Thư viện Online
  • Trang chủ
  • Sách mới cập nhật
  • Trang chủ
  • Sách mới cập nhật

Biến Động - Jared Diamond - Chương 6

  1. Home
  2. Biến Động - Jared Diamond
  3. Chương 6 - Tái thiết nước Đức
Prev
Next

Nước Đức năm 1945 – Giai đoạn 1945-1961 – Người Đức nắm giữ sự phán xét – Năm 1968 – Hệ quả của năm 1968 – Brandt và sự tái thống nhất – Những ràng buộc về mặt địa lý – Tự thương thân ư? – Các nhà lãnh đạo và chủ nghĩa hiện thực – Khung biến cố

Việc nước Đức đầu hàng vào ngày 7 và 8 tháng 5 năm 1945 đánh dấu sự kết thúc Thế chiến II ở châu Âu. Diễn tiến tình hình ở Đức vào thời điểm đó như sau.

Các lãnh đạo đảng Quốc xã gồm Hitler, Goebbels, Himmler và Bormann đều tự sát hoặc chuẩn bị tự sát. Các binh đoàn Đức, sau khi chinh phục hầu hết châu Âu, đã bị đẩy lùi rồi bại trận. Khoảng bảy triệu người Đức bị giết, bao gồm lính tráng, dân thường chết vì bom đạn và những dân thường tị nạn bị giết khi đang chạy trốn, nhất là do các binh đoàn Liên Xô từ phía đông đã trả thù cho những điều khủng khiếp mà quân đội Đức hành xử với dân thường Liên Xô.

Hàng chục triệu người dân Đức sống sót đã bị chấn thương tâm lý bởi bom đạn (Ảnh 6.1). Hầu như tất cả các thành phố lớn ở Đức đều biến thành gạch vụn do bị đánh bom và những trận chiến trong thành phố (Ảnh 6.2). Khoảng giữa một phần tư và một phần hai nhà cửa ở các thành phố Đức bị phá hủy.

Một phần tư lãnh thổ trước đây của Đức bị mất vào tay Ba Lan và Liên Xô. Phần đất còn lại của Đức bị phân chia thành bốn khu vực chiếm đóng và cuối cùng trở thành hai đất nước bị chia cắt.

Khoảng 10 triệu người Đức trở thành những kẻ tị nạn vô gia cư. Hàng triệu người thì tìm kiếm những thành viên gia đình bị mất tích mà một số được phát hiện còn sống một cách kỳ diệu nhiều năm sau đó. Nhưng hầu hết không bao giờ trở lại, và do thời gian, không gian cũng như hoàn cảnh nên cái chết của họ vẫn mãi mãi không thể truy nguyên. Giáo viên người Đức đầu tiên của tôi, sống lưu vong vào năm 1954, tình cờ nhắc đến việc có một người con trai. Khi tôi ngây thơ hỏi ông về người con trai đó, ông giáo của tôi đột nhiên bật thốt trong đau khổ: “Họ đã đem nó đi, và chúng tôi không bao giờ còn nghe tin gì về nó nữa.” Vào thời gian tôi gặp thầy giáo của mình, ông và người vợ đã sống với nỗi hoang mang không biết con mình còn sống hay chết suốt 10 năm. Hai trong số những người bạn Đức sau này của tôi thì “may mắn hơn”: một người biết được có khả năng người cha của cô đã chết “chỉ” một năm sau khi nhận được tin tức cuối cùng về ông ta, và người kia biết được cái chết của người anh trai ba năm sau.

Bắt đầu từ năm 1945, nền kinh tế Đức sụp đổ. Đồng tiền Đức nhanh chóng mất giá vì lạm phát. Người Đức đã trải qua 12 năm sống dưới sự lập trình của đảng Quốc xã. Hầu như mọi viên chức chính phủ và quan tòa đều bị thuyết phục và đồng lõa với Quốc xã vì cá nhân họ phải thề trung thành với Hitler để giữ được một công việc trong chính phủ. Xã hội Đức từng là một xã hội chuyên chế.

Ngày nay, Đức là một quốc gia dân chủ tự do. Nền kinh tế nước này đứng thứ tư thế giới, và là một trong những nước có nền kinh tế xuất khẩu hàng đầu trên thế giới. Đức là quốc gia hùng mạnh nhất ở phần châu Âu phía tây nước Nga. Đất nước này xây dựng đồng tiền ổn định riêng (đồng mark Đức); rồi đóng vai trò hàng đầu trong việc thiết lập đồng tiền chung châu Âu (đồng euro), cũng như trong việc thiết lập Liên minh Châu Âu và gia nhập một cách êm ả cùng các quốc gia họ từng tấn công gần đây. Nước Đức phải đương đầu với quá khứ Quốc xã của mình ở quy mô lớn, và xã hội Đức giờ đây ít chuyên chế hơn nhiều so với trước đây.

Điều gì đã xảy ra từ tháng 5 năm 1945 đến ngày nay để tạo ra những thay đổi đó? Lần đầu tôi đến thăm nước Đức là vào năm 1959, sống ở đó gần như cả năm 1961, và kể từ đó thường quay trở lại. Bây giờ tôi sẽ bàn đến năm sự thay đổi mà tôi từng chứng kiến ở nước Đức thời hậu chiến. Hai trong số này (sự chia cắt và phục hồi kinh tế của Tây Đức) hầu như hoàn tất vào thời điểm tôi cư trú ở Đức; hai thay đổi khác (người Đức đối mặt với di sản của chủ nghĩa Quốc xã và những thay đổi về mặt xã hội) hồi đó đã diễn ra và sau đó tăng nhanh hơn; và một thay đổi (sự tái thống nhất) xảy ra chỉ sau vài thập niên mà hồi năm 1961 tôi và những người bạn Đức của mình hoàn toàn không thể mường tượng ra được. Từ góc nhìn về khung biến cố và thay đổi của cuốn sách này thì nước Đức đại diện cho một trường hợp cực đoan về nhiều phương diện, gói gọn trong những ràng buộc địa chính trị và trong vai trò của những nhà lãnh đạo nổi bật về điều xấu và điều tốt. Trên tất cả, nước Đức tiêu biểu cho một thái cực trên quy mô biến cố mà họ phải đối mặt. Nhật Bản thời Minh Trị chỉ bị đe dọa tấn công; Phần Lan và Úc bị tấn công nhưng không bị chiếm đóng; nhưng Đức và Nhật Bản vào năm 1945 vừa bị tấn công vừa bị chinh phục và chiếm đóng, ngoài ra còn bị tàn phá nặng nề hơn bất kỳ quốc gia nào được bàn luận trong cuốn sách này.

Các nước Đồng minh chiến thắng trong Thế chiến II cắt nước Đức thành bốn khu vực chiếm đóng: Mỹ ở vùng phía nam, Pháp ở vùng tây nam, Anh ở vùng tây bắc và Liên Xô ở vùng phía đông. Thủ đô Berlin, nằm ở giữa vùng chiếm đóng của Liên Xô, cũng bị phân chia thành những khu vực chiếm đóng của bốn cường quốc này, giống như một hòn đảo không do Liên Xô chiếm đóng nhưng lại nằm bên trong vùng chiếm đóng của họ. Vào năm 1948, người Nga tiến hành phong tỏa lối vào bằng đường bộ những vùng đất bên trong thành phố Berlin do Mỹ, Anh và Pháp quản lý để thúc ép nước Đồng minh phương Tây này phải từ bỏ những vùng đất này. Phe Đồng minh đáp trả bằng việc lập cầu không vận và tiếp tế cho Berlin bằng đường hàng không trong gần một năm cho đến khi Liên Xô phải từ bỏ và chấm dứt việc phong tỏa vào năm 1949.

Trong cùng năm 1949, Đồng minh nhập các khu vực của mình thành một chủ thể, gọi là Cộng hòa Liên bang Đức, cũng được biết đến dưới tên gọi Tây Đức, hay Bundesrepublik Deutschland. Khu vực thuộc Liên Xô trở thành một chủ thể riêng biệt gọi là Cộng hòa Dân chủ Đức, cũng được biết đến dưới tên gọi Đông Đức, hay viết tắt từ tiếng Đức là DDR. Ngày nay, Đông Đức bị giải thể và trên thực tế đã được sáp nhập với Tây Đức. Danh xưng “Cộng hòa Dân chủ Đức” chỉ còn được nhớ đến như danh xưng “Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên” mà Triều Tiên áp dụng ngày nay. Bây giờ người ta dễ quên rằng không chỉ sức mạnh của Liên Xô mà còn cả chủ nghĩa lý tưởng cộng sản đã đóng góp vào việc thành lập Đông Đức, và chính vô số trí thức đã chọn rời bỏ Tây Đức để chuyển sang Đông Đức hay sống lưu vong ở nước ngoài.

Nhưng cuối cùng, mức sống và sự tự do ở Đông Đức lại tụt hậu so với Tây Đức. Trong khi viện trợ kinh tế của Mỹ đổ vào Tây Đức, thì Liên Xô lại bắt khu vực họ chiếm đóng phải gánh chịu những bồi thường kinh tế, tháo dỡ và vận chuyển toàn bộ nhà máy về Liên Xô, đồng thời tái cơ cấu nền nông nghiệp Đông Đức thành những nông trang tập thể. Thêm nữa, trong hơn hai thế hệ kế tiếp cho đến khi tái thống nhất lãnh thổ năm 1990, người dân Đông Đức lớn lên mà không thể học hỏi động lực làm việc siêng năng để có được đời sống tốt đẹp hơn, như những gì người dân ở các thể chế dân chủ phương Tây thu nạp được.

Kết quả là người dân Đông Đức bắt đầu tìm cách đào tẩu sang phía Tây. Do đó, vào năm 1952 Đông Đức phong tỏa biên giới phía Tây, nhưng dân Đông Đức vẫn có thể đào tẩu từ Đông Berlin sang Tây Berlin, rồi từ Tây Berlin bay sang Tây Đức. Hệ thống giao thông công cộng thời tiền chiến ở Berlin (U-Bahn và S-Bahn) bao gồm những tuyến đường kết nối Tây và Đông Berlin, do đó bất kỳ một ai ở Đông Berlin đều có thể đến Tây Berlin bằng cách nhảy tàu. Lần đầu tiên khi tôi đến Berlin năm 1960, cũng như những du khách phương Tây khác, tôi theo đường cao tốc U-Bahn để thăm Đông Berlin và trở về Tây Berlin.

Sự bất mãn ở Đông Đức năm 1953 bùng phát trong một cuộc đình công mà sau biến thành một cuộc nổi dậy và bị quân đội Liên Xô dập tắt. Những người dân Đông Đức bất mãn vẫn tiếp tục đào thoát sang phía Tây bằng hệ thống giao thông công cộng. Cuối cùng, vào đêm 13 tháng 8 năm 1961, khi tôi đang ở Đức, chính quyền Đông Đức đột nhiên đóng cửa các nhà ga tuyến U-Bahn ở Đông Berlin và dựng lên một bức tường ngăn giữa Đông và Tây thành phố, được lính tuần tra biên giới giám sát và bắn bỏ những ai muốn vượt qua bức tường (Ảnh 6.3). Tôi vẫn nhớ sự bất ngờ, choáng váng và giận dữ của những người bạn Tây Đức vào buổi sáng sau khi bức tường được dựng lên. Đông Đức biện minh rằng bức tường được xây lên là để bảo vệ họ trước những kẻ xâm nhập và tội phạm đến từ Tây Đức, thay vì thừa nhận rằng nó nhằm ngăn chặn những người dân Đông Đức bất mãn đào tẩu sang phía Tây. Phe Đồng minh phương Tây không dám đụng chạm đến bức tường vì họ biết mình bất lực, không làm được gì cho Tây Berlin vốn bị bao quanh bởi quân đội Đông Đức và Liên Xô.

Kể từ dạo đó, Đông Đức vẫn là một đất nước biệt lập, khó có khả năng đào thoát khỏi đó mà không chịu xác suất cao bị bắn chết ở ngay biên giới (trên 1.000 người đã bị bắn chết khi cố làm điều đó). Không còn hi vọng thực tiễn nào cho việc tái thống nhất nước Đức do sự phân cực giữa một bên là Liên Xô và khối Cộng sản Đông Âu, và bên kia là Mỹ và các nước Tây Âu. Điều này như thể nước Mỹ bị phân chia bằng con sông Missisippi giữa một bên là Mỹ cộng sản phía đông và bên kia là Mỹ dân chủ phía tây, và không có triển vọng nào cho sự tái hòa hợp ở một tương lai có thể đoán trước.

