuyết phục được nhau rằng họ sẽ chẳng gây ra mối đe dọa tấn công khả dĩ nào được lên kế hoạch trước.
Kịch bản còn lại có thể dẫn đến việc sử dụng vũ khí hạt nhân là những kẻ khủng bố đánh cắp uranium hoặc plutonium hay một quả bom hoàn chỉnh, hay được một cường quốc hạt nhân cung cấp, rất có thể là Pakistan, Triều Tiên hoặc Iran. Quả bom sau đó có thể được lén đưa vào Mỹ hay ở mục tiêu khác để kích nổ. Trong khi chuẩn bị cho cuộc tấn công Trung tâm Thương mại Thế giới năm 2001, tổ chức Al Qaeda đã tìm cách mua vũ khí hạt nhân để chống Mỹ. Cũng có thể những kẻ khủng bố đánh cắp uranium hoặc một quả bom mà không cần sự trợ giúp của quốc gia sản xuất bom, nếu an ninh tại nơi cất giữ bom không được an toàn. Ví dụ như ở thời điểm Liên Xô tan rã, 600 kg uranium đã tinh luyện để chế tạo bom nguyên tử sót lại từ thời Liên Xô cũ vẫn còn tồn đọng ở nước cộng hòa Xô Viết sau trở thành nước Kazakhstan độc lập. Uranium được lưu trữ trong một nhà kho chỉ được bảo vệ bằng một hàng rào dây thép gai và có thể dễ dàng bị đánh cắp. Nhưng cũng có khả năng, các nhóm khủng bố có thể lấy được vật liệu chế bom từ một “tay trong,” nghĩa là với sự giúp đỡ của nhân viên kho cất giữ hoặc các nhà lãnh đạo Pakistan, Triều Tiên hoặc Iran.
Một nguy cơ liên quan thường bị nhầm lẫn với việc những kẻ khủng bố mua bom hạt nhân là họ sở hữu thứ gọi là “bom bẩn”: một loại bom nổ phi hạt nhân thông thường với lớp vỏ bọc chứa vật liệu phóng xạ không nổ nhưng tồn tại lâu, như chất đồng vị phóng xạ Cesium-137 với chu kỳ bán rã 30 năm. Việc cho nổ quả bom ở một thành phố của Mỹ hoặc nước khác sẽ lan truyền phóng xạ Cesium trên một khu vực gồm nhiều khối nhà sẽ khiến khu vực đó bị bỏ hoang lâu dài, đồng thời gây tác động tâm lý lớn lao. (Hãy nghĩ về hậu quả lâu dài của cuộc tấn công tòa nhà Trung tâm Thương mại Thế giới đối với tư duy và chính sách của Mỹ, dù không bị nổ bom hay chất đồng vị phóng xạ.) Những kẻ khủng bố đã chứng tỏ khả năng cho nổ bom ở các thành phố của nhiều quốc gia, và chất Cesium-137 lại có sẵn trong bệnh viện vì chức năng sử dụng trong y tế của nó. Do đó, điều đáng ngạc nhiên là những kẻ khủng bố không đặt thêm chất Cesium-137 vào những quả bom.
Trong bốn kịch bản này, khả năng dễ xảy ra nhất là những kẻ khủng bố sử dụng bom bẩn (dễ chế tạo) hoặc bom hạt nhân. Loại trước chỉ giết chết ít người, loại sau con số tử vong “chỉ” khoảng 100.000 như ở Hiroshima – nhưng cả hai vụ nổ này để lại hậu quả làm át hẳn những cái chết đó. Ít có khả năng hơn, nhưng vẫn có thể xảy ra, là ba kịch bản đầu tiên có thể trực tiếp giết chết hàng trăm triệu người rồi cuối cùng là hầu hết mọi sinh linh trên Trái đất.
Vấn nạn lớn thế giới kế tiếp định hình cuộc sống của chúng ta trong những thập niên tới là biến đổi khí hậu toàn cầu. Hầu như tất cả chúng ta đều nghe nói về vấn đề này, nhưng nó rất phức tạp, mơ hồ và đầy rẫy những nghịch lý mà ngoại trừ các chuyên gia khí hậu thực sự thì ít người hiểu rõ, và nhiều người có ảnh hưởng (bao gồm nhiều chính trị gia Mỹ) xem là một trò lừa bịp. Bây giờ tôi sẽ cố gắng giải thích nó rõ ràng nhất có thể, với sự trợ giúp của sơ đồ chuỗi nguyên nhân/hệ quả để minh họa cho giải thích của tôi.

Chuỗi nguyên nhân biến đổi khí hậu toàn cầu
Điểm khởi đầu là dân số thế giới và tác động bình quân mỗi đầu người trên thế giới (vế sau là lượng tài nguyên bình quân, như việc tiêu thụ xăng dầu, và chất thải như nước thải sản sinh, tính trên đầu người mỗi năm). Tất cả ba thông số này – dân số, mức tiêu thụ tài nguyên tính trên đầu người và sản sinh chất thải – đang gia tăng từ năm này sang năm khác. Kết quả là toàn bộ tác động của con người lên thế giới ngày càng tăng: do toàn bộ tác động tương đương với tác động bình quân trên mỗi đầu người ngày càng tăng, nhân với số người ngày càng tăng.
Một chất thải quan trọng là khí carbon dioxide (CO2), liên tục được sản sinh từ quá trình hô hấp của các loài động vật (bao gồm con người chúng ta) rồi được thải vào khí quyển. Tuy nhiên, kể từ khi bắt đầu cuộc Cách mạng Công nghiệp và hệ quả là sự bùng nổ dân số, sự giải phóng khí CO2 tự nhiên đã trở nên nhỏ bé so với việc sản sinh CO2 mà con người gây ra từ việc đốt cháy nhiên liệu hóa thạch. Khí ga quan trọng kế tiếp gây biến đổi khí hậu là khí mê-tan, tồn tại với số lượng nhỏ hơn nhiều và hiện tại ít quan trọng hơn CO2 nhưng có thể trở nên quan trọng do cái gọi là vòng lặp phản hồi tích cực: cụ thể là sự ấm lên toàn cầu làm tan chảy lớp băng vĩnh cửu ở Bắc Cực, giải phóng khí mê-tan tạo ra sự ấm lên nhiều hơn, làm tan chảy nhiều băng vĩnh cửu hơn, giải phóng nhiều khí mê-tan hơn, v.v.
Hệ quả chính của việc giải phóng CO2 được bàn cãi nhiều nhất đó là hiệu ứng khí nhà kính trong khí quyển. CO2 trong khí quyển trong suốt đối với bức xạ sóng ngắn mặt trời, cho phép ánh sáng mặt trời xuyên qua bầu khí quyển và làm ấm bề mặt Trái đất. Trái đất phát lại năng lượng đó trở lại không gian, nhưng với bước sóng bức xạ nhiệt dài bị CO2 chắn lại. Do đó, CO2 hấp thụ năng lượng phát xạ lại và giải phóng nó theo mọi hướng, bao gồm cả việc quay trở lại bề mặt Trái đất. Do đó, bề mặt Trái đất ấm lên như bên trong nhà kính mặc dù cơ chế vật lý của sự ấm lên khác nhau.
Nhưng có hai hệ quả chính khác của việc giải phóng CO2. Thứ nhất, CO2 mà chúng ta sản sinh cũng được lưu trữ trong các đại dương dưới dạng acid carbonic. Acid carbonic đó làm tăng tính acid của đại dương, cao hơn bất kỳ thời điểm nào trong 15 triệu năm qua. Điều này làm tan biến xương san hô, giết chết các rạn san hô vốn là một vườn ươm sinh sản chính của các loài cá biển đồng thời cũng bảo vệ vùng bờ biển nhiệt đới và cận nhiệt đới chống đỡ bão và sóng thần. Hiện tại, các rạn san hô trên thế giới đang bị mất đi 1% hoặc 2% mỗi năm, điều này đồng nghĩa với việc chúng sẽ biến mất trong thế kỷ này, dẫn đến việc suy giảm độ an toàn dọc bờ biển nhiệt đới và lượng protein từ hải sản. Một tác động khác của việc chúng ta thải ra khí CO2 chính là ảnh hưởng đến sự phát triển của thực vật, hoặc kích thích hoặc ức chế chúng.
Tuy nhiên, tác động được bàn cãi nhiều nhất về việc giải phóng CO2 là điều tôi đã đề cập đầu tiên: làm nóng bề mặt Trái đất và tầng khí quyển thấp. Đó là những gì chúng ta gọi là sự ấm lên toàn cầu, nhưng tác động này lại rất phức tạp cũng như khi biến thuật ngữ “ấm lên toàn cầu” thành một tên gọi không chính xác, nên gọi là “biến đổi khí hậu toàn cầu.” Đầu tiên, chuỗi nguyên nhân/hệ quả nghĩa là sự nóng lên trong khí quyển tạo ra điều nghịch lý khiến một số khu vực đất liền (bao gồm cả phía đông nam Mỹ) trở nên lạnh hơn, trong khi hầu hết các khu vực (bao gồm hầu hết các khu vực còn lại của Mỹ) lại nóng dần. Điển hình là nhiệt độ ấm hơn làm tan chảy nhiều biển băng ở Bắc Cực khiến khối nước lạnh ở Bắc Băng Dương chảy về phía nam và làm mát một số vùng đất ở hạ lưu của những dòng chảy đó.
Điều thứ nhì, bên cạnh xu hướng ấm lên bình quân và tầm quan trọng của nó đối với xã hội loài người là sự gia tăng hiện tượng cực đoan khí hậu: bão và lũ ngày càng nhiều, đỉnh thời tiết nóng ngày càng tăng, nhưng cũng có đỉnh thời tiết lạnh hơn, tạo ra hiệu ứng như tuyết rơi ở Ai Cập và một làn sóng lạnh ở vùng đông bắc Mỹ. Hệ quả là các chính trị gia hoài nghi vốn không hiểu biết về biến đổi khí hậu nghĩ rằng điều này bác bỏ thực tế.
Điều phức tạp thứ ba là biến đổi khí hậu liên quan đến độ trễ thời gian giữa nguyên nhân và hệ quả. Chẳng hạn, các đại dương lưu trữ và giải phóng CO2 chậm đến mức ngay cả khi mọi người trên Trái đất chết trong đêm nay, hoặc ngừng thở hoặc ngừng đốt nhiên liệu hóa thạch, bầu khí quyển vẫn sẽ tiếp tục nóng lên thêm vài thập niên nữa. Ngược lại, có những khuếch đại phi tuyến tính tiềm tàng có thể làm cho thế giới nóng lên nhanh hơn nhiều so với các dự đoán bảo thủ hiện nay giả định mối quan hệ tuyến tính giữa nguyên nhân và hiệu ứng. Những khuếch đại này bao gồm băng vĩnh cửu và biển băng tan chảy cùng khả năng sụp đổ các dải băng ở Nam Cực và Greenland.
