Thư viện Online
  • Trang chủ
  • Sách mới cập nhật
  • Trang chủ
  • Sách mới cập nhật

Biến Động - Jared Diamond - Chương 5

  1. Home
  2. Biến Động - Jared Diamond
  3. Chương 5 - Indonesia, sự trỗi dậy của một quốc gia mới
Prev
Next

Trong một khách sạn – Bối cảnh đất nước Indonesia – Thời kỳ thuộc địa – Độc lập – Sukarno – Vụ đảo chính – Cuộc thảm sát – Suharto – Di sản của Suharto – Khung biến cố – Trở lại Indonesia

Indonesia là quốc gia đông dân thứ tư thế giới với dân số khoảng 260 triệu người, chỉ đứng sau Trung Quốc, Ấn Độ và Mỹ. Đây cũng là đất nước đông dân nhất mà phần lớn dân số là người Hồi giáo với số lượng còn nhiều hơn cả Pakistan, Bangladesh hay Iran. Những điều đó có thể khiến ai cũng nghĩ rằng Indonesia nhận được sự quan tâm của báo chí Mỹ và châu Âu.

Thực ra, từ “Hồi giáo” làm người phương Tây nghĩ đến những quốc gia khác có tên tuổi hơn trong nhận thức phương Tây thay vì Indonesia. Ngày nay, báo chí Mỹ và phương Tây chỉ nhắc đến đất nước này một cách chiếu lệ. Tôi nhớ rằng chỉ có rất ít lần trong 15 năm gần đây mà Indonesia xuất hiện trên trang nhất, đó là khi một trận động đất dữ dội cướp đi nhiều sinh mạng vào năm 2018, khi một số kẻ buôn lậu ma túy, trong đó có cả công dân nước ngoài, bị xử tử vào năm 2015 dù có những phản đối từ nước ngoài, khi 200.000 người thiệt mạng trong trận sóng thần năm 2004, và khi xảy ra một vụ đánh bom ở đảo Bali năm 2002 cướp đi mạng sống của nhiều nạn nhân. Việc thiếu quan tâm chung này là do đất nước Indonesia ngày nay không có những đặc trưng vốn là chất liệu cho những tít báo quốc tế như nội chiến, xuất khẩu những kẻ khủng bố hay làn sóng di dân ra nước ngoài, hay giàu có hoặc nghèo khổ cùng cực, hay lên tiếng trong bối cảnh chính trị quốc tế. Trong phạm vi hiểu biết của người Mỹ đối với Indonesia, hình ảnh hiện lên là về một đất nước đang phát triển với những địa điểm du lịch vui vẻ thoải mái, đặc biệt là phong cảnh và các bãi biển, hay các đền thờ Ấn giáo ở Bali, những rạn san hô phong phú nhất thế giới và là nơi tốt nhất cho môn thể thao lặn biển, cùng loại vải batik tuyệt đẹp.

Chuyến đi đầu tiên của tôi đến Indonesia là vào năm 1979, khi tôi bắt đầu chuyến thăm bằng việc ở lại trong một khách sạn có những bức tường dọc hành lang được trang trí bằng những bức tranh kể một câu chuyện lịch sử Indonesia. Ở Mỹ, một triển lãm tương tự có thể trình bày những bức tranh về Cách mạng Mỹ, Nội chiến, Cơn sốt Vàng ở California, con đường sắt xuyên lục địa và những chủ đề khác từ 150 năm đến 250 năm trước đây. Nhưng ở hành lang khách sạn đó, mọi bức tranh đều thể hiện những sự kiện xảy ra chỉ mới 35 năm trước. Sự kiện làm chủ đề cho hầu hết các bức tranh được gọi là Cuộc nổi dậy của những người cộng sản vào năm 1965. Những bức tranh và phần giải thích bên dưới, miêu tả một cách sinh động cách thức những người cộng sản tra tấn và giết bảy viên tướng; và cảnh một trong những viên tướng mà những người cộng sản tìm giết đã vượt tường trốn thoát khỏi nhà, nhưng đứa con gái năm tuổi của ông ta vô tình bị bắn và chết sau đó vài ngày. Sự trưng bày này để lại ấn tượng rằng việc tra tấn và giết chóc các viên tướng và cô bé là hành động khủng khiếp nhất từng xảy ra trong lịch sử Indonesia.

