Thư viện Online
  • Trang chủ
  • Sách mới cập nhật
  • Trang chủ
  • Sách mới cập nhật

Biến Động - Jared Diamond - Lời bạt

  1. Home
  2. Biến Động - Jared Diamond
  3. Lời bạt - Những bài học, câu hỏi và góc nhìn
Prev
Next

Các nhân tố mang tính dự đoán – Liệu các biến cố là cần thiết? – Vai trò của các nhà lãnh đạo trong lịch sử – Vai trò của một số nhà lãnh đạo cụ thể – Tiếp theo là gì? – Những bài học cho tương lai

Chương cuối này sẽ bắt đầu bằng việc tổng kết các nhân tố liệt kê tại Bảng 1.2, như đã nêu ra lúc đầu vì ảnh hưởng đến kết quả của các biến cố quốc gia, đã được áp dụng thực tế ở bảy quốc gia. Tiếp đến, tôi sẽ dùng ví dụ này để trả lời hai câu hỏi về biến cố mà người ta thường hỏi tôi: liệu các quốc gia có cần một biến động cấp bách gây khủng hoảng để thúc đẩy họ thay đổi tầm vĩ mô, và liệu tiến trình lịch sử có phụ thuộc rất nhiều vào một số nhà lãnh đạo nhất định. Sau đó tôi đề xuất một số chiến lược để chúng ta hiểu rõ hơn về biến cố. Cuối cùng là những bài học chúng ta có thể rút ra từ sự hiểu biết đó.

1. THỪA NHẬN BIẾN CỐ

Thừa nhận biến cố đối với cá nhân thường đơn giản hơn so với một quốc gia bởi với cá nhân không cần phải có sự đồng thuận của tất cả mọi người; chỉ duy nhất một cá thể khẳng định hoặc phủ nhận họ đang trong biến cố. Tuy vậy, ngay cả đối với một cá nhân, câu trả lời đôi khi không chỉ đơn giản là “Có” hoặc “Không.” Thay vào đó, ít nhất ba khả năng có thể xảy ra: người ta phủ nhận ngay từ đầu về khủng hoảng, hoặc chỉ thừa nhận một phần của vấn đề, hoặc làm giảm nhẹ đi sự nghiêm trọng của vấn đề đó. Mặc dù, rốt cuộc cá nhân đó có thể sẽ “khẩn nài sự tương cứu.” Thực tế, đấy chính là lúc người ta thừa nhận biến cố. Biến cố quốc gia cũng có biểu hiện của ba khả năng trên và thêm một khả năng thứ tư nữa; một quốc gia được hình thành bởi nhiều đoàn thể khác nhau, bởi một vài người lãnh đạo cùng vô số những người ủng hộ theo. Những đoàn thể, lãnh đạo và những người ủng hộ thường lại có bất đồng đối với việc thừa nhận biến cố. Dù là quốc gia hay cá nhân đều có thể sẽ bàng quan ngay từ lúc đầu, hoặc phủ nhận, hoặc coi nhẹ vấn đề họ gặp phải cho đến khi tình trạng phủ nhận đó kết thúc với một sự kiện bên ngoài. Chẳng hạn, trước năm 1853, nước Nhật đã biết việc phương Tây tấn công Trung Hoa (Chiến tranh Nha Phiến I, 1839-1842) và cuộc chiến này đặt ra những nguy cơ hiển hiện đối với Nhật Bản đến từ phương Tây. Nhưng Nhật Bản vẫn không thừa nhận biến cố này và bắt đầu tranh luận về canh tân cho đến trước cuộc viếng thăm của Phó đề đốc Perry vào ngày 8 tháng 7 năm 1853. Tương tự, Phần Lan nhận một số yêu sách của Liên Xô từ cuối những năm 1930 và thừa hiểu tiềm lực quân sự của quốc gia rộng lớn này; nhưng Phần Lan đã phớt lờ nguy cơ ấy cho đến khi bị Liên Xô tấn công vào ngày 30 tháng 11 năm 1939. Khi chiến sự nổ ra, quân Phần Lan hầu như đạt được sự nhất trí đồng loạt và phản công ngay trong đêm. Ngược lại, việc Perry đến Nhật Bản dù đã nhanh chóng khiến người Nhật đồng thuận rằng đất nước họ đang đối diện với một vấn đề bức thiết thì các nhà cải cách chống Mạc phủ bất đồng với chính quyền Mạc phủ về phương cách đối ứng; sự bất đồng này phải đến 15 năm sau mới được giải quyết khi phe cải cách tiếm quyền Mạc phủ. Một vài trường hợp khủng hoảng quốc gia lại thu được sự đồng thuận rằng quốc gia đó đang chịu ảnh hưởng bởi một vấn đề lớn nào đó nhưng lại không thống nhất được vấn đề đó là gì. Ở Chile, Allende và phe cánh tả nhận thấy rằng cần phải cải tổ thể chế xã hội, trong khi phe cánh hữu lại nhìn nhận vấn đề là ở chính Allende và những đề xuất cải tổ của ông. Tương tự, ở Indonesia khi mà những người cộng sản cho rằng vấn đề ở chỗ cần phải cải tổ chính phủ còn quân đội Indonesia lại thấy vấn đề ở chính những người cộng sản và đề xuất cải tổ của họ. Trong cả hai ví dụ trên, biến cố không được giải quyết bằng cách tìm kiếm sự đồng thuận cuối cùng ở cấp độ nhà nước hay bởi một bên thắng thế vũ trang mà bằng cách tha mạng và ban một số quyền lợi cho phe thất bại. (Shogun Tokugawa cuối cùng của Nhật Bản được chấp thuận an trí sau khi bị đánh bại và vị này sống qua thời Minh Trị Duy Tân đến 34 năm.) Ở Chile và Indonesia, khủng hoảng lại được bên thắng lợi giải quyết bằng cách triệt tiêu hầu hết phe chiến bại.

Cả Úc và Đức sau Thế chiến II đều là minh họa rõ nét của việc phủ nhận lâu dài về một biến cố đang diễn ra. Úc cứ giữ mãi các đặc tính của người Anh và người Úc da trắng. Đức, trong một thời gian dài, đã phủ nhận rộng rãi trách nhiệm của nhiều người Đức bình thường đối với những tội ác của Đức Quốc xã, và sự thật bất biến khó chịu về việc mất nhiều vùng lãnh thổ cùng sự hiện diện của các chính phủ cộng sản Đông Âu. Những vấn đề đó ở cả Úc và Đức đã được giải quyết bởi các cử tri một cách nhẫn nại nhưng dân chủ, đạt đủ sự đồng thuận quốc gia để thay đổi các chính sách của chính phủ. Cuối cùng, vào thời điểm tôi viết những trang này, cả Nhật Bản và Mỹ đều đang phủ nhận có chọn lọc các vấn đề lớn. Nhật Bản hiện thừa nhận một số vấn đề (nợ công lớn và dân số già), nhưng không hoàn toàn thừa nhận vấn đề về vai trò của người phụ nữ trong xã hội. Mặt khác, Nhật Bản vẫn bác bỏ các vấn đề tồn đọng: thiếu phương án được chấp nhận đối với nhập cư để giải quyết khó khăn về nhân khẩu; các nguyên do lịch sử về mối quan hệ căng thẳng giữa Nhật Bản với Trung Hoa, Hàn Quốc; và bác bỏ chính sách truyền thống của Nhật Bản trong việc săn tìm và chiếm hữu các nguồn tài nguyên hải ngoại hơn là giúp các nước sở tại quản lý chúng bền vững nay đã lỗi thời. Mỹ, vào thời điểm tôi viết những dòng này, vẫn đang phủ nhận rộng rãi các vấn đề lớn của họ: phân cực chính trị, tỉ lệ cử tri thấp, trở ngại trong việc đăng ký cử tri, bất bình đẳng, hạn chế trong dịch chuyển kinh tế-xã hội và sự cắt giảm đầu tư từ chính phủ vào hàng hóa công.

2. NHẬN TRÁCH NHIỆM; TRÁNH BIẾN MÌNH THÀNH NẠN NHÂN , TỰ THƯƠNG THÂN VÀ ĐỔ LỖI

Bước tiếp theo để giải quyết các biến cố cá nhân, sau bước nhận diện biến cố, là nhận trách nhiệm cá nhân ‒ chẳng hạn, tránh đẫm mình trong sự tự thương thân hoặc quá tập trung vào việc mình là nạn nhân, và thay vào đó là nhận thấy những điều cần cho sự thay đổi bản thân. Điều này cũng đúng với quốc gia như đúng với cá nhân, dù có những sự phức tạp chúng ta vừa thảo luận về sự thừa nhận biến cố quốc gia: rằng nhận trách nhiệm, tránh tự thương thân không hề đơn giản chỉ là “Có” hoặc “Không,” và một đất nước thì bao gồm các nhóm khác nhau, các lãnh đạo cùng những người ủng hộ mà những người này thường khác biệt về góc nhìn.

Bảy quốc gia được bàn ở đây là các minh chứng khác nhau cho việc thừa nhận hay chối bỏ trách nhiệm. Phần Lan và Nhật Bản thời Minh Trị thể hiện việc tránh tự thương thân. Kể từ năm 1944 trở đi, Phần Lan có thể bị tê liệt bởi tự thương thân, xoáy sâu vào vai trò là nạn nhân của Phần Lan và quy cho Liên Xô đã xâm lược và giết hại vô số người Phần Lan. Thay vào đó, Phần Lan hiểu rằng Liên Xô mới là vấn đề họ cần xử lý. Phần Lan ngay lập tức chuyển trạng thái sang các cuộc thảo luận chính trị với Liên Xô và giành lại sự tự tin cho mình cùng nhiều những lợi ích khác: Liên Xô rút khỏi căn cứ hải quân của họ ở Porkkala gần thủ đô Helsinki, giảm quân số và tăng thêm thời gian bồi thường chiến tranh cho Phần Lan và bỏ qua việc Phần Lan liên kết với Cộng đồng Kinh tế chung châu Âu cũng như tham gia Hiệp hội Tự do thương mại châu Âu. Thậm chí cho đến tận hôm nay, rất lâu sau sự sụp đổ của Liên bang Xô Viết, Phần Lan cũng không cần đòi lại tỉnh Karelia. Tương tự là Nhật Bản thời Minh Trị phải chịu sự đe dọa và gánh các hiệp ước bất công hàng thập niên từ phương Tây. Nhưng Nhật Bản không coi mình là nạn nhân, thay vào đó, họ tập trung vào trách nhiệm phải trở nên mạnh mẽ để đủ sức đương đầu.

Một ví dụ ngược lại về một đất nước đổ trách nhiệm lên nước khác thay vì nhận về mình là việc Úc trách Anh “phản bội” vì sự sụp đổ ở Singapore, thay vì chấp nhận rằng trước đó Úc đã thất bại trong việc tự phòng vệ trước khi Thế chiến II nổ ra. Cũng như vậy, ngay buổi đầu Úc đã đổ cho Liên hiệp Anh là phản bội vì xin làm thành viên Cộng đồng Kinh tế châu Âu, trước khi Úc đau đớn nhận ra rằng Liên hiệp Anh cần phải mưu cầu lợi ích của chính mình. Việc đổ lỗi đó có thể đã làm chậm bước tiến của Úc trong việc thắt chặt quan hệ kinh tế và chính trị với các nước châu Á.

Đức mang đến một ví dụ khác về sự chối bỏ trách nhiệm cực đoan và tai hại sau Thế chiến I. Một bộ phận lớn dân chúng Đức chấp nhận luận điệu dối trá của Đức Quốc xã và nhiều người Đức khác rằng nước Đức thua trận vì “bị đâm sau lưng” bởi những người Đức theo chủ nghĩa xã hội, thay vì nước Đức bị đánh bại về mặt quân sự bởi sự áp đảo lực lượng từ phe Đồng minh. Đức Quốc xã và những người Đức khác chỉ tập trung vào các điều khoản bất công thô thiển của Hiệp ước Versailles. Họ không thừa nhận một loạt những sai lầm chính trị trước chiến tranh của Hoàng đế Wilhelm II và chính phủ của ông ta, dẫn đến việc nước Đức tham chiến với tình trạng quân sự tệ hại và sau đó là thảm họa Đức bị đánh bại, cuối cùng là bị buộc phải ký Hiệp ước Versailles. Kết quả là những người Đức chối bỏ trách nhiệm của mình, khoác lấy cái vỏ bọc nạn nhân, tự thương thân và Đức Quốc xã ủng hộ điều này, dẫn đến một kết quả còn thảm khốc hơn dành cho Đức ở Thế chiến II.

Một ví dụ rõ ràng nhất cho sự tương phản trong việc nhận trách nhiệm là từ Nhật và Đức sau Thế chiến II. Chính phủ hai nước này phải hoàn toàn chịu trách nhiệm cho việc chính họ khơi mào cuộc chiến; không giống như Đức trước đó ở Thế chiến I, khi mà các đối thủ của họ cũng góp phần thúc đẩy chiến tranh. Trong suốt Thế chiến II cả Đức và Nhật đều gây những tội ác kinh hoàng cho dân tộc đối phương, và chính người Nhật lẫn người Đức lần lượt gánh chịu những tội ác kinh hoàng đó ở chiều ngược lại. Tuy vậy, cách mà người Đức và người Nhật tiếp cận sự thật đó lại không giống nhau. Phản ứng của người Đức có thể bị chi phối bởi sự tự thương thân như kiểu là nạn nhân bởi hàng triệu người Đức mất mạng trong suốt cuộc chiến (bao gồm cả những người Đức chết do bom của phe Đồng minh ném xuống các thành phố Đức – đây có thể bị quy là tội ác chiến tranh nếu phe Đồng minh thất bại); bởi cả triệu phụ nữ Đức bị cưỡng hiếp khi Liên Xô tiến công từ phía Đông; và cho tổn thất lớn về lãnh thổ của Đức sau cuộc chiến. Thay vào đó, ở Đức người ta thừa nhận một cách rộng rãi về tội ác của Đức Quốc xã, họ dạy con cháu họ biết về những tội ác này và về trách nhiệm của người Đức, về việc xây dựng những mối quan hệ tốt hơn với Ba Lan và các nước từng là nạn nhân của Đức trong chiến tranh. Ngược lại, phần lớn Nhật Bản tiếp tục chối bỏ trách nhiệm của họ trong việc khơi mào cuộc chiến; từ góc nhìn của đa số người Nhật, người Mỹ bằng cách nào đó đã lừa họ đánh bom Trân Châu Cảng và từ đó khởi nguồn chiến sự. Người Nhật lờ đi sự thật là từ bốn năm trước đó họ đã bắt đầu đơn phương tiến hành chiến tranh với Trung Quốc. Nhật Bản cũng liên tục chối bỏ trách nhiệm về tội ác của người Nhật đối với thường dân Trung Quốc và Hàn Quốc cũng như với các tù binh phe Đồng minh. Thay vào đó, Nhật Bản lại tập trung vào sự tự thương thân, vào vai trò là nạn nhân của bom nguyên tử, họ không dám thảo luận một cách thẳng thắn về những điều tồi tệ họ có thể gây ra nếu không bị ném hai quả bom nguyên tử ấy. Việc ngoan cố không thừa nhận, tự biến thành nạn nhân, tự thương thân tiếp tục hủy hoại các mối giao hảo của Nhật Bản với hai người hàng xóm lớn mạnh Trung Quốc và Hàn Quốc, từ đó đặt ra mối nguy lớn cho Nhật.