Về hậu quả của xu hướng ấm lên bình quân của thế giới, tôi sẽ đề cập đến bốn vấn đề. (Đến lúc này, với lời “giải thích rõ ràng” của tôi, bạn có thể sẵn sàng đồng ý rằng biến đổi khí hậu toàn cầu thực sự phức tạp!) Hậu quả rõ ràng nhất đối với người dân ở nhiều nơi trên thế giới là hạn hán. Chẳng hạn, quê hương Nam California của tôi ngày càng khô hơn và năm 2015 nói riêng là năm khô hạn nhất trong lịch sử thành phố Los Angeles của tôi kể từ khi có những ghi nhận về thời tiết bắt đầu vào thập niên 1800. Hạn hán do biến đổi khí hậu toàn cầu không đồng đều trên khắp thế giới: các khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất là Bắc Mỹ, vùng Địa Trung Hải và Trung Đông, châu Phi, đất trồng trọt ở vùng nam Úc và dãy Himalaya. Điển hình là khối băng tuyết trên dãy Himalaya cung cấp phần lớn nước cho Trung Quốc, Việt Nam, Ấn Độ, Pakistan và Bangladesh, giờ đây khối băng tuyết này và nguồn cung cấp nước mà các quốc gia đó phải chia sẻ đang bị co lại, nhưng những quốc gia này lại có một hồ sơ đầy tì vết trong việc giải quyết mâu thuẫn một cách hòa bình.
Hậu quả thứ hai của xu hướng ấm lên toàn cầu là việc giảm sản xuất lương thực trên đất liền xuất phát từ hạn hán mà tôi vừa đề cập và địa nhiệt tăng (điển hình là địa nhiệt thuận lợi cho cỏ dại phát triển hơn so với tăng trưởng của cây trồng). Sản lượng lương thực giảm là một vấn nạn do dân số, mức sống và mức tiêu thụ thực phẩm của thế giới dự kiến sẽ tăng 50% trong vài thập niên tới, nhưng hiện tại chúng ta đã gặp phải vấn nạn lương thực với vài tỉ người hiện đang bị thiếu ăn. Đặc biệt ở Mỹ, nhà xuất khẩu thực phẩm hàng đầu thế giới, nơi nền nông nghiệp tập trung ở miền tây và miền trung, lại đang trở nên nóng hơn, khô hơn và kém năng suất hơn.
Hậu quả thứ ba của xu hướng ấm lên toàn cầu là bệnh nhiệt đới đem côn trùng di chuyển vào vùng ôn đới. Các vấn nạn bệnh tật gây ra cho đến nay bao gồm sự lây truyền bệnh sốt xuất huyết gần đây và sự lây lan của các bệnh do ve gây ra ở Mỹ, sự xuất hiện gần đây của bệnh chikungunya12 ở châu Âu cùng với sự lây lan của bệnh sốt rét và viêm não do virus.
Hậu quả cuối cùng của xu hướng ấm lên toàn cầu mà tôi muốn nói đến là hiện tượng nước biển dâng. Ước tính dè dặt về mức tăng mực nước biển trung bình dự kiến trong thế kỷ này là một mét, nhưng trong quá khứ đã tăng lên đến 20 mét; hiện tại, sự không chắc chắn này liên quan đến những sự sụp đổ và tan chảy khả dĩ của các dải băng ở Nam Cực và Greenland, khiến nước sẽ đổ vào các đại dương. Mặc dù chỉ tăng trung bình một mét, nhưng được khuếch đại bởi bão và thủy triều, cũng đủ để làm suy yếu khả năng cư trú ở Florida và một số khu vực khác ở vùng biển phía đông Mỹ, Hà Lan, vùng trũng ở Bangladesh, và nhiều vùng định cư đông đúc khác – cũng như phá hủy các cửa sông giữ vai trò là “vườn ươm” cho các loài cá biển.
Đôi khi bạn bè hỏi tôi liệu biến đổi khí hậu có những tác động tốt đến xã hội loài người hay không. Vâng, một số, chẳng hạn như triển vọng mở các tuyến đường vận chuyển ở phía bắc khi băng ở Bắc Cực tan chảy, và có lẽ sản lượng lúa mì ở vành đai lúa mì phía nam Canada và một số khu vực khác sẽ tăng lên. Nhưng hầu hết các tác động đối với xã hội loài người đều là những điều cực kỳ tồi tệ.
Vậy có giải pháp công nghệ nhanh chóng nào cho những vấn đề này hay không? Có thể bạn đã nghe nói về các đề xuất phương pháp địa kỹ thuật khác nhau, chẳng hạn như bơm các phân tử hạt vào khí quyển hay trích xuất khí CO2 từ khí quyển để làm mát bề mặt Trái đất. Nhưng chưa có bất kỳ phương pháp địa kỹ thuật nào được thử nghiệm và được biết là có hiệu quả; các phương pháp đề xuất rất tốn kém, đồng thời việc thử nghiệm và thực hiện các phương pháp như vậy chắc chắn sẽ mất nhiều thời gian và có khả năng mở ra các tác dụng phụ không lường được. Chẳng hạn, khi khí chlorofluorocarbon (CFC) không độc thay thế khí độc được sử dụng trước đây trong tủ lạnh mãi đến năm 1940, thì có vẻ đây là một giải pháp kỹ thuật tuyệt vời và an toàn cho vấn đề sử dụng khí trong tủ lạnh, đặc biệt là vì xét nghiệm trong phòng thí nghiệm không cho thấy nhược điểm của chất khí này.
Rủi thay, các xét nghiệm trong phòng thí nghiệm không phát hiện việc chất CFC một khi vào khí quyển, sẽ bắt đầu phá hủy tầng ozone bảo vệ chúng ta khỏi tia cực tím. Kết quả là chất CFC đã bị cấm trên hầu hết thế giới – nhưng chỉ sau vài thập niên. Điều đó minh họa tại sao trước tiên vấn đề địa kỹ thuật phải được “thử nghiệm trên tầng khí quyển,” một điều bất khả thi, vì chúng ta có thể hủy hoại Trái đất trong 10 lần thử nghiệm trước khi có thể hi vọng tìm ra phương cách tạo ra sản phẩm địa kỹ thuật chỉ mang lại hiệu ứng tốt như mong muốn vào lần thử nghiệm thứ 11. Do đó, hầu hết các nhà khoa học và kinh tế xem các thí nghiệm địa kỹ thuật là cực kỳ không khôn ngoan, thậm chí nguy hiểm chết người và đáng bị cấm đoán.
Có phải điều này nghĩa là không thể ngăn chặn việc biến đổi khí hậu, và rằng con cái chúng ta chắc chắn sẽ kết thúc trong một thế giới không còn đáng sống? Tất nhiên là không rồi. Biến đổi khí hậu bắt nguồn từ quá nhiều hoạt động của con người, vì vậy tất cả những gì chúng ta phải làm để giảm thiểu biến đổi khí hậu là giảm các hoạt động đó. Điều này có nghĩa là phải đốt ít nhiên liệu hóa thạch và tìm năng lượng thay thế từ các nguồn tái tạo như gió, mặt trời và hạt nhân.
Vấn nạn nghiêm trọng thứ ba đối với tương lai xã hội loài người trên khắp thế giới, bên cạnh vũ khí hạt nhân và biến đổi khí hậu toàn cầu, là sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên thiết yếu trên thế giới. Đây là một đẳng thức gây rắc rối, vì một số tài nguyên (đặc biệt là nước và gỗ) đã đặt ra giới hạn cho các xã hội trong quá khứ và khiến chúng sụp đổ, và những nguồn tài nguyên khác (đặc biệt là nhiên liệu hóa thạch, khoáng sản và đất canh tác) là động lực khởi phát chiến tranh. Hiện nay, sự khan hiếm tài nguyên làm suy yếu các xã hội hay đe dọa gây ra chiến tranh ở nhiều nơi trên thế giới. Chúng ta hãy bắt đầu bằng cách xem xét một dẫn chứng chi tiết: nhiên liệu hóa thạch mà chúng ta sử dụng chủ yếu cung cấp năng lượng và cũng là nguyên liệu ban đầu để tổng hợp hóa học nhiều sản phẩm (thuật ngữ “nhiên liệu hóa thạch” là nguồn nhiên liệu hydrocarbon được hình thành từ lâu trong lớp vỏ Trái đất: dầu, than đá, dầu đá phiến và khí tự nhiên).
Con người đòi hỏi năng lượng trong mọi hoạt động; đặc biệt, chúng ta cần một lượng lớn năng lượng để vận chuyển và nâng mọi vật. Trong hàng triệu năm tiến hóa của loài người, sức mạnh cơ bắp của con người là nguồn năng lượng duy nhất để vận chuyển và nâng hạ.
Khoảng 10.000 năm trước, chúng ta bắt đầu thuần hóa các loài động vật lớn và khai thác chúng để kéo xe, thồ hàng và nâng vật nặng bằng hệ thống ròng rọc và bánh răng; sau đó khai thác năng lượng gió để dong thuyền và vận hành cối xay gió (muộn hơn), rồi năng lượng nước để vận hành guồng xe nước dùng để nâng, xay xát và kéo sợi. Ngày nay, nguồn năng lượng phổ biến nhất mà chúng ta khai thác đến hiện thời vẫn là nhiên liệu hóa thạch vì chi phí thấp bề ngoài (càng về sau càng thấp), độ cô đọng năng lượng cao (nghĩa là một lượng nhỏ nhiên liệu có thể tạo ra nguồn năng lượng lớn) và khả năng vận chuyển đến bất cứ đâu (không như động vật, gió và năng lượng nước, chỉ dùng tại chỗ hay chỉ có thể lưu giữ ở một số địa điểm nhất định). Đó là lý do tại sao nhiên liệu hóa thạch là động lực chính của các cuộc chiến tranh và chính sách đối ngoại gần đây, như được minh họa bằng vai trò của dầu khí trong việc thúc đẩy chính sách của Mỹ và Anh ở Trung Đông và sự nhập cuộc của Nhật trong Thế chiến II.
Ngay từ thời cổ đại, loài người đã biết sử dụng một ít dầu và than lộ thiên trên bề mặt Trái đất. Tuy nhiên, mãi đến đầu thế kỷ 18 việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch quy mô lớn mới thực sự bắt đầu, xuất phát từ Cách mạng Công nghiệp. Việc khai thác nhiên liệu hóa thạch thuộc nhiều loại khác nhau và từ các nguồn khác nhau cũng dần thay đổi theo thời gian. Những nhiên liệu đầu tiên dễ tiếp cận nhất vì chúng có sẵn trên mặt đất hoặc gần bề mặt, đồng thời dễ khai thác và rẻ nhất, cũng như ít nguy hại nhất. Khi các nguồn đầu tiên đó bị cạn kiệt, chúng ta lại chuyển sang các nguồn khó khai thác nằm sâu dưới lòng đất, việc này tốn kém hơn hoặc nguy hại nhiều hơn. Do đó, nhiên liệu đầu tiên được sử dụng trên quy mô công nghiệp là than từ các mỏ cạn để cung cấp công suất cho động cơ hơi nước dùng cho việc bơm nước rồi sau đó để cung cấp năng lượng cho guồng dệt, và (sau cùng ở đầu thế kỷ 19) tàu thủy hơi nước và động cơ tàu hỏa. Tiếp nối việc khai thác than là khai thác dầu, dầu đá phiến và khí đốt tự nhiên. Ví dụ như giếng dầu đầu tiên khai thác dầu dưới lòng đất là một giếng cạn được khoan ở Pennsylvania vào năm 1859, sau đó các giếng dầu dần sâu hơn.
