Biến Động - Jared Diamond - Chương 7
Đến thăm Úc – Hạm đội Thứ nhất và thổ dân đầu tiên của Úc – Những di dân đầu tiên – Hướng đến chính quyền tự trị – Liên bang – Tránh xa họ – Thế chiến I – Thế chiến II – Nới lỏng quan hệ – Kết thúc chính sách Úc Trắng – Khung biến cố
Lần đầu tiên tôi đến Úc là vào năm 1964, sau khi sống ở Anh được bốn năm. Hồi đó, nước Úc gây ấn tượng với tôi là có nhiều người Anh hơn cả nước Anh – như nước Anh của một vài thập niên trước đó, đóng băng với thời gian. Khung cảnh đường phố Sydney, thành phố lớn nhất nước Úc, khiến tôi liên tưởng đến nước Anh trên mọi góc phố, với Công viên Hyde của Sydney, Ga King’s Cross và Phố Oxford giống như ở London. Đa phần người dân Úc không chỉ có tổ tiên là người da trắng; mà họ còn áp đảo về số lượng người Anh trắng. Thức ăn Úc vẫn là các món truyền thống nhàm chán của người Anh: món nướng Sunday Roast theo nghi thức, đa phần là các cửa hàng cá và khoai tây chiên, và hũ bơ Vegemite trong bữa điểm tâm, bắt chước món sốt Marmite của Anh.
Có nhiều quán rượu kiểu Anh, với một phòng chỉ dành cho nam và phòng khác (gọi là phòng cho quý bà) dành cho cả nam lẫn nữ, và có giờ mở cửa giới hạn tương tự như các quán rượu của Anh trong những năm đó. Những lựa chọn thay thế cho thực phẩm truyền thống của Anh ở Úc chủ yếu trong phạm vi các nhà hàng Ý, Hy Lạp và thi thoảng cũng bắt gặp nhà hàng Trung Hoa.
Kể từ lần đầu tiên đến Úc, tôi đã trở lại hàng chục lần để chứng kiến sự thay đổi của đất nước này. Đối với tôi, biểu tượng của những thay đổi này đến từ một trải nghiệm vào năm 2008, khi tôi đưa con trai Joshua tới Úc để tham dự một học kỳ đại học ở nước ngoài tại Đại học Queensland ở Brisbane. Khi chúng tôi đi ngang qua khuôn viên đại học, tôi cảm thấy như mình không còn ở một nước Úc mà tôi từng biết, thay vào đó, trông nó như khuôn viên của trường tôi, Đại học California ở Los Angeles, vì rất nhiều sinh viên là người châu Á. Nước Úc không còn thuộc về người Anh da trắng là chủ yếu.
Vào năm 1964, thực tế cơ bản của xã hội Úc một mặt vẫn là sự mâu thuẫn giữa một bên là vị trí địa lý của Úc, và mặt khác là sự hình thành dân cư và những mối quan hệ tình cảm và văn hóa. Dân số Úc và căn tính quốc gia chủ yếu là mang chất Anh (Ảnh 7.1). Nhưng Úc cách Anh gần nửa vòng Trái đất: ở Nam bán cầu chứ không phải Bắc bán cầu và cách nước Anh 8 đến 10 múi giờ về phía đông. Cảnh quan xứ sở của chuột túi, động vật có vú đẻ trứng, loài chim bói cá kích cỡ lớn (kookaburra), thằn lằn lớn, cây bạch đàn và hoang mạc là cảnh quan đặc biệt nhất (và khác với Anh nhất) trong bất kỳ lục địa nào có con người cư trú (Ảnh 7.2). Về mặt địa lý, Úc gần gũi với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước Đông Á khác hơn so với châu Âu và gần Indonesia hơn 50 lần so với Anh. Tuy nhiên, khi tôi đi trên các đường phố Úc vào năm 1964, không có dấu hiệu nào cho thấy có sự gần gũi với châu Á.
Vào thời điểm tôi đưa Joshua đến Brisbane 44 năm sau, sự gần gũi của châu Á đã trở nên rõ rệt, với một số lượng lớn người châu Á (Ảnh 7.3), và ở các nhà hàng Nhật Bản, Thái Lan và Việt Nam. Chính sách một nước Úc Trắng chính thức từng cấm đoán những người nhập cư châu Á và các chính sách không chính thức khác làm nản lòng người châu Âu da trắng, ngoài người Anh, đã biến mất. Nhưng ngôn ngữ chính của Úc vẫn là tiếng Anh, Nữ hoàng Anh vẫn là biểu tượng đứng đầu của nước Úc, và quốc kỳ Úc vẫn có sự kết hợp với cờ Anh. Đó là một đất nước tuyệt vời, luôn được xếp hạng là một trong những nơi đáng sống nhất thế giới, có cư dân hài lòng nhất và tuổi thọ cao nhất. Đó là một trong hai quốc gia mà tôi nghiêm túc xem xét việc chuyển đến sống. Đất nước này mang chất Anh, nhưng lại không phải là Anh. Vậy điều gì đã xảy ra khiến nảy sinh những thay đổi có chọn lọc trong suốt những thập niên tôi đến Úc?
Khi bạn lướt qua lịch sử nước Úc cùng tôi trong các trang tiếp theo, hãy nghĩ xem Úc được xếp vào đâu trong tương quan với năm quốc gia khác mà chúng ta đã xem xét về các biến cố. Giống Đức như đã thảo luận trong chương trước, và không giống như bốn quốc gia từ Chương 2 đến Chương 5, Úc đã trải qua một biến cố không nổ ra trong ngày một ngày hai. (Tuy nhiên, ba cú sốc quân sự trong vòng 71 ngày từ năm 1941 đến năm 1942 lại nổi bật về tầm quan trọng.) Ngoài ra, biến cố của Úc, cũng như của Đức, một phần là sự bộc lộ một phản ứng đối với những năm trong Thế chiến II. Đối với cả Đức lẫn Úc, chiến tranh đã chứng minh rằng các giải pháp quốc gia truyền thống không còn hiệu quả, nhưng bằng chứng thảm khốc hơn nhiều và thuyết phục nhanh chóng trong chiến tranh lại làm tan vỡ nước Đức hơn so với ở Úc. Câu hỏi cơ bản cho người Úc, hơn cả đối với công dân của bất kỳ quốc gia nào khác đề cập trong cuốn sách này, là vấn đề căn tính quốc gia: Chúng ta là ai? Thế chiến II bắt đầu khiến hình ảnh nhận thức bản thân lâu nay của người Úc như một nước Anh thứ hai cách nửa vòng thế giới đã trở nên lỗi thời và không còn phù hợp với những hoàn cảnh thay đổi của nước này. Nhưng chỉ một mình cuộc chiến này cũng không đủ để khiến hầu hết người Úc lìa bỏ nhận thức đó.
Phải mất nhiều thời gian để một con người đơn lẻ tìm được một câu trả lời mới cho câu hỏi Tôi là ai? Và còn phải mất nhiều thời gian hơn nữa cho một quốc gia, bao gồm hàng triệu cá nhân chia thành nhiều nhóm với quan điểm khác biệt về căn tính quốc gia của họ, để tìm ra câu trả lời cho: Chúng ta là ai? Do đó, không lấy gì ngạc nhiên khi đến nay người Úc vẫn còn vật vã với câu hỏi đó. Điều nghịch lý là, trong khi việc giải quyết biến cố ở Úc chậm chạp – chậm đến mức nhiều người Úc thậm chí không nghĩ rằng đó là một biến cố chút nào – Úc là một trong sáu quốc gia chúng ta đang bàn đến đã trải nghiệm tập hợp những thay đổi thống nhất rộng lớn nhất được công bố trong thời gian ngắn nhất, chỉ 19 ngày trong tháng 12 năm 1972. Mọi sự phát triển này, và những điều khác, là những gì tôi thấy hấp dẫn trong câu chuyện về nước Úc hiện đại mà bây giờ chúng ta sẽ xem xét.
Khoảng 50.000 năm sau khi tổ tiên của thổ dân Úc định cư ở đây, thì những người định cư châu Âu đầu tiên mới đến vào tháng 1 năm 1788, với một hạm đội gồm 11 tàu được Anh gửi đến. Chính phủ Anh gửi hạm đội này đến không phải vì họ coi Úc là một địa điểm tuyệt vời thu hút dân định cư người Anh, mà bởi vì họ gặp vấn đề với sự bùng nổ số lượng người bị kết án mà họ muốn tống đến một nơi xa xôi. Úc và vùng Tây Phi nhiệt đới đều được xem là những địa điểm xa xôi thích hợp, nhưng rõ ràng các căn bệnh nhiệt đới ở Tây Phi khiến nó biến thành một nơi không tốt cho sức khỏe của người châu Âu; và Úc có vẻ như đáp ứng được nhiều thuận lợi: nó còn xa hơn nhiều so với Tây Phi và chưa rõ là (và trên thực tế thì thường vô hại) có hại cho sức khỏe của người châu Âu hay không; ngoài ra, nó còn cung cấp các căn cứ tiềm năng ở Thái Bình Dương cho những con tàu hải quân hoàng gia, tàu buôn, tàu săn cá voi, và tàu cung cấp gỗ và vải lanh của Anh.
Và thế là Úc đã được chọn – đặc biệt, tại những vùng quanh thành phố Sydney ngày nay.
Hạm đội Thứ nhất bao gồm 730 tù nhân, lính canh, giám thị, công nhân và một sĩ quan hải quân Anh làm thống đốc. Sau đó, còn thêm nhiều hạm đội và tàu thuyền đến, đem thêm tù nhân đến Sydney rồi đến bốn địa điểm khác nằm rải rác trên lục địa Úc. Chẳng bao lâu sau, lại có thêm dân định cư tự do người Anh sang. Tuy nhiên, 32 năm sau, vào năm 1820, dân số người Âu của Úc vẫn bao gồm 84% tù nhân và cựu tù, và việc đưa tù nhân từ Anh đến Úc vẫn không chấm dứt cho đến năm 1868. Để tồn tại và làm giàu ở vùng biên viễn Úc không phải là chuyện dễ dàng, và vì vậy người Úc hiện đại thuộc dòng giống các tù nhân năm xưa xem đó như một huy hiệu của niềm tự hào chứ không phải là điều đáng xấu hổ – giống như niềm tự hào được cảm nhận bởi con cháu người Mỹ hiện đại của những người định cư đến Tân thế giới trên con tàu Mayflower năm 1620.
Người ta dự kiến (chính xác) rằng sẽ mất một thời gian dài để những người tù và dân định cư tìm ra phương cách trồng trọt đủ thức ăn để nuôi sống bản thân. Do đó Hạm đội Thứ nhất chất theo nhiều thực phẩm, và nước Anh vẫn tiếp tục gửi sang cho đến năm 1840. Vài thập niên trôi qua trước khi người Úc có thể xuất khẩu hàng trở lại Anh: ban đầu, chỉ là các sản phẩm từ săn bắt cá voi và hải cẩu; rồi từ 1830 trở đi là len cừu; vàng từ cơn sốt vàng bắt đầu vào năm 1851; thịt và bơ khi xuất hiện tàu đông lạnh cho chuyến đi biển dài đến Anh vào năm 1880. Ngày nay, một phần ba số len thế giới là nguồn từ số lượng cừu dồi dào của Úc, năm con cừu cho mỗi đầu người. Nhưng kể từ Thế chiến II, nền kinh tế Úc lại chủ yếu từ khai thác lượng khoáng sản dồi dào mà lục địa này sở hữu: Úc là nước xuất khẩu hàng đầu thế giới về nhôm, than, đồng, vàng, sắt, chì, magiê, bạc, vonfram, titan và urinium.