3. DỰNG HÀNG RÀO/THAY ĐỔI CÓ CHỌN LỌC

Cả sáu quốc gia tôi thảo luận từ Chương 2 đến Chương 7 ứng phó với biến cố của họ đều chọn cách thay đổi. Hai quốc gia mà tôi đề cập có sự thay đổi đang diễn ra (Nhật Bản và Mỹ) thì đang trên đường làm điều ấy, có thể nhận thấy ở Nhật Bản rõ hơn so với Mỹ. Tất cả các quốc gia ấy đều đã thay đổi hoặc đang thảo luận để thay đổi; thay đổi ở một số chính sách cụ thể chứ không phải toàn bộ các chính sách quốc gia. Đặc biệt mang tính học hỏi cho sự đối lập giữa điều gì cần thay đổi, điều gì không nằm ở trường hợp của Nhật Bản và Phần Lan. Nhật Bản thời Minh Trị đã Tây phương hóa rất nhiều lĩnh vực, từ chính trị, pháp luật đến xã hội, văn hóa và nhiều mặt khác nữa. Nhưng, ở mỗi thời kỳ, Nhật Bản không mù quáng sao chép phương Tây mà thay vào đó họ tìm hình mẫu phù hợp nhất trong vô số những hình thái xã hội Tây phương có sẵn, thay đổi mô hình đó cho phù hợp với hoàn cảnh nước Nhật đương thời. Đồng thời, những diện mạo cơ bản của xã hội Nhật Bản vẫn được bảo lưu như sự sùng kính Nhật hoàng, chữ kanji và các yếu tố văn hóa khác của người Nhật. Tương tự vậy, Phần Lan đổi mới bằng việc liên tục thực hiện các cuộc đối thoại với Liên Xô, chấp nhận đánh đổi một số hoạt động tự do, và chuyển dịch dần từ một nước thuần nông thành một quốc gia công nghiệp hiện đại. Đồng thời, Phần Lan vẫn giữ nguyên sự tự do dân chủ ở nhiều mặt và duy trì hoạt động tự do hơn hẳn so với nhiều quốc gia làng giềng thuộc Liên bang Xô Viết trước đây (nay là Cộng hòa Liên bang Nga). Hệ quả có vẻ như không rõ ràng nhất quán trong hành xử của người Phần Lan gặp phải sự phê phán nặng nề từ những người không phải dân Phần Lan, những người không hề nhận thấy thực tế tàn nhẫn từ vị trí địa lý của quốc gia này.

4. SỰ TRỢ GIÚP TỪ CÁC QUỐC GIA KHÁC

Sự giúp đỡ từ bên ngoài, điều quan trọng trong biến cố cá nhân, vừa đóng vai trò tích cực và cả tiêu cực trong việc giải quyết hầu hết các biến cố quốc gia mà chúng ta đã thảo luận. Phương Tây giúp đỡ Nhật Bản rất nhiều mặt, từ việc gửi những cố vấn đến Nhật và tiếp nhận những đặc phái viên người Nhật thực hiện nhiệm vụ quốc tế, cho đến đóng những tuần dương hạm, những điều thực sự quan trọng đối với Nhật Bản thời Minh Trị trong quá trình Tây phương hóa có chọn lọc. Sự hỗ trợ kinh tế từ Mỹ là trọng yếu đối với chính quyền quân sự Chile và Indonesia, giúp họ củng cố kinh tế đất nước sau các cuộc chính biến lần lượt vào các năm 1973 (Chile) và 1965 (Indonesia), sự hỗ trợ này cũng giúp Nhật và Đức tái thiết từ sự đổ nát phải hứng chịu trong Thế chiến II. Úc, trước tiên tìm đến Anh, sau là Mỹ để nhận được sự bảo hộ về quân sự. Ở mặt tiêu cực, Mỹ đã gây bất ổn cho chính quyền của Allende ở Chile bằng việc ngừng viện trợ và xây rào đối với kinh tế Chile; Anh và Pháp thay nhau bòn rút Cộng hòa Weimar13 sau Thế chiến I từ các khoản bồi thường chiến tranh. Với Úc, những cú sốc của việc người Anh thất bại trong bảo hộ quân sự cho họ sau khi Singapore thất thủ, và việc Anh rút lại sự ưu đãi thuế quan dành cho Úc như là hệ quả của các thương thảo giữa Anh và Liên minh Châu Âu, đã góp phần trong việc Úc phải tự tìm lại căn tính quốc gia.

Ví dụ nổi bật nhất cho việc thiếu sự hỗ trợ từ bạn bè là tình cảnh của Phần Lan trong Cuộc chiến Mùa đông chống lại Liên Xô, khi mà tất cả các đồng minh khả dĩ của Phần Lan không thể hoặc từ chối mang lại các hi vọng trợ giúp quân sự cho quốc gia này. Sự thật tàn nhẫn đó đã trở thành nền tảng cho chính sách đối ngoại hậu 1945 của Phần Lan. Họ nhận ra rằng họ không thể trông đợi sự giúp đỡ trong trường hợp có xung đột mới với Liên Xô, thay vào đó phải tự phát triển quan hệ hợp tác nhưng vẫn độc lập nhất có thể với Liên Xô.

5. HỌC THEO HÌNH MẪU CỦA CÁC QUỐC GIA KHÁC

Những hình mẫu như vậy thường rất giá trị trong việc xử lý biến cố riêng lẻ, chúng cũng đóng vai trò to lớn, cả tích cực lẫn tiêu cực, với hầu hết các quốc gia. Vay mượn và điều chỉnh các hình mẫu phương Tây đặc biệt quan trọng cho sự đổi mới của Nhật Bản thời Minh Trị, và với một chừng mực ít hơn, sau Thế chiến II, Nhật Bản lại vay mượn có điều chỉnh (hoặc buộc phải như vậy) một số mô hình chính quyền dân chủ Mỹ. Chế độ quân sự độc tài ở Chile và Indonesia mượn mô hình kinh tế thị trường tự do của Mỹ (hoặc họ hình dung là kiểu Mỹ). Úc, trong hầu hết tiến trình lịch sử cho đến trước Thế chiến II, dựa theo hình mẫu Anh một cách nặng nề, sau đó ngày càng cự tuyệt họ.

Ngược lại, các quốc gia này cũng cung cấp hai ví dụ về việc thiếu hình mẫu thực tế hoặc cho rằng thiếu các hình mẫu này. Đối với Phần Lan, thực tế là không có một hình mẫu nào khác từ các nước láng giềng với Liên Xô thành công trong việc đáp ứng các yêu cầu của Liên Xô mà vẫn giữ vững độc lập của mình; đây chính là tinh túy của chính sách “Phần Lan hóa.” Người Phần Lan nhận thấy trường hợp độc nhất của họ là cơ sở cho câu nói của Tổng thống Kekkonen “Thuật ngữ Phần Lan hóa không phải để xuất khẩu.” Một ví dụ về sự cho rằng không có các hình mẫu chính là Mỹ ngày nay. Người Mỹ tin rằng tính ngoại lệ Mỹ tạo nên niềm tin đại chúng rằng Mỹ không phải học gì từ Canada hay các quốc gia dân chủ Tây Âu; không, kể cả giải pháp của họ cho các vấn đề mà quốc gia nào cũng gặp phải như chăm sóc y tế, giáo dục, nhập cư, tù nhân và an sinh tuổi già. Các vấn đề này lại là nguyên nhân khiến hầu hết người dân Mỹ không hài lòng với các giải pháp chính phủ đưa ra nhưng người ta vẫn cự tuyệt không chịu học giải pháp từ Canada hay từ các quốc gia Tây Âu.

6. CĂN TÍNH QUỐC GIA

Trong số hàng tá dự đoán kết quả cho các biến cố cá nhân, một số có thể chuyển thành dự đoán các biến cố quốc gia. Một điều không dễ truyền tải là đặc điểm cá nhân “sức mạnh bản ngã,” như một phép ẩn dụ để gợi ý một đặc điểm quốc gia liên quan: ý thức về căn tính quốc gia.

Căn tính quốc gia là gì? Đấy là niềm từ hào chung về những điều đáng trân trọng giúp định hình một quốc gia và biến nó thành độc nhất. Căn tính quốc gia thường được cấu thành bởi ngôn ngữ, văn hóa, lịch sử và thành tựu vũ trang. Tuy vậy, mỗi quốc gia lại đặt riêng cho mình những giá trị khác nhau. Tỉ như cả Phần Lan và Nhật Bản, họ rất đỗi tự hào bởi mỗi quốc gia đều dùng thứ ngôn ngữ độc bản không nơi nào khác sử dụng được. Trong khi, với người Chile, họ tuy sử dụng thứ ngôn ngữ hầu như được dùng khắp Trung và Nam Mỹ nhưng lại ngược dòng biến nó thành căn tính độc đáo: “Người Chile chúng tôi khác biệt với những dân tộc nói tiếng Tây Ban Nha ở Mỹ Latin ở sự ổn định chính trị và truyền thống dân chủ. Chúng tôi giống người Âu hơn là người Mỹ Latin!” Với một số quốc gia, thành tựu vũ trang lại góp phần quan trọng trong định hình bản sắc: Phần Lan với Cuộc chiến Mùa đông, Úc với Chiến dịch Gallipoli, Mỹ với Thế chiến II và Anh với hai thành tựu tiêu biểu là Thế chiến II và Chiến tranh Falkland. Với một số quốc gia khác, căn tính quốc gia và niềm tự hào dân tộc lại thể hiện ở văn hóa; như Ý với sự vượt trội ở mỹ thuật thời Phục hưng và hiện nay là ẩm thực và thời trang, Anh với văn học, và Đức với âm nhạc. Thể thao lại là niềm tự hào của nhiều quốc gia khác. Anh và Ý luôn tự hào nhớ về lịch sử huy hoàng cũng như tầm quan trọng của họ trên bình diện thế giới, đối với Ý chính là hồi ức về Đế chế La Mã hơn 2.000 năm trước đây.

Sáu trong số bảy quốc gia này luôn thể hiện niềm tự hào to lớn về căn tính quốc gia của họ và ngoại lệ duy nhất là Indonesia, với căn tính khá nhạt nhòa. Đây chẳng phải là sự phê phán đối với người Indonesia mà chỉ phản ánh một sự hiển nhiên rằng Indonesia chưa phải là một quốc gia độc lập mãi cho đến năm 1949 hay thậm chí chưa từng là một thuộc địa hợp nhất trước năm 1910. Do đó, không có gì ngạc nhiên khi Indonesia đã trải qua nhiều cuộc cách mạng và những vận động ly khai. Tuy nhiên, thời gian gần đây, căn tính quốc gia của người Indonesia đang trỗi dậy nhanh chóng, được thúc đẩy bởi sự hợp nhất ngôn ngữ Indonesia và bởi sự phát triển dân chủ, nâng cao vai trò của công dân.

Căn tính quốc gia luôn là yếu tố quan trọng góp phần xử lý khủng hoảng ở các nước có lịch sử lâu đời. Ý thức về căn tính quốc gia giúp gắn kết người Phần Lan cũng như người Nhật thời Minh Trị, cho họ dũng khí cần có để kháng cự các mối đe dọa từ ngoại cường, làm động lực để họ vượt trên sự thiếu thốn hay những nỗi nhục quốc thể, và dám hi sinh bản thân cho lợi ích quốc gia. Nhiều người Phần Lan thậm chí còn quyên tặng cả nhẫn đính hôn bằng vàng của mình giúp đất nước bồi thường chiến phí cho Liên Xô. Căn tính quốc gia giúp Đức và Nhật Bản hậu 1945 vượt qua được tổn thất quân sự nặng nề cũng như sự chiếm đóng về sau. Với Úc, căn tính quốc gia giúp người Úc tập trung nhìn nhận lại cũng như thay đổi có chọn lọc xoay quanh câu hỏi: chúng ta là ai? Nhận thức về căn tính quốc gia cũng giúp phe cánh tả Chile cư xử chừng mực hơn khi họ khôi phục được quyền lực sau thất bại của cựu độc tài Pinochet. Mặc dù với nỗi lo về sự giải giáp quân sự, phe cánh tả Chile trong khi không ưa gì những người ủng hộ Pinochet vẫn chấp nhận chính sách hòa giải để xây dựng “một Chile cho mọi người Chile,” gồm cả cánh hữu thân Pinochet và cánh tả thân Allende. Có được điều này, với Chile, là cả một thành tựu lớn lao. Ngược lại, ngày nay trên khắp nước Mỹ chúng ta thường chỉ nghe nhiều về căn tính nhóm lẻ hơn là căn tính quốc gia đại chúng.