Có nhiều tranh cãi về việc chúng ta đã khai thác dầu đến “đỉnh điểm” hay chưa – đó là, liệu chúng ta có tiêu thụ quá nhiều trữ lượng dầu có thể tiếp cận được của Trái đất hay không để khiến sản lượng dầu sẽ sớm bắt đầu giảm sút. Tuy nhiên, không có tranh cãi nào về việc các nguồn dầu rẻ nhất, dễ tiếp cận nhất và ít gây tổn hại nhất đã được sử dụng hết. Nước Mỹ không còn moi được dầu bề mặt hay khoan giếng cạn ở Pennsylvania. Thay vào đó, các giếng phải được đào sâu hơn (độ sâu từ một dặm trở lên), và không chỉ trên đất liền mà cả dưới đáy đại dương, không chỉ ở vùng biển nông mà còn ở vùng nước sâu hơn, và không chỉ ở Pennsylvania, trung tâm công nghiệp của Mỹ, mà còn ở những nơi xa xôi như trong rừng mưa nhiệt đới New Guinea hay ở Bắc Cực. Chi phí cho những mỏ dầu sâu hơn, xa hơn sẽ đắt hơn nhiều so với các mỏ cạn ở Pennsylvania. Khả năng dẫn đến sự cố tràn dầu tạo ra thiệt hại tốn kém cũng cao hơn. Khi chi phí khai thác dầu tăng lên thì các nguồn nhiên liệu hóa thạch thay thế nhưng nguy hại hơn như dầu đá phiến và than đá, cùng các nguồn nhiên liệu tự nhiên như gió và mặt trời lại đang trở nên kinh tế hơn. Tuy nhiên, giá dầu hôm nay vẫn cho phép các công ty dầu tiếp tục có lợi nhuận cao.
Ở đây tôi chỉ đề cập tới giá dầu thấp bề ngoài. Hãy tạm dừng để xem xét giá dầu (hay than) thực tế. Giả sử dầu được bán với giá 60 đô la mỗi thùng. Nếu một công ty dầu mỏ chỉ chi trả 20 đô la mỗi thùng cho khai thác và vận chuyển, và nếu công ty đó không phải trả thêm chi phí nào nữa, thì với mức giá 60 đô la mỗi thùng có nghĩa là công ty dầu mỏ kiếm được lợi nhuận lớn.
Nhưng nhiên liệu hóa thạch gây ra nhiều nguy hại. Nếu những nguy hại đó cũng được tính cho công ty dầu, thì giá dầu sẽ tăng.
Những nguy hại do đốt nhiên liệu hóa thạch bao gồm ô nhiễm không khí nghiêm trọng, gần đây là ở Mỹ hay châu Âu và hiện tại lại đặc biệt nghiêm trọng ở Ấn Độ và Trung Quốc. Ô nhiễm không khí gây ra hàng triệu ca tử vong và chi phí y tế tăng cao mỗi năm. Những nguy hại khác do nhiên liệu hóa thạch gây ra qua trung gian biến đổi khí hậu, khiến chúng ta phải trả giá qua sản xuất nông nghiệp giảm sút và nước biển dâng buộc chúng ta phải tiêu tốn vào việc làm bờ bao ngăn nước mặn ở những vùng biển dâng và góp phần gây ra thiệt hại lớn do lũ lụt và hạn hán.
Dưới đây là một dẫn chứng để giúp bạn hiểu được những chi phí gián tiếp của nhiên liệu hóa thạch, mà các nhà sản xuất nhiên liệu hiện nay chưa phải chi trả. Giả sử bạn vận hành một nhà máy sản xuất một loại búp bê có tên Búp bê Hạnh phúc. Giả sử bạn tốn 20 đô la để tạo ra một tấn Búp bê Hạnh phúc, trong khi chi phí để làm ra những loại búp bê khác là 30 đô la mỗi tấn, và bạn có thể bán Búp bê của mình với giá 60 đô la mỗi tấn. Biên lợi nhuận 60 đô la trừ 20 đô la khiến cho việc sản xuất Búp bê Hạnh phúc rất có lãi và cho phép nó vượt xa các nhà sản xuất cạnh tranh khác.
Thật không may, quy trình sản xuất của bạn để tạo ra Búp bê Hạnh phúc lại tạo ra phụ phẩm bùn thải, trong khi phụ phẩm trong quy trình sản xuất búp bê của các đối thủ cạnh tranh lại không có. Bạn đổ bùn thải lên những cánh đồng lúa mì lân cận, do đó làm giảm sản lượng lúa mì. Mỗi tấn Búp bê Hạnh phúc mà bạn sản xuất sẽ khiến hàng xóm mất 70 đô la thu nhập lúa mì vì bùn thải.
Do đó, hàng xóm của bạn thưa kiện và khăng khăng đòi bạn phải trả cho họ 70 đô la đền bù cho thu nhập lúa mì bị mất do mỗi tấn Búp bê Hạnh phúc của bạn gây ra. Bạn phản đối yêu sách của hàng xóm và đưa ra nhiều lý do: bạn phủ nhận rằng việc sản xuất búp bê tạo bùn thải, mặc dù các nhà khoa học của công ty bạn đã cảnh báo về phụ phẩm này trong nhiều thập niên; bạn nói rằng bùn thải chưa được chứng minh là có hại và đã phát sinh trong tự nhiên hàng triệu năm nay; cần nhiều nghiên cứu hơn trước khi chúng ta có thể đánh giá lượng bùn thải trên những cánh đồng của các hàng xóm có nguồn gốc phát sinh từ các nhà máy sản xuất Búp bê Hạnh phúc của bạn; và Búp bê hạnh phúc rất cần thiết cho nền văn minh và mức sống cao của chúng ta, vì vậy nạn nhân của bùn thải chỉ nên im lặng và ngừng kêu ca.
Nhưng khi vụ kiện được đưa ra xét xử, thẩm phán và bồi thẩm đoàn nói rằng xử lý vụ kiện này quá dễ: tất nhiên bạn phải trả 70 đô la cho mỗi tấn Búp bê Hạnh phúc của mình để bù đắp cho bên thiệt hại về sản lượng lúa mì giảm dần. Kết quả là Búp bê Hạnh phúc của bạn có chi phí sản xuất thực sự không phải là 20 đô la mỗi tấn, mà là 20 đô la + 70 đô la = 90 đô la mỗi tấn. Búp bê Hạnh phúc không còn là cỗ máy sinh lời tuyệt vời nữa: điều này không có tính kinh tế khi bạn sản xuất chúng với giá 90 đô la mỗi tấn và chỉ có thể bán chúng với 60 đô la mỗi tấn. Giờ đây, búp bê của đối thủ cạnh tranh có giá 30 đô la mỗi tấn sẽ trở nên vượt trội.
Nhiên liệu hóa thạch, như Búp bê Hạnh phúc trong ví dụ giả định của chúng ta, gây ra thiệt hại cũng như đem lại lợi ích. Điểm khác biệt là CO2 phát sinh từ quá trình đốt nhiên liệu hóa thạch ít nhìn thấy hơn so với bùn thải và các nhà sản xuất cũng như người sử dụng nhiên liệu hóa thạch chưa phải trả tổn phí cho tác hại mà họ gây ra cho người khác, khác với các nhà sản xuất búp bê giả định của chúng ta. Nhưng ngày càng có áp lực buộc các nhà sản xuất hoặc người sử dụng nhiên liệu hóa thạch phải trả tiền giống như các nhà sản xuất Búp bê Hạnh phúc, chẳng hạn như chịu thuế đánh vào khí thải carbon hoặc bằng phương cách khác. Áp lực đó là nhân tố thúc đẩy việc tìm kiếm các nguồn năng lượng thay thế khác ngoài nhiên liệu hóa thạch.
Một số nguồn năng lượng thay thế có vẻ gần như không cạn kiệt, chẳng hạn như gió, mặt trời, thủy triều, thủy điện và năng lượng địa nhiệt. Tất cả các nguồn đó ngoại trừ thủy triều đều “được kiểm chứng”: tức là, chúng đã được sử dụng trên quy mô lớn trong một thời gian dài. Ví dụ như Đan Mạch nhận được nhiều điện từ các cối xay gió ở Biển Bắc và thành phố Reykjavík, thủ đô của Iceland, được sưởi ấm từ năng lượng địa nhiệt, trong khi các đập trên sông để sản xuất năng lượng thủy điện đã được sử dụng rộng rãi trong hơn một thế kỷ.
Tất nhiên, mỗi nguồn năng lượng thay thế này có liên quan đến các vấn đề của riêng nó. Sản xuất năng lượng mặt trời quy mô lớn ở quê hương Nam California của tôi thường liên quan đến việc chuyển đổi các khu vực môi trường sống sa mạc đầy nắng thành các tấm pin mặt trời, và điều đó thật tồi tệ cho quần thể rùa sa mạc đang bị đe dọa. Cánh quạt gió giết chim và dơi, còn những chủ đất thì bực bội, phàn nàn rằng cối xay gió làm hỏng cảnh quan của họ. Các đập thủy điện chắn ngang sông tạo những chướng ngại cho loài cá di cư. Nếu chúng ta có các phương pháp tạo năng lượng khác rẻ tiền và không gây ra vấn đề gì, chắc chắn chúng ta sẽ giữ được môi trường sống của loài rùa sa mạc, không phải giết chim và dơi hay làm hỏng cảnh quan của người dân, hoặc ngăn chặn sự di cư của cá. Nhưng, như chúng ta đã thảo luận, việc thay thế nhiên liệu hóa thạch liên quan đến các vấn nạn lớn của nó đối với biến đổi khí hậu toàn cầu, các bệnh về đường hô hấp và thiệt hại do khai thác dầu và than. Do đó, chúng ta không thể lựa chọn giữa giải pháp tốt và giải pháp xấu mà phải đặt câu hỏi: lựa chọn nào trong số những phương án xấu đó thì ít tồi tệ nhất?
Để đưa ra một dẫn chứng về tranh cãi này, hãy xem xét vấn đề cánh quạt gió. Ở Mỹ, ước tính những cánh quạt gió giết ít nhất 45.000 con chim và dơi mỗi năm; số lượng nghe ra có vẻ rất nhiều, nhưng nếu đặt con số đó trong toàn cảnh, bạn có biết rằng theo ước tính, mỗi chú mèo nuôi được phép ra vào nhà chủ đã giết bình quân hơn 300 con chim mỗi năm (vâng, hơn ba trăm: không phải lỗi in sai đâu nhé). Nếu số mèo sống ngoài trời ở Mỹ ước tính khoảng 100 triệu, thì chỉ riêng loài mèo đã giết ít nhất 30 tỉ con chim mỗi năm, so với chỉ 45.000 con chim và dơi bị giết mỗi năm bởi cối xay gió. Số chim tử vong do cánh quạt gió chỉ bằng công việc của 150 chú mèo. Do đó, người ta có thể lập luận rằng, nếu thực sự quan tâm đến loài chim và dơi ở Mỹ, trước tiên chúng ta nên tập trung sự chú ý vào loài mèo thay vì cánh quạt gió. Để bảo vệ cho sự nguy hại của cánh quạt gió, xin hãy nhớ rằng loài mèo không hoàn trả cho những thiệt hại mà chúng gây ra đối với loài chim bằng cách cung cấp cho chúng ta năng lượng, không khí không bị ô nhiễm và giảm thiểu sự ấm lên toàn cầu, trong khi cánh quạt gió cung cấp tất cả những điều đó.