Thông tin ngắn gọn này về khu định cư châu Âu ở Úc từ năm 1788 trở đi đã bỏ qua những gì đang xảy ra với thổ dân định cư trước đó rất lâu. Ở các thuộc địa khác của Anh như Mỹ, Canada, Ấn Độ, Fiji và Tây Phi, thực dân Anh đối phó với người bản địa một cách hòa bình bằng cách đàm phán với các thủ lĩnh hoặc ông hoàng địa phương, hoặc dùng biện pháp quân sự bằng cách gửi quân đội Anh đánh dẹp những đội quân địa phương hoặc các bộ lạc lớn. Tuy nhiên, những phương pháp đó lại không hiệu quả ở Úc, nơi tổ chức thổ dân bao gồm các nhóm nhỏ không có quân đội, thủ lĩnh hay ông hoàng nào. Những người thổ dân sống một lối sống du mục và không có những ngôi làng cố định. Đối với những người định cư châu Âu, điều đó có nghĩa là thổ dân xem như không “sở hữu” vùng đất này.
Do đó, dân định cư châu Âu đơn giản là lấy đất của thổ dân mà không cần thương lượng hay trả tiền. Không có những trận chiến với các đội quân thổ dân: chỉ có những cuộc tấn công lẻ tẻ bởi các nhóm nhỏ thổ dân, hoặc đánh lại họ, đôi khi khởi nguồn từ việc thổ dân giết cừu vì họ cho rằng chúng cũng không khác gì loài chuột túi và các động vật hoang dã khác mà họ đã quen săn bắt. Đáp lại, người định cư châu Âu lại giết chết thổ dân; vụ thảm sát lớn cuối cùng (32 thổ dân) diễn ra gần đây nhất là vào năm 1928. Khi một thống đốc Anh ra lệnh xét xử và treo cổ những người châu Âu giết hại thổ dân, công chúng Úc ủng hộ mạnh mẽ những kẻ giết người đó và văn phòng thuộc địa của London nhận ra rằng không thể ngăn chặn những thần dân Anh ở vùng đất Úc xa xôi làm những gì họ muốn – chẳng hạn như việc giết chết thổ dân.
Do thổ dân là những người săn bắt-hái lượm chứ không phải là nông dân định cư, nên người Úc da trắng khinh miệt, xem họ như người nguyên thủy. Tôi còn ngạc nhiên về mức độ phổ biến của sự khinh miệt thổ dân vẫn tồn tại ở những người Úc có học. Một thượng nghị sĩ Úc từng nói “không có bằng chứng khoa học nào cho thấy anh ta [thổ dân] là một con người cả.” Khi số lượng thổ dân sụt giảm vì bệnh tật, giết chóc và bị tước đoạt đất đai, người Úc da trắng tin rằng họ đang trên bờ vực tuyệt chủng. Một giám mục người Úc đã viết “những người thổ dân đang biến mất. Trong quá trình một hoặc hai thế hệ là nhiều nhất, người đồng bào da đen cuối cùng của Úc [tức là thổ dân] sẽ quay mặt xuống lòng đất mẹ ấm áp… công việc truyền giáo sau đó chỉ có thể là cầu nguyện cho một chủng tộc sắp chết.”
Những người thổ dân cuối cùng cũng bị cấm kết hôn với những người không phải thổ dân nếu không có sự đồng ý của chính phủ. Đã có nhiều tranh cãi về một chính sách được triển khai vào năm 1930, về việc cưỡng bức trẻ em pha trộn hai chủng tộc thổ dân/da trắng và cả trẻ thổ dân rời bỏ gia đình để đến sống trong các tổ chức hoặc gia đình nuôi dưỡng (được cho là vì lợi ích của chúng). Bắt đầu từ thập niên 1990, một phong trào đề nghị người Úc da trắng phải xin lỗi thổ dân cũng vấp phải sự phản đối mạnh mẽ. Thủ tướng Kevin Rudd đã đưa ra lời xin lỗi chính thức vào năm 2008, nhưng Thủ tướng John Howard lập luận, “Những người Úc thuộc thế hệ này không buộc phải thừa nhận tội lỗi và chịu trách nhiệm cho những hành động và chính sách trong quá khứ mà họ không kiểm soát được.”
Tóm lại, chính sách Úc Trắng của người Anh ở Úc không chỉ nhắm vào những người nhập cư không phải thuộc chủng tộc da trắng từ nước ngoài đến, mà cũng hướng vào những người Úc bản địa không phải da trắng xâm nhập vào vùng đất mà những người định cư Anh da trắng đang sinh sống, và quyền sở hữu của họ đối với những vùng đất đó bị phủ nhận, đồng thời họ (nhiều người định cư da trắng hi vọng thế) sẽ nhanh chóng bị tuyệt chủng.
Trong suốt những thập niên đầu tiên trên vùng thuộc địa Úc, những người nhập cư tự do cũng như những tù nhân đều đến từ Anh (bao gồm cả Ireland, vào thời điểm đó vẫn là một phần của Anh). Nhóm nhập cư đáng kể đầu tiên không phải người Anh đã đến Nam Úc năm 1836. Vùng thuộc địa này được thành lập không phải để tập kết những kẻ bị kết án tù mà bởi một công ty phát triển đất đai đã cẩn thận lựa chọn những người định cư tiềm năng từ châu Âu; trong số đó có những người Đức theo phái Luther đến để tìm kiếm tự do tôn giáo, một động lực nhập cư dễ nhận thấy hơn nhiều trong lịch sử ban đầu của Mỹ so với Úc. Những người nhập cư Đức này có tay nghề cao và da trắng, phát triển thị trường làm vườn và vườn nho, thích nghi nhanh chóng với Úc và hầu như không gây ra sự phản đối nào. Nhưng gây tranh cãi nhiều hơn là sự xuất hiện của hàng chục ngàn người Trung Quốc trong thập niên 1850 (cùng với nhiều người châu Âu và Mỹ) do cơn sốt vàng đầu tiên của Úc. Dòng người đó dẫn đến việc quân đội Anh được sử dụng lần cuối tại Úc, để đàn áp các cuộc bạo loạn của một đám đông đầu đường xó chợ chuyên đi cướp bóc, thậm chí lột cả da đầu người Trung Quốc.
Làn sóng thứ ba của những di dân không phải người Anh phát sinh từ sự phát triển các đồn điền mía đường ở Queensland bắt đầu từ thập niên 1860. Công nhân đồn điền là những người dân vùng đảo Thái Bình Dương đến từ New Guinea, các đảo Melanesia khác và quần đảo Polynesia. Trong khi một số là những người được tuyển dụng tự nguyện, thì số đông khác bị bắt cóc từ các cuộc đột kích kèm theo những vụ giết người thường xuyên, bằng thủ đoạn gọi là dụ dỗ hoặc bắt cóc người da đen (black-birding, vì dân đảo có làn da đen). Khi các đồn điền (đặc biệt là đồn điền dừa) phát triển ở New Guinea thuộc Đức và Úc sau này, mô hình tương tự của Úc đã được áp dụng để đưa nhân công ở các đảo Thái Bình Dương đến đồn điền New Guinea. Những thủ đoạn tuyển dụng lao động như vậy vẫn tiếp tục ở New Guinea cho đến thế kỷ 20: một người Úc mà tôi gặp ở New Guinea thuộc Úc vào năm 1966 nói với tôi rằng ông ta là một người tuyển dụng lao động, nhưng ông ta cất công giải thích là chỉ tuyển dụng lao động tự nguyện và trả thưởng bằng tiền mặt. Ông ta tự hào khẳng định rằng mình không phải là kẻ bắt cóc người da đen (black- birder, từ mà ông ta vẫn sử dụng), trong khi hiện tượng này vẫn còn ở một số nhà tuyển dụng khác cạnh tranh với ông ta. Trong bất kỳ trường hợp nào, bất kể những nhân công da sậm trên các đồn điền mía đường Úc từ những năm 1860 trở đi tự nguyện hay không tự nguyện đến đó, họ cũng không làm cho cư dân Úc ít trắng hơn, do họ ký hợp đồng có thời hạn và sẽ bị trục xuất khỏi Úc khi kết thúc hợp đồng.
Vẫn còn một nhóm người nhập cư không phải người Anh, vốn là một số ít người đến từ Ấn Độ, thuộc địa của Anh. Dù tất cả những người Đức, Trung Quốc, hay dân đảo Thái Bình Dương có hợp đồng và người Ấn Độ, nước Úc vẫn duy trì chính sách chỉ cho phép người Anh và dân da trắng nhập cư cho đến sau Thế chiến II.
Những người Mỹ quen với lịch sử Mỹ bị ấn tượng bởi sự khác biệt giữa các tiến trình mà các thuộc địa Mỹ và các thuộc địa Úc chia tách khỏi nước Anh. Các thuộc địa Mỹ giành được độc lập, tham gia vào một liên minh và cắt đứt mọi quan hệ chính trị với Anh chống lại sự đối kháng mạnh mẽ của quân đội Anh, sau một cuộc chiến tranh cách mạng kéo dài bảy năm. Mỗi năm vào ngày 4 tháng 7, ngày kỷ niệm Tuyên ngôn Độc lập Mỹ, người Mỹ đều ăn mừng Ngày Độc lập, một trong những ngày lễ lớn nhất hằng năm. Ngược lại, Úc không công nhận hay tổ chức một Ngày Độc lập nào, vì nước này không có ngày đó. Các thuộc địa Úc có được chính quyền tự trị mà không có sự phản đối từ Anh, và không bao giờ cắt đứt hoàn toàn mối quan hệ của họ với Anh. Úc vẫn tham gia trong các nước thuộc Khối thịnh vượng chung (Anh) và vẫn công nhận Nữ hoàng Anh là người đứng đầu nhà nước Úc trên danh nghĩa. Tại sao sự nới lỏng hay cắt đứt quan hệ với Anh lại diễn ra khác nhau ở Úc và ở Mỹ?
Có vài lý do. Một là Anh đã học được bài học từ thất bại đắt giá của mình trong Cách mạng Mỹ, thay đổi chính sách đối với các thuộc địa có người da trắng của mình nên sẵn sàng trao quyền tự trị cho Canada, New Zealand và các thuộc địa Úc. Trên thực tế, Anh đã chủ động ban phát nhiều đặc trưng của chính phủ tự trị cho Úc trước khi người Úc đưa ra bất kỳ yêu cầu nào. Lý do thứ hai là khoảng cách hải trình từ Anh đến Úc dài hơn nhiều so với đến Bờ Đông Mỹ. Hạm đội Thứ nhất cần tám tháng để đến Úc và trong phần lớn giai đoạn đầu thế kỷ 19, các cuộc hải trình cũng phải mất từ nửa năm đến một năm. Kết quả chậm chạp trong liên lạc khiến văn phòng thuộc địa Anh ở London không thể kiểm soát Úc chặt chẽ được; các quyết định và đạo luật ban đầu phải được ủy quyền cho các thống đốc, rồi mới đến chính người Úc. Chẳng hạn, trong toàn bộ giai đoạn 1809-1819, thống đốc Anh của thuộc địa New South Wales thậm chí không bận tâm thông báo cho London về luật mới mà ông đang áp dụng.
Lý do thứ ba của sự khác biệt giữa lịch sử Úc và Mỹ là chính quyền thực dân Anh phải đặt quân đồn trú và chi trả cho một đội quân lớn ở các thuộc địa Mỹ. Đội quân đó phục vụ để bảo vệ các thuộc địa chống lại quân đội Pháp hiện diện ở Canada và đang cạnh tranh để kiểm soát Bắc Mỹ, đồng thời cũng để chống lại các bộ lạc da đỏ tuy trang bị kém nhưng đông đảo với sự lãnh đạo tập trung của các tù trưởng. Ngược lại, không có cường quốc châu Âu nào cạnh tranh với Anh để xâm chiếm lục địa Úc, và thổ dân lại rất ít, không có súng ống và cũng không có lãnh đạo tập trung. Do đó, Anh chưa bao giờ cần đến việc đóng quân ở Úc, cũng như khỏi phải đánh các loại thuế không được người dân ưa thích để chi trả cho quân đội; việc nước Anh đánh thuế đối với các thuộc địa Mỹ mà không hỏi ý kiến họ là nguyên nhân trực tiếp của cuộc Cách mạng Mỹ. Đội quân nhỏ cuối cùng của Anh tại Úc đã rút đi vào năm 1870 là do người Anh chủ động chứ không phải vì áp lực của Úc. Một nhân tố khác là các thuộc địa Úc, trái ngược với các thuộc địa Mỹ, không đem lại lợi ích và cũng không quan trọng cho lắm để Anh phải quan tâm và chú ý nhiều. Chính thuộc địa Mỹ, chứ không phải thuộc địa Úc, mới giàu có và được xem là có thể đáp ứng được việc đóng thuế cho nước Anh. Những thuộc địa Canada, Ấn Độ, Nam Phi và Singapore còn đem lại nhiều lợi ích và quan trọng hơn nhiều cho nước Anh so với Úc. Cuối cùng, như tôi sẽ giải thích trong phần tiếp theo, các khu định cư chính ở Úc trong một thời gian dài vẫn là các thuộc địa riêng rẽ với ít sự phối hợp mang tính chính trị.