Chính quyền và người dân các nước thường xuyên tìm cách củng cố căn tính quốc gia bằng cách kể lại lịch sử với thiên hướng giúp nuôi dưỡng niềm tự hào dân tộc. Việc thuật lại lịch sử như vậy đã tạo nên những “huyền thoại.” Tôi không dùng chữ “huyền thoại” với ý tiêu cực là “một lời nói dối” mà dùng với sự trung tính mang ý nghĩa “một truyện kể lưu truyền dựa trên dữ kiện lịch sử để giải thích một số hiện tượng hoặc để cổ xúy một lý tưởng nào đó.” Trên thực tế, các huyền thoại dân tộc được kể đi kể lại để phục vụ cho mục đích chính trị bao gồm tất cả từ những lời kể thật đến những điều dối trá.

Ở một thái cực là các câu chuyện hoàn toàn chính xác, tập trung vào những biến cố quan trọng ở thời điểm đó nhưng việc thuật lại vẫn là phục vụ cho mục đích chính trị. Có thể xét một số ví dụ như Anh và Phần Lan nuôi dưỡng niềm tự hào dân tộc bằng những câu chuyện lịch sử, người Anh chỉ tập trung vào trận Không chiến mùa hè 1940, còn người Phần Lan thì chỉ chú trọng kể lại những gì diễn ra ở Cuộc chiến Mùa đông tháng 12 năm 1939 – tháng 4 năm 1940. Đúng là người ta có thể lập luận rằng đó là những kết quả khả dĩ nhất của những gì đã diễn ra ở Anh và Phần Lan vào thời điểm đó, và ngày nay những sự kiện này vẫn được kể đi kể lại để phục vụ mục tiêu chính trị.

Ở mức độ trung gian là câu chuyện trong quá khứ đúng như những gì nó đã diễn ra nhưng chỉ tập trung vào duy nhất một sự kiện trong vô số những gì diễn ra ở thời điểm đó, do đó cũng bỏ sót đi nhiều điều quan trọng khác. Chẳng hạn, lịch sử Mỹ đầu thế kỷ 19 chỉ nhấn mạnh đến các cuộc thám hiểm xuyên lục địa của Lewis và Clark cùng các thời kỳ khai phá, chinh phục của người da trắng châu Âu nhưng lại lờ đi sự tàn sát và chiếm đất người Mỹ bản địa cũng như nô lệ hóa người Mỹ gốc Phi; hay như lịch sử giành độc lập của Indonesia chỉ kể về những trận chiến chống Hà Lan của Cộng hòa Indonesia mà lại không đề cập gì đến chính số đông những nhóm người Indonesia chống lại chế độ cộng hòa; hoặc lịch sử đầu thế kỷ 20 của Úc chỉ kể về trận Gallipoli mà bỏ qua việc giết chóc, chiếm đất dân Úc bản địa.

Ở thái cực đối lập là những sự kiện trong quá khứ dựa hoàn toàn vào những điều dối trá. Điển hình là người Đức đổ lỗi thất bại của họ ở Thế chiến I vì sự phản bội của thường dân Đức; hay người Nhật giảm thiểu hoặc chối bỏ sự kiện Thảm sát Nam Kinh.

Các nhà sử học tranh luận rằng liệu kiến thức chính xác về quá khứ có khả thi hay không, liệu lịch sử có nhất thiết phải phụ thuộc vào những kiến giải được lòng số đông hay không và liệu tất cả những kiến giải với góc nhìn khác có đáng được nhìn nhận với tầm quan trọng như nhau không. Dù câu trả lời cho những câu hỏi đó là gì đi nữa thì sự thật bất biến là nhờ các huyền thoại mà căn tính quốc gia được củng cố để phục vụ cho chính trị, là quốc gia thì luôn cần căn tính quốc gia, và căn tính quốc gia luôn được hỗ trợ từ những huyền thoại biến tấu dựa trên cơ sở lịch sử.

7. ĐÁNH GIÁ BẢN THÂN MỘT CÁCH TRUNG THỰC

Một người ngoài hành tinh trí tuệ nhưng chưa hề biết gì về con người hoặc xã hội chúng ta nếu đến thăm Trái đất có thể sẽ ngây thơ nhận định rằng dù nguyên nhân thất bại trong việc xử lý biến cố cá nhân hay biến cố quốc gia là gì đi nữa, thì việc thiếu đi sự tự đánh giá một cách trung thực sẽ không nằm trong số đó. Tại sao, người khách lý trí ngoài không gian kia có thể sẽ lý luận, cá nhân hoặc quốc gia đó lại tự hủy hoại mình bằng cách chọn không trung thực với chính nó?

Trên thực tế, sự tự đánh giá trung thực cần trải qua hai bước. Đầu tiên, cá nhân hay quốc gia đó nhất định phải có kiến thức chính xác. Nhưng điều này có vẻ như khó đạt được vì thất bại trong việc xử lý khủng hoảng đôi khi vì thiếu hụt thông tin thay vì là thiếu trung thực về mặt đạo đức. Bước thứ hai là phải đánh giá những kiến thức đó một cách trung thực. Nhưng than ôi, bất kỳ ai đã quen với con người hay quốc gia đều hiểu rằng tự dối lòng lại là một vấn đề thường thấy ở loài người.

Các trường hợp dễ hiểu nhất về việc tự đánh giá trung thực quốc gia, hoặc thiếu đi sự đánh giá này, liên quan đến các lãnh đạo kiên quyết hoặc các lãnh đạo độc tài. Trong những trường hợp đó, các quốc gia có hoặc không thực hiện đánh giá trung thực, chừng nào các lãnh đạo của họ có thực hiện hay không. Các trường hợp nổi tiếng thế giới là sự tương phản giữa các nhà lãnh đạo Đức hiện đại. Bismarck, một nhà hiện thực xuất chúng, đã thành công với mục tiêu khó khăn là thống nhất nước Đức. Hoàng đế Wihelm II, vị hoàng đế phi lý với cảm xúc bất ổn, tự cô lập Đức một cách không cần thiết và ngớ ngẩn lao vào Thế chiến I, nơi mà Đức thất bại nặng nề. Hitler, khôn ngoan hơn và cũng tàn ác hơn nhiều, lại tự phá đi những thành tựu ban đầu của mình bằng chủ nghĩa phi thực tế khi tấn công Liên Xô đồng thời tuyên chiến với Mỹ một cách vô ích trong lúc đang có chiến tranh với Anh và chính Liên Xô. Gần đây, Đức đã may mắn được dẫn dắt trong vài năm bởi một người thực tế khác, Willy Brandt, người đã can đảm nhận ra sự cần thiết của một chính sách đau đớn nhưng trung thực ở Đông Âu (công nhận Đông Đức và việc mất các lãnh thổ Đức xa hơn Đông Đức), từ đó đạt được các điều kiện tiên quyết cho sự thống nhất nước Đức 20 năm sau.

Ít được biết đến ở phương Tây, nhưng cũng không kém phần nổi bật như một sự tương phản giữa các nhà lãnh đạo nối tiếp, là trường hợp của Indonesia. Tổng thống khai quốc, Sukarno, tự lừa dối bản thân rằng ông có khả năng thấu hiểu ngay cả những mong muốn vô thức của người dân Indonesia. Trong khi bỏ bê các vấn đề của Indonesia, Sukarno hăng say tham gia vào phong trào chống thực dân trên thế giới, và đã ra lệnh cho quân đội Indonesia cố gắng giành quyền kiểm soát đảo Borneo, đi ngược lại mong muốn của người dân và mặc cho sự hoài nghi của các sĩ quan trong quân đội của chính ông. Không may cho Sukarno, tướng quân đội Suharto, người trở thành tổng thống thứ hai của Indonesia, là một nhà hiện thực xuất chúng (trừ giai đoạn cuối sự nghiệp chính trị của ông) với phong cách tiến hành thận trọng và chỉ hành động khi tự tin có thể thành công. Bằng cách đó, Suharto dần thành công trong việc đẩy Sukarno sang một bên, bỏ mặc những kỳ vọng về thế giới và về chiến dịch Borneo của Sukarno, thay vào đó tập trung vào các vấn đề của Indonesia (mặc dù thường theo những cách xấu xa).

Ba trường hợp tiếp theo liên quan đến các quốc gia không bị chi phối bởi một nhà lãnh đạo uy quyền, nhưng đã đạt được sự đồng thuận quốc gia dựa trên sự tự đánh giá trung thực. Nhật Bản thời Minh Trị đã phải đối mặt với sự thật đau lòng rằng những kẻ ngoại bang phương Tây đáng ghét mạnh hơn và Nhật Bản chỉ có thể có được sức mạnh bằng cách học hỏi từ phương Tây. Nhật Bản thời Minh Trị sau đó có được hiểu biết chính xác về phương Tây bằng cách gửi nhiều quan chức chính phủ và công dân Nhật Bản sang châu Âu và Mỹ. Ngược lại, thảm họa của Nhật Bản ở Thế chiến II xảy ra một phần vì các sĩ quan quân đội Nhật Bản trẻ tuổi, mạnh mẽ trong những năm 1930 nhưng thiếu kiến thức thực tế về phương Tây và sức mạnh của họ. Tương tự, người Phần Lan đã đối mặt với thực tế đau lòng rằng Phần Lan sẽ tiếp tục không nhận được sự hỗ trợ nào từ các đồng minh tiềm năng, và chính sách của Phần Lan đối với Liên Xô thay vào đó phải phụ thuộc vào việc Phần Lan tranh thủ sự tin tưởng từ Liên Xô và hiểu quan điểm của Liên Xô. Cuối cùng, Úc đã đạt được sự đồng thuận quốc gia bằng cách đối mặt với thực tế rằng tầm quan trọng về kinh tế và quân sự trước đây của Anh đối với Úc đã phai nhạt, rằng châu Á và Mỹ đã trở nên quan trọng hơn. Hai trường hợp cuối cùng của chúng ta liên quan đến việc thiếu tự đánh giá trung thực ở hai quốc gia này hiện nay. Như đã đề cập, Nhật Bản ngày nay đã nhận ra một số vấn đề của mình nhưng hiện lại không thực tế về những vấn đề khác. Mỹ cũng thiếu đi sự tự đánh giá trung thực: đặc biệt là không nhiều công dân và chính trị gia Mỹ coi những vấn đề lớn hiện nay của họ là nghiêm trọng. Nhiều người Mỹ cũng tự dối mình bằng cách đổ lỗi cho các quốc gia khác chứ không phải cho chính họ về các vấn đề hiện tại. Chủ nghĩa hoài nghi về khoa học ngày càng lan rộng ở Mỹ, và đó là một điềm báo rất xấu, bởi vì khoa học về cơ bản chính là sự mô tả và hiểu biết chính xác về thế giới thực.

8. KINH NGHIỆM THỰC TIỄN TỪ CÁC BIẾN CỐ QUỐC GIA TRƯỚC ĐÓ

Sự tự tin có được từ việc vượt qua những biến cố trước đó là một yếu tố quan trọng đối với các cá nhân để ứng phó với một biến cố cá nhân mới. Một nhân tố tương ứng ở cấp quốc gia có ý nghĩa to lớn đối với một vài trong số các quốc gia mà chúng ta xét đến trong cuốn sách này, cũng như cho các quốc gia khác. Một ví dụ là Nhật Bản hiện đại, với sự tự tin bắt nguồn từ thành tựu phi thường của Nhật Bản thời Minh Trị trong việc thay đổi nhanh chóng và hội đủ sức mạnh để chống lại nguy cơ bị phương Tây chia cắt, và cuối cùng đánh bại hai cường quốc phương Tây (Nga năm 1904-1905, và quân Đức thuộc địa năm 1914). Thành công của Nhật Bản thời Minh Trị càng ấn tượng hơn khi người ta suy ngẫm về sự thất bại đồng thời của Đế quốc Trung Hoa lớn hơn nhiều và rõ ràng mạnh hơn nhiều trong việc chống lại áp lực từ phương Tây.

Phần Lan là một trường hợp khác về sự tự tin quốc gia bắt nguồn từ những vinh quang trước đó. Đối với người Phần Lan, niềm tự hào có được từ việc chống lại các cuộc tấn công của Liên Xô trong Thế chiến II là rất quan trọng, đến mức vào năm 2017, nhân kỷ niệm một trăm năm Quốc khánh Phần Lan, họ nhắc về Cuộc chiến Mùa đông cũng nhiều như khi nói về độc lập. Trong số những quốc gia không là trọng tâm của cuốn sách này, một ví dụ nữa là Liên hiệp Anh; họ có một lịch sử vinh quang khi cuối cùng đã đánh bại Hitler trong Thế chiến II với Mỹ và Liên Xô là đồng minh; thậm chí còn hơn thế nữa, họ đơn độc chống Hitler từ khi Pháp thất thủ vào tháng 6 năm 1940 cho đến khi Hitler xâm chiếm Liên Xô tháng 6 năm 1941; và đặc biệt là từ trận Không chiến trên đất Anh, khi mà không quân Anh (RAF) đã đánh bại không quân Đức (Luftwaffe) trong các trận không chiến trên bầu trời Anh vào nửa cuối năm 1940, qua đó ngăn chặn kế hoạch xâm lược Anh của Đức. Trước bất kỳ khó khăn nào mà Anh phải đối mặt kể từ năm 1945 đến nay, người Anh thường tự nhắc mình: không có gì khó khăn hơn trận Không chiến trên đất Anh, chúng ta đã thành công lúc đó vậy thì chúng ta cũng sẽ thành công chống lại bất kỳ điều gì về sau.

Vinh quang trong quá khứ cũng góp phần vào sự tự tin của người Mỹ. Những vinh quang mà chúng tôi luôn nhìn lại bao gồm thành quả của cuộc Cách mạng Mỹ; việc mua lại, thám hiểm và chinh phục toàn bộ chiều rộng lục địa Bắc Mỹ; giữ được Hợp chúng quốc sau khi kinh qua cuộc nội chiến dai dẳng, đây vẫn là cuộc chiến đẫm máu nhất với thương vong cao nhất trong lịch sử Mỹ; và thắng lợi quân sự của Mỹ cùng lúc trước Đức và Nhật Bản trong Thế chiến II.