Về phía Tây Đức, ngay khi kết thúc Thế chiến II, một chính sách được phe Đồng minh phương Tây chiến thắng xem xét để ngăn chặn nước này không còn tái thiết được các ngành công nghiệp, buộc nền kinh tế Tây Đức phải chuyển đổi sang nông nghiệp theo Kế hoạch Morgenthau, và cũng để bòn rút bồi thường chiến phí như phe Đồng minh đã từng làm sau Thế chiến I như Liên Xô đang làm ở Đông Đức. Chiến lược này bắt nguồn từ quan điểm phổ biến của Đồng minh là Đức phải chịu trách nhiệm không chỉ cho Thế chiến II dưới thời Hitler (được đồng thuận rộng rãi) mà còn cho việc gây ra Thế chiến I dưới thời Hoàng đế Wilhelm II (một câu hỏi lịch sử còn nhiều tranh cãi), và việc chấp nhận cho nước Đức tái công nghiệp hóa có thể sẽ dẫn đến một cuộc thế chiến khác.

Điều đã khiến quan điểm của phe Đồng minh thay đổi chính là sự phát triển của Chiến tranh Lạnh và kết quả từ nhận thức rằng nguy cơ thực tế của một cuộc thế chiến khác giờ đây không còn đến từ nước Đức mà lại từ Liên Xô. Như tôi đã giải thích ở Chương 4 liên quan đến chính sách của Mỹ đối với Chile, nỗi sợ là động cơ thống trị bên dưới chính sách đối ngoại của Mỹ trong những thập niên sau Thế chiến II. Những vụ tiếp quản quyền lực của cộng sản trên khắp các nước Đông Âu bị Liên Xô chiếm đóng, việc Liên Xô sở hữu bom nguyên tử rồi đến bom nhiệt hạch, nỗ lực của Liên Xô vào năm 1948-1949 nhằm phong tỏa và bóp nghẹt khu vực phía Tây nằm trong Berlin và sức mạnh của phe cộng sản ngay trong một số thể chế dân chủ Tây Âu (đặc biệt là ở Ý) đã khiến Tây Âu dường như trở thành địa điểm dễ bùng nổ nhất một cuộc thế chiến khác trong Chiến tranh Lạnh. Cuối năm 1961, khi tôi sắp đến sống ở Đức, người cha (Mỹ) của tôi khuyên nhủ với tất cả sự nghiêm túc là hãy sẵn sàng chạy đến một nơi tị nạn an toàn là Thụy Sĩ ngay khi có những dấu hiệu nguy biến ở châu Âu.

Từ viễn cảnh đó, Tây Đức, vốn nằm ở trung tâm châu Âu, có biên giới chung với Đông Đức và Tiệp Khắc theo cộng sản, trở thành quốc gia quyết định sự tự do của Tây Âu. Do đó, các Đồng minh phương Tây cần Tây Đức mạnh mẽ trở lại để biến thành một bức tường thành chống lại chủ nghĩa cộng sản. Những động cơ khác của họ khi muốn nước Đức trở nên mạnh mẽ là để giảm trừ nguy cơ mà một nước Đức yếu ớt và nản chí có thể rơi trở lại vào chủ nghĩa cực đoan chính trị (như đã xảy ra sau Thế chiến I), đồng thời cũng giảm bớt tổn phí kinh tế cho Đồng minh khi phải tiếp tục nuôi dưỡng và hỗ trợ cho một đất nước Tây Đức yếu kém về mặt kinh tế.

Sau năm 1945, cũng phải mất vài năm, mà trong suốt thời gian này nền kinh tế Tây Đức vẫn tiếp tục suy trầm, để việc thay đổi quan điểm của phe Đồng minh chín muồi. Sau cùng, vào năm 1948 Mỹ bắt đầu đưa thêm Tây Đức vào danh sách viện trợ kinh tế theo Kế hoạch Marshall cho các nước Tây Âu vào năm 1947. Đồng thời, Tây Đức thay đổi đồng tiền yếu và bị lạm phát bằng một đồng tiền mới, đồng mark Đức (Deutsche Mark). Khi Đồng minh nhập các khu vực chiếm đóng thành một nước Tây Đức duy nhất, họ vẫn giữ quyền phủ quyết đối với hiến pháp. Tuy nhiên, thủ tướng đầu tiên của Tây Đức, Konrad Adenauer, đã chứng tỏ mình biết cách khai thác sự sợ hãi của Mỹ về một cuộc tấn công từ cộng sản để đạt được sự mặc nhận của Đồng minh về việc ủy quyền ngày càng nhiều cho Tây Đức và ngày càng giảm đi cho Đồng minh. Ludwig Erhard, bộ trưởng kinh tế dưới thời Adenauer, thực hiện các chính sách thị trường tự do có sửa đổi và tận dụng viện trợ của Kế hoạch Marshall để tạo ra một sự phục hồi kinh tế thành công một cách ngoạn mục gọi là “Wirtschaftswunder” hay “phép màu kinh tế.” Việc cấp phát khẩu phần được loại bỏ, sản phẩm công nghiệp và mức sống người dân tăng vọt, và giấc mơ đủ điều kiện để sắm xe hơi và nhà ở của người dân Tây Đức đã thành hiện thực.

Vào thời gian tôi từ Anh chuyển sang Tây Đức, đất nước này đã cảm thấy giàu có và hài lòng hơn cuộc sống ở Anh. Không phải châm biếm, nhưng những người bạn của tôi ở Anh thường cay đắng nhận xét rằng: Đức thất trận trong Thế chiến II và Anh là kẻ chiến thắng, nhưng chính Tây Đức, chứ không phải nước Anh, sau đó đã tạo ra phép màu kinh tế. Về phương diện chính trị, đến năm 1955 thì Tây Đức giành được chủ quyền, và chấm dứt sự chiếm đóng của quân đội Đồng minh. Sau khi Đồng minh đã chiến đấu trong hai cuộc thế chiến để đánh bại và giải trừ quân bị nước Đức, giờ đây Tây Đức lại bắt đầu tái trang bị và xây dựng quân đội – không phải do nước này khởi xướng, mà (không thể tin được!) do sự thúc ép của phương Tây và trái ngược với nghị quyết của quốc hội Tây Đức, để Tây Đức phải chia sẻ gánh nặng bảo vệ Tây Âu với Đồng minh. Từ góc nhìn của năm 1945, thì điều này tiêu biểu cho sự thay đổi đáng ngạc nhiên nhất trong chính sách của Mỹ, Anh và Pháp đối với Đức.

Nền kinh tế Tây Đức được định hình bằng những quan hệ lao động tương đối tốt, những cuộc đình công không thường xuyên và điều kiện tuyển dụng linh hoạt. Giữa chủ và thợ có thỏa thuận ngầm là người thợ sẽ không đình công để các doanh nghiệp có thể phát triển và người chủ chia sẻ kết quả thành tựu với công nhân của mình. Nền công nghiệp cũng phát triển một hệ thống tập sự vẫn tồn tại đến ngày nay, theo đó lớp người trẻ học nghề ở các công ty vẫn được trả công khi theo học nghề. Khi kết thúc thời gian tập sự họ sẽ được nhận làm ở ngay công ty đó. Ngày nay, Đức sở hữu nền kinh tế lớn nhất châu Âu.

Kết thúc Thế chiến II, Đồng minh truy tố các lãnh đạo Quốc xã về các tội ác chiến tranh ở tòa án Nuremberg. Mười người bị kết án tử, trong đó có những nhân vật cao cấp như Ngoại trưởng Joachim von Ribbentrop và Chỉ huy Không quân Hermann Goering (người sau này tự tử bằng thuốc độc ngay trong đêm trước ngày ấn định xử tử). Bảy người khác bị kết án tù dài hạn hoặc chung thân. Tòa án Nuremberg cũng kết án tù ngắn hạn đối với nhiều nhân vật Quốc xã cấp thấp. Đồng minh cũng đưa ra luận tội rất nhiều người Đức để thực hiện các tiến trình “loại trừ chủ nghĩa Quốc xã,” bao gồm việc kiểm tra quá khứ Quốc xã và cải tạo họ.

Nhưng các phiên tòa Nuremberg và tiến trình loại trừ chủ nghĩa Quốc xã không giải quyết hết những di sản của chủ nghĩa Quốc xã cho người Đức. Hàng triệu người Đức theo chủ nghĩa Quốc xã ở cấp thấp, hoặc bị thuyết phục trở thành đảng viên, hoặc tuân theo các mệnh lệnh của đảng không bị truy tố; vì các phiên tòa không do người Đức mà lại do Đồng minh tiến hành, nên việc truy tố không liên quan đến vấn đề người Đức phải chịu trách nhiệm cho các hành động của người Đức. Ở Đức, các phiên tòa được bãi miễn như một dạng “Siegerjustiz”: chẳng qua chỉ là sự trả thù của những kẻ chiến thắng đối với bên chiến bại. Hệ thống tòa án riêng của Tây Đức cũng tiến hành các vụ khởi tố, nhưng phạm vi của chúng ban đầu cũng bị hạn chế.

Một vấn đề thực tiễn cho Đồng minh và cả người Đức trong việc triển khai một chính phủ chức năng thời hậu chiến ở Đức là bất kỳ chính phủ nào cũng đòi hỏi phải có những viên chức đầy kinh nghiệm. Nhưng vào năm 1945, đa số những người Đức có kinh nghiệm trong chính phủ đều thụ hưởng kinh nghiệm ấy từ chính quyền Quốc xã, có nghĩa rằng mọi viên chức chính phủ có tiềm năng thời hậu chiến (bao gồm các quan tòa) đều bị thuyết phục thành đảng viên Quốc xã hoặc tối thiểu cũng từng cộng tác với Quốc xã. Ngoại lệ duy nhất chính là những người Đức lưu vong hay từng bị nhốt trong các trại tập trung, nơi họ không thể học được kinh nghiệm gì cho việc quản lý điều hành. Chẳng hạn như vị thủ tướng đầu tiên của Tây Đức sau chiến tranh là Konrad Adenauer, một nhân vật không gia nhập đảng Quốc xã nên bị hất khỏi chức thị trưởng thành phố Cologne. Chính sách của Adenauer khi trở thành thủ tướng được mô tả là “ân xá và hội nhập,” một uyển ngữ biểu đạt việc không hỏi gì những cá nhân về những điều họ đã làm trong thời kỳ Quốc xã. Thay vào đó, chính phủ tập trung chủ yếu vào những nhiệm vụ khẩn cấp là cung cấp nơi ăn và chốn ở cho hàng chục triệu người thiếu ăn và không nơi cư trú, tái thiết những thành phố bị đánh bom và nền kinh tế bị tàn phá, đồng thời xây dựng lại chính phủ dân chủ sau 12 năm dưới sự cai trị của Quốc xã.

Kết quả là hầu hết người Đức đi đến sự chấp nhận quan điểm cho rằng các tội ác của Đức Quốc xã chỉ là lỗi của một nhóm nhỏ những cá nhân lãnh đạo ác độc, còn đại đa số người dân Đức đều vô tội, và những người lính Đức chiến đấu dũng cảm chống lại Liên Xô đều không phạm tội, và (khoảng giữa thập niên 1950) không tiến hành thêm những cuộc điều tra quan trọng nào nữa. Đóng góp thêm vào việc chính phủ Tây Đức không truy tố những đảng viên Quốc xã là do sự có mặt của nhiều cựu đảng viên Quốc xã trong số những công tố viên chính phủ thời hậu chiến: chẳng hạn, có đến 33 trong số 47 nhân viên trong Cục phòng chống tội phạm liên bang Tây Đức (Bundeskriminalamt) và nhiều thành viên cơ quan tình báo Tây Đức đã từng là thủ lĩnh tổ chức SS cuồng tín của đảng Quốc xã. Trong chuyến ở lại Đức năm 1961, thỉnh thoảng tôi nghe những lời biện hộ cho thời kỳ Quốc xã từ những người lớn tuổi sống trong thời kỳ đó khi đã ở độ tuổi 30, 40 mà tôi có cơ hội được biết rõ hay chỉ nói chuyện riêng tư với nhau. Ví dụ như người chồng của một nhạc sĩ mà tôi thường chơi chung những bản sonata song tấu cello-và-piano rốt cuộc cũng giải thích cho tôi việc cố ý hủy diệt hàng triệu người Do Thái là điều bất khả về mặt toán học và là sự dối trá lớn nhất từng được nghe. Một người bạn Đức lớn tuổi rồi cũng cho tôi nghe một bài diễn văn của Hitler được ghi âm lại, và bà ta nghe nó trong tâm thế vừa khoan khoái, vừa thích thú.