Sự trưng bày không đề cập đến những gì tiếp theo sau cái chết của các viên tướng: việc thảm sát khoảng nửa triệu người Indonesia khác dưới sự chủ mưu của quân đội. Việc không nhắc đến những vụ thảm sát đó ở một cuộc trưng bày về lịch sử Indonesia hoàn toàn là một sự thiếu sót, vì trong số những vụ giết người hàng loạt trên thế giới kể từ Thế chiến II, chỉ có một ít vụ vượt qua số người chết ở Indonesia. Trong hai thập niên kể từ chuyến đi đầu tiên của tôi, trong những chuyến trở lại và ở lại lâu sau đó, tôi đã nghe, không chỉ một lần, những người bạn Indonesia của mình nhắc đến các vụ giết người này – cho đến khi thay đổi chính quyền vào năm 1998. Điều này như thể chính quyền của tướng Pinochet đã giết hại gấp 100 lần số lượng người Chile, nhưng những vụ giết người đó không bao giờ được những người Chile sống sót nhắc lại, kể cả trong những tư liệu lịch sử.

Trong số những vấn đề biến cố và thay đổi để ghi nhớ khi bạn đọc những trang sau, dĩ nhiên sẽ có một phần đối chiếu giữa Indonesia và Chile. Cả hai quốc gia đều kinh qua một sự đổ vỡ thỏa hiệp chính trị, một nỗ lực của cánh tả khi muốn giành quyền kiểm soát chính phủ và một cuộc đảo chính quân sự kết thúc nỗ lực đó và thiết lập một chế độ độc tài lâu dài. Cả hai quốc gia đều minh họa vai trò của không chỉ một, mà hai nhà lãnh đạo tiếp nối, với những tính cách đặc biệt nhưng đối lập nhau. Trong việc đạt được sự hòa giải sau vụ thảm sát một nhóm chính trị do các đối thủ gây ra, Indonesia chứng tỏ họ nằm ở đối cực của Phần Lan, với Chile nằm ở giữa. Hơn bất kỳ quốc gia nào được giới thiệu trong sách này, các bạn sẽ thấy rằng Indonesia, đất nước non trẻ nhất của chúng ta, minh họa cho tiến trình xây dựng thành công một căn tính quốc gia.

Để hiểu được những gì đã diễn ra trong biến cố ở Indonesia vào năm 1965 và hệ quả của nó, chúng ta hãy bắt đầu với một số bối cảnh. Indonesia là một đất nước non trẻ, mãi đến năm 1945 mới được độc lập, và cho đến khoảng năm 1910 vẫn chưa được thống nhất như một thuộc địa. Đất nước này ở vùng nhiệt đới, nằm trên đường xích đạo giữa New Guinea và Úc về phía đông và châu Á về phía tây, có nhiều rặng núi cao, kể cả những núi lửa đang hoạt động. Một trong số đó là núi lửa Krakatoa, nổi tiếng với vụ phun trào thảm khốc trong lịch sử cận đại (năm 1883) đã thổi bay hầu như toàn bộ hòn đảo và tống một lượng bụi tro lên bầu khí quyển đủ để làm thay đổi khí hậu thế giới trong năm sau đó. Trong số các đảo của Indonesia, được biết đến nhiều nhất là Java, Bali, Sumatra và Sulawesi, thêm các đảo Borneo và New Guinea mà Indonesia cùng chia sẻ với các nước khác.

Về mặt địa lý, Indonesia là đất nước bị phân mảnh nhất trên thế giới, với hàng ngàn hòn đảo có cư dân nằm rải rác trên một địa thế trải dài 3.400 dặm từ tây sang đông. Trong suốt gần 2.000 năm, có những vương quốc bản địa trên một số đảo. Nhưng không một vương quốc nào kiểm soát được hầu hết quần đảo Indonesia, cũng không có một cái tên hay một khái niệm nào về đất nước mà ngày nay chúng ta gọi là Indonesia. Về mặt ngôn ngữ, Indonesia là một trong những quốc gia đa dạng nhất, với hơn 700 ngôn ngữ khác nhau. Đất nước này cũng đa dạng về mặt tôn giáo: trong khi hầu hết người Indonesia theo Hồi giáo, thì cũng có một thiểu số theo Ki-tô giáo và Ấn giáo cũng như Phật giáo, Khổng giáo và những người theo tín ngưỡng truyền thống địa phương. Tuy cũng có bạo lực và bạo động tôn giáo, nhưng quy mô của chúng nhỏ hơn nhiều so với ở Nam Á và Trung Đông. Nhiều người Indonesia ở các tôn giáo khác nhau sống tương đối khoan hòa với nhau. Tôi đã đến nhiều nơi trên đất nước này và thấy những ngôi làng Ki-tô giáo và Hồi giáo cận kề nhau, và không nhận ra làng nào tôi đã đến theo đạo gì, chỉ cho đến khi thấy một ngôi đền Hồi giáo hay một nhà thờ Ki-tô.