Cuối cùng, Indonesia, quốc gia non trẻ nhất được thảo luận trong cuốn sách này, tuy bề dày lịch sử về xử lý khủng hoảng thành công để có được sự tự tin chưa nhiều, nhưng như tôi đã thấy trưng bày tại tiền sảnh của một khách sạn tôi từng lưu trú năm 1979 ở Indonesia, người Indonesia vẫn kể lại thành công của cuộc đấu tranh giành độc lập của họ với người Hà Lan vào những năm 1945-1949 và việc họ tiếp quản New Guinea thuộc Hà Lan vào năm 1961. Những thành công đó đóng vai trò to lớn trong sự tự tin quốc gia của Indonesia.

9. KIÊN NHẪN VỚI THẤT BẠI QUỐC GIA

Khó khăn hơn các vấn đề riêng lẻ, các vấn đề quốc gia không phù hợp với các giải pháp nóng vội hoặc có được thành công ngay lần thử đầu tiên khi giải quyết chúng. Dù các vấn đề ở cấp độ quốc gia hay cá nhân thì các biến cố thường có xu hướng phức tạp, đòi hỏi phải thử một loạt các giải pháp khả thi trước khi tìm được giải pháp hiệu quả, do đó cần có sự kiên nhẫn, chịu được thất vọng, mơ hồ và thất bại. Thế nên, giả sử khi các quyết định quốc gia được đưa ra chỉ bởi một nhà độc tài tuyệt đối duy nhất, chúng vẫn sẽ đòi hỏi sự kiên nhẫn.

Hầu hết các quyết định quốc gia thay vào đó liên quan đến các cuộc đàm phán giữa các nhóm lợi ích khác nhau. Vì vậy, giải quyết khủng hoảng quốc gia đòi hỏi sự kiên nhẫn, thật nhiều kiên nhẫn. Hầu hết các quốc gia mà chúng ta đã thảo luận đều đã tôi luyện lòng kiên nhẫn bằng kinh nghiệm từ vấp ngã và thất bại. Điều đó đặc biệt đúng với Nhật Bản thời Minh Trị, Đức, Phần Lan và Nhật Bản hiện đại. Phải mất hơn 50 năm kể từ chuyến thăm bất ngờ của Phó đề đốc Perry năm 1853 chấm dứt tình trạng bế quan của Nhật thì Nhật Bản mới có thể chiến đấu và giành chiến thắng trong cuộc chiến đầu tiên chống lại một cường quốc phương Tây. Phải mất 45 năm, sau khi chính thức chia cắt trên thực tế vào năm 1945, để Đức đạt được sự thống nhất. Trong nhiều thập niên sau khi kết thúc Cuộc chiến Tiếp diễn chống lại Liên Xô vào năm 1944, Phần Lan liên tục đánh giá lại chính sách đối với Liên Xô để tìm ra những áp lực từ Liên Xô mà họ có thể từ chối nhưng không ảnh hưởng đến đại cục, và những hành động độc lập mà họ có thể áp dụng một cách an toàn nhưng không kích động một cuộc xâm lược khác của Liên Xô. Nhật Bản, kể từ Thế chiến II, đã phải sống sót qua sự chiếm đóng của Mỹ, hàng thập niên tái thiết kinh tế và vật chất, các vấn đề kinh tế và xã hội kinh niên cùng các thảm họa tự nhiên như động đất, bão hay sóng thần. Cả bốn quốc gia đó (Nhật Bản được tính hai lần) đều trải qua sự thất vọng nhưng vẫn tỉnh táo tránh được cạm bẫy của việc hành động vội vàng và dại dột. Sự kiên nhẫn được chứng minh là điều cần thiết để gặt hái thành quả.

Ngoại lệ cho những câu chuyện về sự kiên nhẫn này là nước Mỹ hiện đại. Tất nhiên, người ta có thể phản đối: người Mỹ thực sự đã chịu đựng thất bại ban đầu, đã thể hiện sự kiên nhẫn, và kiên trì vượt qua nhiều lần thoái trào trong lịch sử: đáng chú ý là trong suốt bốn năm Nội chiến (1861-1865), hàng chục năm Đại Suy thoái và bốn năm Thế chiến II. Nhưng Mỹ không được tôi luyện qua thất bại đắng cay hay bị chiếm đóng như Đức, Nhật Bản, Pháp và nhiều quốc gia khác. Mặc dù chiến thắng trong cả bốn cuộc chiến ngoài lãnh thổ Mỹ, từ Chiến tranh Mexico năm 1846, 1848 đến Thế chiến II, nhưng người Mỹ vẫn cảm thấy khó khăn khi phải đối mặt với bế tắc thật sự để chấm dứt Chiến tranh Triều Tiên, nuốt trôi thất bại trong Chiến tranh Việt Nam, và chịu đựng được bế tắc quân sự kéo dài ở Afghanistan. Trong những thập niên đầu tiên của thế kỷ 21, Mỹ đã và đang vật lộn với các vấn đề xã hội, kinh tế và chính trị nội tại phức tạp vốn không thể xử lý bằng các giải pháp nóng vội. Thay vào đó, chúng đòi hỏi sự kiên nhẫn và chiết trung mà Mỹ hiện còn thiếu.

10. TÍNH LINH HOẠT QUỐC GIA TÙY HOÀN CẢNH

Các nhà tâm lý học phân tính cách con người thành hai kiểu linh hoạt và cứng nhắc. Sự linh hoạt cá nhân có nghĩa là một người dễ chấp nhận việc xem xét các cách tiếp cận mới khác nhau cho một vấn đề. Sự cứng nhắc cá nhân có nghĩa là người ta cho rằng chỉ có một cách tiếp cận duy nhất cho mọi vấn đề. Sự phân lập đó đã chứng tỏ tầm quan trọng của việc tìm hiểu những khác biệt giữa các cá nhân trong giải quyết thành công các biến cố bằng cách đưa ra những phương pháp mới. Khi mà bất kỳ cá nhân nào cũng có thể linh hoạt ở lĩnh vực này và cứng nhắc ở lĩnh vực khác, các nhà tâm lý học cũng thừa nhận rằng sự linh hoạt hoặc cứng nhắc tỏa trong tính cách của một người, khác nhau giữa các cá nhân, đặc biệt bị chi phối bởi sự nuôi dạy thời thơ ấu và từ những trải nghiệm cá nhân đó trong đời.

Khi chúng ta chuyển từ cá nhân sang quốc gia, tôi không thấy nhiều những ví dụ thuyết phục về sự linh hoạt hay cứng nhắc ở cấp độ quốc gia. Một ví dụ duy nhất tôi biết, đi cùng những lý do dễ hiểu tại sao quốc gia đó lại thành như vậy, là một quốc gia không được thảo luận trong cuốn sách này: Iceland trong quá khứ. Trong những thế kỷ dưới sự cai trị của Đan Mạch, người Iceland thường xuyên làm các viên chức Đan Mạch thất vọng bởi sự cứng nhắc và thái độ thù địch rõ ràng của họ đối với những đề xuất thay đổi. Bất kể những đề xuất canh tân với chủ ý tốt được chính phủ Đan Mạch đưa ra là gì, phản ứng của người Iceland thường là, “Không! Chúng tôi không muốn thử một cái gì đó khác biệt; chúng tôi muốn tiếp tục làm mọi thứ theo cách truyền thống của mình.” Người Iceland từ chối đề xuất của Đan Mạch về việc cải tiến tàu đánh cá, tăng xuất khẩu cá, làm lưới đánh cá tốt hơn, cải thiện sản xuất nông nghiệp ngũ cốc, nâng chất lượng khai mỏ và tăng sản xuất dây thừng.

Sự cứng nhắc quốc gia đó cũng là điều dễ hiểu nếu chúng ta xét đến sự mong manh trong môi trường của Iceland. Iceland nằm ở vĩ độ cao, khí hậu mát và mùa vụ ngắn. Thổ nhưỡng Iceland giòn, nhẹ, cấu thành từ tro núi lửa, dễ bị xói mòn và chậm tái sinh. Thảm thực vật nước này dễ bị bóc trượt do chăn thả gia súc, do xói mòn bởi gió hoặc nước, và chậm phát triển lại sau đó. Trong những thế kỷ đầu khi bị người Viking chiếm đóng, người Iceland đã thử nhiều chiến lược sinh tồn khác nhau nhưng tất cả đều cho kết quả thảm hại cho đến khi cuối cùng họ nghĩ ra được một tập hợp các phương thức nông nghiệp bền vững. Nhưng một khi đã nghĩ ra những phương thức đó rồi, họ không muốn xem xét các thay đổi về sinh kế cũng như các mặt khác của cuộc sống nữa; vì với kinh nghiệm đau thương trước khi nghĩ ra được chiến lược hiệu quả, đối với họ những thử nghiệm khác đều chỉ làm mọi thứ tệ đi.

Có lẽ có những quốc gia khác ngoài Iceland trong quá khứ có thể được mô tả là linh hoạt hoặc cứng nhắc ở nhiều khía cạnh. Nhưng có lẽ sẽ dễ thấy hơn nhiều nếu nhìn nhận rằng sự linh hoạt quốc gia là tùy biến theo hoàn cảnh: một quốc gia có thể linh hoạt trong một số vấn đề này nhưng lại cứng nhắc ở các vấn đề khác. Người Phần Lan đã từ chối thỏa hiệp về việc đất nước của họ bị chiếm đóng nhưng lại cực kỳ linh hoạt trong việc thỏa hiệp với những gì mà các quốc gia khác coi là quyền bất khả xâm phạm của một nền dân chủ – như không cho phép các quốc gia khác thay đổi những quy tắc của một cuộc bầu cử tổng thống ở đất nước mình. Nhật Bản thời Minh Trị từ chối thỏa hiệp về vị thế của Nhật hoàng và tôn giáo truyền thống Nhật Bản nhưng lại cực kỳ linh hoạt trong việc thỏa hiệp về các thể chế chính trị. Úc, trong một thời gian dài, đã từ chối thỏa hiệp về căn tính Anh nhưng đồng thời lại phát triển một xã hội mang tính cá nhân và bình đẳng hơn nhiều so với chính Anh quốc.

Nước Mỹ thì đặt ra những câu hỏi thú vị liên quan đến tính linh hoạt. Người Mỹ có thể được mô tả là linh hoạt, dựa trên ví dụ về việc chuyển nhà thường xuyên, trung bình cứ năm năm một lần. Lịch sử chính trị Mỹ đã được mô tả với những dấu hiệu về sự linh hoạt quốc gia, chẳng hạn như việc thường xuyên chuyển đổi quyền kiểm soát chính phủ liên bang giữa các đảng chính trị lớn, và các đảng lớn của Mỹ thường xuyên “đồng sở hữu” các chương trình của các đảng mới vừa thành lập qua đó ngăn chặn sự phát triển của các đảng này. Tuy vậy, ngược lại, chính trị Mỹ trong hai thập niên qua đã trở nên cứng nhắc với sự gia tăng từ chối thỏa hiệp.

Do đó, tôi nghĩ rằng sẽ không có lợi cho các nhà khoa học xã hội khi họ khái quát về một quốc gia là linh hoạt hoặc cứng nhắc. Thay vào đó, họ nên cân nhắc việc liệu các quốc gia có thể được phân loại là linh hoạt tùy hoàn cảnh hoặc cứng nhắc độc lập với hoàn cảnh theo góc nhìn đa chiều. Câu hỏi đó vẫn là một thách thức cho tương lai.

11. GIÁ TRỊ CỐT LÕI QUỐC GIA

Giá trị cốt lõi cá nhân là nền tảng cho quy tắc đạo đức của một người và thường đại diện cho những gì mà một người sẵn sàng hi sinh vì nó. Đối với cá nhân, các giá trị cốt lõi có thể giúp giải quyết khủng hoảng dễ dàng hơn hoặc gây khó khăn thêm. Về mặt tích cực, các giá trị cốt lõi có thể cung cấp cho ta sự rõ ràng và thế mạnh, từ đó người ta có thể tính đến việc thay đổi các mặt khác trong cuộc sống của mình. Về mặt tiêu cực, người ta có thể sẽ khư khư với các giá trị cốt lõi dù chúng không còn phù hợp khi hoàn cảnh thay đổi, và khi chúng ngáng trở một người đang giải quyết biến cố.

Các quốc gia cũng có những giá trị cốt lõi được chấp nhận rộng rãi bởi công dân của quốc gia đó, và trong một số trường hợp, họ chấp nhận hi sinh cho những giá trị đó. Giá trị cốt lõi liên quan mật thiết đến căn tính quốc gia, nhưng vẫn có sự khác biệt. Chẳng hạn, căn tính quốc gia của Phần Lan có sự liên quan đặc biệt đến thành tựu văn hóa và ngôn ngữ độc đáo của họ, nhưng giá trị cốt lõi để nhiều người Phần Lan sẵn sàng hi sinh trong cuộc chiến chống Liên Xô là nền độc lập của Phần Lan; thay vì tiếng Phần Lan, đó mới là những gì Liên Xô tìm cách phá hoại. Tương tự, căn tính quốc gia Đức xoay quanh ngôn ngữ, văn hóa Đức và lịch sử chung của các dân tộc German. Nhưng, giá trị cốt lõi của Đức bao gồm những điều mà nhiều người Mỹ chê bai là “chủ nghĩa xã hội” trong khi lại là những gì mà hầu hết người Đức coi là đáng ngưỡng mộ: sự hỗ trợ của chính phủ đối với phúc lợi cộng đồng; sự hạn chế quyền cá nhân để ủng hộ lợi ích chung; và không để những lợi ích công cộng quan trọng phụ thuộc vào lợi ích cá nhân vị kỷ cho dù chính phủ có thể hoặc không thể thấy được thành quả của việc hỗ trợ này. Chẳng hạn, chính phủ Đức tài trợ quy mô lớn cho nghệ thuật (bao gồm các công ty nhạc thính phòng, các dàn nhạc giao hưởng và các nhà hát), cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế tốt và an toàn tài chính về già cho tất cả người Đức, và thực thi việc giữ gìn phong cách kiến trúc truyền thống cùng những rừng cây; đó là một trong những giá trị cốt lõi của nước Đức hiện đại.