Vào năm 1958, các lãnh đạo tư pháp toàn liên bang Tây Đức cuối cùng cũng thiết lập một văn phòng trung tâm để xới lại những nỗ lực nhằm truy tố những tội ác của Quốc xã ở bất kỳ đâu trong và kể cả ngoài phạm vi lãnh thổ Tây Đức. Gương mặt hàng đầu trong những vụ truy tố này là một luật sư Do Thái gốc Đức tên Fritz Bauer, vốn là một thành viên của đảng Dân chủ Xã hội chống Quốc xã và buộc phải trốn khỏi Đức sang Đan Mạch vào năm 1935. Ông bắt đầu công việc truy tố tội phạm ngay khi trở về Đức năm 1949. Từ năm 1956 cho đến khi mất vào năm 1969, ông làm công tố viên trưởng của bang Hessen. Nguyên tắc trung tâm trong sự nghiệp của ông là người Đức phải phán xử chính họ. Điều này có nghĩa là nên khởi tố những người Đức bình thường chứ không chỉ riêng những lãnh tụ mà Đồng minh đã khởi tố.

Bauer trước hết nổi tiếng với các phiên tòa xử vụ Auschwitz ở Đức, trong đó ông khởi tố những tội phạm cấp thấp phục vụ ở trại tập trung Auschwitz, trại thủ tiêu lớn nhất của Đức Quốc xã. Những tội phạm bị truy tố bao gồm các nhân viên cấp bậc nhỏ, như những người quản lý phòng quần áo, dược sĩ và bác sĩ. Rồi ông tiếp tục khởi tố những viên chức cảnh sát cấp thấp, những thẩm phán có phán quyết chống lại người Do Thái hoặc những lãnh tụ kháng chiến người Đức hay đưa ra những phán quyết tử hình, những đảng viên Quốc xã ngược đãi thương gia Do Thái, những người dính đến việc hỗ trợ “cái chết êm ái” do Quốc xã đề ra, bao gồm bác sĩ, thẩm phán và nhân viên trợ tử, các viên chức văn phòng bộ ngoại giao, và điều gây phiền toái nhất cho người Đức là những binh lính Đức phạm tội hành xử tàn bạo, đặc biệt ở mặt trận phía Đông – điều này gây phiền toái là vì người Đức đa phần tin rằng những hành xử tàn bạo đó đều do những nhóm cuồng tín như lực lượng SS gây ra chứ không phải do những binh lính Đức bình thường.

Cùng với những vụ truy tố này, Bauer còn nỗ lực truy tìm những đảng viên Quốc xã quan trọng nhất và cũng tàn ác nhất đã biến mất sau chiến tranh: Martin Bormann, trợ lý của Hitler; bác sĩ Josef Mengele của trại tập trung Auschwitz, người tiến hành những thử nghiệm y khoa trên tù nhân; và Adolf Eichmann, kẻ tổ chức bố ráp người Do Thái. Bauer thất bại trong việc truy tìm Mengele, kẻ sau cùng chết ở Brazil năm 1979, hay Bormann mà sau đó được biết là đã tự sát vào năm 1945 khoảng cùng thời điểm Hitler tự tử.

Nhưng Bauer lại nhận được thông tin về nơi ở của Eichmann, kẻ đã đào tẩu sang Argentina. Bauer cho rằng ông không thể chuyển an toàn thông tin đó cho cơ quan tình báo Đức để bắt giữ và trừng phạt Eichmann do ông sợ họ sẽ báo tin cho Eichmann để ông này trốn thoát. Do đó, Bauer chuyển nguồn tin về nơi ở của Eichmann cho Cơ quan Tình báo Do Thái, và cuối cùng người của cơ quan này đã bắt cóc Eichmann thành công ở Argentina, bí mật chở ông ta về Do Thái trên một chiếc máy bay của hãng hàng không El Al, đưa ông ta ra tòa án công khai, rồi sau cùng treo cổ ông ta sau một vụ xử án thu hút sự chú ý trên toàn thế giới, không chỉ vì Eichmann mà còn vì toàn thể các đối tượng chịu trách nhiệm cá nhân cho những tội ác của Quốc xã.

Những vụ khởi tố của Bauer thu hút sự quan tâm rộng rãi trên toàn nước Đức. Hơn thế nữa, chúng hé mở cho người Đức thế hệ thập niên 1960 nhớ lại những gì mà người Đức thế hệ thập niên 1930 và 1940 đã làm dưới chế độ Quốc xã. Những người phục vụ cho chế độ Quốc xã bị Bauer truy tố đều có khuynh hướng đưa ra những lý do bào chữa tương tự: tôi chỉ làm theo mệnh lệnh; tôi tuân thủ các chuẩn mực và luật pháp xã hội thời đó; tôi không phải là người chịu trách nhiệm về những người bị chết đó; tôi chỉ tổ chức vận chuyển người Do Thái bằng xe lửa đến các trại thủ tiêu; tôi chỉ là một dược sĩ hoặc lính canh ở Auschwitz; tôi đâu có trực tiếp giết ai; tôi đã mù quáng tin vào thẩm quyền và ý thức hệ do chính phủ Quốc xã tuyên bố, và điều này khiến tôi không nhận thức được việc mình đang làm là sai trái.

Phản bác của Bauer, những luận cứ có hệ thống được lặp đi lặp lại ở các phiên tòa hay trước công luận, như sau. Những người Đức mà ông khởi tố đều phạm tội ác chống lại loài người. Luật lệ của Đức Quốc xã là không hợp pháp. Một người không thể bảo vệ cho hành động của mình bằng việc cho rằng hắn ta đang tuân thủ những luật lệ đó. Không một thứ luật pháp nào có thể biện minh cho tội ác chống lại loài người. Mọi người ai cũng phải có ý thức về lẽ đúng sai và phải tuân thủ nó, độc lập với những gì một chính phủ nhà nước đưa ra. Bất kỳ kẻ nào tham gia vào thứ mà Bauer gọi là guồng máy giết người thì cũng như công cụ thủ tiêu người ở Auschwitz, do đó cũng trở thành tội phạm. Hơn nữa, một điều rõ ràng là những kẻ bị ông đưa ra tòa, và đưa ra lời bào chữa rằng họ chỉ thực hiện điều phải làm do bị buộc phải làm, đều hành động không phải do bắt buộc mà là do niềm tin của riêng họ.

Trên thực tế rất nhiều, hay có thể là hầu hết, các vụ truy tố của Bauer đều thất bại: những người bị truy tố đều được tòa án tha bổng, ngay cả ở thập niên 1960. Chính Bauer cũng thường là mục tiêu cho những công kích bằng ngôn từ, thậm chí cả dọa giết. Tuy vậy, ý nghĩa việc làm của Bauer chính là ông ta, một người Đức, giữa tòa án đã liên tục chỉ ra cho công chúng bằng chi tiết những dằn vặt về niềm tin và hành xử của người Đức trong suốt thời kỳ Quốc xã. Những hành động xấu xa của đảng Quốc xã không phải là do một số ít lãnh đạo xấu xa gây ra, mà do đám đông binh lính và viên chức bình thường, trong đó có nhiều người giờ đây là viên chức cấp cao của chính phủ Tây Đức, đã thực thi mệnh lệnh của chế độ Quốc xã, và do đó phạm phải những tội ác chống lại loài người. Những nỗ lực của Bauer từ đó đã hình thành một bối cảnh cần thiết cho các cuộc nổi dậy của sinh viên Đức vào năm 1968, sẽ được thảo luận dưới đây.

Sự thay đổi trong quan điểm của người Đức về thời kỳ Quốc xã sau khi tôi đến sống ở Đức phơi bày rõ ràng đến tàn nhẫn với tôi bằng một trải nghiệm 21 năm sau đó, năm 1982. Vào năm này, vợ tôi Marie và tôi đi nghỉ ở Đức. Khi chúng tôi đang lái xe trên đường cao tốc liên bang đến gần Munich, một biển báo trên cao tốc chỉ đường rẽ vào một vùng ngoại ô gọi là Dachau, địa điểm của một trại tập trung Quốc xã hồi trước (tiếng Đức gọi tắt là KZ) mà người Đức đã biến thành một bảo tàng. Vợ chồng tôi chưa bao giờ đi thăm một địa điểm KZ nào. Nhưng chúng tôi không ngờ rằng một trưng bày bảo tàng “thuần túy” lại tác động đến chúng tôi đến thế sau những gì chúng tôi đã biết về các KZ qua những câu chuyện của bố mẹ Marie (những người sống sót từ trại tập trung) và những bộ phim tài liệu được xem hồi thơ ấu. Đặc biệt không như điều chúng tôi mong chờ từ những giải thích (hay chỉ giải thích mù mờ) của những người Đức về các trại tập trung của họ.

Chuyến ghé thăm Dachau của chúng tôi thực sự là một trải nghiệm khó chịu – chí ít thì nó cũng tác động mạnh ngang với chuyến đi sau đó của chúng tôi đến trại tập trung Auschwitz rộng lớn hơn và nổi tiếng hơn, cũng là một trưng bày nhưng không phải do người Đức, vì nó nằm trên đất Ba Lan. Những bức ảnh và bài viết bằng tiếng Đức mô tả và giải thích trại tập trung Dachau và lịch sử của nó một cách sinh động: đảng Quốc xã vươn đến quyền lực vào năm 1933, sự bức hại của Quốc xã đối với người Do Thái và người Đức không theo đảng Quốc xã trong thập niên 1930, những bước tiến đến chiến tranh của Hitler, hoạt động của trại tập trung Dachau, và hoạt động của hệ thống các trại giam còn lại của Quốc xã. Và không trốn tránh trách nhiệm của người Đức, sự trưng bày này minh họa cho phương châm của Fritz Bauer “Người Đức giữ quyền phán xét chính họ.”

Những gì vợ chồng tôi nhìn thấy ở Dachau hồi đó là một phần của những gì mà mọi trẻ em Đức chứng kiến từ thập niên 1970 trở đi. Chúng được dạy đầy đủ chi tiết về những hành động tàn bạo của chế độ Quốc xã, và nhiều học sinh trong các dịp dã ngoại đã được đưa đến những trại tập trung trước đây, như Dachau chẳng hạn, mà bây giờ đã biến thành những nơi trưng bày chứng tích. Việc một quốc gia chấp nhận đối mặt với những tội ác trong quá khứ không phải là một điều dễ dàng. Thực sự, tôi không thấy có đất nước nào nhận trách nhiệm từ xa một cách nghiêm túc như nước Đức đến thế. Học sinh ở Indonesia vẫn không được dạy về những vụ thảm sát năm 1965 (Chương 5); lớp trẻ Nhật Bản mà tôi quen kể với tôi rằng họ không được dạy gì về những tội ác chiến tranh của Nhật (Chương 8); và việc dạy cho học sinh chi tiết tàn nhẫn về tội ác chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, cũng như tội ác đối với người châu Mỹ bản địa và nô lệ châu Phi, cũng không phải là chính sách quốc gia ở Mỹ. Năm 1961, chắc chắn là tôi không thấy sự thừa nhận của người Đức về quá khứ đen tối của đất nước họ. Ở chừng mực mà người ta có thể xem một năm đơn thuần dưới đây là mốc chia rẽ mang tính biểu tượng đối với nước Đức về vấn đề này, thì đó là – như chúng ta sẽ thấy – năm 1968.

Những cuộc nổi loạn và phản kháng, đặc biệt từ giới sinh viên, lan tràn trên khắp thế giới tự do vào thập niên 1960. Chúng bắt đầu ở Mỹ với Phong trào Quyền Dân sự, chống Chiến tranh Việt Nam, Phong trào Tự do Phát biểu ở trường Berkeley thuộc Đại học California, và phong trào được gọi là Sinh viên đòi một Xã hội Dân chủ. Sự phản kháng trong giới sinh viên cũng lan rộng ở Pháp, Anh, Nhật, Ý và Đức. Những phản kháng ở các quốc gia này cũng như ở Mỹ một phần tiêu biểu cho sự đối kháng của thế hệ trẻ đối với thế hệ đi trước. Nhưng sự đối kháng giữa các thế hệ lại tạo ra một tính bạo lực đặc biệt ở Đức vì hai lý do. Đầu tiên, sự dính dáng đến Quốc xã của thế hệ đi trước có nghĩa rằng hố ngăn cách giữa thế hệ trẻ và thế hệ già ở Đức còn sâu hơn ở Mỹ. Thứ nhì, thái độ độc đoán trong xã hội truyền thống Đức đã khiến các thế hệ này khinh miệt lẫn nhau. Trong khi những đối kháng dẫn đến sự nới rộng tự do đang phát triển ở Đức trong suốt thập niên 1960, thì cái van xả của những đối kháng này lại xuất hiện vào năm 1968 (Ảnh 6.4). Vậy tại sao lại là năm 1968?