Ví dụ này minh họa cho việc sử dụng cánh quạt gió, pin mặt trời trên sa mạc và đập thủy điện, mặc dù không nghi ngờ gì về những tác hại mà chúng gây ra; nhưng chúng gây ra thiệt hại ít nghiêm trọng hơn so với nhiên liệu hóa thạch. Do đó, chúng có thể được xem là một phương pháp thỏa hiệp chấp nhận được để tạo nguồn năng lượng thay thế nhiên liệu hóa thạch. Chúng ta vẫn thường nghe những phản đối cho rằng cánh quạt gió và năng lượng mặt trời chưa cạnh tranh được với nhiên liệu hóa thạch, nhưng trong một số trường hợp lại có đấy; và lợi ích kinh tế rõ ràng của nhiên liệu hóa thạch cũng sai lệch; một lần nữa, các phương pháp thay thế sẽ rẻ hơn nhiều nếu chúng ta xem xét những chi phí gián tiếp lớn (như chi phí của Búp bê Hạnh phúc) của nhiên liệu hóa thạch.
Đến bây giờ, có lẽ bạn đang tự vấn về việc thay thế cho năng lượng hạt nhân đáng sợ. Đó là một chủ đề mà hầu hết người Mỹ, và nhiều công dân của các quốc gia khác, ngay lập tức bịt tai lại. Họ làm thế vì bên cạnh kinh tế còn ba lý do khác nữa: sợ tai nạn, sợ chuyển đổi nhiên liệu lò phản ứng hạt nhân để chế tạo bom nguyên tử và vấn đề chưa giải quyết được là nơi cất giữ nhiên liệu đã qua sử dụng.
Ký ức của chúng ta về bom nguyên tử ở Hiroshima và Nagasaki khiến nhiều người theo bản năng gắn các lò phản ứng hạt nhân với cái chết, chứ không phải năng lượng. Trên thực tế, kể từ năm 1945, đã có hai sự kiện được biết đến trong đó tai nạn tại các nhà máy điện hạt nhân gây chết người: 32 người thiệt mạng ngay tức thì và một số lượng lớn không rõ tử vong sau đó do ảnh hưởng của phóng xạ, đó là hậu quả của vụ tai nạn lò phản ứng Chernobyl ở Liên Xô cũ và vụ tai nạn lò phản ứng Fukushima ở Nhật. Một sự cố về thiết bị và lỗi của con người đã làm hỏng lò phản ứng lập trên đảo Three Mile ở Mỹ vào năm 1979, nhưng không có ai chết hoặc bị thương, và việc rò rỉ phóng xạ là rất ít. Tuy nhiên, hiệu ứng tâm lý của sự cố trên hòn đảo này rất lớn, dẫn đến việc đình chỉ lâu dài việc đặt hàng bất kỳ lò phản ứng mới nào để sản xuất năng lượng ở bất kỳ nơi nào trên đất Mỹ trong nhiều năm.
Nỗi sợ hãi còn lại liên quan đến thế hệ hạt nhân là việc chưa giải quyết được vấn đề xử lý nhiên liệu lò phản ứng đã qua sử dụng ở đâu. Lý tưởng nhất là nó nên được lưu trữ mãi mãi, trong một khu vực xa xôi và địa chất ổn định, được chôn sâu dưới lòng đất và không có nguy cơ rò rỉ do động đất hoặc nước xâm nhập. Nơi được cho là ứng viên tốt nhất được xác định cho đến nay là một địa điểm ở Nevada có vẻ phù hợp với các yêu cầu trên. Tuy nhiên, việc đảm bảo hoàn toàn về sự an toàn là không thể, vậy nên những công dân Nevada đã thành công trong việc phản đối đề xuất sử dụng địa điểm này.
Do đó, Mỹ vẫn chưa có một khu vực để xử lý chất thải hạt nhân. Do đó, cũng như chúng ta đã thảo luận về vấn đề chim và dơi bị giết bởi cánh quạt gió, việc tạo ra năng lượng hạt nhân không phải là không có mặt trái. Ngay cả khi không có những nhược điểm đó, nó cũng không thể đáp ứng tất cả nhu cầu năng lượng chính của chúng ta: chẳng hạn, không thể sử dụng lò phản ứng hạt nhân để cung cấp năng lượng cho ô tô và máy bay. Ký ức của chúng ta về Hiroshima và Nagasaki – lại được củng cố bởi sự cố đảo Three Mile, Chernobyl và Fukushima – đã làm tê liệt suy nghĩ của hầu hết người Mỹ và các dân tộc khác về sản xuất năng lượng hạt nhân. Tuy nhiên, một lần nữa, chúng ta phải đặt câu hỏi: những rủi ro của năng lượng hạt nhân là gì và những rủi ro của các giải pháp thay thế là gì? Pháp đã đáp ứng hầu hết nhu cầu điện quốc gia từ các lò phản ứng hạt nhân trong nhiều thập niên mà không gặp sự cố nào. Khó tin rằng dường như người Pháp có thể thực sự đã gặp sự cố nhưng không thừa nhận: kinh nghiệm của Chernobyl chứng minh rằng việc phóng thích bất kỳ chất phóng xạ nào vào bầu khí quyển từ lò phản ứng bị hư hỏng sẽ bị các nước khác phát hiện dễ dàng. Hàn Quốc, Phần Lan và nhiều quốc gia khác cũng đã tạo ra nhiều điện năng từ các lò phản ứng hạt nhân mà không có bất kỳ tai nạn đáng kể nào. Do đó, chúng ta nên cân nhắc nỗi sợ hãi về khả năng xảy ra sự cố lò phản ứng hạt nhân trong khi có một điều chắc chắn rằng hàng triệu người chết mỗi năm bởi ô nhiễm không khí do đốt nhiên liệu hóa thạch cùng những hậu quả to lớn gây hủy diệt của biến đổi khí hậu toàn cầu do nhiên liệu hóa thạch gây ra.
Đối với Mỹ, giải pháp cho những tình huống khó xử này sẽ phải dính dáng đến hai thành tố. Một là giảm mức tiêu thụ năng lượng trên bình quân đầu người: mức tiêu thụ của người Mỹ xấp xỉ gấp đôi so với người châu Âu, mặc dù người châu Âu được hưởng mức sống cao hơn người Mỹ. Trong số các yếu tố đóng góp là các chính sách khác nhau của chính phủ ở châu Âu và Mỹ ảnh hưởng đến việc mua xe. Người châu Âu không khuyến khích mua những chiếc xe lớn đắt tiền với mức tiêu thụ nhiên liệu cao và hao xăng do thuế mua xe ở một số nước châu Âu được đánh ở mức 100%, gấp đôi giá xe. Ngoài ra, châu Âu đánh thuế đối với giá xăng chạy xe lên đến hơn 9 đô la mỗi gallon, một biện pháp làm nản lòng những người mua xe không có tính hiệu quả về nhiên liệu. Mỹ cũng có thể áp dụng chính sách thuế tương tự để làm nản lòng người dân mua xe hơi tốn nhiều xăng.
Thành tố thứ hai về giải pháp cho các vấn đề nan giải năng lượng của Mỹ, bên cạnh việc giảm tổng thể mức tiêu thụ năng lượng, là kiếm thêm năng lượng từ các nguồn khác ngoài nhiên liệu hóa thạch – như từ gió, mặt trời, thủy triều, thủy điện, địa nhiệt và có lẽ tính cả năng lượng hạt nhân. Sau cuộc khủng hoảng dầu lửa Vùng Vịnh năm 1973, chính phủ Mỹ đã cung cấp các khoản trợ cấp cho những nhà phát triển sản xuất năng lượng thay thế và các công ty sử dụng các khoản trợ cấp đó để phát triển máy phát điện gió một cách hiệu quả. Thật không may, khoảng năm 1980, chính phủ Mỹ chấm dứt những khoản trợ cấp cho năng lượng thay thế, vì vậy thị trường cánh quạt gió của Mỹ nhanh chóng giảm đi. Thay vào đó, Đan Mạch, Đức, Tây Ban Nha và các nước châu Âu khác đã cải thiện thiết kế cánh quạt gió và hiện sử dụng chúng để tạo thêm năng lượng điện. Tương tự như thế, Trung Quốc đã phát triển các đường dây điện dài để truyền điện từ các địa điểm phát điện gió ở vùng phía tây xa xôi đến các khu vực đông dân cư ở phía đông Trung Quốc, trong khi Mỹ lại không phát triển các hệ thống truyền tải điện khoảng cách xa như thế.
Đó là những vấn đề liên quan đến sự cạn kiệt của một nguồn tài nguyên thiên nhiên: nhiên liệu hóa thạch nhìn trong bối cảnh rộng lớn hơn về vấn đề nhu cầu năng lượng của chúng ta. Bây giờ chúng ta hãy bàn luận ngắn gọn về các loại tài nguyên thiên nhiên chính khác và tiềm năng gây khó khăn của chúng cho tương lai của chúng ta. Hai trong số các loại này đã được giới thiệu trong Chương 8, liên quan đến các vấn đề mà chúng gây ra cho Nhật Bản: rừng, nơi cung cấp gỗ, giấy và các tác nhân sinh học quan trọng như thụ phấn; và nghề cá (chủ yếu là cá và động vật có vỏ ở đại dương, cũng có ở các sông hồ), vốn dĩ cung cấp một phần lớn nhu cầu protein trong chế độ ăn uống của con người. Các loại khác là: nhiều nguyên tố và khoáng chất khác nhau được sử dụng trong công nghiệp (sắt, nhôm, đồng, niken, chì và các loại khác); đất đai màu mỡ cần thiết cho nông nghiệp và lâm nghiệp; nước ngọt để uống, tắm rửa, nông nghiệp, lâm nghiệp và công nghiệp; và bầu không khí mà chúng ta hít thở và sống. Những nguồn tài nguyên này khác nhau ở bốn khía cạnh quan trọng để hiểu tiềm năng của chúng trong việc tạo ra các vấn đề cho chúng ta: khả năng tái tạo của chúng và các vấn đề quản lý gây ra; tiềm năng của chúng để xã hội loài người phải hạn chế sử dụng; tầm mức quốc tế của chúng; và tranh chấp quốc tế mà chúng khơi lên, bao gồm cả chiến tranh.