Quá trình mà các thuộc địa Úc đạt được chính quyền tự trị như sau. Năm 1828, 40 năm sau khi Hạm đội Thứ nhất đến, Anh thành lập các hội đồng lập pháp được bổ nhiệm (không bầu) ở hai thuộc địa lâu đời nhất của Úc là New South Wales và Tasmania. Vào năm 1842, các hội đồng bổ nhiệm được thay bằng chính quyền thuộc địa Úc đầu tiên với đại diện được bầu chọn một phần (ở New South Wales). Năm 1850, Anh soạn thảo hiến pháp cho các thuộc địa ở Úc, rồi sau đó các thuộc địa được tự do sửa đổi hiến pháp, điều đó có nghĩa là họ được tự do một phần lớn trong việc thiết kế chính quyền của mình. Những hiến pháp năm 1850 và hiến pháp sửa đổi sau đó vẫn “bảo lưu” cho Anh quyền quyết định đối với một số vấn đề của Úc như quốc phòng, phản quốc và nhập tịch, đồng thời cho phép Anh có quyền lực về mặt lý thuyết để không chấp nhận bất kỳ luật thuộc địa nào. Tuy nhiên, trên thực tế, Anh hiếm khi thực hiện các quyền được bảo lưu đó. Đến cuối những năm 1800, quyền quan trọng duy nhất dành riêng cho Anh là kiểm soát các vấn đề đối ngoại của Úc.
Cùng với những quyền được bảo lưu mà Anh giữ lại, trong suốt thập niên 1800, nước này tiếp tục chuyển giao cho Úc các nhiệm vụ quan trọng mà một nước Úc độc lập sẽ phải tự lo liệu. Một trong những nhiệm vụ đó gồm cả việc trước đây tàu chiến Anh bảo vệ về mặt quân sự, do vào cuối thập niên 1800 các nước châu Âu khác cùng Nhật Bản và Mỹ ngày càng muốn khẳng định vị thế ở Thái Bình Dương. Một nhiệm vụ khác liên quan đến các thống đốc mà Anh gửi đến các thuộc địa Úc. Các thống đốc này không phải là những bạo chúa phẫn uất khi bị một nước Anh hùng mạnh buộc phải quản trị các thuộc địa Úc. Thay vao đó, họ đóng một vai trò thiết yếu được thừa nhận trong chính phủ tự trị của Úc mà vốn các thuộc địa của Úc thường hay gặp bế tắc. Các thống đốc Anh được bổ nhiệm phải thường xuyên giải quyết những bất đồng giữa thượng viện và hạ viện của cơ quan lập pháp thuộc địa, phải dàn xếp để thành lập liên minh nghị viện, và phải quyết định khi nào nên giải tán Quốc hội và kêu gọi bầu cử.
Cho đến nay, tôi nói về các thuộc địa mang tính lịch sử của Úc như thể chúng là tiền thân cho nước Úc thống nhất ngày nay. Nhưng trên thực tế, Úc nổi lên như sáu thuộc địa riêng biệt – New South Wales, Tasmania, Victoria, Nam Úc, Tây Úc và Queensland – có sự tiếp xúc lẫn nhau ít hơn so với các thuộc địa Mỹ mà sau này trở thành các bang của Mỹ. Sự tiếp xúc hạn chế này là do địa lý của Úc, một lục địa có quá ít mảng đất đai trồng trọt cách nhau bởi khoảng cách lớn của sa mạc và các loại đất đai không sản xuất được. Mãi đến năm 1917, cả năm thành phố thủ phủ bang trên lục địa Úc mới được kết nối bằng đường sắt. (Hobart, thủ phủ thứ sáu thuộc Tasmania, chưa bao giờ được kết nối bởi vì Tasmania là một hòn đảo cách đất liền Úc hơn hai trăm kilomet.)
Mỗi thuộc địa sử dụng một khổ đường sắt khác nhau, từ một mét đến một mét sáu, kết quả là các đoàn tàu không thể chạy trực tiếp từ thuộc địa này sang thuộc địa khác. Giống như các quốc gia độc lập, các thuộc địa dựng lên hàng rào thuế quan riêng biệt và vẫn duy trì các văn phòng thuế để thu thuế nhập khẩu ở ranh giới các thuộc địa. Năm 1864, giữa New South Wales và Victoria suýt xảy ra một cuộc đối đầu vũ trang ở biên giới của nhau. Kết quả là mãi đến năm 1901, sáu thuộc địa này mới hợp nhất thành một nước Úc duy nhất, 113 năm sau ngày Hạm đội Thứ nhất đến Úc.
Ban đầu, các thuộc địa tỏ ra ít quan tâm đến việc hợp nhất. Trước tiên, những người định cư nghĩ mình là người Anh ở nước ngoài, và sau đó là người Victoria hoặc người Queensland chứ không phải là người Úc. Những khơi nguồn cho mối quan tâm đến thể chế liên bang chỉ xuất hiện vào nửa cuối thập niên 1800, khi Nhật Bản gia tăng sức mạnh quân sự, và khi Mỹ, Pháp và Đức bành trướng trên Thái Bình Dương và sáp nhập hết nhóm đảo này đến đảo khác trên Thái Bình Dương, tạo ra mối đe dọa tiềm tàng đối với các thuộc địa trên Thái Bình Dương của Anh. Nhưng ban đầu vẫn chưa rõ giới hạn lãnh thổ một liên bang thuộc các thuộc địa Anh là gì. Một hội đồng liên bang đầu tiên của “người Nam Đảo” họp vào năm 1886 gồm cả đại diện các thuộc địa Anh là New Zealand và Fiji, vốn cách xa Úc, nhưng chỉ có bốn trong số sáu thuộc địa hình thành nên nước Úc ngày nay được đại diện.
Mặc dù bản dự thảo đầu tiên của hiến pháp liên bang Úc được chuẩn bị vào năm 1891, nhưng mãi đến ngày 1 tháng 1 năm 1901, Khối thịnh vượng chung Úc thống nhất mới được hình thành. Lời mở đầu của hiến pháp tuyên bố thỏa thuận “hợp nhất trong một Khối thịnh vượng chung Liên bang bất khả phân dưới ngai vàng Liên hiệp Anh của Anh và Ireland,” với một toàn quyền liên bang do Anh bổ nhiệm và với điều khoản rằng các quyết định của Tòa án Tối cao Úc có thể kháng cáo lên Hội đồng Cơ mật của Anh (tương đương với Tòa án Tối cao ở Anh). Hãy tưởng tượng những điều khoản đó xuất hiện trong Hiến pháp Mỹ!
Hiến pháp Úc minh họa một điều rằng người Úc vẫn cảm thấy trung thành với Liên hiệp Anh, nghĩa là “sự chấp nhận các giá trị chung – pháp quyền, tự do báo chí, bảo vệ quyền tự do cá nhân, lời khẳng định cho sự bảo vệ của siêu cường thời đó mà đại diện là Hải quân Hoàng gia Anh, một niềm tự hào khi được xem là một phần của Đế chế mặt trời không bao giờ lặn, thậm chí còn là lòng yêu mến đối với Nữ hoàng Victoria” (Frank Welsh, Australia, tr. 337). Lá cờ được thông qua sau đó, và vẫn là quốc kỳ Úc ngày nay, bao gồm cờ Liêp hiệp (gọi là Union Jack), với chòm sao Nam Thập Tự ở Bán cầu Nam (Ảnh 7.4).
Người Úc tranh cãi về hiến pháp liên bang trong nhiều vấn đề nhưng lại nhất trí về việc loại trừ tất cả các chủng tộc không phải da trắng khỏi Úc. Các trích dẫn sau đây minh họa quan điểm của Úc vào thời kỳ đó về việc duy trì một nước Úc Trắng. Vào năm 1896, tờ Melbourne Age viết, “Chúng ta mong muốn thấy Úc là quê hương của một chủng tộc da trắng cao cả đồng nhất, hoàn toàn thoát khỏi những vấn đề đã khiến Mỹ rơi vào cuộc nội chiến… thật vô ích khi bảo vệ công nhân của chúng ta khỏi đám lao động nghèo khổ Viễn Đông nếu chúng ta chấp nhận những kẻ này.” Một trong những đạo luật đầu tiên của Liên bang Úc thời kỳ đầu vào năm 1901 là Đạo luật Hạn chế Nhập cư, được thông qua với sự đồng thuận của tất cả các đảng phái chính trị, nhằm đảm bảo rằng nước Úc vẫn trắng. Đạo luật này ngăn chặn việc nhập cư của gái mại dâm, người mất trí, người mắc các bệnh ghê tởm và tội phạm (mặc dù nguồn gốc của Úc là một vùng đất dành cho tội phạm). Đạo luật này cũng quy định không chấp nhận người da đen hoặc người châu Á, và người Úc phải là “một chủng tộc, và vẫn là một chủng tộc không có sự trộn lẫn với các chủng tộc khác.” Một lãnh đạo đảng lao động Úc phát biểu như sau, “Dòng người xa lạ này sẽ hạ thấp chuẩn mực tổng thể của cộng đồng, khiến chỉ trong một thời gian rất ngắn, luật tắc xã hội sẽ không còn hiệu quả. Nhưng nếu càng được sự thuần chủng và xây dựng một căn tính quốc gia, chúng ta sẽ trở thành một dân tộc tiến bộ cao mà chính phủ Anh sẽ tự hào khi chúng ta còn sống và phát triển mạnh mẽ.
Những vấn đề tiêu biểu cho các quan điểm thời kỳ đó của liên bang là: “Những người da màu xa lạ không phải là người tốt để có thể tiếp xúc trong quán rượu Úc”; không một người Trung Quốc nào được kỳ vọng “đạt được mức độ văn minh mà nước Úc đã kế thừa từ bao thế kỷ nay”; và “quý bà ăn mặc đẹp đẽ dự… lễ nhà thờ hẳn phải hài lòng khi nghĩ rằng có lẽ một… [từ miệt thị] to béo đầy mùi hôi thối với đủ loại vi trùng gieo mầm bệnh đến từ các nhà xí ở Yokohama, trước đó đã ngồi vào chỗ mình đang ngồi.” Ngay cả Edmund Barton, thủ tướng liên bang đầu tiên của Úc, cũng từng viết: “không có sự bình đẳng chủng tộc. Những chủng tộc [không phải da trắng] này, so với các chủng tộc da trắng thì không tương xứng và kém cỏi. Học thuyết về sự bình đẳng của con người không bao giờ áp dụng cho sự bình đẳng giữa người Anh và người Trung Hoa… Chúng ta không thể làm gì để khai hóa, cải sửa, hoặc bằng bất cứ điều gì để có thể biến một số chủng tộc ngang bằng với chủng tộc khác.” Một thủ tướng khác, Alfred Deakin, tuyên bố: “Sự thống nhất chủng tộc là tuyệt đối cần thiết cho sự thống nhất của nước Úc.”