Không chỉ ở Đức, mà cả ở Mỹ, những thế hệ khác nhau có những trải nghiệm khác nhau và có những tên gọi khác nhau. Ở Mỹ, chúng ta nói một cách công khai về những thế hệ được xác định: thời kỳ bùng nổ trẻ sơ sinh (Baby Boomer), thế hệ X (Gen X), thế hệ Y (Millennials) v.v. Nhưng những thay đổi từ năm này sang năm khác ở Đức lại nhanh hơn và sâu xa hơn ở Mỹ. Khi bạn mới quen biết một người Mỹ, và bạn cùng người bạn này trao đổi với nhau về tiểu sử đời mình, có thể bạn không bắt đầu bằng câu nói: “Tôi sinh năm 1945, và chỉ biết rằng sự kiện này sẽ giúp bạn hình dung được nhiều về cuộc sống và hành xử của tôi mà không cần tôi phải kể cho bạn làm gì.” Nhưng người Đức sẽ bắt đầu nói về họ những câu đại loại như sau: “Ich bin Jahrgang 1945,” nghĩa là “Năm sinh của tôi là 1945.” Đó là vì mọi người Đức đều biết rằng những công dân như họ có những trải nghiệm sống rất khác nhau, tùy thuộc vào thời điểm họ sinh ra và lớn lên.

Những ví dụ này là trải nghiệm từ những người bạn Đức cùng độ tuổi với tôi, sinh ra vào khoảng năm 1937. Không ai trong số họ lớn lên với những gì mà người Mỹ chúng tôi hay lớp trẻ Đức hiện đại nhận thức như một cuộc sống bình thường. Tất cả họ đều trải qua những điều tồi tệ khi còn bé do hệ quả chiến tranh. Chẳng hạn, trong số sáu người bạn Đức thân thiết của tôi sinh khoảng năm 1937, một người là cô nhi khi cha của bà, một người lính, bị giết; một người chứng kiến từ xa nơi người cha đang ở bị dội bom, dù ông ta vẫn sống sót; một người thì bị tách lìa với cha từ năm bà ta mới một tuổi cho đến năm 11 tuổi do ông ta là một tù nhân chiến tranh; một người mất cả hai anh trai trong chiến tranh; một người sống qua đêm trong suốt những năm thơ ấu của mình ở dưới chân cầu vì thành phố của ông ta bị dội bom hằng đêm khiến việc ngủ trong nhà không an toàn chút nào; và một người hằng ngày được mẹ sai đi ăn cắp than ở một sân ga để làm nhiên liệu sưởi ấm. Do đó, những người bạn Đức của tôi ở Jahrgang 1937 (thế hệ 1937) đã đủ lớn để bị sang chấn tâm lý bởi những hồi ức về chiến tranh, bởi những biến cố cùng sự nghèo đói tiếp nối và bởi việc nghỉ học do trường phải đóng cửa. Nhưng họ cũng không đủ lớn để bị thẩm thấu bởi những quan điểm Quốc xã từ tổ chức thanh niên Quốc xã gọi là Hitler Jugend. Hầu hết đều quá trẻ để đi quân dịch trong quân đội Tây Đức mới thành lập vào năm 1955; Jahrgang 1937 là thế hệ cuối cùng không bị gọi nhập ngũ.

Những sự kiện về trải nghiệm khác nhau của người Đức sinh vào những năm khác nhau giúp giải thích lý do tại sao nước Đức trải qua một cuộc phản kháng đầy bạo lực của giới sinh viên vào năm 1968. Tính bình quân, những người phản kháng vào năm 1968 đều ra đời khoảng năm 1945, ngay khi kết thúc chiến tranh. Họ còn quá trẻ để hấp thụ sự dạy dỗ của chủ nghĩa Quốc xã, hay có trải nghiệm chiến tranh hoặc nhớ lại những năm biến động và đói khổ sau chiến tranh. Đa phần họ lớn lên sau khi nền kinh tế Đức đã phục hồi, vào thời điểm thoải mái về kinh tế. Họ không phải chiến đấu để sống còn; chỉ hưởng thụ sự nhàn rỗi và an toàn để dành thời gian cho việc phản kháng. Vào năm 1968, họ đang ở độ tuổi mới chớm đôi mươi. Họ chỉ là những thiếu niên vào thập niên 1950 và đầu những năm 1960 khi Fritz Bauer khơi dậy những tội ác của Quốc xã mà thế hệ cha mẹ họ, những người Đức bình thường, bị dính vào. Cha mẹ của những kẻ phản kháng sinh năm 1945 chủ yếu sinh ra trong giai đoạn 1905-1925. Điều này có nghĩa là cha mẹ của thế hệ 1945 ở Đức đều bị con cái cho là lớp người bỏ phiếu cho Hitler, tuân phục Hitler và chiến đấu cho ông ta, hay bị thấm nhuần niềm tin vào đảng Quốc xã bởi những tổ chức đào tạo thanh niên của Hitler.

Mọi thiếu niên đều có thiên hướng phê phán và thách thức các bậc cha mẹ. Như thập niên 1960, khi Fritz Bauer công bố những thông tin của mình, hầu hết những bậc cha mẹ của lớp trẻ sinh vào năm 1945 không nói gì về những thời gian sống dưới chế độ Quốc xã mà chỉ chúi đầu vào thế giới của công việc cùng phép màu kinh tế thời hậu chiến. Nếu một đứa trẻ có hỏi, “Bố mẹ, các người đã làm gì dưới thời Quốc xã?”, bố mẹ nó sẽ trả lời con cái cùng những phản ứng tương tự như lớp người Đức lớn tuổi muốn nói với tôi vào năm 1961: “Lớp trẻ các bạn không hiểu được sống dưới một nhà nước toàn trị sẽ như thế nào đâu; người ta không chỉ hành động theo đức tin của mình được.” Và dĩ nhiên lời biện hộ đó đã không làm lớp trẻ hài lòng.

Kết quả là người Đức sinh khoảng năm 1945 không còn tín nhiệm cha mẹ mình và thế hệ của họ, những người từng theo Quốc xã. Điều này lý giải tại sao những cuộc đối kháng của sinh viên ở Ý và Nhật, hai nước xâm lược ở Thế chiến II, cũng có hình thức bạo động. Ngược lại, các bậc cha mẹ ở Mỹ có con cái sinh năm 1945 không bị xem là tội phạm chiến tranh mà lại được cho là anh hùng chiến tranh trong Thế chiến II. Điều này không có nghĩa là lớp trẻ sinh ra ở thập niên 1960 tại Mỹ kiềm chế việc phê phán cha mẹ hơn lớp trẻ các nước khác, chỉ có nghĩa là họ không thể gạt bỏ cha mẹ vì là tội phạm chiến tranh.

Sự việc đáng nhớ được xem như thời khắc biểu trưng vào năm 1968 tại Đức là hành động của một phụ nữ trẻ không có dòng máu Do Thái tên Beate Klarsfeld (già hơn thế hệ 1945 vài năm) kết hôn với một người Do Thái có người cha bị đưa vào phòng hơi ngạt ở Auschwitz. Vào ngày 7 tháng 11 năm 1968, cô ta hét vào mặt thủ tướng Tây Đức Kurt Kiesinger là “Đồ phát xít!” đồng thời tát vào mặt ông ta, do ông ta từng là một thành viên đảng Quốc xã. Nhưng trong khi sự đồng lõa với tội ác Quốc xã của bậc cha mẹ khiến lớp trẻ sinh khoảng năm 1945 có khuynh hướng khinh miệt các bậc cha mẹ, thì tự thân quá khứ Quốc xã không phải là nguyên nhân duy nhất gây ra những vụ phản kháng ở Đức vào năm 1968. Sinh viên Đức còn phản kháng nhiều thứ khác, tương tự sinh viên Mỹ và phong trào “hippy” năm 1968: Chiến tranh Việt Nam, nhà cầm quyền, cuộc sống trưởng giả, chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc, và đạo đức truyền thống. Thế hệ 1968 ở Đức đánh đồng xã hội tư bản Đức đương thời với chủ nghĩa phát xít, trong khi lớp người lớn tuổi bảo thủ lại gọi những kẻ nổi loạn cánh tả trẻ tuổi là “những đứa con của Hitler,” một sự tái sinh của các tổ chức cuồng tín Quốc xã SA và SS. Nhiều kẻ nổi loạn là những tay cánh tả cực đoan; một số chạy sang Đông Đức rồi gửi tiền bạc và tài liệu về cho các cảm tình viên ở Tây Đức. Lớp người Đức lớn tuổi đáp lại những kẻ nổi loạn như sau: “Được thôi! Cứ sang Đông Đức nếu không thích cuộc sống ở đây!”

Vào năm 1968, giới sinh viên cấp tiến Đức chuyển sang bạo động quyết liệt hơn so với sinh viên Mỹ cùng thời. Một số đến Palestine để được huấn luyện trở thành khủng bố. Một trong các nhóm khủng bố Đức nổi tiếng nhất tự nhận là phái Hồng quân (Rote Armee Fraktion – RAF), cũng được gọi là nhóm Baader-Meinhof theo tên của hai nhân vật cầm đầu (Ulrike Meinhof và Andreas Baader) đặc biệt khét tiếng. Những kẻ khủng bố bắt đầu với những vụ tấn công đốt phá nhà hàng, rồi tiến đến bắt cóc, đánh bom và giết người. Trong nhiều năm, những nạn nhân họ bắt cóc hay giết hại có cả lãnh đạo của thành phần “kiến lập” nước Đức, như Chánh án Tối cao Pháp viện Tây Berlin, một ứng cử viên chức thị trưởng Tây Berlin, thẩm phán liên bang, chủ tịch ngân hàng Deutsche Bank, và người đứng đầu Hiệp hội Nghiệp chủ Tây Đức. Kết quả là ngay trong hầu hết những người cánh tả Đức cũng cảm thấy mình đang trong tình trạng nguy hiểm do bạo lực của phe cánh tả cấp tiến, nên rút lại mọi hỗ trợ. Chủ nghĩa khủng bố ở Tây Đức lên cao trào trong giai đoạn 1971-1977, và đạt đến cực điểm vào năm 1977 khi Andreas Baader cùng hai lãnh tụ của RAF tự sát trong tù sau thất bại trong một vụ khủng bố nhằm giải thoát mấy tay khủng bố cướp chiếc máy bay của hãng hàng không Lufthansa. Vẫn còn hai làn sóng khủng bố diễn ra tiếp đó cho đến khi RAF tuyên bố giải thể vào năm 1998.

Vụ đối kháng của giới sinh viên Đức năm 1968 đôi khi được mô tả như là “một thất bại thành công.” Nghĩa là tuy những kẻ cực đoan trong giới sinh viên thất bại ở mục tiêu thay thế chủ nghĩa tư bản bằng một hệ thống kinh tế khác và nhằm lật đổ chính phủ dân chủ Tây Đức, họ vẫn gián tiếp đạt được một số mục đích, vì nhiều phần trong nghị trình của họ được chính phủ Tây Đức bám lấy, và nhiều ý tưởng của họ được xã hội chủ lưu của Đức áp dụng. Đổi lại, những người cấp tiến thời kỳ 1968 sau này nổi lên ở những vị trí chính trị hàng đầu trong Đảng Xanh ở Tây Đức – chẳng hạn như Joschka Fischer, người sau khi đóng vai trò tích cực của một nhân vật cấp tiến, rồi trở thành một nhân vật thời thượng và trở thành bộ trưởng rồi phó thủ tướng Tây Đức.

Xã hội truyền thống Đức từng độc đoán về mặt chính trị và xã hội. Những tính cách này vốn hiện hữu từ rất lâu trước thời Hitler, thể hiện rõ ràng trong xã hội Quốc xã với việc nhấn mạnh vào “Fuhrerprinzip” hay “nguyên tắc lãnh đạo.” Không chỉ riêng Hitler mới chính thức được xem là “Fuhrer” (lãnh tụ) mà mọi người dân Đức thề tuân phục vô điều kiện về mặt chính trị; mà còn sự tuân phục về mặt xã hội cũng như chính trị đối với các lãnh đạo ở mọi lĩnh vực và cấp độ trong đời sống nước Đức thời Quốc xã.