Cũng đúng như với cá nhân, các giá trị cốt lõi quốc gia có thể khiến một quốc gia dễ dàng hơn hoặc khó khăn thêm trong việc áp dụng thay đổi có chọn lọc. Các giá trị cốt lõi ở quá khứ có thể vẫn còn phù hợp cho hiện tại và là động lực để người dân dám hi sinh để giữ gìn những giá trị đó. Các giá trị cốt lõi thúc đẩy người Phần Lan tự nguyện hi sinh để bảo vệ thành công nền độc lập của đất nước họ, là động lực cho Nhật Bản thời Minh Trị bắt kịp phương Tây, và là lời động viên người Đức cũng như người Nhật sau Thế chiến II làm việc chăm chỉ, vượt lên thiếu thốn để tái thiết đất nước từ đống tro tàn. Nhưng, cũng có khi các giá trị cốt lõi quốc gia trong quá khứ không còn phù hợp với ngày nay và việc bám vào những giá trị lỗi thời đó có thể ngăn trở một đất nước áp dụng những thay đổi cần thiết. Đó là vấn đề trung tâm trong biến cố dần lộ diện của Úc sau Thế chiến II: Vai trò của Úc như một tiền đồn của Anh ngày càng mờ nhạt và nhiều người Úc đã cảm thấy đau đớn khi phải từ bỏ vai trò đó. Một ví dụ khác từ Nhật Bản sau Thế chiến II: trong khi các giá trị cốt lõi của văn hóa Nhật Bản và sự tôn trọng Nhật hoàng mang lại sức mạnh cho Nhật Bản, thì việc bám riết vào chính sách khai thác tài nguyên thiên nhiên ở nước ngoài vô tội vạ lại đang làm tổn thương nước Nhật.

12. TỰ DO TỪ BẤT LỢI ĐỊA CHÍNH TRỊ

Đối với cá nhân, các ràng buộc bên ngoài hạn chế khả năng của một người trong việc áp dụng các thay đổi có chọn lọc, bao gồm các ràng buộc tài chính, gánh nặng trách nhiệm đối với người khác và an nguy thể chất. Các quốc gia cũng phải đối mặt với những hạn chế về quyền tự do lựa chọn của họ, nhưng các ràng buộc này khác so với của cá nhân: đặc biệt là các ràng buộc địa chính trị bởi các nước láng giềng hùng mạnh và các hạn chế kinh tế. Trong số 12 nhân tố chúng ta đang bàn luận, nhân tố ràng buộc trên phương diện lịch sử thể hiện rõ nhất sự khác biệt giữa các quốc gia của chúng ta. Mỹ đặc biệt không bị ràng buộc; bốn quốc gia (Nhật Bản thời Minh Trị, Chile, Indonesia và Úc) bị hạn chế ở một số mặt và tương đối tự do ở các mặt còn lại; và hai quốc gia còn lại (Phần Lan và Đức) thì bị hạn chế rất nhiều. Sau đây tôi sẽ thảo luận về các ràng buộc địa chính trị ngày nay khác với các ràng buộc lịch sử mà tôi sẽ tóm tắt trước tiên.

Nước Mỹ, từ xưa đến nay không bị ràng buộc vì được ngăn cách bởi các đại dương rộng lớn hai bờ Đông – Tây, cũng không bị đe dọa nơi biên giới đất liền với các nước láng giềng ở hai mặt còn lại, đây là ưu thế tự nhiên của địa lý nước Mỹ cùng dân số đông và sự trù phú. Hơn bất kỳ quốc gia nào khác trên thế giới, Mỹ luôn được tự do làm điều mình muốn bên trong biên giới của mình. Ở thái cực ngược lại, Phần Lan và Đức đều bị ràng buộc trầm trọng. Phần Lan gặp bất hạnh khi chia sẻ biên giới đất liền dài nhất châu Âu với Nga (trước đây là Liên Xô). Lịch sử Phần Lan gần đây đã bị chi phối bởi tình thế tiến thoái lưỡng nan nhằm giữ lại càng nhiều quyền tự do lựa chọn càng tốt mặc cho sự ràng buộc trầm trọng này. Đức thì không may nằm ở trung tâm châu Âu và phải tiếp giáp với nhiều nước láng giềng (một số quốc gia lớn và hùng mạnh) cả ở biên giới trên bộ và trên biển nhiều hơn so với bất kỳ quốc gia châu Âu nào khác. Các nhà lãnh đạo Đức đã làm ngơ thực tế cơ bản về địa lý này (Hoàng đế Wilhelm II và Hitler) đã hai lần đẩy Đức rơi vào thảm họa chỉ trong thế kỷ 20. Đức đã phải hai lần viện đến các nhà lãnh đạo tài năng kiệt xuất (Bismarck và Willy Brandt) để thương thảo về mối nguy do ràng buộc địa chính trị của Đức.

Bốn quốc gia khác của chúng ta mang đến một bức tranh nhiều màu liên quan đến ràng buộc. Nhật Bản thời Minh Trị, mặc dù là một quốc đảo nhưng vẫn bị đe dọa trầm trọng bởi các thế lực chuyên rình mò từ phương Tây. Chile, được bảo vệ bởi dãy Andes ở phía đông và các sa mạc ở phía bắc, hiện không phải đối mặt với các mối đe dọa nào đáng kể ở khu vực Nam Mỹ; nhưng nền kinh tế Chile từng bị suy yếu do áp lực từ Mỹ xa xôi trong nhiệm kỳ tổng thống của Allende. Indonesia được bảo vệ về mặt địa lý bởi các đại dương và không bị các nước láng giềng đe dọa nhưng phải đấu tranh giành độc lập chống lại Hà Lan nằm cách đó nửa vòng Trái đất. Các chính phủ Indonesia kể từ khi độc lập luôn bị hạn chế bởi các vấn đề nội bộ về nghèo đói và bùng nổ dân số. Cuối cùng, Úc, tuy xa xôi và được các đại dương bảo vệ về mặt địa lý, nhưng vẫn bị Nhật Bản đe dọa và ném bom trong Thế chiến II. Do đó, tất cả các quốc gia này đã trải qua những ràng buộc gián đoạn đối với quyền tự do hành động của họ, nhưng không nghiêm trọng và mạn tính như những ràng buộc liên tục xảy đến với Đức và Phần Lan.

Những hạn chế về địa chính trị rõ ràng đã thay đổi toàn cầu trong nhiều thiên niên kỷ gần đây. Trong quá khứ xa xôi, cư dân địa phương phần lớn tự túc, nhận và gửi hàng hóa cũng như thông tin ở khoảng cách tương đối ngắn, và chỉ phải đối mặt với các mối đe dọa quân sự từ các nước láng giềng sát vách mà thôi. Chỉ trong vòng năm thế kỷ gần nhất, các kết nối truyền thông, kinh tế và quân sự đã mang tính toàn cầu. Các mối đe dọa quân sự bằng đường biển đến từ khắp nơi trên thế giới: Hà Lan bắt đầu chiếm Indonesia vào khoảng năm 1595, hạm đội Mỹ của Phó đề đốc Perry đã xâm phạm sự tách biệt của Nhật Bản vào năm 1853. Nhật Bản trước đây tự túc về kinh tế và xuất nhập khẩu thì không đáng kể; bây giờ nền kinh tế công nghiệp Nhật Bản bị hạn chế trầm trọng vì thiếu tài nguyên thiên nhiên và phụ thuộc nhiều vào xuất nhập khẩu. Mỹ vừa xuất nhưng đồng thời cũng nhập siêu. Chile phụ thuộc vào nguồn vốn và công nghệ của Mỹ để khai thác các mỏ đồng của mình. Tổng thống Chile, Allende, và ở mức độ thấp hơn, là Tổng thống Indonesia Sukarno, đã phải chịu áp lực kinh tế từ Mỹ và sự hậu thuẫn của Mỹ với các đối thủ trong nước của họ. Ba trong số bảy quốc gia đề cập trong cuốn sách này đã bị đánh bom bởi hàng không mẫu hạm của đối phương xuất phát từ hàng ngàn dặm xa xôi: Mỹ với Trân Châu Cảng bị Nhật Bản tấn công tháng 12 năm 1941, Úc cũng bị Nhật Bản đột kích ở Chiến dịch Darwin tháng 2 năm 1942, và đến lượt Nhật Bản bị Mỹ tấn công ở cuộc không kích Doolittle tháng 4 năm 1942. Đức và Nhật Bản phải hứng chịu các cuộc tấn công dữ dội bởi máy bay ném bom trên bộ trong Thế chiến II. Các cuộc tấn công tên lửa đầu tiên là của Đức bắn phá Anh, Pháp và Bỉ vào năm 1944 và 1945, và tên lửa V-2s được phóng cách mục tiêu 200 dặm. Giờ đây, các tên lửa liên lục địa có khả năng tấn công các mục tiêu ở bất cứ đâu trên thế giới bất kể rào cản là những đại dương rộng nhất.

Tất cả những sự phát triển trên đồng nghĩa với việc những ràng buộc địa chính trị trước kia đã bị suy yếu rất nhiều. Liệu điều đó có nghĩa là địa lý bây giờ không còn quá quan trọng? Dĩ nhiên là không! Chính sách đối ngoại của Phần Lan vẫn bị quyết định bởi biên giới đất liền dài với Nga. Chính sách đối ngoại của Đức vẫn bị quyết định bởi chín nước láng giềng trên đất liền và tám quốc gia khác mà nước này đối diện ở bên kia biển Baltic và biển Bắc. Các sa mạc và núi cao đảm bảo rằng Chile chưa bao giờ bị xâm chiếm trong hai thế kỷ kể từ khi độc lập; và khả năng Chile bị xâm chiếm trong tương lai gần khó có thể xảy ra. Mỹ có thể bị tên lửa tấn công nhưng vẫn cực kỳ khó xâm chiếm hay chinh phục, và Úc cũng tương tự. Nói tóm lại, phương châm “Địa lý của chúng tôi sẽ không bao giờ thay đổi” của Phần Lan có thể dùng được cho mọi quốc gia.

Điều đó tóm tắt những gì chúng ta đã học về câu hỏi là động lực ban đầu cho cuốn sách này: sự liên quan của hàng tá nhân tố được đề xuất bởi kết quả của các biến cố cá nhân đối với kết quả của các biến cố quốc gia. Giờ chúng ta hãy xem xét hai câu hỏi không phải là động lực ban đầu của tôi cho nghiên cứu này, nhưng đã được chứng minh là những câu hỏi mà mọi người thường hỏi nhất khi chúng ta nói về khủng hoảng quốc gia. Hai câu hỏi tập trung về vai trò của các biến cố như là động lực của việc thay đổi chính sách quốc gia và vai trò của các nhà lãnh đạo.

Các quốc gia có cần một biến cố để thúc đẩy họ hành động, hoặc các quốc gia có bao giờ hành động với tâm thế đã lường trước các vấn đề không? Các biến cố được thảo luận trong cuốn sách này minh họa cho hai câu trả lời cho câu hỏi thường gặp đó.

Nhật Bản thời Minh Trị tránh đối phó với mối nguy ngày càng tăng từ phương Tây cho đến khi buộc phải hồi đáp chuyến viếng thăm của Phó đề đốc Perry. Tuy nhiên, từ cuộc Duy Tân Minh Trị năm 1868 trở đi, Nhật Bản không cần bất kỳ cú sốc bên ngoài nào nữa để thúc đẩy nước này bắt tay vào chương trình cải cách cấp bách: Nhật Bản đã thay đổi với việc dự đoán về nguy cơ của những áp lực mới từ phương Tây.

Tương tự như vậy, Phần Lan đã phớt lờ sự dòm ngó của Liên Xô cho đến khi họ buộc phải chú ý tới cuộc tấn công của Liên Xô năm 1939. Nhưng từ năm 1944 trở đi, người Phần Lan không cần bất kỳ cuộc tấn công nào khác của Liên Xô để thức tỉnh họ: thay vào đó, chính sách đối ngoại của họ tập trung vào việc liên tục dự đoán và ngăn chặn sức ép từ Liên Xô.

Ở Chile, các chính sách Allende đề xuất là để ứng phó với sự phân cực mạn tính ở nước này chứ không phải ứng phó với một biến cố bất ngờ, ở đây Allende đã dự đoán các vấn đề tương lai cũng như nhận diện, giải quyết các vấn đề hiện tại. Ngược lại, quân đội Chile đã phát động cuộc đảo chính để đáp lại những gì họ cho là biến cố cấp thời bởi Allende tuyên bố là muốn biến Chile thành một quốc gia Marxist.

Ở Indonesia, cả hai dạng phản ứng đều được áp dụng. Các nhân tố thân cộng sản trong quân đội Indonesia đã phát động đảo chính với sự tiên liệu các động thái mà họ sợ Hội đồng các tướng lĩnh chống cộng sẽ làm. Phần còn lại của quân đội Indonesia có vẻ như đã hành động phản ứng lại biến cố đảo chính ngày 1 tháng 10 năm 1965, nhưng có nhiều lý do để nghi ngờ rằng quân đội đã lường trước cuộc đảo chính đó và đã chuẩn bị sẵn phương án ứng phó.

Nước Đức thời hậu chiến đưa ra hai ví dụ nổi bật trong lịch sử hiện đại về các quốc gia hành động bằng sự tiên liệu, thay vì phản ứng với biến cố. Chính sách thành lập Cộng đồng Than và Thép châu Âu, sau đó thiết lập các cấu trúc kinh tế và chính trị dẫn đến sự hình thành Thị trường chung châu Âu rồi thành lập Liên minh Châu Âu của Thủ tướng Đức Konrad Adenauer đã được thông qua một cách dứt khoát để dự đoán và ngăn chặn trước khi khủng hoảng xảy ra (Chương 11).

Từ những điều kinh khủng của Thế chiến II, Adenauer và các nhà lãnh đạo châu Âu khác đã tìm cách tránh Thế chiến III bằng cách hợp nhất Tây Âu để các nước Tây Âu không có ý định và cũng không thể tấn công lẫn nhau. Tương tự, chính sách “Đông Âu mới” (Ostpolitik) của Willy Brandt đã không được sử dụng để ứng phó với một biến cố cấp thời ở Đông Âu (Chương 6). Brandt không phải đối mặt với nhu cầu cấp thiết là công nhận Đông Đức hoặc các chính phủ cộng sản Đông Âu khác, cũng như không thừa nhận sự mất mát các lãnh thổ phía đông của Đức. Thay vào đó, Brandt đã làm như vậy để dự đoán các cơ hội trong tương lai xa, và tạo điều kiện ổn định cho việc thống nhất nước Đức bất cứ khi nào có thể – như cuối cùng đã được chứng minh.