Bộ trưởng bộ Thuộc địa Anh dứt khoát phản đối Khối thịnh vượng chung Úc về vấn đề chủng tộc, một phần vì điều đó tạo ra khó khăn vào thời điểm khi Anh đang cố gắng đàm phán một liên minh quân sự với Nhật Bản. Từ đó, Khối thịnh vượng chung đạt được mục tiêu tương tự là kiểm soát nhập cư dựa trên sắc dân mà không đề cập đến chủng tộc, bằng cách yêu cầu người nhập cư làm một bài kiểm tra chính tả – không nhất thiết phải bằng tiếng Anh, mà theo bất kỳ ngôn ngữ châu Âu nào theo quyết định của viên chức di trú. Khi một thuyền chở công nhân đến từ thuộc địa Anh nhưng thuộc đảo Malta ở Địa Trung Hải, do những người này có khả năng vượt qua bài kiểm tra chính tả bằng tiếng Anh, nên thay vào đó họ phải thực hiện một bài kiểm tra chính tả bằng tiếng Hà Lan (một ngôn ngữ không được biết đến ở Malta cũng như ở Úc) để có cớ trục xuất họ. Đối với những người không phải da trắng đã được chấp nhận vào lao động ở Úc, Liên bang trục xuất người ở các đảo Thái Bình Dương, Trung Quốc và Ấn Độ nhưng vẫn cho phép hai nhóm nhỏ có nghề đặc biệt (người Afghanistan điều khiển lạc đà và thợ lặn ngọc trai Nhật Bản) ở lại.
Động cơ đằng sau những rào cản nhập cư này chủ yếu là sự phân biệt chủng tộc ở thời kỳ đó, nhưng một phần cũng do đảng Lao động Úc muốn bảo vệ mức lương cao cho người lao động Úc bằng cách ngăn chặn sự di cư của lao động giá rẻ. Tuy nhiên, ý tôi không muốn nói rằng người Úc phân biệt chủng tộc; mà họ chỉ chia sẻ quan điểm phân biệt chủng tộc phổ biến trên khắp thế giới, và khác nhau chủ yếu là có thể chuyển những quan điểm đó thành chính sách nhập cư dựa trên việc loại trừ chủng tộc đồng thời khuyến khích người nhập cư Anh do mật độ dân số của Úc còn thưa thớt. Đương thời, nước Anh và các nước châu Âu lục địa cũng không khuyến khích hoặc chấp nhận người nhập cư; nhưng sau cùng, khi nhiều người có nguồn gốc châu Phi đến Anh từ các thuộc địa Tây Ấn thuộc Anh sau Thế chiến II, kết quả là các cuộc bạo loạn chủng tộc đã nổ ra ở Nottingham và Notting Hill năm 1958. Chính Nhật Bản vẫn hạn chế đáng kể số lượng người nhập cư; và Mỹ, vẫn phản đối lòng trung thành của Úc đối với bản sắc Anh, nên đã chấp nhận một số lượng lớn người nhập cư từ lục địa châu Âu, Mexico và Đông Á, nhưng cũng phải vượt qua nhiều áp lực.
Mãi cho đến sau Thế chiến II thì mọi thứ bắt đầu thay đổi, ý thức về bản sắc của người Úc vẫn xem họ là thần dân nước Anh. Sự thể hiện rõ ràng nhất là từ lòng nhiệt thành của binh lính Úc khi chiến đấu bên cạnh quân đội Anh trong các cuộc chiến của nước Anh, vốn không dính dáng gì đến lợi ích của Úc. Trường hợp đầu tiên là vào năm 1885, khi thuộc địa New South Wales (rất lâu trước khi gia nhập Khối thịnh vượng chung Úc) gửi bính lính đến chiến đấu cùng quân đội Anh chống lại phiến quân ở Sudan, một vùng xa xôi của thế giới không chút gì liên quan đến Úc. Một cơ hội thể hiện khác lớn hơn phát sinh trong Chiến tranh Boer8 năm 1899, giữa Anh và hậu duệ của thực dân Hà Lan ở Nam Phi, một lần nữa cũng không liên quan trực tiếp đến lợi ích của Úc. Những người lính Úc đã chiến đấu rất dũng cảm trong Chiến tranh Boer, giành được năm Huân chương Chữ Thập Victoria (huân chương cao nhất của Anh cho sự dũng cảm trên chiến trường), và nhờ đó đạt được vinh quang và danh tiếng là những thần dân trung thành của Anh với cái giá chỉ khoảng 300 binh sĩ Úc bỏ mình trong chiến đấu.
Khi nước Anh tuyên chiến với Đức vào tháng 8 năm 1914, khởi đầu Thế chiến I, họ không bận tâm hỏi ý kiến của Úc hay Canada. Viên Thống đốc Úc được Anh chỉ định đơn giản chỉ chuyển bản tuyên bố chiến tranh đến thủ tướng Úc được bầu lên. Người Úc không ngần ngại ủng hộ các nỗ lực chiến tranh của Anh ở quy mô lớn hơn nhiều so với trường hợp Chiến tranh Boer hay Chiến tranh Sudan. Một ký giả Úc đã viết, “Chúng ta phải bảo vệ tổ quốc [sic!]. Chúng ta phải gìn giữ sự thiêng liêng này chống lại đe dọa vũ lực [đến từ nước Đức] đối với di sản thiêng liêng này.” Ở đây, cuộc chiến đã có chút ảnh hưởng đến lợi ích của Úc: nó tạo cớ giúp quân đội Úc chiếm các thuộc địa của Đức ở vùng đông bắc New Guinea và Quần đảo Bismarck. Nhưng đóng góp chủ yếu của Úc trong Thế chiến I là một lực lượng quân tình nguyện khổng lồ gồm 400.000 binh sĩ, chiếm hơn một nửa số nam giới Úc đủ điều kiện phục vụ trong tổng dân số gần 5 triệu người để chiến đấu ở Pháp và Trung Đông nhằm bảo vệ lợi ích của Anh, cách nước Úc đến nửa vòng Trái đất. Hơn 300.000 lính được gửi đi, trong đó có đến 2/3 bị thương hoặc bị giết. Hầu như ở bất cứ trung tâm của thị trấn nhỏ nào ở vùng nông thôn Úc đều có một tấm bia liệt kê danh sách những thanh niên địa phương bị giết trong chiến tranh.
Sự kiện nổi tiếng nhất trong việc Úc tham gia Thế chiến I chính là cuộc tấn công của đội quân hỗn hợp ANZAC (Liên quân Úc và New Zealand) vào quân đội Thổ Nhĩ Kỳ đang trấn giữ Bán đảo Gallipoli (Ảnh 7.5). Lực lượng ANZAC đổ bộ vào ngày 25 tháng 4 năm 1915 chịu tổn thất cao vì sự lãnh đạo bất tài của viên tướng Anh chỉ huy chiến dịch, và phải rút đi vào năm 1916 khi Anh kết luận rằng chiến dịch này đã thất bại. Kể từ đó, Ngày ANZAC (25 tháng 4), ngày kỷ niệm cuộc đổ bộ lên Gallipoli, là ngày lễ quốc gia quan trọng nhất và gây cảm xúc nhất của Úc.
Đối với người nước ngoài, việc chú trọng vào Ngày ANZAC là ngày lễ quốc gia Úc vượt quá tầm hiểu biết của họ. Tại sao lại có một quốc gia ăn mừng việc tàn sát những chàng trai trẻ của đất nước mình, những người bị lãnh đạo Anh phản bội ở cách đó nửa vòng Trái đất, trên một bán đảo đối đầu với Sudan, vốn không liên quan gì đến lợi ích quốc gia của Úc? Nhưng tôi đã học được cách ngậm miệng để không hỏi những câu hỏi hợp lý đó khi mà đến tận ngày nay, những người bạn Úc của tôi đầm đìa nước mắt khi họ nhắc lại cuộc đổ bộ lên Gallipoli một thế kỷ trước đó. Lời giải thích rõ ràng là do người Úc lúc đó sẵn sàng chết vì đất mẹ Anh của mình chứ không phải là sự việc những người Úc trẻ tuổi bị tàn sát ở Gallipoli. Gallipoli được xem là sự khai sinh quốc gia Úc, phản ánh quan điểm rộng rãi rằng sự khai sinh của bất kỳ quốc gia nào đều yêu cầu sự hi sinh và đổ máu. Vụ thảm sát ở Gallipoli tượng trưng cho niềm tự hào dân tộc của người Úc, lúc đó đang chiến đấu cho tổ quốc Anh trên danh nghĩa người Úc, chứ không phải là người thuộc bang Victoria, Tasmania hay Nam Úc – và với sự cống hiến đầy cảm xúc này, người Úc công khai tự nhận mình là thần dân trung thành của nước Anh.
Việc tự định danh đó còn được tái khẳng định vào năm 1923, khi một hội nghị các nước tự trị trong khối Liên hiệp Anh đồng ý rằng sự thống trị của Anh từ đây có thể bổ nhiệm đại sứ hoặc đại diện ngoại giao của họ ở các nước khác chứ không chỉ được đại diện bởi đại sứ Anh. Các nước Canada, Nam Phi và Ireland đã nhanh chóng bổ nhiệm các đại diện ngoại giao của riêng mình. Nhưng Úc thì không, với lý do không có chút nhiệt tình nào ở Úc trong việc tìm kiếm những dấu hiệu độc lập quốc gia khỏi sự ràng buộc của Anh.
Tuy nhiên, mối quan hệ của Úc đối với Anh không chỉ theo kiểu một con trẻ ngoan ngoãn tìm kiếm sự thừa nhận từ nước mẹ cao quý, mà còn bao gồm cả thành tố yêu/ghét. Một ví dụ cá nhân là một người bạn của tôi làm việc trong lò mổ cừu Úc, một số sản phẩm của họ tiêu thụ ở nội địa, trong khi các sản phẩm khác được đông lạnh rồi xuất khẩu sang Anh. Trong các hộp đựng cừu để xuất khẩu sang Anh, người bạn của tôi và đồng nghiệp của anh ta thỉnh thoảng thả vào một túi mật cừu, có mùi đắng ngắt không thể quên được. Những ví dụ nghiêm trọng hơn về thành tố thù ghét trong mối quan hệ giữa Úc với Anh là những quan điểm thể hiện, mà tôi sẽ trích dẫn sau, của các đời thủ tướng Úc sau Thế chiến II.
Tầm quan trọng của Thế chiến II đối với Úc rất khác với Thế chiến I, vì chính Úc bị tấn công và vì có những trận chiến dữ dội trên các hòn đảo gần Úc chứ không phải chỉ cách nửa vòng Trái đất. Việc căn cứ hải quân lớn của Anh tại Singapore đầu hàng quân đội Nhật Bản thường được xem là một bước ngoặt trong quá trình phát triển của việc đánh giá lại mình của nước Úc.
Trong suốt hai thập niên sau Thế chiến I, Nhật Bản xây dựng quân đội và hải quân, phát động một cuộc chiến không tuyên bố với Trung Quốc và nổi lên như một mối nguy đối với Úc. Trong vai trò người bảo vệ nước Úc, Anh đáp lại bằng cách tăng cường căn cứ ở Singapore trên mũi bán đảo Malay, dù nơi này cách Úc đến 4.000 dặm. Úc chỉ dựa vào sự bảo vệ của căn cứ xa xôi đó của Anh cùng hạm đội Anh xa hơn nữa, chỉ tập trung ở Đại Tây Dương và Địa Trung Hải. Nhưng Anh không thể bị đổ lỗi một mình cho thất bại cuối cùng của chiến lược ở Singapore, vì một phần cũng do Úc đồng thời quên tiến hành các bước tự vệ. Úc bãi bỏ dự thảo tự vệ này năm 1930 và chỉ xây dựng một lực lượng không quân và hải quân nhỏ. Lực lượng sau không có tàu sân bay, thiết giáp hạm hay tàu chiến nào lớn hơn mấy chiếc tàu tuần dương hạng nhẹ, không đủ khả năng để bảo vệ Úc và các kết nối trên biển với quốc tế để chống lại cuộc tấn công của Nhật. Đồng thời, chính Anh cũng đang phải đối mặt với một mối đe dọa nghiêm trọng và cấp thời hơn từ Đức và đang bị tụt hậu trong việc chuẩn bị quân sự chống lại Nhật Bản.