Mặc dù việc nước Đức bị đánh bại tan tác trong Thế chiến II đã gây ra sự mất lòng tin của người Đức vào chế độ độc đoán, nhưng giới tinh hoa xưa cũ và tư duy của họ vẫn tồn tại sau Thế chiến II. Sau đây là một số ví dụ điển hình không dính dáng đến chính trị mà tôi chứng kiến trong thời gian ở Đức năm 1961. Việc dùng đòn roi với con cái hồi đó vẫn phổ biến, không chỉ được công nhận mà còn được xem là nghĩa vụ của bậc làm cha mẹ hồi đó. Tôi làm việc trong một viện nghiên cứu khoa học Đức mà viên giám đốc hoàn toàn tự mình đưa ra những quyết định kiểm soát công việc của 120 nhà khoa học trong viện. Chẳng hạn, để có được một công việc giảng dạy đại học ở Đức thì ngoài bằng tiến sĩ đòi hỏi phải có một học vị gọi là “Habilitation.” Nhưng vị giám đốc của tôi mỗi năm chỉ cho phép một người trong số 120 nhân viên đạt được học vị này, và do đích thân ông ta lựa chọn. Bất kỳ đi đến đâu – trên đường phố, thảm cỏ, trường học, các tòa nhà riêng hay công cộng – đều có những bảng cấm (verboten) hoặc chỉ dẫn nên và không nên làm gì. Một buổi sáng, khi một trong những đồng nghiệp Đức của tôi đến chỗ làm, mặt mày trông giận dữ chỉ vì tối hôm trước, khi về nhà ông ta trông thấy bãi cỏ phía trước khu căn hộ của mình, vốn là nơi chơi đùa của lũ trẻ, bị vây lại bằng dây kẽm gai (vết tích gắn liền với các trại tập trung ở Đức). Khi người bạn của tôi phản ứng với người quản lý tòa chung cư, người này trả lời không chút phân trần: “Việc dẫm lên cỏ bị cấm (Betreten des Rasens verboten), nhưng mấy đứa trẻ hư hỏng (verwohnte Kinder) lại đi trên cỏ, do đó tôi cảm thấy được quyền (ich fuhlte mich berechtigt) ngăn chặn chúng làm thế bằng cách dựng hàng rào kẽm gai (Stacheldraht).”

Hồi tưởng lại, thái độ và hành vi độc đoán ở Đức chỉ bắt đầu thay đổi ngay sau thời điểm tôi đến nước này năm 1961. Một ví dụ nổi tiếng là vụ tờ báo Spiegel năm 1962. Khi tuần báo Der Spiegel, vốn thường hay phê phán chính phủ quốc gia, tung ra một bài viết đặt vấn đề về sức mạnh của quân đội Đức (Bundeswehr), Bộ trưởng Quốc phòng Franz Josef Strauss dưới thời nội các của thủ tướng Adenauer đã phản ứng một cách ngạo mạn độc đoán bằng việc bắt giữ những biên tập viên của tờ báo này và thu giữ hồ sơ tài liệu của họ, quy cho tội bị tình nghi phản quốc. Sự việc này gây ra phản đối kịch liệt của công chúng, thúc ép chính phủ phải bãi bỏ sự trừng trị này và buộc Strauss từ chức. Tuy vậy, Strauss vẫn giữ quyền lực, phục vụ với tư cách người đứng đầu bang Bavaria giai đoạn 1978-1988, và chạy đua vào vị trí thủ tướng Đức năm 1980 (nhưng thất bại).

Sau năm 1968, những khuynh hướng tự do dần phát triển mạnh mẽ hơn. Vào năm 1969 chúng đã tạo ra kết quả là sự thất bại của đảng bảo thủ cùng các liên minh vốn cầm quyền liên tục trong suốt 20 năm. Ngày nay, xã hội Đức có nhiều tự do hơn năm 1961. Không còn việc dùng đòn roi với trẻ em; thực ra, bây giờ việc này bị nghiêm cấm theo luật định. Việc ăn mặc thông thoáng hơn, vai trò của phụ nữ cũng bớt đi sự thiếu bình đẳng (cứ xem sự phục vụ lâu dài của thủ tướng Angela Merkel), và việc dùng đại từ thông tục “Du” (chỉ ngôi thứ hai) ngày càng phổ biến thay cho đại từ mang tính trang trọng “Sie” ngày nay ít được sử dụng.

Nhưng đến nay tôi vẫn bị ấn tượng trước những biển “cấm” (verboten) mỗi khi đến Đức. Những người bạn Đức của tôi từng có những trải nghiệm khác nhau ở Mỹ thì hoặc là đánh giá nước Đức ngày nay ít độc đoán hơn Mỹ, hoặc kể cho tôi những mẩu chuyện kinh khủng về thái độ ứng xử theo tôn ti trật tự của người Đức hiện thời. Và ngược lại, khi tôi hỏi những du khách Mỹ từng đến Đức rằng họ có cảm thấy đất nước này độc đoán hay không, thì cũng nhận được hai kiểu trả lời, tùy thuộc vào độ tuổi của người được hỏi. Những du khách trẻ hơn, sinh vào thập niên 1970 hoặc sau đó, không có trải nghiệm về nước Đức ở thập niên 1950, theo bản năng so sánh nước Đức ngày nay với nước Mỹ ngày nay và cho rằng xã hội Đức vẫn độc đoán. Trong khi đó, những người lớn tuổi ngang tôi, vốn đã có trải nghiệm về nước Đức vào (cuối) thập niên 1950, lại so sánh nước Đức ngày nay và nước Đức của thập niên 1950, và cho rằng nước Đức ngày nay ít độc đoán hơn nhiều so với trước đó. Tôi nghĩ rằng cả hai sự so sánh này đều chính xác.

Thành quả êm thấm của chính phủ đối với nhiều mục tiêu của bạo lực trong giới sinh viên năm 1968 được khởi phát dưới thời thủ tướng Tây Đức Willy Brandt. Sinh năm 1913, ông buộc phải đào tị khỏi chế độ Quốc xã vì quan điểm chính trị, và trải qua những năm chiến tranh ở Na Uy và Thụy Điển. Năm 1969, ông trở thành vị thủ tướng cánh tả đầu tiên với tư cách người đứng đầu đảng Dân chủ Xã hội (SPD) sau 20 năm liên tục cầm quyền của các đời thủ tướng bảo thủ thuộc Liên minh Dân chủ Ki-tô giáo (CDU) của Konrad Adenauer. Dưới thời Brandt, nước Đức bắt đầu những cải cách xã hội, trong đó có việc chính phủ theo đuổi những mục tiêu của giới sinh viên, chẳng hạn như làm nước Đức giảm đi tính độc đoán và khuyến khích nữ quyền.

Nhưng những thành tựu lớn nhất của Brandt là ở phương diện đối ngoại. Dưới thời kỳ lãnh đạo của giới bảo thủ Tây Đức trước đó, chính quyền đã phủ nhận tính hợp pháp của sự tồn tại một chính quyền Đông Đức, và cứ khăng khăng rằng Tây Đức là đại diện hợp pháp duy nhất cho nhân dân Đức. Đất nước này không có quan hệ ngoại giao với bất kỳ quốc gia theo cộng sản nào ở Đông Âu ngoài Liên Xô. Tây Đức cũng khước từ công nhận sự mất mát trên-thực-tế toàn bộ lãnh thổ Đức phía đông sông Oder và sông Neisse: Đông Phổ thuộc Liên Xô và phần còn lại của Ba Lan.

Nhưng Brandt đã áp dụng một chính sách mới, đảo ngược tất cả những phủ nhận trước đó. Ông ký một hiệp ước với Đông Đức và thiết lập quan hệ ngoại giao với Ba Lan cũng như với các nước thuộc khối Đông Âu. Ông công nhận tuyến sông Oder-Neisse là đường biên giới Ba Lan-Đức, và do đó cũng chấp nhận việc không thể thu hồi mọi lãnh thổ của Đức đã mất ở phía đông đường biên giới này, bao gồm những vùng đất từ lâu đã đồng nhất và trực thuộc Đức: tỉnh Silesia và những phần đất thuộc đế quốc Phổ cùng với vùng Pomerania. Việc từ bỏ này là một bước đi lớn lao và trở thành một viên thuốc đắng không nuốt trôi được đối với đảng CDU bảo thủ, khiến họ tuyên bố rằng sẽ bác bỏ hiệp ước nếu trở lại cầm quyền trong cuộc bầu cử năm 1972. Nhưng cử tri lại tán thành việc chính phủ của Brandt nuốt trôi viên thuốc đắng đó, và đảng của Brandt lại thắng trong cuộc bầu cử năm 1972 với đa số phiếu gia tăng.

Thời khắc kịch tính nhất trong sự nghiệp của Brandt xảy ra khi ông đi thăm Warsaw, thủ đô Ba Lan, năm 1970. Ba Lan từng là đất nước có tỉ lệ người chết cao nhất trong Thế chiến II. Đây cũng là nơi tập trung những trại thủ tiêu lớn nhất của Quốc xã. Nên người Ba Lan có lý do để coi người Đức như là những tay Quốc xã không bao giờ biết ăn năn. Trong chuyến đi của ông đến Ba Lan vào ngày 7 tháng 12 năm 1970, Brandt đến thăm khu Warsaw Ghetto, nơi xảy ra cuộc nổi dậy không thành công của người Do Thái chống lại sự chiếm đóng của Đức Quốc xã vào tháng 4 và tháng 5 năm 1943. Trước mặt đám đông người Ba Lan, Brandt đột nhiên quỳ xuống bày tỏ lòng tri ân đến hàng triệu nạn nhân của Quốc xã và cầu xin sự tha thứ đối với nền độc tài của Hitler và Thế chiến II (Ảnh 6.5). Ngay cả những người Ba Lan vốn không tin người Đức lắm cũng công nhận thái độ ứng xử của Brandt không phải là dàn cảnh mà chân thực và có ý nghĩa sâu xa. Trong thế giới của những phát ngôn mang tính ngoại giao không cảm xúc, được soạn kịch bản chu đáo của ngày hôm nay, thì việc Brandt quỳ xuống ở Warsaw Ghetto nổi lên như lời xin lỗi chân thành của lãnh đạo một đất nước gửi đến người dân của một đất nước khác vốn phải gánh chịu những tổn thất lớn lao. Ngược lại, các bạn hãy nghĩ đến những nhà lãnh đạo không chịu quỳ gối và xin lỗi: các đời tổng thống Mỹ đối với người Việt Nam, các đời thủ tướng Nhật đối với người Triều Tiên và Trung Hoa, Stalin đối với người Ba Lan và Ukrain, de Gaulle đối với người Algerie và những nhà lãnh đạo khác.

Thành quả chính trị đối với Tây Đức từ hành động của Brandt chỉ đạt được 20 năm sau chuyến viếng thăm Warsaw Ghetto của ông và rất lâu sau khi Brandt từ chức thủ tướng vào năm 1974. Ở thập niên 1970 và 1980 chỉ còn một điều mà các thủ tướng Tây Đức chưa trực tiếp thực hiện được là đem đến sự tái thống nhất Tây Đức và Đông Đức. Hai vị thủ tướng kế nhiệm Brandt, Helmut Schmidt của đảng SPD và sau đó là Helmut Kohl của đảng CDU, cả hai đều tiếp tục các chính sách của Brandt là giao thương với Đông Đức, tìm kiếm sự hòa giải với các nước Đông Âu và vun đắp mối quan hệ riêng tư tốt đẹp với lãnh đạo các quốc gia quan trọng ở cả hai bên Bức màn Sắt. Mỹ và Tây Âu đã đi đến kết luận rằng Tây Đức giờ đây được xem là một nước dân chủ và là một đồng minh đáng tin cậy. Liên Xô và các đối tác thuộc khối Đông Âu giờ đây cũng kết luận rằng Tây Đức có giá trị như một đối tác thương mại quan trọng và không còn là mối lo về đe dọa quân sự hay lãnh thổ nữa.