Đầu tiên, các nguồn tài nguyên khác nhau về khả năng tái tạo của chúng. Giống như nhiên liệu hóa thạch, khoáng chất là vô cơ (không phải sinh học và không thể tái tạo). Điều này có nghĩa là khoáng sản không tự tái tạo hay sản sinh khoáng chất con; số lượng hiện có dành cho chúng ta trên Trái đất, cho các mục đích thực tiễn, là tất cả những gì chúng ta có. Ngược lại, rừng và thủy sản là nguồn tài nguyên sinh học có thể tái tạo: cá và cây tạo ra cá con và cây con. Do đó trên lý thuyết và thường trên thực tế, chúng có thể được khai thác bền vững, bằng cách thu hoạch chúng với tốc độ thấp hơn tốc độ sản xuất cá và cây mới, do đó số lượng cá và cây vẫn ổn định hoặc thậm chí còn tăng thêm. Đất màu, mặc dù phần lớn là vô cơ và chỉ có một phần nguồn gốc sinh học, cũng có thể được coi là tài nguyên tái tạo vì trong khi nó có thể bị xói mòn bởi các hoạt động của con người, nó cũng có thể được tái tạo do tác động của giun đất và vi sinh vật. Nước ngọt một phần không thể tái tạo (ví dụ một tầng ngậm nước), nhưng một phần có thể tái tạo, do nước bốc hơi từ đại dương có thể tạo ra mưa trên đất liền và biến thành nước ngọt.
Qua thực tiễn quản lý, chúng ta không thể làm gì để duy trì trữ lượng tài nguyên không tái tạo trên thế giới (khoáng sản và nhiên liệu hóa thạch) trên thế giới. Nhưng thực tiễn quản lý có tác động lớn đến dự trữ tài nguyên sinh học tái tạo. Như đã đề cập trong Chương 8, nhiều nước đã biết cách quản lý rừng và thủy sản bền vững. Một số khu rừng và thủy sản trên thế giới, như những khu rừng ở Đức và nghề đánh bắt cá hồi ở Alaska, đã được quản lý tốt. Nhưng đa phần thì không; chúng đang bị thu hoạch quá mức, và kết quả là trữ lượng cây hoặc thủy sản giảm sút hoặc biến mất. Hỏi nhanh: lần cuối bạn ăn cá kiếm vùng Đại Tây Dương là khi nào? Trả lời: không còn từ nhiều năm trước, vì chúng bị thu hoạch quá mức và xem như tuyệt chủng về mặt thương mại. Chúng ta cũng biết cách quản lý tầng đất mặt, nhưng thật đáng buồn, nó thường bị quản lý tồi và bị cuốn trôi ra sông để rồi sau đó bị xói mòn dưới đại dương hay khả năng sinh sản và kết cấu của nó bị suy thoái. Tóm lại, thế giới hiện đang quản lý tồi nhiều hoặc hầu hết các nguồn tài nguyên sinh học có giá trị tái tạo.
Thứ hai, những tài nguyên thiên nhiên nào có thể hạn chế các xã hội loài người? Câu trả lời: có lẽ tất cả chúng, ngoại trừ oxy trong khí quyển mà chúng ta không thể sử dụng hết. Cũng có một số khoáng sản, đặc biệt là sắt và nhôm có số lượng lớn đến mức chúng dường như không thấy có khả năng cần hạn chế – nhưng tôi phải bổ sung thêm rằng những nguồn tài nguyên mà chúng ta đã và đang khai thác đều nằm ở bề mặt, dễ tiếp cận và tổn phí thấp. Theo thời gian, chúng ta chắc chắn sẽ phải khai thác đến trữ lượng sâu hơn và tốn kém hơn, như từng làm với nhiên liệu hóa thạch. Một số khoáng sản quan trọng khác trong công nghiệp tồn tại với số lượng nhỏ hơn nhiều, do đó đã nảy sinh những lo ngại về trữ lượng hạn chế của chúng – chẳng hạn như một loại khoáng sản gọi là đất hiếm có trữ lượng tập trung ở Trung Quốc. Có lẽ bạn có xu hướng xem lượng nước ngọt là vô hạn vì có rất nhiều nước mặn trên đại dương và về cơ bản chúng ta có thể tạo ra lượng nước ngọt vô hạn bằng cách khử muối trong nước biển. Nhưng để làm được điều đó cũng đòi hỏi năng lượng, và chúng ta đã rất khó khăn về năng lượng và phải chịu phí tổn lớn từ việc lạm dụng nó, vì vậy trên thực tế, nước ngọt thực sự chỉ có sẵn với số lượng hạn chế.
Mối quan tâm tiếp theo của chúng ta là chiều kích quốc tế đối với các vấn đề tài nguyên thế giới. Một số tài nguyên như rừng thì không chuyển dịch; mỗi cây rừng đều ở ngay quốc gia nơi nó đang phát triển, vì vậy về mặt lý thuyết, việc quản lý nó có thể do quốc gia đó quyết định (mặc dù trên thực tế có một khía cạnh quốc tế vì các quốc gia khác có thể mua hoặc cho thuê tài nguyên). Nhưng những phức tạp trên bình diện quốc tế là điều không thể tránh khỏi đối với các tài nguyên gọi là “của chung” trên phạm vi quốc tế, cộng đồng và các tài nguyên lưu động chuyển dịch giữa các biên giới quốc gia.
Đại dương rộng lớn là một “của chung”: trong khi nước biển trong phạm vi 200 dặm được coi là lãnh hải của một quốc gia, thì nước biển ngoài phạm vi giới hạn 200 hải lý không thuộc sở hữu của một đất nước nào. (Tên gọi “của chung” xuất phát từ một thuật ngữ được áp dụng cho nhiều vùng đất đồng cỏ thời Trung cổ: nó không thuộc sở hữu của cá nhân mà được coi là “của chung,” được sử dụng như đất công). Các quốc gia có cơ sở pháp lý để điều tiết việc đánh bắt cá trong giới hạn 200 dặm thuộc về mình, nhưng bất kỳ tàu cá của quốc gia nào cũng có thể đánh cá ở bất cứ đâu giữa biển khơi. Do đó, không có cơ chế pháp lý nào để ngăn chặn việc đánh bắt quá mức ở các đại dương nên nhiều nguồn cá đại dương đang sụt giảm. Ba nguồn tài nguyên có giá trị tiềm năng cũng nằm trong một “của chung” ngoài giới hạn quốc gia: khoáng chất hòa tan trong đại dương, nước ngọt ở chỏm băng Nam Cực và khoáng sản nằm dưới đáy biển. Đã có một số nỗ lực để khai thác cả ba nguồn tài nguyên này: sau Thế chiến I, nhà hóa học người Đức Fritz Haber nghiên cứu một quy trình khai thác vàng từ nước biển; ít nhất cũng có một nỗ lực khác được thực hiện nhằm kéo một tảng băng trôi từ Nam Cực đến một quốc gia Trung Đông thiếu nước; và những nỗ lực mới manh nha trong việc khai thác một số khoáng sản từ đáy đại dương. Nhưng chưa nỗ lực nào trong số đó được chứng minh là thực tiễn; vấn đề chung hiện nay của chúng ta “chỉ” là việc đánh cá trên đại dương.
Những tài nguyên khác có khả năng gây ra rắc rối trên trường quốc tế là tài nguyên di động chuyển dịch từ nước này sang nước khác. Nhiều loài động vật di cư và di chuyển qua biên giới quốc gia: những loài quan trọng nhất về mặt kinh tế là nhiều loài cá đại dương có giá trị về mặt thương mại, như cá ngừ đại dương và một số loài cá sông cùng động vật có vú và chim di cư (như cá hồi sông, tuần lộc Bắc Cực và linh dương vùng thảo nguyên châu Phi). Do đó, khi một chiếc tàu cá của một quốc gia thu hoạch một đàn cá di cư đại dương, nó sẽ làm thiếu hụt nguồn cá của một quốc gia khác. Nước ngọt cũng lưu động: có nhiều con sông chảy giữa hai hoặc nhiều nước và nhiều hồ lớn bao quanh bởi hai hoặc nhiều nước, do đó một nước có thể làm khô cạn hay ô nhiễm nguồn nước ngọt mà một nước khác cần đến. Bên cạnh những tài nguyên thiên nhiên lưu động hữu ích sẵn có trong nước hoặc không khí, có những thứ lưu động độc hại do hoạt động của con người thêm vào trong nước hoặc không khí, và có thể dịch chuyển theo dòng nước hay gió từ nước này sang nước khác. Chẳng hạn, khói từ các vụ cháy rừng ở Indonesia đã làm tổn hại nghiêm trọng đến chất lượng không khí thổi vào Malaysia và Singapore liền kề; bụi từ Trung Quốc và Trung Á bị thổi bay sang Nhật Bản và thậm chí đến Bắc Mỹ; và các dòng sông mang theo nhựa phế phẩm đến tận những đại dương và vùng biển xa xôi nhất.
Cuối cùng, chúng ta hãy xem xét những tài nguyên khác có khả năng gây tranh chấp quốc tế. Đây là một vấn đề lớn, bởi vì nếu không thể giải quyết một cách thân thiện, các nước có thể tìm cách giải quyết bằng chiến tranh. Điều đó đã xảy ra trong trường hợp cạnh tranh quốc tế về dầu mỏ, đó là động lực chính để Nhật Bản tham gia Thế chiến II, và trong trường hợp Chiến tranh trên Thái Bình Dương (1879-1883) giữa Chile với Bolivia và Peru để kiểm soát các mỏ đồng và chất nitrat ở sa mạc Atacama. Ngày nay, có sự cạnh tranh nghiêm trọng giữa các nước trên thế giới về nguồn nước ngọt, chẳng hạn như nguồn nước phát sinh từ sự tan chảy của khối tuyết trên đỉnh Himalaya, nơi cung cấp nước cho các con sông lớn chảy qua phần lớn Trung Quốc, Ấn Độ và các nước vùng Đông Nam Á. Trong trường hợp sông Mê Kông và các dòng sông khác chảy qua Đông Nam Á, những con đập ở các quốc gia thượng nguồn sẽ ngăn chặn các trầm tích giàu chất dinh dưỡng tiếp cận được các nước ở vùng hạ lưu. Việc cạnh tranh nguồn cá đại dương ngoài khơi Tây Phi giữa các tàu cá từ Liên minh Châu Âu, Trung Quốc và các quốc gia Tây Phi đang diễn ra. Các cuộc “tranh giành” tài nguyên mang tính quốc tế đang diễn ra đối với các loại cây gỗ cứng mọc ở các nước nhiệt đới mà các nước công nghiệp ôn đới thèm muốn; với các nguyên tố đất hiếm sử dụng trong công nghiệp; và với cả đất, chẳng hạn như Trung Quốc thuê đất nông nghiệp ở châu Phi. Nói tóm lại, khi sự phát triển và tiêu dùng của con người trên thế giới tăng lên, chúng ta có thể chờ đợi nhiều, rất nhiều xung đột do cạnh tranh quốc tế gây ra từ các nguồn tài nguyên hạn chế.
Tỉ lệ tiêu thụ tài nguyên như xăng dầu và kim loại tính theo bình quân đầu người, và tỉ lệ sản xuất chất thải tính bình quân đầu người như chất thải nhựa và khí thải nhà kính ở Thế giới Thứ nhất cao hơn khoảng 32 lần so với thế giới đang phát triển. Chẳng hạn, mỗi năm, một người Mỹ trung bình tiêu thụ xăng dầu nhiều hơn khoảng 32 lần và tạo ra chất thải nhựa và carbon dioxide nhiều hơn 32 lần so với bình quân một công dân ở một nước nghèo. Nhân tố 32 lần đó để lại những hậu quả lớn đối với cách mọi người ở các nước đang phát triển cư xử, và nó cũng để lại hậu quả cho những gì còn nằm ở phía trước tất cả chúng ta. Đó là vấn nạn cuối trong bốn điều mà tôi nhìn thấy đang đe dọa nền văn minh và loài người chúng ta.