Cũng giống như khi bắt đầu Thế chiến I, khi Anh lại tuyên chiến với Đức vào ngày 3 tháng 9 năm 1939, thủ tướng Úc lập tức tuyên bố mà không cần hỏi ý kiến Quốc hội, “Liên hiệp Anh đã tuyên chiến, và kết quả là Úc cũng đang có chiến tranh [với Đức].” Như trong Thế chiến I, ban đầu Úc không có lợi ích trực tiếp trên chiến trường châu Âu cách nước này đến nửa vòng Trái đất trong Thế chiến II, nơi nước Đức đang đọ sức với Ba Lan, Anh, Pháp và các nước Tây Âu. Nhưng một lần nữa, giống như trong Thế chiến I, Úc lại gửi quân đội đến chiến trường châu Âu, chủ yếu ở Bắc Phi và Crete. Khi nguy cơ tấn công từ Nhật Bản tăng lên, chính phủ Úc yêu cầu những đội quân đó quay về để bảo vệ nước mình; nhưng thủ tướng Anh Winston Churchill trấn an người Úc bằng cách hứa rằng Anh và hạm đội của họ sẽ sử dụng căn cứ Singapore để bảo vệ Úc chống lại cuộc xâm lăng của Nhật và bất kỳ hạm đội Nhật nào xuất hiện ở hải phận Úc. Và như các sự kiện đã chứng minh, những lời hứa đó không có cơ sở thực tế.
Nhật Bản bắt đầu tấn công Mỹ, Anh, Úc và các đảo Đông Ấn Hà Lan ngày 7 tháng 12 năm 1941. Vào ngày 10 tháng 12, chỉ ngày thứ ba sau khi Nhật tuyên bố chiến tranh, máy bay ném bom của Nhật đã đánh chìm hai tàu chiến lớn của Anh đang ở Viễn Đông để bảo vệ Úc, thiết giáp hạm Prince of Wales (Ảnh 7.6) và tuần dương chiến hạm Repulse. Vào ngày 15 tháng 2 năm 1942, viên tướng chỉ huy người Anh ở Singapore đầu hàng quân đội Nhật, đẩy 100.000 lính Anh và Đế quốc vào trại tù binh – thất bại quân sự nghiêm trọng nhất mà Anh phải hứng chịu trong lịch sử (Ảnh 7.7).9 Một điều đáng buồn là trong số tù binh này, có cả 2.000 binh sĩ Úc mới đến Singapore vào ngày 24 tháng 1, chỉ ba tuần trước đó, để bảo vệ căn cứ này trong vô vọng. Thiếu tàu chiến Anh bảo vệ, chiếc tàu sân bay Nhật, mới ném bom căn cứ hải quân Mỹ tại Trân Châu Cảng xong, đã ném bom dữ dội vào thành phố Darwin của Úc vào ngày 19 tháng 2 năm 1942 (Ảnh 7.8). Đó là đợt đầu tiên trong số hơn 60 đợt không kích của Nhật trên đất Úc, ngoài một cuộc đột kích vào cảng Sydney bằng tàu ngầm.
Đối với người Úc, sự sụp đổ của Singapore không chỉ là một cú sốc và một thất bại quân sự gây ra tâm lý sợ hãi: nó được xem là sự phản bội của nước mẹ Anh đối với họ. Trong khi quân Nhật đang tiến vào Singapore, Thủ tướng Úc John Curtin đã gửi điện văn cho Churchill, nói rằng sẽ là “một sự phản bội không thể tha thứ” nếu Anh di tản khỏi Singapore sau tất cả các cam kết về tính bất khả xâm phạm của căn cứ này. Nhưng Singapore thất thủ là do Anh phải trải mỏng lực lượng của mình giữa chiến trường châu Âu và Viễn Đông, và do lực lượng tấn công của Nhật vượt trội hơn về mặt chiến thuật so với lực lượng bảo vệ có quân số đông hơn của Anh và các nước trong Khối thịnh vượng chung.
Nước Úc cũng phạm lỗi bỏ bê nền quốc phòng của mình. Tuy nhiên, nỗi cay đắng của nước này đối với Anh vẫn tồn tại trong một thời gian dài. Đến tận năm 1992, 50 năm sau khi Singapore đầu hàng, Thủ tướng Úc Paul Keating còn gay gắt lên án nước Anh và trút sự căm ghét của mình trong một bài phát biểu trước Quốc hội Úc: “Ở trường… tôi được học về lòng tự trọng và tự tôn đối với nước Úc – chứ không phải về sự bất tín có tính văn hóa của một quốc gia khi quyết định không bảo vệ Bán đảo Mã Lai, không bận tâm về Singapore và không để chúng ta rút quân đội về để bảo vệ đất nước khỏi sự thống trị của Nhật Bản. Đây là đất nước mà quý vị [các thành viên Quốc hội Úc thuộc hai đảng bảo thủ] đã tự kết ước với… ngay cả khi họ bỏ rơi quý vị.” Đối với Úc, bài học trong Thế chiến II đắt gấp đôi. Đầu tiên và quan trọng nhất, nước Anh bất lực trong việc bảo vệ Úc. Thay vào đó, công việc này phụ thuộc vào việc triển khai binh lính, tàu chiến và máy bay Mỹ, do tướng MacArthur chỉ huy và đặt tổng hành dinh ở Úc. MacArthur điều phối hầu hết các chiến dịch, bao gồm những chiến dịch liên quan đến quân đội Úc: không có đề xuất nào về mối quan hệ đối tác bình đẳng giữa Mỹ và Úc. Tuy có mối quan ngại về khả năng Nhật đổ bộ vào đất Úc, nhưng việc này đã không trở thành hiện thực. Nhưng rõ ràng nếu có bất kỳ sự bảo vệ nào chống lại cuộc đổ bộ thì nước Mỹ sẽ đảm trách, chứ không phải nước Anh. Trong khi cuộc chiến chống Nhật diễn ra trong gần bốn năm, thì binh lính Úc cũng chiến đấu chống lại quân đội Nhật Bản trên mọi mặt trận ở các đảo New Guinea, New England, quần đảo Solomon và cuối cùng là Borneo. Những người lính Úc này đã đóng một vai trò quan trọng trên tuyến đầu khi đánh bại nỗ lực của Nhật Bản nhằm tiến qua Đường mòn Kokoda để chiếm thủ phủ Port Moresby của New Guinea thuộc Úc vào năm 1942. Tuy nhiên, MacArthur dần dần điều chuyển quân đội Úc sang các chiến dịch phụ thuộc, ở xa tiền tuyến. Kết quả là, mặc dù Úc bị tấn công trực tiếp trong Thế chiến II chứ không phải trong Thế chiến I, nhưng điều nghịch lý là số thương vong của nước này chỉ bằng một nửa so với Thế chiến I.
Điều thứ nhì, Thế chiến II đã lan đến nước Úc, trong khi quân đội Úc phục vụ trong cả hai cuộc thế chiến ở chiến trường châu Âu xa xôi, thì có những nguy cơ nghiêm trọng tức thời với Úc từ khu vực châu Á gần đó. Với lý do đó, lúc bấy giờ Úc xem Nhật Bản là kẻ thù. Khoảng 22.000 lính Úc bị quân Nhật bắt giữ trong chiến tranh phải chịu những điều kiện đối xử tàn khốc và tồi tệ trong các trại tù binh Nhật, trong đó có đến 36% tù nhân Úc chết: cao hơn nhiều so với tỉ lệ tử vong 1% của lính Mỹ và Anh trong các trại giam tù binh chiến tranh của Đức cũng như của lính Đức ở trại tù binh của Mỹ và Anh. Điều đặc biệt gây sốc cho người Úc là hành trình tử thần của tù binh đến trại Sandakan, trong đó 2.700 lính Úc và Anh bị quân Nhật bắt và giam cầm ở Sandakan bị dẫn giải xuyên qua Borneo, bị bỏ đói và đánh đập cho đến khi hầu hết số tù binh ít ỏi còn sống sót bị xử tử, kết quả là hầu hết tù binh đều bị chết.
Sau Thế chiến II, các mối quan hệ giữa Úc với Anh dần lỏng lẻo, và có một sự thay đổi trong nhận thức của người Úc, vốn tự nhận mình là “những người Anh trung thành ở Úc,” dẫn đến việc dỡ bỏ chính sách Úc Trắng. Ngay cả đối với các nhà sử học vốn không quan tâm đặc biệt đến chính nước Úc, thì những thay đổi này cũng tạo ra một nghiên cứu mẫu cho việc thay đổi câu trả lời về mặt quốc gia cho câu hỏi “Chúng ta là ai?” Những thay đổi như vậy có thể diễn ra nhanh chóng ở các quốc gia khác, bao gồm các nhóm có mối quan tâm khác nhau, cũng như ở bình diện cá nhân; nhưng ở Úc, những thay đổi này phải kéo dài trong nhiều thập niên và hiện vẫn diễn ra đến ngày hôm nay.
Thế chiến II đã tạo ra những hậu quả tức thời trong chính sách nhập cư của Úc. Ngay từ năm 1943, thủ tướng Úc đã kết luận rằng dân số ít ỏi của Úc (dưới 8 triệu vào năm 1945) không thể đủ sức bảo vệ lục địa rộng lớn của họ chống lại các mối đe dọa đến từ Nhật Bản (với dân số lúc đó hơn 100 triệu), Indonesia (chỉ cách 200 dặm) với dân số xấp xỉ 200 triệu người và Trung Quốc (dân số 1 tỉ người). So với mật độ dân số cao ở Nhật Bản, Java và Trung Quốc, nước Úc trông trống trải và dễ thu hút những cuộc xâm lấn đến từ châu Á – nhưng dù vị thủ tướng nghĩ đến điều này, chính người châu Á lại không nghĩ thế. Một lập luận khác về việc cho nhập cư nhiều hơn là niềm tin sai lầm rằng một dân số lớn là điều cần thiết cho bất kỳ quốc gia nào thuộc Thế giới Thứ nhất để phát triển nền kinh tế mạnh mẽ.
Cả hai lập luận đó đều không có sức thuyết phục. Luôn có và vẫn tồn tại những lý do thuyết phục tại sao Úc có mật độ dân số thấp hơn nhiều so với Nhật Bản hay Java. Tất cả vùng đất của Nhật và Java đều ẩm ướt và màu mỡ, đồng thời phần lớn diện tích của những hòn đảo này phù hợp với nền nông nghiệp năng suất cao. Nhưng hầu hết lãnh thổ Úc là sa mạc cằn cỗi và chỉ có một phần rất nhỏ là đất nông nghiệp sản xuất. Còn lập luận rằng cần một dân số lớn để xây dựng một nền kinh tế Thế giới Thứ nhất mạnh mẽ, thì những thành công kinh tế của Đan Mạch, Phần Lan, Israel và Singapore, mỗi quốc gia chỉ có dân số bằng 1/4 dân số Úc cũng đủ minh họa cho việc chất lượng quan trọng hơn số lượng để thành công trong lĩnh vực kinh tế. Trên thực tế, đúng ra Úc sẽ tốt hơn nhiều với dân số ít hơn so với hiện tại, bởi vì điều đó sẽ làm giảm tác động của con người đối với cảnh quan mong manh của nước Úc và sẽ làm tăng tỉ lệ tài nguyên thiên nhiên cho người dân.