Nhật Bản ngày nay đang phải vật lộn với bảy vấn đề lớn mà không có hành động quyết định để giải quyết bất kỳ vấn đề nào trong số đó. Liệu Nhật Bản có thành công trong việc giải quyết những vấn đề này bằng cách thay đổi chậm như Úc thời hậu chiến, hay sẽ phải cần một biến cố bất ngờ để thúc đẩy họ hành động mạnh mẽ? Tương tự như vậy, Mỹ ngày nay không hành động quyết đoán để ứng phó với các vấn đề lớn đang gặp, ngoại trừ phản ứng nhanh chóng với cuộc tấn công vào Trung tâm Thương mại Thế giới bằng cách chiếm đóng Afghanistan và phản ứng về sự hiện diện của vũ khí hủy diệt hàng loạt ở Iraq bằng cách chiếm đóng Iraq.

Do đó, chính phủ của bốn trong số các quốc gia được thảo luận trong cuốn sách này cần các biến cố để thúc đẩy họ hành động, và hai trường hợp ngày nay (Nhật Bản, Mỹ) không có hành động quyết định khi không có những biến cố kích thích. Tuy nhiên, một khi các biến cố xảy ra, Nhật Bản thời Minh Trị, Phần Lan, Chile và Indonesia đều tiến hành các chương trình thay đổi đòi hỏi thời gian dài mà không cần đến các biến cố tiếp theo để tiếp tục thúc đẩy họ. Nhưng các quốc gia này cung cấp những ví dụ về các hành động phủ đầu để ngăn khủng hoảng xảy ra (Indonesia và Đức) hoặc ngăn nó trở nên tồi tệ hơn (Chile). Tất nhiên, mọi chính phủ đều liên tục có những hành động để ứng phó với các vấn đề hiện hành ít khẩn cấp hơn, hoặc có thể xảy đến trong tương lai.

Do đó, câu trả lời cho câu hỏi “Liệu có cần một biến cố để thúc đẩy một quốc gia áp dụng thay đổi lớn có chọn lọc hay không?” tương tự như câu trả lời cho cá nhân. Chúng ta, ở góc độ cá nhân, hành động liên tục để ứng phó với các vấn đề hiện tại hoặc sẽ đến. Thi thoảng, chúng ta tiên liệu được một vấn đề lớn và mới thì chúng ta cần cố gắng giải quyết nó trước khi nó xảy ra. Nhưng, đối với các quốc gia cũng như đối với cá nhân, có rất nhiều sức ỳ và trở lực để làm được điều này. Một điều gì đó lớn và xấu đột nhiên xảy ra sẽ thúc đẩy chúng ta nhiều hơn là các vấn đề phát triển từ từ, và cũng nhiều hơn những vấn đề xảy ra trong tương lai. Điều này nhắc tôi nhớ đến một câu nói của Samuel Johnson: “Thưa ngài, hãy tin rằng khi một người đàn ông biết là anh ta sẽ bị treo cổ trong hai tuần tới, tâm trí anh ta sẽ tập trung một cách tuyệt vời.”

Các nhà lãnh đạo có tạo nên khác biệt? Một câu hỏi khác mà mọi người thường đặt ra khi họ và tôi bàn về các biến cố quốc gia liên quan đến những tranh cãi lịch sử dai dẳng về việc các nhà lãnh đạo quốc gia có ảnh hưởng đáng kể đến lịch sử hay không, hay lịch sử sẽ diễn ra theo đúng quy trình bất kể là kẻ nào lãnh đạo một quốc gia ở một thời điểm cụ thể. Ở một thái cực là quan điểm được gọi là “Nhân vật vĩ đại” của nhà sử học người Anh Thomas Carlyle (1795-1881), người khẳng định rằng lịch sử bị chi phối bởi hành động của những người vĩ đại, như Oliver Cromwell và Frederick Đại đế. Những quan điểm tương tự vẫn còn phổ biến ngày nay trong giới sử học quân sự, những người có xu hướng nhấn mạnh quyết định của các tướng lĩnh và lãnh đạo chính trị thời chiến. Ở thái cực ngược lại là Leo Tolstoy, người cho rằng các nhà lãnh đạo và tướng lĩnh ảnh hưởng rất ít đến tiến trình lịch sử. Để đưa ra quan điểm của mình, Tolstoy đưa vào cuốn tiểu thuyết Chiến tranh và Hòa bình các trận chiến trong đó những viên tướng ra lệnh, nhưng các mệnh lệnh thường không thích đáng với những gì thực sự xảy ra trên chiến trường.

Quan điểm rằng tiến trình lịch sử phụ thuộc vào rất nhiều chi tiết thay vì vào chính sách hay quyết định của những người vĩ đại, hiện đang phổ biến trong các nhà sử học. Họ thường lập luận rằng một nhà lãnh đạo vẻ như chỉ có ảnh hưởng vì ông ta (hoặc bà ta) theo đuổi các chính sách cộng hưởng với quan điểm của người dân nước mình; rằng các chính trị gia không mấy ấn tượng vẫn có thể trở nên vĩ đại vì những cơ hội mà họ được thụ hưởng vào thời điểm đó, chứ không phải vì phẩm chất cá nhân của họ (dẫn chứng thường được đưa ra là các tổng thống Mỹ như James Polk và Harry Truman); và các nhà lãnh đạo chỉ có giới hạn những lựa chọn được quyết định bởi các nhân tố khác của lịch sử. Một quan điểm trung gian giữa hai quan điểm trên là của nhà xã hội học người Đức Max Weber (1846-1920); ông cho rằng có một số dạng lãnh đạo, được gọi là các nhà lãnh đạo lôi cuốn, trong một số trường hợp đôi khi có thể ảnh hưởng đến lịch sử.

Tranh luận này đến nay vẫn chưa ngã ngũ. Mỗi nhà sử học đều có xu hướng bám lấy một số quan điểm phổ quát chung dựa trên nguyên tắc cơ bản thay vì trên một số phương pháp vững chắc để đánh giá bằng chứng thực nghiệm và áp dụng quan điểm đó vào các nghiên cứu trường hợp riêng lẻ. Chẳng hạn, mọi sách tiểu sử về Hitler đều phải thuật lại cùng những sự kiện quan trọng trong cuộc đời ông. Nhưng những người đề xướng quan điểm “Nhân vật vĩ đại” lại kể những sự kiện đó theo hướng khẳng định rằng Hitler là một nhà lãnh đạo độc ác và bất thường, khiến những phát triển ở Đức trở nên khác đi nếu rơi vào một nhà lãnh đạo khác. Những người phản đối quan điểm “Nhân vật vĩ đại” cũng kể những sự kiện tương tự nhưng lại miêu tả Hitler như một tiếng nói phản ánh những đặc điểm phổ biến của xã hội Đức thời đó. Tranh luận này không thể giải quyết bằng khảo chứng trần thuật và nghiên cứu trường hợp cá nhân.

Thay vào đó, có một cách tiếp cận đầy hứa hẹn từ các phân tích gần đây kết hợp ba đặc điểm: một hình mẫu rộng lớn bao gồm nhiều sự kiện lịch sử hay tất cả các sự kiện lịch sử đã được xác định; sử dụng các “thử nghiệm tự nhiên của lịch sử,” tức là so sánh các hành trình lịch sử tương tự mà ở đó một nhiễu loạn nào đó thực sự đã diễn ra hay không diễn ra (tôi sẽ đưa ra hai ví dụ trong các đoạn sau); và đo lường kết quả theo định lượng. Hai bài nghiên cứu xuất sắc như thế đã được Benjamin Jones của Đại học Northwestern và Benjamin Olken thuộc Viện Công nghệ Massachusetts công bố.

Trong nghiên cứu đầu tiên, Jones và Olken đặt câu hỏi: điều gì xảy ra với tỉ lệ tăng trưởng kinh tế quốc gia khi một nhà lãnh đạo chết khi còn đương chức do nguyên nhân tự nhiên, so với những gì xảy ra vào thời điểm được chọn ngẫu nhiên khi một nhà lãnh đạo không chết do những nguyên nhân tự nhiên khi còn đương chức? So sánh này cung cấp một thử nghiệm tự nhiên để kiểm tra hiệu quả của sự thay đổi lãnh đạo. Nếu quan điểm “Nhân vật vĩ đại” là chính xác, thì cái chết của một nhà lãnh đạo có nhiều khả năng sẽ kéo theo những thay đổi về tỉ lệ tăng trưởng kinh tế – giảm hoặc tăng tùy thuộc vào chính sách của nhà lãnh đạo có thực sự tạo ra khác biệt, tương ứng với tốt hay xấu, hay không – so với sau những thời điểm bất kỳ khi nhà lãnh đạo đó chưa chết. Về cơ sở dữ liệu, Jones và Olken chọn tất cả trường hợp trên thế giới về các lãnh đạo quốc gia chết vì nguyên nhân tự nhiên trong khi đương nhiệm, từ năm 1945 đến năm 2000. Họ đã thành công trong việc tập hợp 57 trường hợp như vậy: chủ yếu là tử vong do đau tim hoặc ung thư, thêm một số vụ tai nạn máy bay, một vụ chết đuối, một bị ngã ngựa, một do hỏa hoạn và một vụ do gãy chân. Những sự kiện đó thực sự tạo ra một sự xáo trộn ngẫu nhiên: những chính sách kinh tế của nhà lãnh đạo thật ra không chịu tác động gì mấy nếu nhà lãnh đạo đó vô tình bị chết đuối. Đồng thời, tỉ lệ tăng trưởng kinh tế có nhiều khả năng thay đổi sau cái chết tự nhiên của nhà lãnh đạo hơn là sau những thời khắc ngẫu nhiên khi một nhà lãnh đạo không chết. Điều đó cho thấy rằng, tính trung bình trong nhiều trường hợp, lãnh đạo không quá có xu hướng ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế.

Trong nghiên cứu thứ nhì, Jones và Olken đặt câu hỏi: điều gì xảy ra khi một nhà lãnh đạo bị ám sát, thay vì chết do những nguyên nhân tự nhiên? Tất nhiên, các vụ ám sát không hoàn toàn là sự kiện ngẫu nhiên: có nhiều khả năng chúng được thực hiện trong một số điều kiện (chẳng hạn khi công dân không hài lòng với tăng trưởng kinh tế thấp) thay vì do các điều kiện khác. Từ đó, Jones và Olken so sánh các vụ ám sát thành công với các nỗ lực không thành công, khi viên đạn bị trượt. Đó thực sự là một sự khác biệt ngẫu nhiên: các điều kiện chính trị quốc gia có thể đã ảnh hưởng đến tần suất của các vụ ám sát nhưng không ảnh hưởng đến mục đích của kẻ ám sát. Cơ sở dữ liệu bao gồm tất cả 298 vụ ám sát nhằm vào các nhà lãnh đạo quốc gia từ năm 1875 đến năm 2005: 59 vụ thành công, 239 vụ bất thành. Nghiên cứu chỉ ra rằng những nỗ lực thành công có nhiều khả năng được tiếp nối bởi một thay đổi trong các thể chế chính trị quốc gia hơn nhưng vụ ám sát không thành công.

Trong cả hai nghiên cứu, tác động về cái chết của một nhà lãnh đạo chuyên quyền mạnh mẽ hơn cái chết của một nhà lãnh đạo dân chủ – và còn mạnh mẽ hơn đối với những nhà lãnh đạo chuyên quyền mà quyền lực không chịu ràng buộc nào so với những nhà lãnh đạo độc đoán còn bị ràng buộc bởi các cơ quan lập pháp hay các chính đảng.

Điều đó nằm trong suy tính của chúng ta: các nhà lãnh đạo mạnh mẽ với quyền lực vô hạn có thể đem lại nhiều hệ quả hơn (dù tốt hay xấu) so với các nhà lãnh đạo chỉ có quyền lực hạn chế. Do đó, những nghiên cứu này đồng thuận về một kết luận chung: các nhà lãnh đạo đôi khi tạo ra sự khác biệt. Nhưng nó phụ thuộc vào dạng nhà lãnh đạo, và dạng hệ quả được khảo sát.

Bây giờ chúng ta hãy gắn những thí nghiệm tự nhiên này với vai trò của các lãnh đạo bảy quốc gia được thảo luận trong cuốn sách này. Mục tiêu của tôi là để xem liệu các nhà lãnh đạo của chúng ta có phù hợp với mô hình được Jones và Olken công nhận hay không, và những vấn đề nào họ đặt ra để thử nghiệm. Lịch sử của bảy quốc gia này đã cho nhiều nhà sử học những đánh giá sau đây về lãnh đạo của họ:

Ở Nhật thời Minh Trị, không có nhà lãnh đạo duy nhất nào chiếm ưu thế, nhưng một số nhà lãnh đạo cùng có các chính sách giống nhau.

Ở Phần Lan, các nhà lãnh đạo chính trị và công dân gần như đồng thuận trong nỗ lực chống lại cuộc tấn công của Liên Xô. (Nhưng đôi khi cũng cho thấy rằng các kỹ năng của Thống chế Mannerheim với tư cách là nhà chỉ huy quân sự, cùng khả năng của hai tổng thống Paasikivi và Kekkonen trong việc để giành được sự tin tưởng của các nhà lãnh đạo Liên Xô sau chiến tranh, đã ảnh hưởng tích cực đến vận mệnh của đất nước Phần Lan.)

Ở Chile, Pinochet được xem là (ngay cả từ quan điểm của các tướng lĩnh thân thiết) quyết đoán và tàn nhẫn khác thường, khư khư bám giữ quyền lực và lựa chọn chính sách kinh tế.

Ở Indonesia, Sukarno và Suharto đều được coi là những nhà lãnh đạo quyết đoán, nhưng các tổng thống sau đó thì không. Trong thời hậu chiến ở Đức, Willy Brandt thường được cho là đã đóng vai trò duy nhất trong việc đảo ngược chính sách đối ngoại của chính phủ Tây Đức trước đây, công nhận các chính phủ cộng sản Đông Âu và biên giới Đức, nhờ đó, sau này Đức có thể thống nhất. Trong lịch sử Đức trước đó, Bismarck, Hoàng đế Wilhelm II và Hitler thường được trích dẫn là những điển hình về các nhà lãnh đạo duy nhất tạo ra sự khác biệt, tốt hơn hoặc xấu hơn.