Hiệp ước của Brandt và những thỏa thuận sau đó của Schmidt và Kohl giữa hai miền nước Đức đã cho phép hàng trăm ngàn người dân Tây Đức vào Đông Đức thăm viếng và một số nhỏ người dân Đông Đức sang thăm Tây Đức. Giao thương giữa hai miền đất nước phát triển. Thêm vào đó, người dân Đông Đức có thể xem đài truyền hình Tây Đức, giúp họ so sánh mức sống cao và phát triển ở Tây Đức với mức sống thấp và suy trầm ở Đông Đức. Những khó khăn về mặt chính trị ở ngay Liên Xô cũng lớn dần khiến họ ngày càng ít áp đặt ý muốn của mình lên các nước trong khối Đông Âu. Trái ngược với bối cảnh đó, khởi đầu cho việc kết thúc nhà nước Đông Đức là một bước đi hoàn toàn nằm ngoài sự kiểm soát của cả Tây và Đông Đức: vào ngày 2 tháng 5 năm 1989, Hungary, một nước thuộc khối Đông Âu cách Đông Đức về phía bắc bởi một quốc gia thuộc khối Đông Âu khác (Tiệp Khắc), quyết định dỡ bỏ hàng rào biên giới chia cách phía tây nước này với nước Áo, một quốc gia dân chủ phương Tây có biên giới chung với Tây Đức. Rồi bốn tháng sau đó, Hungary chính thức mở cửa biên giới, hàng ngàn người dân Đông Đức nắm lấy cơ hội này để đào thoát sang phương Tây qua Tiệp Khắc và Hungary. (Thời điểm mở cửa biên giới chính thức này là ngày 11 tháng 9, trùng hợp với thời điểm xảy ra vụ đảo chính năm 1973 của Pinochet ở Chile và vụ tấn công Trung tâm Thương mại Thế giới năm 2001 ở Mỹ.) Chẳng bao lâu sau, hàng trăm ngàn người dân Đông Đức chống đối chính quyền tràn ngập các đường phố ở Leipzig, rồi lan sang các thành phố khác. Chính quyền Đông Đức dự định đối phó bằng việc tuyên bố nước này sẽ cấp phép đi thẳng đến Tây Đức. Tuy nhiên, phát ngôn viên trên truyền hình lại vụng về loan báo rằng chính phủ cho phép đến Tây Đức “ngay tức thì.” Đêm đó (ngày 9 tháng 11 năm 1989), hàng ngàn người dân Đông Đức nắm lấy cơ hội để lập tức vượt sang Tây Berlin mà không bị lính canh phòng biên giới cản trở.

Tuy thủ tướng Tây Đức lúc đó là Helmut Kohl không tạo ra việc mở cửa này, nhưng ông biết cách khai thác việc này một cách cẩn trọng. Vào tháng 5 năm 1990, ông dàn xếp một hiệp định thống nhất về phúc lợi kinh tế và xã hội (nhưng chưa bàn đến thống nhất về mặt chính trị) giữa Đông Đức và Tây Đức. Ông làm việc này một cách cần mẫn và khôn khéo để xoa dịu việc phương Tây và Liên Xô không sẵn lòng chấp nhận nước Đức tái thống nhất. Chẳng hạn, trong cuộc gặp quan trọng với tổng thống Liên Xô Gorbachev, ông đề xuất một gói viện trợ tài chính lớn cho Liên Xô đồng thời thuyết phục để Gorbachev không những không phản đối việc tái thống nhất nước Đức mà còn để nước Đức tái thống nhất vẫn tiếp tục nằm trong khối NATO. Vào ngày 3 tháng 10 năm 1990, Đông Đức giải thể và các vùng đất của nó nhập vào (Tây) Đức thành những bang mới (Bundeslander).

Chúng ta có thể bàn luận về lịch sử nước Đức thời hậu chiến một cách thuận lợi nếu như tóm tắt nó trong chương này theo cùng một bộ khung áp dụng cho việc bàn luận về bốn quốc gia từ Chương 2 đến Chương 5 hay không? Lịch sử nước Đức thời hậu chiến dường như rất khác biệt. Lịch sử của tất cả bốn quốc gia từ Chương 2 đến chương 5 đều được ghi dấu bởi một biến cố đơn lẻ bất thần nổ ra trong một ngày: sự xuất hiện của Phó đề đốc Perry trong vịnh Nhật Bản vào ngày 8 tháng 7 năm 1853, cuộc tấn công của Liên Xô vào Phần Lan ngày 30 tháng 11 năm 1939, vụ đảo chính của Pinochet ở Chile ngày 11 tháng 9 năm 1973 và nỗ lực đảo chính ở Indonesia ngày 1 tháng 10 năm 1965. Ngược lại, không có bất kỳ sự bùng phát đơn lẻ nào nổ ra ở nước Đức thời hậu chiến, mà thay vào đó họ lại trải qua một số thách thức chồng lấn và dần lộ ra từ năm 1945 đến năm 1990. Chúng ta sẽ thấy ở chương kế (Chương 7) rằng những sự kiện thời hậu chiến ở Úc cũng đi theo hình mẫu tiệm tiến như ở Đức và khác với hình mẫu bùng nổ như đã thấy từ Chương 2 đến Chương 5. Vậy việc mở rộng thuật ngữ “biến cố” từ những trường hợp bùng nổ sang những trường hợp tiệm tiến có gây hiểu lầm hay không?

Thực ra, không có tuyến phân chia rõ ràng giữa hai trường hợp này: những khác biệt giữa chúng chỉ là về mức độ. Nước Đức trải qua những tai ương đột ngột, thực ra là ba đợt tai ương chứ không chỉ là một tai ương đơn lẻ. Đầu tiên, hoàn cảnh bị tàn phá vào thời điểm nước Đức đầu hàng ngày 7 và 8 tháng 5 năm 1945 đặt ra biến cố tồi tệ nhất phải đối mặt đối với bất kỳ quốc gia nào được bàn luận trong cuốn sách này. Sự kiện dựng bức tường Berlin vào ngày 13 tháng 8 năm 1961 và những cuộc phản kháng của giới sinh viên đạt đỉnh điểm vào những tháng trong năm 1968, đại diện cho hai biến cố khác nữa. Ngược lại, việc Perry đến Nhật Bản và vụ đảo chính của Pinochet ở Chile rõ ràng không phải là những sự kiện tách biệt bất ngờ xảy ra trong ngày một ngày hai. Thay vào đó, chúng là những cực điểm phát triển vốn đã kéo dài qua nhiều thập niên trước đó, và giải pháp đưa ra (từng phần) phải mất nhiều thập niên sau đó: cả hai điều trình bày này cũng áp dụng cho lịch sử nước Đức thời hậu chiến. Ở những trang kế tiếp chúng ta sẽ thấy rằng các nhân tố nổi lên với cái gọi là “biến cố quốc gia sâu sắc” ở chương 2 đến chương 5 cũng tương tự như những nhân tố trong cái gọi là “những biến cố quốc gia tiệm tiến” ở chương này và chương sau.

Do đó, tôi thấy việc xem xét cả hai nhóm lịch sử trong cùng một khung biến cố là hữu ích. Đặc biệt, lịch sử nước Đức thời hậu chiến không chỉ minh họa cho hầu hết các nhân tố trong khung biến cố của chúng ta, mà nó còn minh họa thêm bốn nhân tố ở mức độ cực đoan. Chúng ta hãy bắt đầu việc thảo luận về bốn đặc trưng này, rồi đến một số đặc trưng ít cực đoan hơn nhưng cũng khá quan trọng.

Điểm cực đoan đầu tiên của nước Đức gồm những ràng buộc về mặt địa lý (nhân tố số 12, Bảng 1.2) áp đặt lên khả năng thực hiện thành công những giải pháp một cách độc lập, Thay vào đó, phải chờ đợi những cơ hội thích hợp nảy sinh từ hành động của các nước khác.

Trong số sáu nước được bàn luận từ Chương 2 đến Chương 7, chỉ có Phần Lan là sánh được với Đức về những hạn chế áp đặt lên khả năng của nước này trong việc hành động độc lập. Ý tưởng này ban đầu có vẻ vô lý đối với người ngoài không phải là dân Đức, vốn đã quen với suy nghĩ rằng nước Đức ở thế kỷ 20 chuyên làm điều trái ngược với việc kiềm chế hành động độc lập, mà thay vào đó, lại chọn (dưới thời hoàng đế Wilhelm II và Hitler) những giải pháp ưu tiên về mặt quân sự liều lĩnh dẫn đến hai cuộc thế chiến. Thực vậy, hai cuộc thế chiến đã hỗ trợ cho sự tổng hợp của tôi: cả hai cuộc thế chiến này đều kết thúc một cách thảm khốc cho nước Đức do Wilhelm II và Hitler không đợi chờ những cơ hội thích hợp mà lại chọn các giải pháp hành động, tạo ra những hậu quả khủng khiếp.

Để hiểu rõ những ràng buộc về mặt địa lý đối với các giải pháp của nước Đức, chỉ cần nhìn vào bản đồ hiện hành ở đầu chương này cùng những bản đồ lịch sử châu Âu gần đây. Ngày nay, Đức có đường biên giới chung với chín quốc gia (Hà Lan, Bỉ, Luxembourg, Pháp, Thụy Sĩ, Áo, Cộng hòa Séc, Ba Lan và Đan Mạch), trong khi bờ biển Bắc và biển Baltic lại tiếp giáp với tám nước khác (Anh, Na Uy, Thụy Điển, Phần Lan, Nga, Estonia, Latvia và Lithuania). Ngoài ra, Đức còn có thêm ba quốc gia láng giềng trên đất liền khi sáp nhập thêm nước Áo vào năm 1938 (Ý, Nam Tư và Hungary) và thêm một quốc gia láng giềng (Lithuania) giữa giai đoạn 1918-1939. Một số nước này hình thành một phần của hai vùng đất rộng lớn bên cạnh (Nga và đế chế Habsburg) cho đến trước năm 1918. Việc này tạo ra đến 20 láng giềng lịch sử của Đức (nếu chỉ tính mỗi thực thể lịch sử một lần thay vì tính hai lần những láng giềng trên đất liền và trên biển, hoặc những quốc gia thừa kế từ trước và hiện tại). Trong số 20 láng giềng này, có đến 19 nước, ngoại trừ Thụy Sĩ đều bị Đức xâm lấn, tấn công bằng đường biển hoặc bị quân đội Đức trú đóng hoặc làm điểm trung chuyển (Thụy Điển), hay bị Đức xâm lăng trong giai đoạn 1866-1945. Năm trong số 20 nước láng giềng này đều là hay từng là những quốc gia hùng mạnh (Pháp, Nga, đế chế Habsburg, Anh và Thụy Điển trước kia).

Không chỉ nước Đức mới có láng giềng. Hầu hết các nước cũng có, nhưng biên giới giữa các nước láng giềng thường đồng thời cũng có những chướng ngại vật về mặt địa lý để bảo vệ. Nhưng miền bắc Đức lại là một phần của Bình nguyên Bắc Âu bằng phẳng (Ảnh 6.6), vốn không bị phân tách bởi chướng ngại vật phòng vệ tự nhiên nào: không có các rặng núi (như rặng Pyrenees ngăn cách Tây Ban Nha với Pháp, hay rặng Alps bao quanh Ý), mà chỉ có những con sông hẹp dễ vượt qua bởi các binh đội nước ngoài trong suốt chiều dài lịch sử. (Ngay cả sông Rhine cũng không phải là một chướng ngại vật đúng nghĩa.) Chẳng hạn, khi tôi cùng Marie, người vợ Mỹ gốc Ba Lan của mình, bay từ Berlin đến Warsaw, Marie, vốn có tính khôi hài đen cho phép người Ba Lan giữ được sự sáng suốt xuyên suốt trong lịch sử, từ máy bay nhìn xuống vùng bình nguyên bằng phẳng có thể thấy hai nước Đức và Ba Lan trộn lẫn vào nhau, rồi đưa ra nhận xét: “Địa thế tuyệt vời cho một trận chiến xe tăng!” Cô ấy đang nghĩ đến những chiếc xe tăng tiến vào Ba Lan năm 1939. Nhưng một người Đức có suy nghĩ về lịch sử thì có lẽ sẽ nghĩ đến các đạo quân đang tiến vào miền bắc nước Đức từ phía đông và phía tây, bao gồm Liên Xô và Đồng minh trong Thế chiến II, quân đội của Napoleon hai thế kỷ trước đó và nhiều đạo quân trước đó nữa.

Đối với tôi, vị trí địa lý trung tâm của Đức bị bao quanh bởi các nước láng giềng xem ra là nhân tố quan trọng nhất trong lịch sử nước Đức. Dĩ nhiên, vị trí đó không phải là không có những thuận lợi: nó biến nước Đức thành một ngã tư giao thương, công nghệ, nghệ thuật, âm nhạc và văn hóa. Một người yếm thế sẽ ghi nhận rằng vị trí của nước Đức cũng tạo thuận lợi cho việc nước này xâm lược nhiều quốc gia trong Thế chiến II.

Nhưng những bất lợi về mặt chính trị và quân sự đối với vị trí của Đức cũng lớn. Cuộc chiến Ba mươi năm, một cuộc chiến tôn giáo và giành quyền lực giữa hầu hết các quốc gia hàng đầu ở Tây Âu và Trung Âu vào thế kỷ 17, chủ yếu diễn ra trên đất Đức, đã làm giảm đến 50% dân số ở đất nước này và gây ra đình đốn kinh tế và chính trị đến tan nát mà hậu quả còn kéo dài đến hai thế kỷ sau. Đức là đất nước rộng lớn cuối cùng ở châu Âu được thống nhất (năm 1871), và sự thống nhất này đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một nhà ngoại giao tài năng (Bismarck) với khả năng xuất chúng để cân nhắc những phản ứng của nhiều cường quốc châu Âu khác. Cơn ác mộng quân sự đối với một nước Đức thống nhất là nguy cơ của một cuộc chiến tranh giữa hai mặt trận với nước láng giềng phía tây (Pháp) và nước láng giềng phía đông (Nga); cơn ác mộng đó đã được cụ thể hóa dẫn đến việc Đức bị đánh bại ở cả hai cuộc thế chiến. Sau Thế chiến II, ba trong số các nước láng giềng, cộng thêm Mỹ, đã phân chia nước Đức. Chính phủ Tây Đức không thể trực tiếp làm gì để đạt được việc tái thống nhất: họ phải chờ đợi những cơ hội thuận tiện thông qua những sự kiện do các quốc gia khác tạo ra.