Nhưng các đời thủ tướng Úc ở thập niên 1940 không phải là các nhà sinh thái hay kinh tế, do đó, sau chiến tranh, Úc liền cấp tốc bắt tay vào một chương trình khuyến khích nhập cư. Rủi thay, hầu như không có đủ đơn xin nhập cư từ các nguồn ưu tiên ở Anh và Ireland để hoàn thành mục tiêu của Úc, trong khi chính sách Úc Trắng lại giới hạn các lựa chọn khác của Úc. Việc thuyết phục quân nhân Mỹ trú đóng tại Úc ở lại không phải là một khả năng hấp dẫn, bởi vì quá nhiều người trong số họ là người Mỹ gốc Phi. Thay vào đó, nguồn nhân lực theo ưu tiên kế tiếp (sau Anh và Ireland) mà sau chiến tranh Úc khuyến khích nhập cư là ở Bắc Âu. Lựa chọn thứ ba là Nam Âu, mà các nhà hàng Ý và Hy Lạp tôi thường đến vào năm 1964 là một minh chứng. Những người Úc ủng hộ nhập cư đã công bố một phát hiện đáng ngạc nhiên, “Với sự lựa chọn đúng đắn, người Ý trở thành những công dân xuất sắc” (!). Với bước đầu tiên theo hướng đó, những tù nhân chiến tranh người Ý và người Đức bị đưa đến Úc được phép ở lại.
Bộ trưởng nhập cư Úc giai đoạn 1945-1949, Arthur Calwell, vốn là một kẻ phân biệt chủng tộc công khai. Ông ta thậm chí từ chối cho phép nam giới Úc, những người không yêu nước đến mức kết hôn với phụ nữ Nhật, Trung Quốc hay Indonesia được đem các cô dâu hoặc con cái thời chiến tranh về Úc. Calwell viết như sau, “sẽ không một phụ nữ Nhật Bản hay bất kỳ người có dòng máu lai nào được nhận vào Úc; đơn giản chỉ là họ không được mời và vẫn luôn thế, một người lai Úc cũng không được.” Để có một nguồn nhân lực bổ sung ngoài nước Anh, Calwell bày tỏ việc ủng hộ ba nước Cộng hòa Baltic (Estonia, Latvia và Litva), khi việc chiếm đóng của Nga đã thúc đẩy sự di cư của hàng ngàn người da trắng có học với màu mắt và màu tóc cũng giống như của người Anh. Năm 1947, Calwell đi thăm các trại tị nạn ở châu Âu thời hậu chiến, phát hiện rằng những nơi này cung cấp “nguồn nhân lực tuyệt vời,” và ghi nhận sẽ chấp thuận cho những người ở các nước Cộng hòa Baltic, nhiều người trong số họ có màu tóc đỏ và mắt xanh. Ngoài ra còn có một số người tóc vàng bạch kim tự nhiên ở cả hai giới tính. Kết quả của sự khuyến khích nhập cư có chọn lọc là trong giai đoạn 1945-1950, Úc đã tiếp nhận được khoảng 700.000 người nhập cư (một con số gần bằng 10% dân số năm 1945), một nửa trong số đó đảm bảo là người Anh, phần còn lại đến từ các nước châu Âu khác. Đến năm 1949, Úc bớt gay gắt và cho phép các cô dâu Nhật thời chiến được ở lại.
Sự xói mòn của chính sách Úc Trắng đã sản sinh dân nhập cư châu Á và các nhà hàng châu Á chờ đón tôi ở Brisbane năm 2008 là kết quả từ năm cân nhắc: bảo vệ quân sự, những phát triển chính trị ở châu Á, những chuyển đổi thương mại của Úc, vấn đề người nhập cư và chính sách của Anh. Về vấn đề quân sự, Thế chiến II cho thấy rõ Anh không còn là một cường quốc quân sự ở Thái Bình Dương; thay vào đó, Úc có các mối quan hệ quân sự với Mỹ. Điều này được chính thức công nhận bằng Hiệp ước An ninh ANZUS năm 1951 ký kết giữa Mỹ, Úc và New Zealand, nhưng không có Anh tham gia. Chiến tranh Triều Tiên, sự gia tăng các mối đe dọa cộng sản ở Malaya thuộc Anh và Việt Nam cùng sự can thiệp của quân đội Indonesia ở New Guinea thuộc Hà Lan, Borneo thuộc Malaysia và Timor thuộc Bồ Đào Nha đã cảnh báo Úc về các vấn đề an ninh ngày càng gia tăng ở cạnh mình. Khủng hoảng Kênh đào Sueznăm 1956, trong đó Anh thất bại trong việc lật đổ Tổng thống Nasser ở Ai Cập và buộc phải nhượng bộ trước áp lực kinh tế của Mỹ, đã phơi bày sự suy yếu của Anh về mặt quân sự và cả kinh tế. Trước sự kinh ngạc của người Úc, năm 1967, Anh tuyên bố ý định rút toàn bộ lực lượng quân sự ở phía đông kênh đào Suez. Điều này đánh dấu sự kết thúc chính thức vai trò bảo vệ lâu nay của nước Anh.
Về sự phát triển chính trị châu Á, các thuộc địa cũ và xứ ủy trị ở châu Á đã trở thành các quốc gia độc lập, bao gồm Indonesia, Đông Timor, Papua New Guinea, Philippines, Malaysia, Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia và Thái Lan. Những nước này đều gần Úc: Papua New Guinea chỉ cách một vài dặm, Indonesia và Đông Timor chỉ cách 200 dặm. Mỗi nước đều có chính sách đối ngoại của riêng mình, không còn phụ thuộc vào chính sách đối ngoại của các ông chủ thực dân trước đây. Các nước này cũng có nền kinh tế đang trỗi dậy.
Về mặt thương mại, Anh trước đây là đối tác lớn nhất của Úc, đến đầu thập niên 1950 còn chiếm 45% lượng nhập khẩu và 30% xuất khẩu của Úc. Gia tăng thương mại giữa Úc với Nhật phát triển nhanh chóng khi Úc xóa bỏ được sự phân biệt chủng tộc và thù địch trong Thế chiến II với Nhật để ký một hiệp định thương mại với họ vào năm 1957, rồi sau đó dỡ bỏ lệnh cấm xuất khẩu quặng sắt sang Nhật Bản vào năm 1960. Đến thập niên 1980, đối tác thương mại hàng đầu của Úc vẫn là Nhật! – tiếp theo là Mỹ, còn Anh rớt lại sau xa. Năm 1982, Nhật tiếp nhận 28% hàng xuất khẩu của Úc, 11% của Mỹ và Anh chỉ có 4%. Nhưng vẫn có một mâu thuẫn rõ ràng là nước Úc cùng lúc thể hiện việc mong muốn giao dịch thương mại với Nhật và các nước châu Á khác, thì đồng thời cũng thể hiện với các nước này rằng họ xem người Nhật và những người châu Á khác lại không phù hợp để định cư ở Úc.
Yếu tố gần cuối làm suy yếu chính sách nhập cư Úc Trắng chính là sự chuyển đổi trong chính những người nhập cư vào Úc. Hiển nhiên mọi người Ý, Hy Lạp, Estonia, Latvia và Litva di cư sau Thế chiến II là người da trắng, nhưng không phải là người Anh. Họ không cùng chia sẻ hình ảnh truyền thống của người Úc với tư cách thần dân trung thành của Anh. Họ cũng không chia sẻ những định kiến phân biệt chủng tộc mạnh mẽ đối với người châu Á, vốn đang thịnh hành ở Anh cũng như ở Úc đến cuối thập niên 1950.
Sau cùng, không chỉ Úc đang rời bỏ Anh, mà Anh cũng rời bỏ Úc. Đối với Anh cũng như với Úc, lợi ích của mỗi nước đang thay đổi và nhận thức của họ ngày càng trở nên lỗi thời. Chính phủ Anh đã nhận ra những thực tế phũ phàng đó trước cả chính phủ Úc, nhưng sự thừa nhận này đều gây tổn thương cho cả hai phía. Những thay đổi ở Anh lên đến đỉnh điểm khi tôi sống ở đó trong giai đoạn 1958-1962. Trong khi người Úc có truyền thống xem mình là công dân Anh thuộc Đế quốc Anh, dựa trên thực tế kết hợp chặt chẽ giữa nguồn gốc tổ tiên và việc nước Anh bảo vệ về mặt thương mại và quân sự, nhưng giờ đây mọi thứ đã thay đổi. Đồng thời, người Anh có truyền thống xem căn tính quốc gia của mình dựa trên quyền sở hữu đế chế lớn nhất trong lịch sử thế giới (“đế chế mặt trời không bao giờ lặn”), rồi sau đó là nước đứng đầu các đối tác thương mại trong Khối thịnh vượng chung Anh. Đế chế và sau đó là Khối thịnh vượng chung là các đối tác thương mại hàng đầu của Anh và các nguồn binh lực chính yếu: bạn cứ nghĩ về tất cả những binh sĩ Úc, New Zealand, Ấn Độ và Canada đã hi sinh cùng lính Anh trong cả hai cuộc thế chiến. Nhưng nền thương mại của Anh với Khối thịnh vượng chung đang giảm dần và chuyển hướng sang châu Âu, cũng giống như nền thương mại của Úc với Anh đang giảm dần và chuyển sang châu Á và Mỹ. Các thuộc địa của Anh ở châu Phi và châu Á đang trở nên độc lập, phát triển căn tính quốc gia của riêng họ và xây dựng chính sách đối ngoại của riêng họ, ngay cả trong Khối thịnh vượng chung, và (vượt qua sự phản đối của Anh) còn buộc Nam Phi rời khỏi Khối thịnh vượng chung do các chính sách phân biệt chủng tộc của nước này. Nếu Úc cảm thấy chịu áp lực khi phải lựa chọn giữa Anh với châu Á và Mỹ, thì Anh cũng thấy chịu áp lực khi phải lựa chọn giữa Khối thịnh vượng chung và châu Âu.
Năm 1955, Anh quyết định rút khỏi các cuộc đàm phán với sáu quốc gia Tây Âu (Pháp, Đức, Ý, Bỉ, Hà Lan và Luxembourg) trong việc thành lập Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EEC, khởi nguồn cho Thị trường chung châu Âu ngày nay). Trái với dự đoán của Anh vào năm 1955, nhóm bộ Sáu (gồm sáu nước Tây Âu) đã thành công trong việc thành lập EEC mà không có Anh vào năm 1957. Đến năm 1961, Thủ tướng Anh Harold Macmillan thừa nhận sự thay đổi lợi ích của Anh. Châu Âu trở nên quan trọng đối với Anh hơn Khối thịnh vượng chung về cả hai lĩnh vực kinh tế và chính trị. Do đó, Anh nộp đơn xin gia nhập EEC. Việc xin gia nhập này và các diễn tiến tiếp theo đã tạo nên một cú sốc đối với mối quan hệ của Úc và Anh, thậm chí còn quan trọng hơn vụ Singapore bị thất thủ, mặc dù vụ sau kịch tính hơn và mang tính biểu tượng hơn, và gây nên sự cay đắng của người Úc kéo dài đến tận ngày nay.
Đơn xin gia nhập của Anh đã tạo ra một cuộc va chạm không thể tránh khỏi giữa lợi ích của Anh và Úc. Nhóm bộ Sáu lúc đó đang dựng lên các hàng rào thuế quan chung chống lại hàng nhập khẩu ngoài khối EEC, những rào cản mà Anh phải đăng ký. Giờ đây, những rào cản đó cũng sẽ áp dụng cho các mặt hàng thực phẩm và kim loại tinh chế của Úc, mà Anh vẫn đại diện cho một thị trường xuất khẩu lớn. Xuất khẩu thực phẩm của Úc sang Anh ắt sẽ bị thay thế bởi thực phẩm của Pháp, Hà Lan, Ý và Đan Mạch. Thủ tướng Macmillan cũng như Thủ tướng Robert Menzies của Úc đều biết thực tế tàn nhẫn này. Macmillan hứa với Úc và các nước Thịnh vượng chung rằng Anh sẽ kiên trì bảo vệ lợi ích của khối trong các cuộc đàm phán với EEC. Nhưng lúc đó, các nước này vẫn nghi ngờ việc Macmillan sẽ thắng thế, và trên thực tế, nhóm bộ Sáu đã khước từ nhượng bộ những lợi ích của Úc.