Để hiểu thấu những hậu quả đó, chúng ta hãy thử lưu tâm đến dân số thế giới. Ngày nay, thế giới có hơn 7,5 tỉ người, và con số này có thể tăng lên khoảng 9,5 tỉ nội trong nửa thế kỷ tới. Vài thập niên trước, nhiều người xem dân số là vấn đề lớn nhất mà loài người phải đối mặt. Nhưng kể từ đó, chúng ta dần nhận ra rằng dân số chỉ là một trong hai nhân tố mà sản phẩm của chúng mới là điều thực sự quan trọng. Sản phẩm đó là tổng mức tiêu thụ của thế giới, được tính bằng tổng (trên toàn thế giới) lượng tiêu thụ địa phương, lại được tính bằng sản phẩm của hai thuật ngữ: dân số địa phương (số người) nhân với tỉ lệ tiêu thụ bình quân trên mỗi đầu người địa phương.
Vấn đề dân số chỉ quan trọng khi con người tiêu thụ và sản xuất. Nếu hầu hết 7,5 tỉ người trên thế giới ở trong một kho đông lạnh và không chuyển hóa hoặc tiêu thụ, thì họ không tạo ra vấn nạn tài nguyên. Thế giới Thứ nhất bao gồm khoảng 1 tỉ người sinh sống chủ yếu ở Bắc Mỹ, châu Âu, Nhật Bản và Úc, và có tỉ lệ tiêu thụ bình quân đầu người tương đối là 32. Hầu hết 6,5 tỉ người còn lại trên thế giới tạo thành thế giới đang phát triển, có tỉ lệ tiêu thụ bình quân đầu người tương đối dưới 32, phần lớn gần mức 1. Những con số đó có nghĩa là hầu hết việc tiêu thụ tài nguyên đều diễn ra trong Thế giới Thứ nhất.
Tuy nhiên, một số người vẫn gắn bó với yếu tố dân số. Họ lưu ý rằng các nước như Kenya có tỉ lệ tăng dân số trên 4% mỗi năm và cho rằng đó là một vấn đề lớn. Quả thực đó là một vấn đề, đặc biệt là đối với Kenya 50 triệu người. Nhưng vấn đề lớn hơn nhiều đối với toàn thế giới là chúng ta có 330 triệu người Mỹ, gấp 6,6 lần so với Kenya, và mỗi người Mỹ tiêu thụ bằng 32 người Kenya. Nhân hai tỉ lệ của Mỹ và Kenya (6,6 so với 1 và 32 so với 1), bạn sẽ thấy rằng về tổng thể, Mỹ tiêu thụ tài nguyên gấp 210 lần so với Kenya. Lấy một ví dụ khác, dân số 60 triệu người Ý tiêu thụ gần gấp đôi so với một tỉ người sống trên toàn lục địa châu Phi.
Cho đến thời gian gần đây, sự tồn tại của tất cả những người nghèo ở nơi khác không phải là mối đe dọa đối với các nước thuộc Thế giới Thứ nhất. “Họ” ở bên ngoài, không biết gì về cách sống của chúng ta, và nếu có biết đi chăng nữa, rồi ganh tị hoặc tức giận, họ cũng không thể làm được gì. Nhiều thập niên trước, các nhà ngoại giao Mỹ thường chơi một trò chơi tranh luận về việc quốc gia nào trong số các nước trên thế giới không liên quan nhất đến lợi ích quốc gia của Mỹ. Câu trả lời phổ biến là “Afghanistan” và “Somalia,” đó là hai quốc gia rất nghèo và xa xôi đến nỗi dường như họ không bao giờ có khả năng làm gì để gây vấn nạn cho Mỹ. Trớ trêu thay, hai quốc gia này sau đó bị xem là những mối đe dọa đối đến nỗi Mỹ phải gửi quân đội đến cả hai nước, và hiện quân đội Mỹ vẫn còn trú đóng ở Afghanistan.
Lý do tại sao các nước nghèo ở xa hiện nay có thể tạo vấn nạn cho các nước giàu có thể được tóm tắt bằng từ “toàn cầu hóa”: các kết nối giữa tất cả các nơi trên thế giới ngày càng gia tăng. Đặc biệt, thông tin và đi lại ngày càng dễ dàng đồng nghĩa với việc người dân ở các nước đang phát triển biết nhiều đến sự khác biệt lớn về mức tiêu thụ và mức sống trên toàn thế giới, và giờ đây nhiều người có thể du lịch đến các nước giàu.
Trong số những cách khiến toàn cầu hóa tạo ra sự khác biệt về mức sống trên toàn thế giới có ba điểm nổi bật không thể phủ nhận. Một là sự lây lan của những căn bệnh mới bộc phát, lan từ các nước nghèo đến các nước giàu. Trong những thập niên gần đây, những căn bệnh gây tử vong đáng sợ thường du nhập vào các nước giàu bởi du khách từ các nước nghèo, nơi những căn bệnh này là đặc hữu và các biện pháp y tế công cộng lại yếu – dịch tả, dịch Ebola, cúm, (đặc biệt là) AIDS và các bệnh khác. Những căn bệnh ngoại nhập này vẫn sẽ gia tăng.
Sự lây lan của các dịch bệnh mới nổi là hậu quả không chủ ý của sự toàn cầu hóa, nhưng sự lây lan thứ nhì do toàn cầu hóa có khả năng liên quan đến chủ ý của con người. Nhiều người ở các nước nghèo cảm thấy thất vọng và tức giận khi họ nhận thức được lối sống tiện nghi sẵn có ở những nơi khác trên thế giới. Một số những người này trở thành những kẻ khủng bố, và nhiều người khác tuy không phải là những kẻ khủng bố nhưng lại dung túng hoặc hỗ trợ cho những kẻ khủng bố. Kể từ cuộc tấn công Trung tâm Thương mại Thế giới ngày 11 tháng 9 năm 2001, rõ ràng là các đại dương trước đây bảo vệ nước Mỹ không còn là bức tường bảo vệ nữa. Người Mỹ hiện đang sống dưới sự đe dọa liên tục của khủng bố. Chắc chắn sẽ còn nhiều cuộc tấn công khủng bố chống lại Mỹ và châu Âu, và có thể là cả Nhật Bản và Úc trong tương lai – chừng nào sự khác biệt về yếu tố “gấp 32 lần” trong tỉ lệ tiêu thụ vẫn còn tồn tại.
Hiển nhiên, sự bất bình đẳng toàn cầu tự nó là nguyên nhân trực tiếp của các hành động khủng bố. Chủ nghĩa cơ bản tôn giáo và tâm bệnh học cá nhân cũng đóng một vai trò thiết yếu. Mỗi quốc gia đều có những cá nhân bị sự tức giận điên cuồng thúc đẩy đến việc giết người khác, đó không chỉ là vấn đề của các nước nghèo. Mỹ có Timothy McVeigh, người đã cướp đi 168 sinh mạng bằng một quả bom đặt trong xe tải ở thành phố Oklahoma, và Theodore Kaczynski gửi các kiện hàng chứa bom được thiết kế cẩn thận khiến ba người chết và bị thương 23 người. Na Uy cũng có Anders Behring Breivik với một quả bom và một khẩu súng đã giết 77 người và làm bị thương 329 người trong số đó có nhiều trẻ em. Nhưng ba kẻ khủng bố đó chỉ là những cá nhân điên rồ bị cô lập và không có được sự ủng hộ rộng rãi do hầu hết người Mỹ và người Na Uy đều không đủ tuyệt vọng hay tức giận. Chỉ ở các nước nghèo, nơi phần lớn dân số cảm thấy tuyệt vọng và tức giận, mới có sự khoan dung hoặc hỗ trợ cho những kẻ khủng bố.
Hậu quả còn lại của yếu tố 32 đó, kết hợp với toàn cầu hóa, là những người có mức tiêu thụ thấp muốn tận hưởng lối sống tiêu dùng cao. Họ có hai cách để đạt được nó. Đầu tiên, chính phủ ở các nước đang phát triển xem sự gia tăng mức sống, bao gồm mức tiêu thụ, là mục tiêu chính của chính sách quốc gia. Thứ nhì, hàng chục triệu người ở các nước đang phát triển không sẵn sàng chờ đợi xem liệu chính phủ của họ có thể cung cấp mức sống cao trong suốt cuộc đời họ hay không, mà thay vào đó, họ muốn tìm kiếm lối sống của Thế giới Thứ nhất ngay lập tức bằng cách di cư đến Thế giới Thứ nhất, hợp pháp hay bất hợp pháp: đặc biệt bằng cách di cư đến Tây Âu và Mỹ, hoặc Úc; chủ yếu là từ châu Phi và một phần châu Á, hay từ Trung Mỹ và Nam Mỹ. Điều này chứng tỏ rằng việc nhập cư là không thể tránh được. Mỗi lần chuyển đổi một người từ mức tiêu thụ thấp sang nước có mức tiêu thụ cao sẽ làm tăng tỉ lệ tiêu thụ của thế giới, mặc dù hầu hết người nhập cư không thành công ngay lập tức trong việc tăng mức tiêu thụ của họ lên toàn bộ hệ số 32.
Có phải tất cả mọi người đều mơ ước được sống theo kiểu Thế giới Thứ nhất? Hãy xem xét các con số. Chúng ta nhân số người dân hiện tại với tỉ lệ tiêu thụ bình quân đầu người (dầu, kim loại, nước, v.v.) ở mỗi nước và cộng chung các sản phẩm đó trên toàn thế giới. Tổng kết quả là tỉ lệ tiêu thụ tài nguyên của thế giới hiện thời. Bây giờ lặp lại tính toán đó, nhưng với tất cả các nước đang phát triển đạt được tỉ lệ tiêu thụ của Thế giới Thứ nhất cao hơn tới 32 lần so với hiện tại của họ, và không có thay đổi trong dân số quốc gia hoặc bất cứ điều gì khác về thế giới. Kết quả là tỉ lệ tiêu thụ thế giới sẽ tăng gấp 11 lần. Con số đó tương đương với dân số thế giới khoảng 80 tỉ người với tỉ lệ tiêu thụ bình quân đầu người hiện nay.
Có một số người lạc quan cho rằng chúng ta có thể hỗ trợ một thế giới với 9,5 tỉ người. Nhưng tôi chưa gặp bất kỳ người lạc quan nào đủ điên rồ để tuyên bố rằng chúng ta có thể hỗ trợ một thế giới có khoảng 80 tỉ người. Chúng ta còn hứa với các nước đang phát triển rằng nếu họ chỉ áp dụng các chính sách tốt, như chính phủ trung thực và nền kinh tế thị trường tự do, họ cũng có thể trở thành như Thế giới Thứ nhất hiện nay. Lời hứa đó là hoàn toàn không thể, một trò lừa bịp tàn nhẫn trong khi ngay cả bây giờ chúng ta còn gặp phải khó khăn trong việc hỗ trợ lối sống của một Thế giới Thứ nhất, khi chỉ 1 tỉ người trên thế giới 7,5 tỉ người được thụ hưởng lối sống đó.