Những ràng buộc khác nhau về mặt địa lý đồng nghĩa với việc khả năng lãnh đạo tồi gây ra nhiều hậu quả đau thương cho nước Đức hơn hẳn so với những quốc gia ít ràng buộc về mặt địa lý. Chẳng hạn, trong khi Hoàng đế Wilhelm II và các thủ tướng cũng như nội các nước Đức nổi tiếng vì những sai lầm và thiếu thực tế, thì nước Đức cũng không độc quyền về sự lãnh đạo tồi: cả Mỹ lẫn Anh cũng dự phần vào điều này. Nhưng đại dương và biển khơi đã bảo vệ Mỹ và Anh nên những nhà lãnh đạo thiếu khả năng chuyên đưa ra những điều ngớ ngẩn cũng không gây thảm họa cho đất nước họ, trong khi sự thiếu khả năng lãnh đạo của Wilhelm II và các đời thủ tướng của ông ta đã mang đến thảm họa cho nước Đức trong Thế chiến I.

Triết lý dẫn dắt chính sách đối ngoại hiệu quả của các chính trị gia Đức được tóm tắt trong câu nói đầy ẩn dụ của Bismarck: “Con người phải luôn gắng xem Thượng đế sải bước đến đâu trong lịch sử thế giới và Người hướng đến đâu. Rồi nhảy vào và bám chặt bâu áo của Người để được lướt đi càng xa càng tốt.” Đó cũng là chiến lược của thủ tướng Helmut Kohl vào những năm 1989-1990, khi những phát triển về mặt chính trị ở Đông Đức và Liên Xô, sau những sáng kiến của Willy Brandt ở các năm 1969-1974, đã tạo cơ hợi cho nước Đức tái thống nhất. Một chiến lược tương đương trong môn bóng bầu dục là “chờ thời cơ.” Hẳn là nước Anh chưa bao giờ nghĩ đến triết lý này khi ở đỉnh cao sức mạnh của đế chế, cũng như với nước Mỹ ngày nay (trong chính sách đối ngoại chứ không phải trong môn bóng bầu dục); thay vào đó, đế quốc Anh hay nước Mỹ ngày nay chỉ trông chờ vào việc chọn lựa những sách lược ưu tiên để có thể áp đặt ý chí của mình.

Một khía cạnh khác mà trong đó nước Đức ở vị trí thái cực trong số những nghiên cứu trường hợp liên quan đến sự than thân và tư duy biến thành nạn nhân (nhân tố số 2). Đây là một chủ đề đặc biệt sáng tỏ cho thảo luận, vì thực ra nước Đức hình thành không chỉ một mà đến hai thái cực đối nghịch: trong những phản ứng đối nghịch nhau đối với Thế chiến I và Thế chiến II.

Khoảng tháng 10 năm 1918, thời điểm ngắn ngủi trước khi kết thúc Thế chiến I, những cuộc tấn công quân sự cuối cùng của Đức ở mặt trận phía tây thất bại, quân Đồng minh đang đà tiến được tăng cường bởi đạo quân một triệu binh sĩ Mỹ mới nhập cuộc, và việc Đức bại trận chắc chắn chỉ còn là vấn đề thời gian. Nhưng quân đội Đức vẫn tiến hành một cuộc rút lui có trật tự, và phe Đồng minh cũng chưa tiến đến biên giới Đức. Những thỏa thuận đình chiến được đẩy nhanh đến một chung cuộc bởi cuộc binh biến trong hạm đội Đức và những bùng phát nổi loạn có vũ trang ở Đức. Điều này cho phép những kẻ chuyên khích động quần chúng ở Đức thời hậu chiến, đặc biệt là Hitler, cho rằng quân đội Đức không phải bị đánh bại về mặt quân sự mà bị phản bội bởi một “nhát dao đâm sau lưng” của các nhà chính trị dân sự phản trắc. Những điều kiện của Hiệp ước Versailles áp đặt lên nước Đức bởi phe Đồng minh thắng trận, bao gồm một “điều khoản về tội phạm chiến tranh” gán cho Đức là kẻ xâm lược chịu trách nhiệm về cuộc chiến tranh, khích động thêm sự phẫn nộ của dân Đức. Kết quả là tuy nhiều sử gia Đức thời hậu chiến có phân tích về những sai lầm về mặt chính trị của nước Đức thời tiền chiến đã đẩy nước Đức vào cuộc chiến tranh trong những điều kiện bất lợi, nhưng quan điểm phổ biến của công chúng Đức thời hậu chiến vẫn cho rằng nước Đức chỉ là một nạn nhân, với những lãnh đạo không chịu trách nhiệm về nỗi bất hạnh của đất nước họ.

Giờ đây, trái ngược với tư duy biến thành nạn nhân sau Thế chiến I là quan điểm của nước Đức thời hậu chiến sau Thế chiến II. Vào tháng 5 năm 1945, quân đội Đức bị đánh bại trên khắp các mặt trận, toàn bộ nước Đức bị quân đội Đồng minh chiếm đóng và phải đầu hàng vô điều kiện. Không một người Đức hay người nước ngoài nào phủ nhận việc Thế chiến II xảy ra ở châu Âu chỉ do ý muốn của một mình Hitler. Người dân Đức dần dần hiểu ra những sự dã man chưa từng có tiền lệ mà chính sách của chính phủ Đức phạm phải trong các trại tập trung và của quân đội Đức ở mặt trận phía Đông. Bản thân những thường dân Đức cũng phải gánh chịu đau khổ: đặc biệt trong các cuộc dội bom ở Hamburg, Dresden và những thành phố khác của Đức, trong việc trốn chạy trước đà tiến của quân đội Liên Xô, và trong việc trục xuất những cư dân Đức bản địa sống ở Đông Âu và vùng lãnh thổ phía đông nước Đức trước đây bởi chính quyền Ba Lan, Tiệp Khắc và các nước Đông Âu khác ngay sau khi kết thúc chiến tranh. Sự tiến quân của Liên Xô và việc trục xuất ước tính đã khiến 12 triệu thường dân Đức phải chạy nạn, giết chết hơn hai triệu người trong số đó và khoảng một triệu phụ nữ Đức bị cưỡng hiếp.

Những đau khổ của thường dân Đức nhận được một số quan tâm ở Đức thời hậu chiến. Nhưng sự than trách và tư duy biến thành nạn nhân không thống ngự quan điểm của người Đức sau Thế chiến II như đã từng xảy ra sau Thế chiến I. Một phần của lý do này là vì người Đức nhận thức rằng những điều khủng khiếp mà người Nga, người Ba Lan hay Tiệp Khắc gây ra cho thường dân Đức chính là hậu quả mà trước đó người Đức vừa gây ra cho các nước này. Nhưng chúng ta không nên xem việc người Đức cự tuyệt vai trò nạn nhân và thừa nhận sự hổ thẹn sau Thế chiến II như một điều hiển nhiên, vì nó trái ngược với việc họ tự nhận là nạn nhân sau Thế chiến I và người Nhật tự nhận như thế ở Thế chiến II (Chương 8). Kết quả của việc nhận phần lỗi đầy đau xót với quá khứ đã dẫn đến thuận lợi cho nước Đức ngày nay dưới hình thái an toàn hơn và quan hệ tốt đẹp hơn với những kẻ thù trước đây hơn là quan điểm của Đức sau Thế chiến I và của Nhật ngày nay.

Thêm hai điểm nữa mà trong đó nước Đức là một trường hợp đặc biệt cho những mục đích được kết nối: vai trò lãnh đạo và sự tự đánh giá trung thực hoặc thiếu những điều đó (nhân tố số 7). Do vị trí địa lý của Đức ở trung tâm châu Âu đã khiến họ thường xuyên bộc lộ những khó khăn và nguy hiểm hơn Anh và Mỹ, vốn được bảo vệ bởi những chướng ngại biển khơi, nên hiệu quả của sự lãnh đạo giỏi hay yếu kém cũng rõ ràng hơn ở Anh hay Mỹ.

Trong số những nhà lãnh đạo tạo ra hiệu quả tồi, Hitler kiêu hãnh giữ vị trí đầu bảng trong lịch sử thế giới gần đây. Dĩ nhiên người ta có thể biện luận rằng những kết hợp từ Hiệp ước Versailles, sự sụp đổ tiền tệ của Đức năm 1923, cùng nạn thất nghiệp và suy thoái kinh tế bắt đầu từ năm 1929 cũng có thể thúc đẩy nước Đức gây chiến để có thể đảo lộn hiệp ước ngay cả khi không có Hitler. Nhưng họ cũng có thể cãi rằng một Thế chiến II do Đức gây ra mà không có Hitler cũng sẽ khác đi. Tính khí xấu xa bất thường, sức thu hút, sự trơ tráo trong chính sách đối ngoại và quyết định thủ tiêu tất cả người Do Thái của Hitler không được các lãnh đạo theo chủ nghĩa xét lại khác ở Đức trong thời kỳ ông ta chia sẻ. Dù có những thành quả quân sự bước đầu, nhưng chính những đánh giá không tưởng đã dẫn đến việc ông ta liên tục không đếm xỉa gì đến ý kiến các tướng lĩnh để cuối cùng gây ra sự thất bại của nước Đức. Những quyết định không tưởng chết người bao gồm việc ông ta vô cớ gây chiến với Mỹ vào tháng 12 năm 1941 trong khi đang có chiến tranh với Anh và Nga, và việc ông ta bỏ qua những yêu cầu khẩn thiết của các tướng lĩnh cho phép rút lui quân đội đang mắc kẹt ở Stalingrad vào các năm 1942-1943.

Nhân vật thứ hai sau Hitler về lãnh đạo yếu kém trong lịch sử nước Đức cận đại là Hoàng đế Wilhelm II, người đã kết thúc 30 năm trị vì của mình bằng việc thoái vị cùng thất bại của nước Đức trong Thế chiến I. Người ta lại có thể tranh cãi về việc liệu Thế chiến I có xảy ra nếu không có Wilhelm hay không. Tuy nhiên, một cuộc chiến tranh như thế cũng có khả năng diễn ra ở hình thái khác, vì giống như Hitler, Wilhelm cũng thuộc dạng bất thường, dẫu theo một cách khác. Dù Wilhelm nắm giữ ít quyền lực hơn Hitler, ông ta vẫn có quyền chỉ định và loại bỏ các thủ tướng Đức, tạo được lòng trung thành của người dân, và chỉ huy quân đội Đức. Mặc dù không phải là con người xấu xa, nhưng ông ta là người dễ thay đổi cảm xúc và không tưởng, có óc phán đoán tồi và ứng xử cực kém trong nhiều trường hợp, từ đó gây ra những vấn nạn không cần thiết cho nước Đức. Một trong những chính sách của ông ta khiến nước Đức nhảy vào Thế chiến I trong hoàn cảnh bất lợi dẫn đến sự thất trận là việc ông ta không tiếp tục gia hạn hiệp ước của Bismarck ký kết giữa Đức và Nga, từ đó đẩy nước Đức vào cơn ác mộng quân sự nảy sinh từ vị trí địa lý như đã nói ở trên: một cuộc chiến đồng thời trên hai mặt trận với Nga và Pháp.