Phản ứng của người Úc đối với đơn xin gia nhập EEC của Anh gợi nhớ đến phản ứng của họ trong vụ căn cứ ở Singapore sụp đổ. Việc đệ đơn này bị cáo buộc là vô đạo đức, không trung thực, là cơ sở cho sự bất bình về đạo đức và sự phản bội ở bán đảo Gallipoli, của một thế kỷ với những hi sinh khác nhau của Úc cho đất mẹ Anh và di sản của Anh bên dưới căn tính quốc gia truyền thống của Úc. Thật vậy, cú sốc này mang tính biểu tượng sâu sắc cũng như hữu hình. Những cú sốc mang tính biểu tượng còn tồi tệ hơn vẫn tiếp tục diễn ra. Đạo luật Di trú trong Khối thịnh vượng chung của Anh năm 1962 hiển nhiên nhằm ngăn chặn việc nhập cư vào khối này từ các đảo vùng Tây Ấn và Pakistan, để tránh sự xuất hiện nạn phân biệt chủng tộc bằng việc chấm dứt quyền tất yếu của mọi công dân Khối thịnh vượng chung (bao gồm cả người Úc) được vào cư trú tại Anh. Đạo luật Di trú Anh năm 1968 cấm quyền tất yếu được nhập cảnh tự động vào Anh đối với mọi người nước ngoài (người Úc lúc đó cũng được tuyên bố là người nước ngoài!) nếu không có ít nhất một cụ nội sinh ra ở Anh, do đó đã loại trừ một phần lớn người Úc tại thời điểm đó. Năm 1972, Anh tuyên bố người Úc là NGƯỜ I NGOÀI (!). Đúng là một sự lăng nhục!
Tóm lại, đây không phải là trường hợp những người con trai và con gái Úc của đất mẹ Anh tuyên bố độc lập; mà chính đất mẹ đã tuyên bố độc lập riêng mình, nới lỏng mối quan hệ với Khối thịnh vượng chung và từ bỏ con cái.
Các cuộc đàm phán giữa Anh và châu Âu diễn ra đầy chậm chạp và cay đắng với những khởi đầu rồi ngừng lại. Tổng thống Pháp de Gaulle phủ quyết đơn xin gia nhập đầu tiên vào khối EEC của Anh năm 1963, rồi tiếp tục phủ quyết lần hai vào năm 1967. Chỉ đến sau khi de Gaulle từ chức rồi qua đời, năm 1971, đơn xin gia nhập lần thứ ba của Anh mới được nhóm bộ Sáu chấp thuận và được công dân Anh đồng tình thông qua một cuộc trưng cầu dân ý. Đến thời điểm đó, Anh chỉ chiếm 8% xuất khẩu của Úc. Các chính trị gia Úc nhận ra việc gia nhập châu Âu là vì lợi ích sống còn của Anh, và Úc cũng không thể phản đối lợi ích của Anh, và rằng mối quan hệ trước đó giữa Úc và Anh giờ đây đã trở thành huyền thoại.
Từ quan điểm của Úc, dường như bản sắc Úc đã thay đổi đột ngột và toàn diện vào năm 1972, khi Đảng Lao động Úc dưới thời Thủ tướng Gough Whitlam lên nắm quyền lần đầu tiên sau 23 năm. Trong 19 ngày đầu cầm quyền, ngay cả trước khi bổ nhiệm một nội các mới, Whitlam và trợ lý của ông đã bắt tay vào một chương trình với những thay đổi cấp thời có chọn lọc mà một số trong đó có sự tương đồng về tốc độ và tính toàn diện trong thế giới hiện đại. Những thay đổi đưa ra trong 19 ngày đó bao gồm: chấm dứt chế độ quân dịch (vốn có tính cưỡng bách); rút toàn bộ quân đội Úc khỏi Việt Nam; công nhận Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa; tuyên bố độc lập cho Papua New Guinea mà Úc đã quản trị hơn nửa thế kỷ dưới sự ủy nhiệm của Hội Quốc Liên, sau này là Liên Hợp Quốc; cấm chỉ các chuyến du đấu của những đội thể thao nước ngoài có tính phân biệt chủng tộc (một đạo luật đặc biệt nhằm vào các đội tuyển Nam Phi toàn người da trắng); bãi bỏ việc vinh danh người Úc theo hệ thống huân chương danh dự của Anh (tước hiệp sĩ, Huân chương Đế quốc Anh, Huân chương Thánh Michael và Thánh George v.v.) và thay thế chúng bằng một hệ thống huân chương mới của Úc; đồng thời chính thức bãi miễn chính sách Úc Trắng. Khi toàn bộ nội các Whitlam được chuẩn y, nhiều bước trong chương trình cấp thời được áp dụng: giảm tuổi bầu cử xuống còn 18; tăng mức lương tối thiểu; trao quyền cử đại diện cho cả vùng Lãnh thổ phía Bắc và vùng thủ đô Úc ở Thượng viện liên bang; công nhận hội đồng lập pháp cho cả hai lãnh thổ đó; yêu cầu phải có báo cáo đánh giá tác động môi trường trong phát triển công nghiệp; tăng kinh phí dành cho thổ dân; trả lương công bằng cho phụ nữ; chấp thuận ly hôn vô điều kiện; đưa ra chương trình bảo hiểm y tế toàn diện và những thay đổi lớn trong giáo dục bao gồm bãi bỏ học phí đại học, tăng viện trợ tài chính cho các trường học và giao các bang trong Khối thịnh vượng chung Úc trách nhiệm tài trợ cho giáo dục đại học.
Whitlam mô tả chính xác những cải cách của mình chỉ là một “sự nhìn nhận những gì đã xảy ra” chứ không phải một cuộc cách mạng phát sinh từ hư vô. Trên thực tế, căn tính Anh của nước Úc đã giảm dần. Việc Singapore thất thủ vào năm 1942 là cú sốc lớn đầu tiên, Hiệp ước An ninh ANZUS năm 1951 là một sự nhìn nhận sớm, các chính phủ cộng sản ở Đông Âu và Việt Nam là các dấu hiệu cảnh báo. Nhưng Úc vẫn mong đợi và đứng về phía Anh sau vụ thất thủ ở Singapore. Quân đội Úc vẫn sát cánh với Anh ở Malaya chống lại quân nổi dậy cộng sản vào cuối năm 1940, và ở Borneo thuộc Malaysia chống lại những kẻ xâm nhập Indonesia vào đầu năm 1960. Úc cho phép Anh thử bom nguyên tử ở các sa mạc xa xôi của nước này vào cuối thập niên 1950, trong một nỗ lực nhằm giữ Anh là một cường quốc quân sự độc lập với Mỹ, Úc là một trong số ít các quốc gia ủng hộ cuộc tấn công của Anh vào Ai Cập trong Khủng hoảng Kênh đào Suez năm 1956, vốn bị lên án rộng rãi. Vào năm 1954, chuyến thăm Úc đầu tiên của Nữ hoàng Elizabeth đã được chào đón long trọng theo nghi thức của người Anh: hơn 75% người Úc đổ ra đường để hoan hô bà (Ảnh 7.9). Song đến thời điểm Nữ hoàng Elizabeth thăm Úc một lần nữa vào năm 1963, hai năm sau khi Anh gửi đơn xin gia nhập EEC lần đầu tiên, thì người Úc lại tỏ ra chẳng mấy quan tâm đến bà và nước Anh.
Việc dỡ bỏ chính sách Úc Trắng đã được tiến hành một cách trình tự trong từng giai đoạn trước khi Whitlam ban hành văn bản chính thức, với sự thừa nhận các cô dâu Nhật thời chiến vào năm 1949 là giai đoạn đầu tiên. Theo Kế hoạch phát triển châu Á ký kết ở Colombo thủ đô Sri Lanka, Úc đón nhận 10.000 sinh viên châu Á trong thập niên 1950. Bài kiểm tra chính tả được cho là xem rẻ người nhập cư tương lai bị hủy bỏ vào năm 1958. Đạo luật Nhập cư ban hành cùng năm đó cho phép những người châu Á ưu tú và có trình độ cao nhập cư. Do đó, khi Whitlam tuyên bố chấm dứt chính sách Úc Trắng vào năm 1972 và chính thức loại bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc, hành động của ông ít gây ra phản đối so với dự đoán về việc kết thúc một chính sách đã được theo đuổi dai dẳng trong hơn một thế kỷ. Trong giai đoạn 1978- 1982, Úc đã tiếp nhận người tị nạn đến từ bán đảo Đông Dương mà nếu tính theo tỉ lệ phần trăm dân số thì còn nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào trên thế giới. Vào cuối thập niên 1980, có đến gần một nửa dân Úc sinh ra ở nước ngoài hoặc có ít nhất một bậc sinh thành sinh ra ở nước ngoài. Đến năm 1991, người châu Á đại diện cho hơn 50% người nhập cư đến Úc. Đến năm 2010, tỉ lệ người Úc thực sự sinh ra ở nước ngoài (hơn 25%) đứng thứ hai trên thế giới, chỉ sau Israel. Ảnh hưởng của những người nhập cư châu Á này đã vượt xa so với số lượng: sinh viên châu Á chiếm hơn 70% chỗ ngồi ở các trường hàng đầu tại Sydney, sinh viên đại học châu Á dường như chiếm một phần lớn trong số những sinh viên mà tôi thấy đi dạo trong khuôn viên Đại học Queensland vào năm 2008, và dân châu Á và những người không phải người châu Âu hiện chiếm hơn một nửa số sinh viên y khoa Úc.
Những thay đổi khác ở Úc là về chính trị và văn hóa. Năm 1986, Úc chấm dứt quyền phúc thẩm sau cùng đối với Hội đồng Cơ mật Anh, điều này đồng nghĩa với việc thực sự xóa bỏ dấu vết cuối cùng của chủ quyền Anh và biến Úc trở thành một quốc gia hoàn toàn độc lập. Năm 1999, Tòa án Tối cao Úc tuyên bố Anh là một “nước ngoài.” Về mặt văn hóa, sự thống trị của Anh trong ẩm thực Úc ở giai đoạn thập niên 1960 mà biểu trưng là bánh nướng nhân thịt và bia giờ đã mở rộng hơn với nhiều phong cách ẩm thực quốc tế, và không chỉ riêng từ các nhà hàng Ý, Hy Lạp và một số ít của Trung Quốc ở thập niên 1960. Một số loại rượu vang Úc hiện nằm trong danh mục những loại rượu nổi tiếng nhất trên thế giới. (Gợi ý: Tôi đặc biệt giới thiệu nhãn rượu khai vị tuyệt hảo Noble One giá phải chăng của nhà De Bortoli, vang đỏ Penfolds Grange cũng nổi tiếng nhưng giá hơi đắt, và loại Morris thuộc dòng Muscat của nhà Rutherglen là loại rượu mạnh chất lượng và giá cả phải chăng.) Nhà hát Opera ở Sydney (Hình 7.10) khai trương vào năm 1973, và hiện được xem là biểu tượng của nước Úc cũng như một trong những thành tựu vĩ đại của kiến trúc hiện đại trên thế giới, được thiết kế bởi kiến trúc sư người Đan Mạch Jørn Utzon.