Ở Úc không có nhà lãnh đạo nổi trội đơn lẻ nào. Điển hình gần nhất là Thủ tướng Gough Whitlam và chương trình thay đổi cấp tốc của ông, nhưng chính Whitlam cũng thừa nhận rằng cải cách của ông chỉ là một “sự thừa nhận về những gì đã diễn ra.”

Ở Mỹ, Tổng thống Franklin Roosevelt được cho là chuẩn bị dần sự ứng phó của nước Mỹ cho Thế chiến II, đi ngược ý chí của những kẻ theo chính sách nước Mỹ biệt lập (có thể ban đầu những kẻ này được đa số người dân Mỹ ủng hộ), và nỗ lực kéo Mỹ ra khỏi cuộc Đại Suy thoái. Trong lịch sử nước Mỹ thế kỷ 19, Tổng thống Lincoln được xem là đã đóng vai trò độc sáng trong suốt quá trình Nội chiến.

Tóm lại, bảy quốc gia trong cuốn sách này cung cấp những điển hình của chín nhà lãnh đạo (sáu chuyên quyền, ba dân chủ) thường được đánh giá là đã tạo ra sự khác biệt. Ngoài ra, tại các nước không nằm trong bảy quốc gia được thảo luận trong cuốn sách này, các nhà lãnh đạo thường được cho là đã tạo ra sự khác biệt trong thời kỳ hiện đại bao gồm Winston Churchill ở Anh, Lenin và Stalin ở Liên Xô, Mao ở Trung Quốc, de Gaulle ở Pháp, Cavour ở Ý và Gandhi ở Ấn Độ. Do đó, chúng ta có một danh sách ngắn gồm 16 nhà lãnh đạo thường được xem là đã tạo ra sự khác biệt. Trong số 16 người này, có 11 người ở chế độ chuyên chế, và 5 người ở chế độ dân chủ. Ngay từ cái nhìn đầu tiên, kết quả này dường như phù hợp với kết luận của Jones và Olken về tác động lớn hơn của các nhà lãnh đạo trong chế độ chuyên chế. Nhưng tôi không lập bảng kê số lượng tương đối tất cả các nhà lãnh đạo chuyên chế và dân chủ trên toàn thế giới trong khoảng thời gian này, vì vậy tôi không thể nói rằng kiểu lãnh đạo nào được thể hiện không tương xứng, nếu có.

Tập dữ liệu nhỏ của chúng tôi đề xuất hai giả thuyết đáng để thử nghiệm bằng các phương pháp tương tự như của Jones và Olken: bằng cách tập hợp một tập dữ liệu lớn bao gồm một thử nghiệm tự nhiên và lượng định kết quả theo phương pháp định lượng.

Một giả thuyết bắt nguồn từ quan sát cho thấy rằng trong số bốn nhà lãnh đạo dân chủ thường được cho là có ảnh hưởng độc đáo (Roosevelt, Lincoln, Churchill và de Gaulle), ít nhất có ba người có tác động hay ảnh hưởng lớn nhất trong thời chiến. Hầu như tất cả nhiệm kỳ tổng thống của Lincoln đều diễn ra trong Nội chiến Mỹ. Churchill, Roosevelt và de Gaulle phục vụ đất nước trong chiến tranh lẫn hòa bình, nhưng hai hoặc cả ba người đều được xem là tạo ra những hệ quả quyết định nhất trong thời chiến (Churchill khi là thủ tướng thời chiến giai đoạn 1940-1945 nhưng không phải khi là thủ tướng thời bình giai đoạn 1951-1955, de Gaulle với tư cách là vị tướng thời chiến, sau đó là tổng thống trong cuộc nổi dậy ở Algeria năm 1959-1962 và Roosevelt sau khi Thế chiến II bùng nổ ở châu Âu năm 1939 nhưng cũng trong thời Đại Suy thoái). Những kết quả này phù hợp với quan sát của Jones và Olken rằng các nhà lãnh đạo có ảnh hưởng quyết định hơn, càng ít chịu ràng buộc về quyền lực: các nhà lãnh đạo dân chủ thực thi quyền lực tập trung hơn trong thời chiến.

Một giả thuyết khác mà kết quả của chúng tôi đưa ra để thử nghiệm là các nhà lãnh đạo tạo ra sự khác biệt lớn nhất trong các trường hợp họ phải đối mặt với sự đối kháng mạnh mẽ (dù ở chế độ dân chủ hay chuyên chế) từ những người ủng hộ một chính sách rất khác, và cuối cùng quan điểm của các nhà lãnh đạo vẫn chiếm ưu thế, thường bằng nỗ lực thận trọng từng bước. Điển hình là Thủ tướng Cavour của Piedmont và Thủ tướng Bismarck nước Phổ dần dần đạt được sự thống nhất nước Ý và Đức trước sự đối kháng mạnh mẽ từ các cường quốc nước ngoài, từ chính người Ý và người Đức, thậm chí từ các vị vua của họ; Churchill đã thuyết phục được nội các chiến tranh Anh, lúc ban đầu chia rẽ, từ chối đề nghị của Lord Halifax trong việc đàm phán với Hitler nhằm tìm kiếm một nền hòa bình, sau đó lại thuyết phục được người Mỹ dành ưu tiên hàng đầu cho cuộc chiến chống Đức thay vì chống Nhật (ban đầu là ưu tiên rõ ràng của Mỹ sau khi Nhật tấn công Trân Châu Cảng); Roosevelt chuẩn bị dần cho Thế chiến II trước sự phản đối của những kẻ theo chủ thuyết nước Mỹ biệt lập; de Gaulle thuyết phục dần người dân của mình và người Algeria thương lượng để đạt được thỏa thuận trong cuộc đấu tranh giành độc lập của Algeria; Suharto, từ từ loại bỏ Sukarno, vị tổng thống yêu dấu khai sinh đất nước Indonesia; và Willy Brandt thuyết phục người Tây Đức nuốt viên thuốc đắng từ bỏ nhiều lãnh thổ cũ của Đức trước sự phản đối quyết liệt của đảng Liên minh Dân chủ Ki-tô giáo, sau đó lãnh đạo Tây Đức liên tục trong hai thập niên.

Cuốn sách này là bước khởi đầu trong một chương trình nghiên cứu đối sánh các biến cố quốc gia – một cuộc khảo sát hình mẫu nhỏ về các quốc gia, được tiến hành bằng các phương pháp trần thuật. Làm thế nào để mở rộng nghiên cứu này nhằm làm sâu sắc thêm hiểu biết của chúng ta? Tôi đề nghị hai sự mở rộng: mẫu nghiên cứu lớn hơn và ngẫu nhiên hơn, và một phân tích chặt chẽ hơn để chuyển các kết quả và dự đoán giả thuyết từ các khái niệm bằng lời thành các biến số vận hành.

Đầu tiên là chọn mẫu nghiên cứu. Tập hợp mẫu quốc gia của tôi không chỉ hạn hẹp mà còn được chọn không ngẫu nhiên. Tôi đã chọn những quốc gia này không phải vì chúng cung cấp một tập hợp con ngẫu nhiên của 216 quốc gia trên thế giới mà do chúng là những quốc gia mà tôi biết rõ nhất. Kết quả là, các quốc gia này bao gồm hai nước châu Âu, hai nước châu Á, một nước thuộc Bắc Mỹ, một Nam Mỹ và nước Úc. Năm trong số bảy nước này là những quốc gia thịnh vượng. Tất cả bảy nước hiện đang theo chế độ dân chủ, dù có hai nước theo chế độ độc tài trong giai đoạn tôi thảo luận. Tất cả, ngoại trừ Indonesia, đều có lịch sử lâu dài về độc lập hoặc tự trị (Phần Lan) và có thể chế mạnh. Chỉ có một nước mới trỗi dậy từ chủ nghĩa thực dân chuyển sang độc lập. Thiếu các nước châu Phi, các chế độ độc tài hiện thời và các nước nghèo. Tất cả sáu nước mà tôi trình bày về các biến cố trong quá khứ đều vượt qua biến cố ở một mức độ thành công nào đó. Không gì minh họa rõ ràng cho một thất bại trong việc đối phó với một biến cố bằng những phương pháp thay đổi có chọn lọc thích hợp. Điều này hiển nhiên là một hình mẫu không ngẫu nhiên. Do đó, thách thức đặt ra cho tương lai là việc thấy được tập hợp mẫu các quốc gia rộng hơn sẽ chỉ ra những kết luận gì.

Thứ nhì, thách thức về phương pháp luận quan trọng nhất trong tương lai là mở rộng phân tích định tính qua trần thuật trong cuốn sách của tôi bằng một phân tích định lượng chặt chẽ hơn. Như tôi đã đề cập trong phần giới thiệu cuốn sách, khuynh hướng gần đây trong một số ngành khoa học xã hội, đặc biệt là trong kinh tế và lịch sử kinh tế cùng một số lĩnh vực về tâm lý học là thay thể loại trần thuật dựa trên các nghiên cứu trường hợp đơn lẻ bằng các phương pháp kết hợp dữ liệu định lượng, đồ thị, hình mẫu rộng lớn, kiểm tra thống kê về ý nghĩa, thử nghiệm tự nhiên và các “phép đo khả thi.” Tôi dùng khái niệm “phép đo khả thi” với ý nghĩa diễn dịch một khái niệm bằng lời thành một thứ có thể đo đếm được qua một loạt sự vận hành dựa trên các mối tương quan hoặc biểu thức giả định của khái niệm đó.

Hai bài nghiên cứu của Jones và Olken đã dẫn trong chương này là những ví dụ về cách tiếp cận đó. Họ đã thay thế các nghiên cứu trường hợp đơn lẻ về những gì một số nhà lãnh đạo cụ thể đã thực hiện hay không thực hiện qua phân tích cùng lúc 57 hoặc 298 nhà lãnh đạo. Họ tận dụng các khảo sát tự nhiên để so sánh các kết quả gắn với sự có mặt hay vắng mặt một nhà lãnh đạo cụ thể bằng cách xem xét các quốc gia trước và sau khi một nhà lãnh đạo chết đi do một nguyên nhân tự nhiên, hay các quốc gia khác đã xảy ra vụ ám sát, hoặc thất bại hoặc thành công. Cuối cùng, họ biểu thị các biến số kết quả giả định có thể dùng được bằng các phương pháp định lượng với con số có thể đo đếm được (ví dụ: tốc độ tăng trưởng kinh tế), hoặc bằng các tỉ lệ xác định (ví dụ: tỉ lệ xếp hạng của các tổ chức chính phủ, xếp từ các chế độ chuyên chế với các ràng buộc tối thiểu đối với một nhà lãnh đạo đến các thể chế dân chủ với những ràng buộc tối đa đối với một nhà lãnh đạo).

Để áp dụng cách tiếp cận đó vào nghiên cứu biến cố quốc gia, chúng ta sẽ cần các “phép đo khả thi” về kết quả và các yếu tố được đề xuất mà tôi đã thảo luận, bao gồm “sự thừa nhận,” “nhận trách nhiệm,” “căn tính quốc gia,” “thoát khỏi ràng buộc,” “kiên nhẫn đối phó với thất bại,” “tính linh hoạt,” “đánh giá trung thực,” “thay đổi hay thiếu sự thay đổi” và “thành công hay thất bại trong việc giải quyết biến cố quốc gia.” Những điểm khởi đầu khả thi để triển khai các như vậy gồm dữ liệu trong các cơ sở dữ liệu khoa học xã hội như “Khảo sát các giá trị thế giới” do Ronald Inglehart chủ đạo, “Khảo sát các giá trị kinh tế,” “Khảo sát xã hội châu Âu,” “Khảo sát kinh tế và xã hội châu Á – Thái Bình Dương,” và sách của Geert Hofstede, Michael Minkov cùng những người khác. Tôi đã cố gắng sử dụng các nguồn dữ liệu này để nghĩ ra các phép đo khả thi cho một số biến số trước khi miễn cưỡng kết luận rằng sẽ cần một dự án lớn vượt ngoài phạm vi khảo sát trần thuật của cuốn sách này, khi tôi đã mất sáu năm mà vẫn không nghĩ ra các phép đo khả thi. Những cách tiếp cận định lượng như vậy cần được triển khai không chỉ cho các biến cố quốc gia, vốn là trọng tâm của cuốn sách này, mà còn cho các biến cố cá nhân mà tôi đã thảo luận trong Chương 1. Dù các nhà tâm lý học đã vận hành và thử nghiệm một vài biến số được nêu trong chương này để xem tác động của chúng đến kết quả của các biến cố cá nhân, thì vẫn còn nhiều việc phải làm ngay cả đối với các biến cố cá nhân. Đây cũng là những hạn chế của phong cách trần thuật áp dụng cho nghiên cứu của tôi về các biến cố quốc gia và cho hầu hết các nghiên cứu lịch sử về lãnh đạo, cũng áp dụng cho hầu hết các nghiên cứu về biến cố cá nhân.

Chúng ta có thể tiếp thu được bài học gì từ lịch sử? Đây là một câu hỏi phổ biến, có một câu hỏi phụ cụ thể là: chúng ta có thể học được gì từ phản ứng với biến cố của bảy nước được thảo luận trong cuốn sách này? Một câu trả lời mang tính không tưởng là: không có gì! Nhiều nhà sử học cho rằng tiến trình lịch sử quá phức tạp, kết quả của quá nhiều biến số không được kiểm soát độc lập cùng những thay đổi không lường trước, không cho phép chúng ta học được điều gì từ quá khứ. Vào tháng 6 năm 1944, ai có thể dự đoán chính xác bản đồ vùng Đông Âu thời kỳ hậu chiến, nó có thể khác đi nếu như vào ngày 20 tháng 7 năm 1944, Claus von Stauffenberg đẩy chiếc cặp mang theo quả bom hẹn giờ đến gần Hitler thêm nửa mét nữa, và nếu kết quả là Hitler bị chết thay vì chỉ bị thương vào hôm đó, khi quân đội Liên Xô vẫn còn cách xa biên giới nước Đức, thay vì thực tế rằng ông ta đã tự sát vào ngày 30 tháng 4 năm 1945, khi quân đội Liên Xô đã chiếm được Berlin cùng toàn bộ Đông Âu và Đông Đức.