Một ví dụ đối nghịch điển hình của khả năng lãnh đạo thành công và đánh giá một cách thực tế ở Đức là Willy Brandt, người đã công nhận Đông Đức và các nước khác trong khối Đông Âu, ký hiệp ước với Ba Lan và Nga, đồng thời chấp nhận mất mát lãnh thổ Đức bên kia Tuyến Oder-Neisse, trái ngược với 20 năm chính sách đối ngoại của Tây Đức trước đó. Khi những đời thủ tướng tiếp nối vẫn áp dụng các chính sách của Brandt, thì người ta có thể biện luận rằng sự lãnh đạo của ông ta đã tạo nên sự khác biệt. Trong khi đảng CDU đối nghịch vẫn tiếp tục chống lại các chính sách này trong vài năm sau đó; thì việc Brandt chấp nhận Tuyến Oder-Neisse đòi hỏi phải có tư duy hiện thực vượt trội và sự dũng cảm về mặt chính trị mà những người tiền nhiệm của ông còn thiếu; còn những người kế nhiệm ông lại thiếu uy tín để có thể làm như ông là đi thăm khu Warsaw Ghetto một cách đầy thuyết phục và không thể nào quên được. Trong số những thủ tướng Đức sau Thế chiến II, thì Konrad Adenauer, Helmut Schmidt và Helmut Kohl nổi bật là những nhân vật có tài năng. Về tổng thể, với tư cách là một người Mỹ, tôi rất ấn tượng với tư duy tốt nối tiếp nhau của các đời thủ tướng Tây Đức kể từ sau Thế chiến II, trong suốt thời kỳ mà nước Mỹ phải gánh chịu một vài đời tổng thống thất bại và không có gì nổi bật.

Ví dụ đối nghịch điển hình còn lại về tài lãnh đạo thành công tạo nên sự khác biệt chính là Otto von Bismarck, thủ tướng nước Phổ rồi thủ tướng đế chế Đức, nhân vật đã tiến đến thống nhất nước Đức vào năm 1871. Sự thống nhất này phải đối mặt với đủ thứ chướng ngại – đáng kể nhất là sự đối kháng đến từ các tiểu quốc Đức nhỏ hơn chứ không phải nước Phổ, đối kháng từ đế chế Habsburg láng giềng hùng mạnh và nước Pháp, chỉ có thể giải quyết bằng chiến tranh, xa hơn là hai nước đối nghịch tiềm năng Nga và Anh, cùng vấn nạn đang bàn cãi là các chủng tộc German với đầu óc thực tế có thể hợp lại thành một nước Đức thống nhất hay không. Bismarck là một người duy thực đến mức cực đoan, đã quá quen với những lý do khiến các cuộc cách mạng ở Đức năm 1848 thất bại, nhận thức được sự đối kháng đến từ bên trong và bên ngoài đối với việc thống nhất nước Đức, và cũng quen với việc thay đổi theo từng nấc, ông bắt đầu với những phương sách nhỏ và chỉ chuyển sang những phương sách mạnh mẽ hơn khi những phương sách nhỏ thất bại. Ông nhận thấy khả năng của nước Phổ để khởi phát những sự kiện quan trọng còn bị hạn chế bởi những ràng buộc về mặt địa lý, và chính sách của ông phải tùy thuộc vào việc chờ đợi cơ hội thích hợp rồi sau đó phải nhanh chóng hành động. Không một chính trị gia Đức nào ở thế hệ của ông có thể sánh được với ông về các thủ thuật chính trị. Tuy nhiên, Bismarck cũng thường bị chỉ trích vì đã không chuẩn bị một người kế nhiệm phù hợp và không xử lý các vấn nạn ở Đức khiến chúng bùng phát trong Thế chiến I, 24 năm sau khi ông rời chức vụ thủ tướng. Nhưng theo tôi, việc phê phán ông về những hành động điên rồ của Wilhelm II và những nhân vật do vị hoàng đế này chỉ định là không công bằng. Bismarck cũng bị chỉ trích do được cho là hiếu chiến, nhưng nước Đức khó có thể thống nhất do gặp phải đối kháng khắp phía nếu không có ba cuộc chiến tranh của Bismarck, nhưng hai trong số này rất ngắn ngủi. (Việc thống nhất nước Ý phải cần đến bốn cuộc chiến tranh, nhưng Ý chưa từng bị coi là hiếu chiến.) Khi nước Đức thống nhất vào năm 1871, để lại hàng triệu người nói tiếng Đức bên ngoài biên giới, thì Bismarck đủ thực tế để hiểu rằng ông đã đạt được hầu hết những điều khả thi và những cường quốc khác sẽ không chấp nhận để nước Đức bành trướng thêm nữa.

Những sự phù hợp khác của nước Đức đối với bộ khung của chúng ta có thể được tóm tắt ngắn gọn. Nước Đức kể từ Thế chiến II trở đi minh họa cho sự thay đổi có chọn lọc (nhân tố số 3). Trong tất cả các nước, Đức là quốc gia trải qua những thay đổi lớn nhất về biên giới chính trị. Họ quyết liệt đánh giá lại quá khứ Quốc xã của mình. Họ tiến hành một số thay đổi xã hội rộng lớn, đặc biệt về chủ nghĩa độc đoán trước đây và địa vị xã hội của phụ nữ. Nhưng nhiều giá trị cốt lõi của xã hội Đức truyền thống vẫn ít thay đổi, bao gồm hỗ trợ chính phủ về nghệ thuật, hỗ trợ chính phủ về chăm sóc y tế cho mọi người và lương hưu trí, đồng thời nhấn mạnh đến các giá trị cộng đồng đối với những quyền cá nhân không bị hạn chế. Là một người Mỹ, bất kỳ lúc nào quay lại Đức, tôi đều rất ngạc nhiên khi thấy rằng ngay đến những thành phố nhỏ nhất ở nước này cũng có nhà hát opera, những người bạn già của tôi vẫn có thể sống thoải mái sau khi về hưu và những ngôi làng vẫn lưu giữ được màu sắc địa phương (do luật vùng quy định rằng phong cách mái nhà của bạn phải phù hợp với phong cách địa phương).

Hỗ trợ từ các quốc gia khác cũng rất đa dạng về nơi chốn và thời gian trong lịch sử Đức thời cận đại (nhân tố số 4). Kế hoạch viện trợ Marshall của Mỹ và việc sử dụng nguồn viện trợ đúng đắn và hợp lý đã tạo cơ sở cho phép màu kinh tế sau năm 1948. Ngược lại, viện trợ kinh tế âm – những khoản bồi thường chiến phí chẳng hạn – đã đóng góp vào sự suy yếu của Đông Đức sau Thế chiến II và nền Cộng hòa Weimar của Đức sau Thế chiến I.

Căn tính quốc gia mạnh mẽ của Đức đã giúp nước này tồn tại qua những sang chấn tâm lý do bị tàn phá, chiếm đóng và phân ly (nhân tố số 6). (Một số người ngoài cuộc còn đi xa hơn, cho rằng căn tính quốc gia của Đức quá đỗi mạnh mẽ.) Đặc biệt, căn tính quốc gia và sự tự hào đó lại dựa trên âm nhạc, nghệ thuật, văn học, triết học và khoa học nổi tiếng khắp thế giới của dân tộc Đức; sự kết nối trong ngôn ngữ Đức được hệ thống hóa qua bản dịch Kinh Thánh của Martin Luther, chuyển tải sự biến thể một cách biện chứng ngôn ngữ nói của tiếng Đức; và những hồi ức lịch sử được san sẻ đã giúp người Đức xác định bản sắc của họ như một dân tộc chung nhất dù phải trải qua nhiều thế kỷ phân ly về mặt chính trị.

Nước Đức cũng minh họa cho đức tính kiên nhẫn nảy sinh từ những chiến bại trong quá khứ và những thất bại ban đầu (nhân tố số 9), và cũng minh họa cho niềm tự hào nảy sinh từ những thành quả trong quá khứ (nhân tố số 8). Nước này cũng hồi phục từ chiến bại sau hai cuộc thế chiến. Những thành quả của họ đòi hỏi đức tính kham nhẫn, bao gồm việc thống nhất đất nước vượt qua những bất hòa lên đến đỉnh điểm vào năm 1871, cùng việc tái thống nhất vượt qua những bất hòa đến đỉnh điểm vào năm 1990, cũng như phép màu kinh tế thời hậu chiến.

Những sự phát triển ở Đức thời hậu chiến liên quan đến những sự phát động từ bên trong và bên ngoài nước này. Những sự phát động từ bên trong đã thúc đẩy nước Đức giải quyết quá khứ Quốc xã của mình và sự bùng phát cuộc nổi dậy trong giới sinh viên vào năm 1968. Những sự phát động từ bên ngoài – như việc Hungary mở cửa biên giới với Áo năm 1989 và sự sụp đổ của Liên Xô – đã tạo động lực cho việc tái thống nhất thành công.

Trong số những vấn đề nảy sinh từ biến cố quốc gia không trùng khớp với biến cố cá nhân, nước Đức minh họa cho một sự hòa giải ở mức độ xuất sắc với các đối thủ trước đó của mình. Sự thừa nhận quá khứ Quốc xã, tiêu biểu qua việc thủ tướng Brandt quỳ gối tại khu Warsaw Ghetto, đã khiến mối bang giao giữa Đức và hai nước láng giềng Ba Lan và Pháp trở nên tương đối trơn tru và trung thực – vượt xa mối quan hệ giữa Nhật Bản với Hàn Quốc và Trung Quốc (Chương 8). Một vấn đề khác đặc biệt nảy sinh đối với biến cố quốc gia là sự thay đổi quyết liệt diễn ra do cách mạng hay do tiến trình. Nước Đức hiện đại đã trải qua ba cuộc cách mạng hay nổi dậy, hai trong số này thất bại với những tác động tức thì: nỗ lực thống nhất và dân chủ hóa bằng cách mạng năm 1848 thất bại, những vụ nổi dậy năm 1918 lật đổ các vị vua và hoàng đế Đức, và những vụ nổi loạn của giới sinh viên năm 1968 dùng bạo lực để thay đổi xã hội, hệ thống kinh tế và loại hình chính phủ của nước Đức. Một trong các mục tiêu này về sau đã gặt hái thành công do sự tiến triển: thành quả êm thấm thời kỳ sau năm 1968 về nhiều mục tiêu của các nhà cách mạng trong giới sinh viên. Sự thay đổi quyết liệt trong việc tái thống nhất vào các năm 1989-1990 cũng gặt hái thành công một cách êm thấm.

Điều thú vị là lịch sử nước Đức cận đại đã cung cấp bốn ví dụ điển hình về khoảng cách 21-23 năm giữa một thất bại tan vỡ và một phản ứng bùng phát từ thất bại đó. Bốn hình mẫu điển hình đó là: khoảng cách 23 năm giữa nỗ lực thống nhất bằng cách mạng thất bại vào năm 1848 và sự thống nhất thành công vào năm 1871; khoảng cách 21 năm giữa thảm bại năm 1918 trong Thế chiến I và sự bùng nổ Thế chiến II năm 1939 để tìm kiếm tình thế đảo ngược cho chiến bại đó, nhưng cuối cùng cũng phải gánh chịu thất bại; khoảng cách 23 năm giữa chiến bại thảm hại trong Thế chiến II năm 1945 và các cuộc nổi loạn của giới sinh viên ra đời khoảng năm 1945; và khoảng cách 22 năm giữa các cuộc nổi loạn của sinh viên năm 1968 và việc tái thống nhất năm 1990. Dĩ nhiên, cũng có những khác biệt giữa bốn bộ sự kiện đó, và các nhân tố bên ngoài góp vai trò trong việc quyết định những khoảng cách đó, đặc biệt là giai đoạn 1968-1990. Nhưng tôi nghĩ rằng tuy vậy cũng có một ý nghĩa đối với những điểm tương đồng đó: 21-23 năm tương đương với một thế hệ con người. Những năm 1848, 1918 và 1968 là những trải nghiệm cốt tử cho lớp thanh niên hồi đó và cho những người mà hai thập niên sau lại trở thành lãnh đạo của đất nước họ rồi cuối cùng thấy mình đang ở một vị thế phải hoàn tất (năm 1871, năm 1990) hay phản ứng (năm 1939) với trải nghiệm cốt tử của họ thời còn trẻ trai. Đối với những vụ nổi loạn của giới sinh viên năm 1968, sự lãnh đạo và tham gia không yêu cầu như những chính khách dày dạn ở độ tuổi 40 hay 50, mà chỉ là những người cấp tiến dày dạn ở độ tuổi 20. Và như một người bạn Đức đã trải qua năm 1968 đầy biến động đó giải thích với tôi rằng, “Nếu không có năm 1968 thì cũng sẽ không có năm 1990.”

Prev
Next

Có thể bạn muốn đọc thêm

sung-vi-trung-va-thep-jared-diamond
Súng, Vi Trùng Và Thép – Jared Diamond
April 25, 2023
nhung-tu-nha-cua-dia-ly-tim-marshall
Những Tù Nhân Của Địa Lý – Tim Marshall
April 15, 2022
sapiens-yuval-noah-harari
Sapiens: Lược Sử Loài Người – Yuval Noah Harari
February 22, 2023
21-bai-hoc-cho-the-ky-21-Yuval-Noah-Harari
21 Bài Học Cho Thế Kỷ 21 – Yuval Noah Harari
February 23, 2021

ThuVienOnline © 2026