Những tranh luận về câu hỏi Chúng ta là ai? không chỉ liên quan đến tính thực tiễn về căn tính Úc, mà dường như còn về mọi biểu tượng có thể tạo ra căn tính. Hệ thống tiền tệ Úc có nên giữ tên gọi là đồng bảng không tính theo hệ thập phân như ở Anh, hay nên có một cái tên Úc khác biệt, chẳng hạn như tiền roo (viết tắt của từ kangaroo)? (Quyết định cuối cùng là loại bỏ đồng bảng để dùng một loại tiền theo hệ thập phân có tên gọi như Mỹ hay quốc tế, đồng đô la.) Có nên giữ bài “Chúa phù hộ Nữ hoàng” làm quốc ca hay không? (Cuối cùng, năm 1984, bản quốc ca của Anh đã được thay thế bằng bài “Nước Úc tiến bước hùng cường.”) Có nên tiếp tục dùng quốc kỳ Úc dựa trên nền cờ Union Jack của Anh hay không? (Hiện Úc vẫn sử dụng lá cờ này.) Có nên tổ chức quốc lễ ăn mừng sự thất trận của những người lính Úc anh dũng khi bảo vệ lợi ích của nước Anh để chống lại người Thổ ở Gallipoli năm 1915 hay nên thay thế bằng chiến thắng oai hùng của nước Úc chống lại người Nhật trên cung đường mòn Kokoda vào năm 1942? (Hiện Úc vẫn giữ Ngày ANZAC kỷ niệm vụ đổ bộ lên Gallipoli.) Và nước Úc có nên thừa nhận Nữ hoàng Anh hay không, hay nên trở thành một nước cộng hòa? (Hiện Úc vẫn thừa nhận Nữ hoàng.)
Rốt cuộc, nước Úc phù hợp với khung biến cố và thay đổi có chọn lọc của chúng ta như thế nào?
Đối với Úc thì khác hơn bất kỳ quốc gia nào khác mà chúng ta đang thảo luận, vấn đề trung tâm là một cuộc tranh cãi đang tiếp diễn về các vấn đề căn tính quốc gia và các giá trị cốt lõi (các nhân tố số 6 và 11, Bảng 1.2): Chúng ta là ai? Úc có phải là tiền đồn của người Anh trắng ở gần châu Á nhưng lại ít chú ý đến các nước láng giềng châu Á không? Có phải những thần dân Úc trung thành với những người Anh đặt niềm tự hào của mình dựa vào sự ủng hộ của Anh, cũng như kỳ vọng sự bảo vệ của Anh, đến nỗi cảm thấy không cần quốc gia của họ có đại sứ riêng ở nước ngoài, đồng thời thể hiện lòng trung thành của họ với đất mẹ Anh, tình nguyện hi sinh nhân mạng ở những vùng xa xôi trên thế giới có tầm quan trọng chiến lược đối với nước Anh chứ không phải với nước Úc? Hay thay vào đó Úc là một quốc gia độc lập ở ngoại vi châu Á, với lợi ích quốc gia, chính sách đối ngoại và có đại sứ riêng của đất nước mình, dính dáng nhiều đến châu Á hơn châu Âu cùng với nền di sản văn hóa Anh ngày càng suy giảm theo thời gian? Mãi đến sau Thế chiến II, cuộc tranh cãi này mới trở nên nghiêm túc, và đến nay vẫn còn đang tiếp tục. Nhưng ngay cả khi Úc đang tranh cãi về việc liệu căn tính quốc gia của họ có phải là một tiền đồn đáng tự hào của Đế quốc Anh, thì nước Anh cũng đang tranh cãi về việc liệu căn tính riêng của họ có phải là trung tâm đầy tự hào của đế quốc (vốn đang suy tàn) và đang tranh đấu để khoác lên một căn tính mới như là một cường quốc gắn bó hơn với lục địa châu Âu.
Chủ đề tự đánh giá trung thực (nhân tố số 7) ngày càng trở thành đặc trưng cho nước Úc kể từ sau Thế chiến II, khi người Úc nhận thức được tình trạng đất nước đang thay đổi trong thế giới hiện đại. Người Úc miễn cưỡng nhận ra rằng Anh, đối tác thương mại thiết thân nhất trước đây của họ, giờ chỉ là một đối tác nhỏ, kẻ thù tồi tệ nhất trước đây là Nhật thì bây giờ lại là đối tác thương mại quan trọng nhất, và giờ đây chiến lược để Úc vận hành như một tiền đồn của người Anh da trắng ở ngoại vi châu Á không còn khả thi nữa.
Động lực cho sự thay đổi ở Úc một phần do tác động bên ngoài, một phần là từ bên trong. Tác động bên ngoài là do sức mạnh của Anh ngày càng suy giảm, việc kết thúc đế chế hải ngoại của Anh và sức mạnh đang trỗi dậy của Nhật Bản, Trung Quốc và các nước châu Á khác. Phần khác là từ nội bộ, vì thông qua việc nhập cư, dân số Úc gốc Anh ngày càng giảm và người châu Á cộng với người châu Âu không phải người Anh ngày càng tăng, và việc thay đổi dân số cũng tạo ra các chính sách khác nhau.
Úc là minh họa nổi bật cho thay đổi có chọn lọc và việc xây dựng một hàng rào (nhân tố số 3). Những điều chính yếu làm thay đổi bao gồm những chuyển đổi trong quan điểm người Úc nhìn nhận bản thân mình; sự phát triển của một chính sách đối ngoại độc lập thay vì giao phó các quyết định chính sách đối ngoại của Úc cho Anh; một cộng đồng dân số và văn hóa đa sắc tộc ngày càng gia tăng (ở thành phố nhiều hơn vùng nông thôn); cùng định hướng chính trị và kinh tế hướng đến châu Á và Mỹ. Đồng thời, những điều chính yếu khác vẫn không thay đổi. Úc vẫn giữ nền dân chủ nghị viện, vẫn duy trì các mối quan hệ tượng trưng quan trọng với Anh như việc Nữ hoàng Anh vẫn là nguyên thủ Úc, chân dung Nữ hoàng vẫn xuất hiện trên tờ tiền giấy năm đô la và tiền xu của nước này, và cờ Úc vẫn gắn liền với cờ Anh. Úc vẫn duy trì các giá trị xã hội bình đẳng và chủ nghĩa cá nhân mạnh mẽ. Xã hội Úc vẫn mang một phong vị riêng của Úc không lẫn vào đâu được, như đam mê thể thao: đặc biệt là môn bóng bầu dục theo luật chơi Úc (phát minh ở Úc và chỉ được chơi ở xứ sở này), cùng với bơi lội, cộng thêm môn cricket và bóng bầu dục của Anh. Các nhà lãnh đạo Úc vẫn giữ những trò tiêu khiển truyền thống này ngay cả khi họ dễ gặp nguy hiểm: Thủ tướng Harold Holt chết đuối khi còn đương chức vào năm 1967, khi đang bơi trong một vùng biển có dòng chảy xiết ngoài khơi.
Ở hầu hết các quốc gia thực hiện nhiều thay đổi có chọn lọc, và những thay đổi này thường được thực hiện riêng rẽ trong nhiều năm. Nhưng một trong số ít điển hình về một chương trình thống nhất bao gồm nhiều thay đổi được đưa ra đồng thời là cơn lốc 19 ngày của Thủ tướng Úc Gough Whitlam từ ngày 1 tháng 12 đến ngày 19 tháng 12 năm 1972.
Vấn đề tự do khỏi các ràng buộc (nhân tố số 12) rất quan trọng đối với Úc và tự do (hay thiếu nó) cũng thay đổi theo thời gian. Cho đến Thế chiến II, đại dương đã bảo vệ Úc khỏi mọi nguy cơ tấn công hiển hiện, cũng giống như nó bảo vệ lục địa Mỹ sau khi giành độc lập cho đến khi Trung tâm Thương mại Thế giới bị tấn công vào ngày 11 tháng 9 năm 2001. Nhưng kể từ khi Nhật ném bom vào Darwin ngày 19 tháng 2 năm 1942 thì người Úc đã nhận ra rằng đất nước của họ không còn tránh được những ràng buộc bên ngoài.
Tuy vậy, ngay cả trước năm 1942, xã hội Úc do người châu Âu thống trị cũng phải dựa vào sự hỗ trợ từ những nước bạn bè hữu hảo (nhân tố số 4): ban đầu là Anh, mà nhiều năm sau khi Hạm đội Thứ nhất đến đây vẫn còn cung cấp thực phẩm, và sau này là việc phòng thủ; và, từ Thế chiến II trở đi là Mỹ. Do trước đó, Úc chưa bao giờ có nguy cơ bị tấn công trực tiếp cho đến khi xảy ra vụ ném bom vào Darwin, nên người Úc chỉ quan ngại việc quân đội Pháp, Đức, Mỹ và Nhật Bản mở rộng thuộc địa ở các đảo vùng Thái Bình Dương, khởi đầu từ nửa sau thế kỷ 19. Úc lại trông cậy vào hạm đội Anh để ngăn chặn những mối quan ngại đó, đến nỗi nước này không lãnh trách nhiệm (nhân tố số 2) tự bảo vệ trong suốt thập niên 1930 và còn cho phép giảm trừ binh bị.
Những thay đổi của Úc trong hơn 70 năm qua không phải để đối phó với một biến cố cấp thời, mà là một quá trình phát triển từ từ trong một thời gian dài rồi tăng tốc kể từ sau Thế chiến II, khi căn tính Anh của Úc suy giảm, từ thực tế giờ đã thành huyền thoại. Mặc dù bản thân người Úc có thể không dùng từ “biến cố” đối với nước mình, tôi thấy thật hữu ích khi nghĩ rằng Úc đã trải qua một biến cố diễn ra từ từ, bởi vì các vấn đề thay đổi có chọn lọc của Úc cũng tương tự như các vấn đề ở các quốc gia khác khi đối phó với biến cố bất ngờ. Về mặt này, những thay đổi gần đây ở Úc, giống với những thay đổi trong cùng những thập niên ở Đức (Chương 6), cũng diễn ra chậm chạp. Tất nhiên cũng có một số khoảnh khắc đáng chú ý trong chuỗi thay đổi chậm chạp của Úc: đặc biệt là vụ hai chiến hạm Prince of Wales và Repulse bị đánh đắm, sự đầu hàng ở Singapore và cuộc không kích vào Darwin, mọi thứ chỉ trong vòng 71 ngày. Nhưng biến cố và thay đổi ở Úc không đưa đến cú sốc chuyển đổi khi tàu chiến của Phó đề đốc Perry đến Nhật Bản vào ngày 8 tháng 7 năm 1853, cuộc tấn công của Nga vào Phần Lan ngày 30 tháng 11 năm 1939, cuộc đảo chính của Pinochet và cái chết của Allende vào ngày 11 tháng 9 năm 1973 ở Chile, cuộc đảo chính thất bại ngày 1 tháng 10 năm 1965 và vụ diệt chủng tiếp sau ở Indonesia.
Sự tái đánh giá của Úc về các giá trị cốt lõi của nước này và chuỗi thay đổi có chọn lọc chắc chắn vẫn chưa kết thúc. Năm 1999, Úc tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý về việc nước này có nên bãi bỏ việc Nữ hoàng Anh là nguyên thủ đứng đầu quốc gia hay trở thành một nước cộng hòa. Nhưng dù cuộc trưng cầu dân ý có thất bại với tỉ lệ phiếu bầu 55% trên 45% không đồng ý, thì nhiều thập niên trước đó, một cuộc trưng cầu dân ý như thế chưa từng được nghĩ đến, chứ đừng nói đến khả năng 45% phiếu bầu “đồng ý.” Tỉ lệ người Úc có nguồn gốc Anh đang giảm nhanh chóng. Dường như chỉ còn là vấn đề thời gian trước khi có một cuộc trưng cầu dân ý khác về việc Úc có nên trở thành một nước cộng hòa hay không, và cơ hội bỏ phiếu “đồng ý” hẳn sẽ cao hơn. Trong vòng một hoặc hai thập niên, nhiều khả năng người châu Á sẽ chiếm hơn 15% dân số Úc và các nhà lập pháp cùng hơn 50% sinh viên trong các trường đại học hàng đầu của Úc. Sớm hay muộn, Úc sẽ bầu một người châu Á làm thủ tướng. (Ở thời điểm tôi viết câu này, một người nhập cư Việt Nam đã đảm nhiệm chức thống đốc Nam Úc). Khi những thay đổi này diễn ra thì sẽ không có gì phi lý bằng việc nước Úc vẫn giữ Nữ hoàng Anh làm người đứng đầu nhà nước, giữ chân dung bà trên đồng tiền của mình, và giữ lá cờ Úc có hình cờ Anh trên đó.