Bắt đầu sau năm 1510, người Bồ Đào Nha, rồi người Hà Lan (từ năm 1595 trở đi), tiếp đó là người Anh cố thiết lập những thuộc địa ở chuỗi đảo mà ngày nay là Indonesia. Cuối cùng, sự kiểm soát của người Anh giới hạn ở những vùng trên đảo Borneo, và thuộc địa duy nhất của người Bồ Đào Nha còn sót lại là nửa phần phía đông của hòn đảo Timor. Những thực dân thành công nhất là người Hà Lan, tập trung trên đảo Java nơi dân số bản địa lớn nhất (hơn một nửa dân số Indonesia ngày nay). Vào những năm 1880, để cho thuộc địa tự trang trải và tạo ra lợi nhuận, người Hà Lan phát triển những đồn điền xuất khẩu trên hai đảo Java và Sumatra. Nhưng chỉ đến khoảng năm 1910, hơn ba thế kỷ sau khi đến quần đảo Indonesia, người Hà Lan mới giành được quyền kiểm soát toàn bộ chuỗi đảo rộng bao la này. Điều được xem là một ví dụ cho việc phần lớn quần đảo này vẫn chưa được người Hà Lan khám phá hết là mãi đến năm 1910, một viên thống đốc Hà Lan mới biết hòn đảo Flores ở phía đông Indonesia và hòn đảo nhỏ Komodo kế cận là nơi cư ngụ của giống kỳ đà lớn nhất thế giới, còn gọi là rồng Komodo. Mặc dù có con dài đến ba mét và nặng đến vài trăm cân, trong suốt bốn thế kỷ chúng vẫn chưa được người châu Âu biết đến.

Có thể nhấn mạnh một điều là từ “Indonesia” chưa từng tồn tại mãi đến khi cái tên này được một người châu Âu đặt ra khoảng năm 1850. Người Hà Lan gọi thuộc địa của họ là “Indies,” “Netherlands Indies” hay “Dutch East Indies” (Đông Ấn Hà Lan). Những cư dân ở quần đảo này không chia sẻ cùng một căn tính quốc gia, một ngôn ngữ quốc gia, kể cả ý thức đoàn kết để đối lập với người Hà Lan. Chẳng hạn như binh lính ở Java gia nhập quân đội Hà Lan để chinh phục vương quốc cầm đầu ở đảo Sumatra, một đối thủ truyền thống của các tiểu quốc Java.

Vào đầu thập niên 1900, chính quyền thuộc địa Hà Lan bắt đầu nỗ lực chuyển từ chính sách thuần túy khai thác đối với thuộc địa sang cái mà họ gọi là một “chính sách đạo đức” – nghĩa là sau cùng cũng làm một số điều tốt đẹp cho người Indonesia. Chẳng hạn như người Hà Lan mở trường học, xây dựng đường xe lửa và các dự án thủy lợi trên đảo Java, lập hội đồng chính quyền địa phương ở những thành phố chính và nỗ lực giảm nhẹ gia tăng dân số bằng cách hỗ trợ di dân sang các hòn đảo bên ngoài ít dân cư hơn (ngược với ý muốn của dân bản địa trên đảo). Nhưng những nỗ lực của chính sách đạo đức này chỉ đem lại những kết quả hạn chế – một phần vì Hà Lan quá nhỏ nên không thể đổ nhiều tiền vào Indonesia, và một phần là vì những nỗ lực của người Hà Lan, cũng như của nước Indonesia mới độc lập, nhằm cải thiện đời sống người dân bị thất bại do dân số phát triển nhanh tạo ra quá nhiều miệng ăn. Ngày nay, người Indonesia vẫn xem những hệ quả tiêu cực của chủ nghĩa thực dân Hà Lan vượt xa như những hệ quả tích cực.