Người Mỹ thường coi tiêu dùng ngày càng tăng ở Trung Quốc và các nước đang phát triển khác là “một vấn đề,” và mong muốn rằng “vấn đề” này không xảy ra. Tất nhiên, cái gọi là vấn đề vẫn sẽ tiếp tục: người Trung Quốc và người dân các nước đang phát triển khác chỉ đang cố gắng tận hưởng mức tiêu thụ mà người Mỹ đã được hưởng. Họ sẽ không bao giờ nghe khi người Mỹ ngớ ngẩn đến mức bảo họ đừng cố làm những gì Mỹ đang làm. Kết quả bền vững duy nhất cho thế giới toàn cầu hóa chỉ có khi Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil, Indonesia, các nước châu Phi và các nước đang phát triển khác chấp nhận tỉ lệ tiêu dùng và mức sống gần ngang bằng nhau trên toàn thế giới. Nhưng hiện nay thế giới không có đủ nguồn lực để hỗ trợ bền vững cho Thế giới Thứ nhất, huống gì nói đến thế giới đang phát triển, ở mức độ Thế giới Thứ nhất hiện tại. Phải chăng điều này có nghĩa là chúng ta được đảm bảo sẽ kết thúc trong thảm họa?
Không: chúng ta có thể có một kết quả ổn định trong đó Thế giới Thứ nhất và các quốc gia khác hội tụ về tỉ lệ tiêu thụ thấp hơn đáng kể so với tỉ lệ của Thế giới Thứ nhất hiện tại. Hầu hết người Mỹ sẽ phản đối: chúng ta sẽ không hi sinh mức sống của mình chỉ vì lợi ích của người ngoài! Như Dick Cheney từng nói: “Lối sống của người Mỹ là không thể thương lượng.” Nhưng thực tế tàn nhẫn về mức độ tài nguyên trên thế giới bảo đảm rằng lối sống của người Mỹ sẽ thay đổi; với những thực tế về tài nguyên thế giới, chúng ta phải thỏa hiệp để tồn tại. Người Mỹ chắc chắn sẽ hi sinh tỉ lệ tiêu thụ, bất chấp việc họ có quyết định như thế hay không, vì thế giới không thể duy trì mức sống hiện tại này mãi được.
Không nhất thiết phải là một hi sinh thực sự, vì tỉ lệ tiêu dùng và sức khỏe con người có sự tương quan, không thể cùng song hành được. Việc người Mỹ tiêu thụ nhiều gây lãng phí và cũng không tạo ra chất lượng cuộc sống cao. Ví dụ như tỉ lệ tiêu thụ xăng dầu bình quân đầu người ở Tây Âu là khoảng một nửa so với ở Mỹ, nhưng nếu tính bình quân thì mức sống của người Tây Âu tốt hơn so với người Mỹ theo bất kỳ tiêu chí nào, như tuổi thọ, sức khỏe, tỉ lệ tử vong trẻ sơ sinh, tiếp cận chăm sóc y tế, an ninh tài chính sau khi nghỉ hưu, thời gian nghỉ, chất lượng các trường công lập, và tài trợ nghệ thuật. Khi bạn đọc xong trang này của cuốn sách, chỉ cần đi ra một con phố ở Mỹ, nhìn vào những chiếc xe đang chạy, ước tính các trạm xăng của họ, và tự hỏi liệu việc tiêu thụ khí đốt lãng phí của Mỹ có đóng góp tích cực cho bất kỳ thước đo chất lượng nào của cuộc sống không. Ngoài xăng dầu ra, có những lĩnh vực khác mà tỉ lệ tiêu thụ ở Mỹ và các quốc gia thuộc Thế giới Thứ nhất lãng phí, chẳng hạn như việc khai thác và hủy hoại hầu hết các khu vực ngư nghiệp và rừng trên thế giới.
Tóm lại, chắc chắn rằng trong vòng đời của hầu hết chúng ta, tỉ lệ tiêu thụ bình quân đầu người ở Thế giới Thứ nhất sẽ thấp hơn so với hiện tại. Câu hỏi duy nhất là liệu chúng ta sẽ tiếp cận điều này bằng các phương pháp được lên kế hoạch theo lựa chọn của chúng ta hay bằng các phương pháp không mấy dễ chịu và không phải do chúng ta lựa chọn. Cũng chắc chắn rằng, trong vòng đời của chúng ta, tỉ lệ tiêu thụ bình quân đầu người ở nhiều nước đông dân đang phát triển sẽ không còn là một “nhân tố 32” thấp hơn mức tiêu thụ của Thế giới Thứ nhất mà sẽ gần mức tiêu thụ của Thế giới Thứ nhất hơn so với hiện tại. Những xu hướng đó là mục tiêu mong muốn, thay vì triển vọng khủng khiếp mà chúng ta nên chống lại. Chúng ta đã biết đủ để hướng đến việc đạt được điều này; điều chính yếu còn thiếu là ý chí chính trị cần thiết.
Trên đây là những vấn nạn lớn nhất đối với toàn thế giới mà tôi nhìn thấy. Từ cái nhìn dựa trên khung biến cố của chúng ta, những nhân tố nào thích hợp và những nhân tố nào cản trở con người giải quyết những vấn nạn đó?
Không thể phủ nhận rằng chúng ta phải đối mặt với những trở ngại ghê gớm. Nhiều hơn so với các trường hợp biến cố quốc gia mà bảy nước riêng lẻ phải đối mặt trong các chương trước của cuốn sách này, những nỗ lực tầm thế giới để giải quyết các vấn nạn thế giới buộc chúng ta phải vượt qua những ràng buộc địa lý xa lạ, với ít tiền lệ hơn từ quá khứ để dẫn dắt chúng ta. Hãy nghĩ đến một tổng thể toàn thế giới khác với các quốc gia riêng lẻ. Các quốc gia mà chúng ta đã bàn đều thống nhất thừa nhận căn tính quốc gia và các giá trị quốc gia chung, phân biệt quốc gia của họ với các quốc gia khác có căn tính và các giá trị khác nhau. Bảy quốc gia này từ lâu đã thành lập các diễn đàn tranh luận về nền chính trị quốc gia và có lịch sử ứng phó với biến cố để tìm cảm hứng cho ngày mai. Tất cả những quốc gia này đã được hưởng lợi từ sự cung cấp trợ giúp vật chất, lời khuyên và mô hình của các nước đồng minh thân thiện để sửa đổi và áp dụng.
Nhưng toàn bộ thế giới của chúng ta lại thiếu những điều đó và những ưu thế khác của các quốc gia đã bàn. Chúng ta không thể liên lạc với một hành tinh có người ở khác để có thể tìm kiếm sự hỗ trợ (nhân tố số 4 ở Bảng 1.2), hoặc có xã hội mà chúng ta có thể cân nhắc kỹ lưỡng các mô hình để tìm kiếm giải pháp của riêng mình (nhân tố số 5). Nhân loại thiếu thừa nhận rộng rãi về căn tính chung (nhân tố số 6) và giá trị cốt lõi chung (nhân tố số 11) trái ngược với căn tính và giá trị phổ biến đối với các hành tinh khác. Lần đầu tiên trong lịch sử, chúng ta phải đối mặt với những thách thức thực sự trên bình diện toàn cầu; chúng ta còn thiếu kinh nghiệm trong quá khứ về những thách thức như vậy (nhân tố số 8) và không thể giải quyết chúng (nhân tố số 9). Những tiền lệ của chúng ta về sự thành công trước đây trong việc ứng phó biến cố trên toàn thế giới bị hạn chế: Hội Quốc Liên và Liên Hợp Quốc hình thành hai nỗ lực thể chế đầu tiên, nhưng trong khi chúng đạt được một số thành công thì những thành công đó vẫn chưa đạt được quy mô giải quyết các vấn nạn tầm cỡ thế giới. Không có sự thừa nhận biến cố mang tính toàn cầu (nhân tố số 1) cũng như sự chấp nhận trách nhiệm đối với toàn bộ thế giới (nhân tố số 2) về các vấn đề hiện tại, cũng như đánh giá trung thực mang tầm thế giới (nhân tố số 7). Tự do lựa chọn của chúng ta (nhân tố số 12) bị hạn chế bởi những kìm hãm mãnh liệt: sự cạn kiệt tài nguyên thế giới dường như chắc chắn, sự gia tăng nồng độ CO2 trên thế giới và quy mô bất bình đẳng trên toàn thế giới khiến chúng ta không có nhiều cơ hội để thử nghiệm và vạch kế hoạch điều chỉnh. Tất cả những thực tế tàn nhẫn đó khiến nhiều người cảm thấy bi quan hoặc vô vọng về viễn cảnh một tương lai tốt đẹp cho loài người.
Tuy nhiên, cũng có tiến triển theo ba lộ trình khác nhau để giải quyết các vấn nạn thế giới. Một lộ trình thử nghiệm lâu dài bao gồm những thỏa thuận song phương và đa phương giữa các quốc gia. Chúng ta biết rằng đã có các cuộc đàm phán và thỏa thuận giữa các thực thể chính trị ít nhất là từ khi có văn bản để ghi nhận chúng (hơn 5.000 năm trước). Những nhóm người và bộ lạc thời đó dù không có văn bản cũng đưa ra thỏa thuận, vì vậy lịch sử đàm phán chính trị của chúng ta chắc chắn đã tồn tại từ hàng chục ngàn năm trước khi hình thành các chính quyền quốc gia. Đặc biệt, cả bốn vấn nạn thế giới bàn thảo trong chương này đều là chủ đề của các cuộc đàm phán song phương và đa phương gần đây.
Tôi sẽ chỉ dẫn chứng một vụ việc, không phải vì vấn đề đã giải quyết là một trong những vấn đề cấp bách nhất (quả thật thế), mà bởi vì nó minh họa khả năng đạt được thỏa thuận ngay cả giữa các quốc gia bị giam hãm trong sự thù hằn cay nghiệt nhất: Israel và Li Băng. Israel đã xâm lăng và chiếm đóng một phần Li Băng. Còn Li Băng đóng vai trò là căn cứ để tiến hành các cuộc tấn công tên lửa vào Israel. Tuy nhiên, những nhà quan sát chim của hai nước này đã thành công trong việc đạt được một thỏa thuận quan trọng. Đại bàng và các loài chim lớn khác di cư theo mùa giữa châu Âu và châu Phi bay về phía nam từ Li Băng qua Israel vào mỗi mùa thu, sau đó lại bay về phía bắc từ Israel qua Li Băng vào mỗi mùa xuân. Khi máy bay va chạm với những con chim lớn đó, kết quả thường là sự hủy diệt cho cả hai phía (tôi viết lại điều này một năm sau khi tôi cùng gia đình thoát chết trong khi chiếc máy bay thuê nhỏ bé của chúng tôi va chạm với một chú đại bàng và bị móp méo, còn chú đại bàng thì chết). Những vụ va chạm như thế là một nguyên nhân chính gây ra những tai nạn chết người ở Li Băng và Israel. Điều này đã thúc đẩy những người theo dõi chim của hai nước thiết lập một hệ thống cảnh báo cho nhau. Vào mùa thu, những người theo dõi chim Li Băng cảnh báo các đồng nghiệp Israel và kiểm soát viên không lưu của Israel khi họ nhìn thấy một đàn chim lớn trên Li Băng di chuyển về phía nam hướng đến Israel, và vào mùa xuân, những người theo dõi chim ở Israel lại cảnh báo về những đàn chim di chuyển về phía bắc. Mặc dù rõ ràng là thỏa thuận này có lợi cho cả hai bên, nhưng nó đòi hỏi nhiều năm thảo luận để vượt qua sự thù hận hiện tại và chỉ tập trung vào chim chóc và máy bay.