Vâng, tất nhiên có nhiều điều không lường trước được trong lịch sử. Tuy nhiên, có hai loại bài học được rút ra. Nhưng về cơ bản, trước tiên chúng ta hãy xem xét các bài học tương ứng rút ra từ sự hiểu biết của từng cá nhân, vì (một lần nữa) có sự tương đồng giữa lịch sử các quốc gia với đời sống của con người cá nhân.

Nếu đúng thế, thì chúng ta có thể học được điều gì từ lịch sử cuộc sống và tiểu sử cá nhân của con người? Không phải con người, cũng như các quốc gia, đều quá phức tạp, quá khác biệt nhau và phải chịu tác động của những sự kiện không lường trước được đến nỗi khó dự đoán hành vi của một người, nói gì đến việc suy diễn hành vi của một người thành hành vi của người khác hay sao? Dĩ nhiên là không! Dù có những khó khăn, hầu hết chúng ta vẫn thấy hữu ích khi dành phần lớn cuộc sống để dự đoán hành vi có thể xảy ra trong tương lai của những cá thể gần gũi với chúng ta dựa trên hiểu biết về lịch sử đời sống cá nhân của họ. Ngoài ra, việc rèn luyện cũng cho phép các nhà tâm lý học, và các “kỹ năng con người” cho phép nhiều người trong chúng ta, dù không có khả năng chuyên môn, có thể khái quát hóa kinh nghiệm của mình về những người chúng ta đã biết để thấy trước hành vi của những con người mới gặp lần đầu. Đó là lý do tại sao việc đọc tiểu sử những người chúng ta không bao giờ gặp cũng là một bài học hữu ích, từ đó mở rộng cơ sở dữ liệu của chúng ta để hiểu thêm về hành vi con người.

Tôi viết những dòng này ngay sau khi đã dành ra một buổi tối với hai phụ nữ, một người có tâm lý lạc quan ngây thơ ở độ tuổi 20, người kia có nhận thức sâu sắc ở độ tuổi 70. Người phụ nữ trẻ bị giày vò bởi sự đổ vỡ mối quan hệ với một người đàn ông hấp dẫn, có vẻ quan tâm chu đáo đến cô, nhưng đột nhiên, sau vài năm lại bỏ rơi cô một cách tàn nhẫn không một lời báo trước. Nhưng khi người phụ nữ trẻ kể lại câu chuyện của mình, ngay cả trước khi gặp phải kết cục tàn nhẫn, thì người phụ nữ lớn tuổi (chưa gặp người đàn ông đó lần nào) đã nhận ra những dấu hiệu cảnh báo rằng kẻ đó thuộc mẫu người quyến rũ nhưng lại là một kẻ chỉ biết yêu bản thân và tiêu cực, kiểu người mà bà ta khá hiểu. Điều này minh họa tại sao kinh nghiệm rộng rãi về con người và suy nghĩ về họ là một điều hữu ích. Thực sự có những chủ đề rộng rãi chung nhất về hành vi con người, dù mọi người, nếu đem so với người khác, đều khác nhau về chi tiết.

Vậy các loại bài học tương ứng sẽ được rút ra từ sự chú ý đến lịch sử loài người là gì? Một loại bao gồm những bài học cụ thể về hành vi có thể xảy ra trong tương lai của một quốc gia cụ thể, dựa trên sự hiểu biết về lịch sử quốc gia đó. Chẳng hạn như Phần Lan chỉ là một quốc gia dân chủ nhỏ bé, nỗ lực duy trì mối quan hệ tốt đẹp với nước Nga láng giềng, duy trì một đội quân được huấn luyện tốt và không phụ thuộc vào các quốc gia khác trong việc bảo vệ đất nước. Những lý do cho chính sách đó của Phần Lan trở nên rõ ràng với lịch sử gần đây của họ. Bất cứ ai mù mờ về lịch sử Phần Lan đều cảm thấy khó hiểu lý do tại sao Phần Lan theo đuổi và sẽ tiếp tục theo đuổi những chính sách đó – chẳng hạn như tôi khi đến Phần Lan năm 1959, không biết gì về lịch sử Phần Lan nên đã hỏi người chủ nhà tại sao Phần Lan không vùng lên trước áp lực của Liên Xô với niềm tin rằng Mỹ sẽ bảo vệ Phần Lan.

Một loại bài học khác được rút ra từ lịch sử bao gồm các chủ đề chung. Một lần nữa, Phần Lan và Nga chính là ví dụ. Cùng với các đặc trưng riêng của Phần Lan và Nga, mối quan hệ của họ thể hiện một chủ đề chung: những mối nguy hiểm treo lơ lửng trên đầu các quốc gia nhỏ bé gần những nước lớn hung hăng. Không có giải pháp chung cho mối nguy đó. Đó là chủ đề của một trong những đoạn đầu tiên, và vẫn là một trong những đoạn được trích dẫn nhiều nhất và hấp dẫn nhất trong lịch sử bằng văn bản: các trang trong Cuốn 5 Lịch sử chiến tranh Peloponnese của nhà sử học Thucydides thành Athens ở thế kỷ 5 TCN. Thucydides mô tả cách các công dân của hòn đảo nhỏ Melos của Hy Lạp đáp lại áp lực từ Đế chế Athens hùng mạnh. Trong một đoạn được gọi là Cuộc hội đàm Melos, Thucydides dựng lại các cuộc đàm phán đau lòng giữa người dân đảo Melos và người Athens: người Melos mặc cả cho tự do và cuộc sống của họ, cố gắng thuyết phục người Athens không sử dụng vũ lực; và người Athens cảnh cáo người Melos phải thực tế. Sau đó, Thucydides chỉ kể kết quả xảy ra một cách ngắn gọn: người dân Melos khước từ yêu cầu của người Athens, cũng giống như người Phần Lan hai thiên niên kỷ sau đó ban đầu khước từ yêu cầu của Liên Xô; người Athens vây hãm Melos, người dân Melos chống cự thành công một thời gian; nhưng cuối cùng họ phải đầu hàng; và người Athens giết tất cả đàn ông trên đảo, bắt tất cả phụ nữ và trẻ em làm nô lệ.

Tất nhiên, người Phần Lan đã không bị người Nga tàn sát và bắt làm nô lệ, minh họa rằng kết cục tiến thoái lưỡng nan của Melos và chiến lược tốt nhất cũng khác nhau theo từng trường hợp. Tuy nhiên, có một bài học phổ quát: các nước nhỏ bị đe dọa bởi các nước lớn nên cảnh giác, xem xét các lựa chọn thay thế và thẩm định các lựa chọn đó một cách thực tế. Trong khi bài học này có vẻ rõ ràng rất xấu hổ đến mức không đáng nhắc đến, nhưng đáng buồn là nó thường bị bỏ qua. Nó đã bị người dân Melos bỏ qua; nó cũng bị người Paraguay bỏ qua, khiến họ tiến hành một cuộc chiến thảm khốc từ năm 1865 đến 1870 chống lại các lực lượng quân đội kết hợp giữa hai nước Brazil và Argentina rộng lớn hơn nhiều, cộng thêm quan đội Uruguay, dẫn đến cái chết của 60% dân số Paraguay; nó đã bị Phần Lan bỏ qua vào năm 1939 và cũng bị Nhật Bản bỏ qua vào năm 1941, khi Nhật Bản đồng loạt tấn công Mỹ, Anh, Hà Lan, Úc và Trung Quốc trong khi nước Nga là kẻ thù địch; và nó đã bị Ukraine phớt lờ trong cuộc đối đầu gần đây với Nga.

Nếu bây giờ tôi thuyết phục bạn đừng loại bỏ khả năng học hỏi được điều gì đó hữu ích từ lịch sử, vậy chúng ta có thể học được điều gì từ lịch sử các biến cố quốc gia được thảo luận trong cuốn sách này? Nhiều chủ đề chung đã xuất hiện. Một tập hợp các chủ đề bao gồm những động thái đã giúp bảy quốc gia của chúng ta ứng phó với biến cố. Những động thái đó bao gồm: thừa nhận đang trong biến cố; chấp nhận trách nhiệm phải thay đổi, thay vì chỉ đổ lỗi cho các quốc gia khác và biến mình thành nạn nhân; dựng một hàng rào để xác định (các) đặc trưng quốc gia cần được thay đổi; xác định những quốc gia có thể tìm kiếm sự giúp đỡ; xác định mô hình những quốc gia khác từng xử lý vấn nạn tương tự như các vấn nạn mà quốc gia mình đang phải đối mặt; kiên nhẫn, đồng thời phải nhận ra rằng giải pháp đầu tiên có thể không hiệu quả và cần thiết phải thử thêm một vài giải pháp nữa; xem xét những giá trị cốt lõi nào tiếp tục phù hợp và không còn phù hợp nữa; và tiến hành đánh giá một cách trung thực.

Một chủ đề khác liên quan đến căn tính quốc gia. Các nước còn trẻ cần xây dựng căn tính quốc gia, như Indonesia, Botswana và Rwanda đã và đang làm. Đối với các nước lâu đời, căn tính quốc gia có thể cần sửa đổi, xem như các giá trị cốt lõi; nước Úc là minh họa về sửa đổi như thế trong thời gian gần đây.

Một chủ đề khác liên quan đến các yếu tố không thể kiểm soát được ảnh hưởng đến kết cục của biến cố, đó là một quốc gia bị mắc kẹt với kinh nghiệm thực tế của nó về giải quyết biến cố trước đó và với những ràng buộc địa chính trị. Việc có nhiều kinh nghiệm hơn không thể đột nhiên mà có, và cũng không thể ngồi chờ những ràng buộc đó biến mất. Nhưng một quốc gia vẫn có thể suy xét các ràng buộc một cách thực tế, cũng như nước Đức dưới thời Bismarck và Willy Brandt.

Những người bi quan có thể đáp lại những đề xuất này bằng cách phản đối: “Rõ ràng là ngớ ngẩn! Chúng ta không cần sách của Jared Diamond dạy bảo về đánh giá bản thân một cách trung thực, tìm hình mẫu từ các quốc gia khác, tránh biến mình thành nạn nhân, v.v.”

Không, chúng ta thực sự cần một cuốn sách, bởi vì có một điều không thể phủ nhận rằng những điều tất yếu “hiển nhiên” đó từng bị lờ đi, và đến ngày nay vẫn thường bị bỏ qua. Những kẻ đã phải trả giá bằng mạng sống của mình vì đã bỏ qua những điều tất yếu hiển nhiên trong quá khứ bao gồm tất cả đàn ông đảo Melos, hàng trăm ngàn người Paraguay và hàng triệu người Nhật. Những người bỏ qua những điều tất yếu hiển nhiên đe dọa hạnh phúc hiện thời của họ còn bao gồm hàng trăm triệu đồng bào của tôi.

Một người bi quan cũng có thể đáp lại: “Vâng, đáng buồn là chúng ta thường bỏ qua điều hiển nhiên đó, nhưng một cuốn sách không thể thay đổi sự mù quáng. “Cuộc hội đàm Melos” của Thucydides đã xuất hiện hơn hai thiên niên kỷ nay, nhưng các quốc gia vẫn mắc phải những sai lầm tương tự. Vậy một cuốn sách khác có thể làm được gì?” Vâng, có những lý do đáng khích lệ về lý do tại sao người viết chúng tôi vẫn tiếp tục cố gắng. Ngày càng có nhiều người biết chữ hơn bao giờ hết trong lịch sử thế giới. Chúng ta biết nhiều hơn về lịch sử thế giới và có thể đưa ra những lập luận dựa trên tư liệu tốt hơn nhiều so với thời Thucydides. Nhiều quốc gia theo thể chế dân chủ, có nghĩa là nhiều công dân có thể có ý thức chính trị hơn bất cứ lúc nào trong quá khứ. Trong khi còn nhiều nhà lãnh đạo dốt nát, thì vẫn có một số lãnh đạo quốc gia học rộng và giờ đây họ dễ dàng học hỏi từ lịch sử hơn so với trước đây. Tôi ngạc nhiên một cách thú vị khi tiếp xúc với các nguyên thủ quốc gia cùng nhiều chính trị gia khác và nghe họ nói rằng tôi đã bị ảnh hưởng bởi những cuốn sách trước đây của mình. Cả thế giới hiện đang phải đối mặt với các vấn đề toàn cầu – nhưng trong thế kỷ vừa qua, đặc biệt là trong những thập niên gần đây, thế giới đã triển khai nhiều tổ chức để xử lý các vấn đề toàn cầu.

Đó là một trong những lý do của tôi để không nghe lời những người bi quan và từ bỏ hi vọng, và vẫn tiếp tục viết về lịch sử, để chúng ta có cơ hội học hỏi từ lịch sử, nếu chúng ta chọn như thế. Đặc biệt, những biến cố thường thách thức các quốc gia trong quá khứ, và hiện tại vẫn thế. Nhưng các quốc gia hiện đại và thế giới hiện đại của chúng ta không phải mò mẫm trong bóng tối khi cố gắng đáp trả. Việc hiểu rõ với những thay đổi hiệu quả hay không hiệu quả trong quá khứ có thể dẫn dắt chúng ta đến thành công.

Prev
Next

Có thể bạn muốn đọc thêm

sapiens-yuval-noah-harari
Sapiens: Lược Sử Loài Người – Yuval Noah Harari
February 22, 2023
sung-vi-trung-va-thep-jared-diamond
Súng, Vi Trùng Và Thép – Jared Diamond
April 25, 2023
nhung-tu-nha-cua-dia-ly-tim-marshall
Những Tù Nhân Của Địa Lý – Tim Marshall
April 15, 2022
21-bai-hoc-cho-the-ky-21-Yuval-Noah-Harari
21 Bài Học Cho Thế Kỷ 21 – Yuval Noah Harari
February 23, 2021

ThuVienOnline © 2026