Vào khoảng năm 1910, sự gia tăng dân số ở Đông Ấn Hà Lan phát triển thành những khởi đầu cho một “ý thức quốc gia.” Đó là họ bắt đầu cảm thấy mình không chỉ là cư dân của chế độ ngôi vua sultan đặc thù do người Hà Lan cai trị ở một số phần trên đảo Java hay Sumatra, mà họ đang thuộc về một thực thể lớn hơn gọi là “Indonesia.” Với những khởi đầu của một căn tính rộng hơn, người dân Indonesia đã hình thành những nhóm có nhiều khác biệt nhưng thường chồng chéo nhau: một nhóm người Java cảm thấy thượng đẳng về mặt văn hóa, một phong trào Hồi giáo tìm kiếm một căn tính Hồi giáo riêng cho Indonesia, các nghiệp đoàn lao động, một đảng cộng sản, những sinh viên được gửi sang Hà Lan đào tạo và các nhóm khác. Điều này có nghĩa là phong trào giành độc lập cho Indonesia phân mảnh theo các tuyến tư tưởng, địa lý và tôn giáo, những vấn đề báo trước tiếp tục gây khó khăn cho Indonesia sau khi giành được độc lập.

Kết quả không chỉ là những cuộc đình công, âm mưu và khích động chống lại người Hà Lan mà còn là mâu thuẫn giữa các nhóm người với nhau, tạo ra một tình trạng rối rắm. Tuy nhiên, những hoạt động chống người Hà Lan cũng lên đến đỉnh điểm khi vào thập niên 1920, Hà Lan áp dụng một chính sách đàn áp và đưa những lãnh tụ đến một nơi giống như trại tập trung, ở New Guinea thuộc Hà Lan, một vùng xa xôi đầy dịch bệnh truyền nhiễm.

Một đóng góp quan trọng đối với sự thống nhất sau cùng của Indonesia chính là sự tiến triển và chuyển hóa tiếng Malay, một ngôn ngữ giao thương có lịch sử lâu dài, thành tiếng Bahasa của Indonesia, ngôn ngữ quốc gia được mọi người Indonesia sử dụng ngày nay. Ngay cả ngôn ngữ lớn nhất trong số hàng trăm ngôn ngữ địa phương của Indonesia, ngôn ngữ của người Java ở vùng trung tâm đảo Java, cũng chỉ là ngôn ngữ của dưới một phần ba dân số Indonesia. Nếu thứ tiếng địa phương lớn nhất đó trở thành ngôn ngữ quốc gia, thì nó có thể tiêu biểu cho sự thống trị Indonesia của đảo Java, từ đó sẽ làm trầm trọng thêm một vấn đề vẫn tồn tại trong đất nước Indonesia hiện đại, đó là nỗi sợ sự thống trị của người Java trên những hòn đảo khác của người Indonesia. Ngôn ngữ Java có thêm một điều bất lợi về ý thức thứ bậc, với những từ khác nhau được dùng trong giao tiếp với người ở địa vị cao hay thấp. Ngày nay, tôi đồng lòng với việc người Indonesia đánh giá cao những thuận lợi của tiếng Bahasa tuyệt vời như ngôn ngữ quốc gia. Nó lại dễ học. Chỉ 18 năm sau khi Indonesia giành được New Guinea thuộc Hà Lan và đưa tiếng Bahasa vào chương trình học, tôi thấy ngôn ngữ này được sử dụng bởi ngay những người New Guinea không học hành gì cả tại những làng mạc xa xôi. Ngữ pháp Bahasa đơn giản nhưng uyển chuyển khi thêm tiền tố hay hậu tố vào nhiều từ gốc để tạo ra từ mới với ý nghĩa dễ đoán ra ngay. Chẳng hạn như tính từ có nghĩa “sạch sẽ” là “bersih,” động từ “làm sạch” là “membersihkan,” danh từ “sự sạch sẽ” là “kebersihan,” và danh từ “sự dọn dẹp” là “pembersihan.”