Tất nhiên, một thỏa thuận giữa chỉ hai hoặc thậm chí một số quốc gia là quá ít cho một thỏa thuận của 216 quốc gia cấu thành toàn thế giới. Nhưng nó vẫn tạo thành một bước tiến lớn để đi đến hiệp ước thế giới, vì chỉ có một vài quốc gia chiếm tỉ trọng lớn trong dân số và kinh tế thế giới. Chỉ hai nước (Trung Quốc và Ấn Độ) đã chiếm một phần ba dân số thế giới; một cặp quốc gia khác (Mỹ và Trung Quốc) chiếm 41% lượng phát thải CO2 và sản lượng kinh tế của thế giới; và năm quốc gia hoặc tổ chức (Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ, Nhật Bản và Liên minh Châu Âu) chiếm 60% lượng khí thải và sản lượng. Trung Quốc và Mỹ đã đạt được thỏa thuận về nguyên tắc về khí thải CO2. Thỏa thuận song phương này sau đó đã được Ấn Độ, Nhật Bản và Liên minh Châu Âu tham gia theo hiệp ước Paris có hiệu lực vào năm 2016. Tất nhiên hiệp ước Paris là chưa đủ, vì nó thiếu một cơ chế thực thi nghiêm túc và vì trong năm sau đó chính phủ Mỹ tuyên bố ý định rút ra. Nhưng hiệp ước Paris vẫn có khả năng đóng vai trò là mô hình hoặc điểm khởi đầu để đạt được một thỏa thuận trong tương lai nếu được cải thiện. Ngay cả khi 200 nước khác trên thế giới có mức sản lượng nhỏ hơn không tham gia một hiệp ước trong tương lai, thì chỉ cần một thỏa thuận năm chiều giữa năm người chơi lớn nhất có thể đi nốt chặng đường dài để giải quyết vấn đề khí thải. Đó là vì năm người chơi lớn nhất có thể gây áp lực lên 200 kẻ khác, chẳng hạn như việc áp thuế thương mại và thuế carbon đối với các quốc gia không tuân thủ quy định.
Một lộ trình khác để giải quyết các vấn đề thế giới bao gồm những hiệp ước giữa các quốc gia trong khu vực. Hiện đã có nhiều hiệp ước tầm khu vực ở Bắc Mỹ, Mỹ Latin, châu Âu, Đông Nam Á, châu Phi và các nhóm khu vực khác. Tập hợp các hiệp ước khu vực tiên tiến nhất, với phạm vi rộng nhất về thể chế và phạm vi thỏa thuận cùng các quy tắc ràng buộc, là tập hợp của Liên minh Châu Âu, hiện bao gồm khoảng 27 quốc gia châu Âu. Tất nhiên, đề cập đến Liên minh Châu Âu, lập tức người ta nghĩ đến những bất đồng, trở lại, sự trượt lùi, Brexit và những lối thoát chính trị khả dĩ khác. Điều này chỉ là giả định vì Liên minh Châu Âu đã tạo nên một bước tiến lớn và triệt để như vậy, không chỉ đối với châu Âu mà còn đối với bất kỳ khu vực nào trên thế giới.
Nhưng trước khi tâm trí bạn dấy lên sự bi quan về Liên minh Châu Âu, hãy nghĩ đến tình trạng tan vỡ của châu Âu năm 1945 ở cuối Thế chiến II rồi sau đó nghĩ về những gì Liên minh Châu Âu đã đạt được. Sau vài ngàn năm chiến tranh gần như liên tục, đỉnh cao là các quốc gia châu Âu đã chiến đấu trong hai cuộc chiến tàn khốc nhất lịch sử thế giới, không có bất kỳ thành viên nào của Liên minh Châu Âu gây chiến với một thành viên khác kể từ khi thành lập tiền thân của Liên minh Châu Âu trong thập niên 1950. Lần đầu tôi đến châu Âu vào năm 1950, có kiểm soát hộ chiếu nghiêm ngặt ở mọi biên giới quốc gia; nhưng hiện thời các hạn chế đối với việc di chuyển xuyên biên giới giữa các nước trong Liên minh Châu Âu đã được bãi bỏ nhiều. Khi tôi sống ở Anh trong giai đoạn 1958-1962, số lượng các nhà khoa học Anh đứng giảng dạy và nghiên cứu thường trực tại các trường đại học ở lục địa châu Âu và ngược lại rất ít, ít đến nỗi tôi có thể kể ra tên một vài cá nhân như vậy trong lĩnh vực nghiên cứu của tôi chỉ trong một bàn tay. Bây giờ, một phần đáng kể các vị trí giảng dạy đại học trong các quốc gia châu Âu là thuộc những nhân vật không quốc tịch. Các nền kinh tế của những nước thuộc Liên minh Châu Âu hội nhập đáng kể. Hầu hết các nước trong Liên minh đều sử dụng một loại tiền tệ chung, đồng euro. Đối với những vấn đề lớn của thế giới như năng lượng, sử dụng tài nguyên và nhập cư, Liên minh đều đưa ra thảo luận và đôi khi áp dụng các chính sách chia sẻ. Một lần nữa, tôi thừa nhận tất cả những bất đồng trong Liên minh Châu Âu – nhưng đừng quên rằng trong bất kỳ quốc gia riêng lẻ nào cũng đều có những bất đồng.
Các ví dụ khác về các thỏa thuận khu vực tập trung hẹp hơn bao gồm các thỏa thuận để loại bỏ hoặc loại bỏ các bệnh khu vực. Một thành công lớn là diệt trừ rinderpest, một bệnh gia súc đáng sợ trước đây gây ra chi phí lớn trên các khu vực rộng lớn ở châu Phi, châu Á và châu Âu. Sau một nỗ lực dài của khu vực mất vài thập niên, đến nay vẫn chưa có trường hợp nào bị nhiễm rinderpest kể từ năm 2001. Những nỗ lực khu vực quy mô lớn hiện đang được tiến hành ở cả hai bán cầu bao gồm việc diệt trừ giun guinea và loại bỏ bệnh mù sông. Do đó, các thỏa thuận khu vực tạo thành một lộ trình đã được thử nghiệm lần thứ hai để giải quyết các vấn đề xuyên quốc gia.
Con đường thứ ba bao gồm các hiệp định thế giới, được các tổ chức thế giới ngăn chặn và không chỉ đạt được bởi Liên Hợp Quốc với sứ mệnh thế giới toàn diện, mà còn bởi các tổ chức thế giới khác với các nhiệm vụ cụ thể hơn – như các tổ chức dành cho nông nghiệp, buôn bán động vật, hàng không, nghề cá, thực phẩm, sức khỏe, đánh bắt cá voi và các nhiệm vụ khác. Cũng giống như Liên minh Châu Âu, thật dễ hoài nghi về Liên Hợp Quốc và các cơ quan quốc tế khác, có sức mạnh nói chung yếu hơn Liên minh Châu Âu, và yếu hơn nhiều so với sức mạnh của hầu hết các quốc gia trong biên giới quốc gia. Nhưng các cơ quan quốc tế đã có nhiều thành tựu, và họ cung cấp một cơ chế để tiến bộ hơn. Những thành công lớn là việc loại trừ bệnh đậu mùa trên toàn thế giới vào năm 1980; Nghị định thư Montreal năm 1987 để bảo vệ tầng ozone bình lưu; Công ước quốc tế năm 1978 về ngăn ngừa ô nhiễm từ tàu (được gọi là MARPOL 73/78) đã làm giảm ô nhiễm thế giới của các đại dương bằng cách bắt buộc tách các thùng chứa dầu khỏi các thùng dằn nước trên tàu, rồi yêu cầu tất cả việc vận chuyển dầu trên biển phải bằng tàu chở dầu hai thân; Công ước Luật Biển năm 1994 phân định các vùng đặc quyền kinh tế quốc gia và vùng kinh tế chung quốc tế; và Cơ quan Đáy biển Quốc tế đã thiết lập khung pháp lý cho việc khai thác khoáng sản dưới đáy biển.
Toàn cầu hóa đã gây ra nhiều vấn đề và tạo điều kiện cho các giải pháp của vấn đề. Một điều đáng ngại của toàn cầu hóa ngày nay là sự phát triển và lan rộng của các vấn đề trên khắp thế giới: cạnh tranh tài nguyên, chiến tranh toàn cầu, ô nhiễm, khí quyển, bệnh tật, sự di chuyển của con người và nhiều vấn đề khác. Nhưng toàn cầu hóa cũng có nghĩa là một điều đáng khích lệ: sự tăng trưởng và lan rộng của các yếu tố góp phần giải quyết các vấn đề thế giới đó, như thông tin, truyền thông, công nhận biến đổi khí hậu, một số ngôn ngữ thế giới thống trị, kiến thức rộng rãi về các điều kiện và giải pháp phổ biến ở nơi khác, và – một số công nhận rằng thế giới phụ thuộc lẫn nhau và đứng cùng nhau. Trong cuốn sách Sụp đổ, xuất bản năm 2005, tôi đã so sánh sự căng thẳng giữa những vấn đề và giải pháp đó với một cuộc đua ngựa: một cuộc đua giữa một con ngựa hủy diệt và một con ngựa hi vọng. Đây không phải là một cuộc đua bình thường, khi cả hai con ngựa chạy với tốc độ tối đa gần như không đổi trên toàn bộ khoảng cách. Thay vào đó, đây là một cuộc đua tăng tốc theo cấp số nhân, trong đó mỗi con ngựa càng ngày càng chạy nhanh hơn.
Khi tôi viết vào năm 2005, không rõ con ngựa nào sẽ chiến thắng cuộc đua. Khi tôi viết những câu này vào năm 2019, mỗi con ngựa đã tiếp tục tăng tốc trong 14 năm qua. Các vấn đề của chúng ta, đặc biệt là dân số thế giới và mức tiêu thụ thế giới, đã tăng lên rõ rệt kể từ năm 2005. Sự công nhận của thế giới về các vấn đề của chúng ta và các nỗ lực của thế giới để giải quyết chúng cũng tăng rõ rệt kể từ năm 2005. Vẫn chưa rõ con ngựa nào sẽ chiến thắng trong cuộc đua. Nhưng điều chắc chắn là chỉ còn ít thập niên nữa thôi cho đến khi kết quả cuộc đua được phân định, dù tốt hơn hay tệ hơn.