Sau khi Nhật tuyên chiến với Mỹ vào tháng 12 năm 1941 và bắt đầu bành trướng khắp các hòn đảo ở Thái Bình Dương và Đông Nam Á, nước này nhanh chóng chiếm đóng các đảo vùng Đông Ấn Hà Lan. Các mỏ dầu ở đảo Borneo thuộc Hà Lan cùng cao su và thiếc ở Malaysia mới thực sự là động lực chính đằng sau việc Nhật tuyên chiến, và có lẽ là động lực đơn giản lớn nhất, vì nước Nhật thiếu dầu và phải lệ thuộc vào nguồn dầu xuất khẩu của Mỹ, mà Tổng thống Roosevelt đã cắt bỏ để đáp trả việc Nhật gây chiến với Trung Quốc và chiếm đóng vùng Đông Dương thuộc Pháp. Các mỏ dầu ở Borneo là nguồn cung cấp thay thế của Nhật Bản.

Đầu tiên, các nhà lãnh đạo quân sự Nhật Bản tuyên bố trong việc chiếm vùng Đông Ấn Hà Lan rằng người Indonesia và người Nhật đều là những người anh em thuộc châu Á chung tay trong sự nghiệp chiến đấu cho một mệnh lệnh chống thuộc địa kiểu mới. Ban đầu, các nhà đấu tranh theo chủ nghĩa dân tộc ủng hộ người Nhật và giúp họ phong tỏa người Hà Lan. Nhưng do người Nhật chủ yếu tìm cách khai thác nguyên liệu (đặc biệt là dầu và cao su) từ vùng Đông Ấn Hà Lan để phục vụ cho guồng máy chiến tranh của Nhật, nên họ càng lúc càng áp bức hơn cả người Hà Lan. Khi cuộc chiến trở nên bất lợi cho người Nhật, vào tháng 9 năm 1944 họ hứa hẹn trao trả độc lập cho người Indonesia nhưng không đưa ra thời gian cụ thể. Khi Nhật tuyên bố đầu hàng vào ngày 15 tháng 8 năm 1945, thì chỉ hai ngày sau Indonesia tuyên bố độc lập và phê chuẩn hiến pháp sau đó một ngày, đồng thời thành lập lực lượng phòng vệ địa phương. Nhưng họ nhanh chóng nhận ra rằng thất bại của người Hà Lan trước Nhật Bản, rồi lời hứa về nền độc lập của người Nhật, và cuối cùng là thất bại của Nhật trước Mỹ và đồng minh cũng sẽ không bảo đảm cho nền độc lập của Indonesia. Thay vào đó, vào tháng 9 năm 1945, quân đội Anh và Úc đến tiếp quản vùng đất này từ tay người Nhật, và rồi các đội quân Hà Lan lại đến với mục đích phục hồi sự kiểm soát của họ. Trận chiến giữa quân đội Anh và Hà Lan đánh với quân đội Indonesia nổ ra.

Người Hà Lan, nhằm khơi lên tính đa dạng chủng tộc và sự rộng lớn của quần đảo Indonesia, và có lẽ cũng do động cơ “chia để trị” nhằm duy trì sự kiểm soát của mình, đã đưa ra ý tưởng về một liên bang cho Indonesia. Họ thành lập những bang trong vùng tái chiếm của mình. Ngược lại, những nhà cách mạng Indonesia lại tìm cách tạo dựng một chính phủ cộng hòa thống nhất cho các vùng trước đây thuộc Đông Ấn Hà Lan. Qua một hiệp ước sơ bộ đạt được vào tháng 11 năm 1946, người Hà Lan công nhận chủ quyền của Cộng hòa Indonesia – nhưng chỉ trên hai hòn đảo Java và Sumatra. Tuy nhiên, đến tháng 7 năm 1947, người Hà Lan trở nên bực bội và tung ra cái mà họ gọi là “hành động cảnh sát” với mục đích tiêu diệt nền Cộng hòa. Sau khi ngừng bắn, thêm một “hành động cảnh sát” nữa, rồi dưới áp lực của Liên Hợp Quốc và Mỹ, người Hà Lan nhượng bộ và đồng ý chuyển giao chủ quyền cho chính phủ Cộng hòa. Cuộc chuyển giao cuối cùng diễn ra vào tháng 12 năm 1949 – nhưng với hai hạn chế lớn khiến người Indonesia nổi giận và phải mất 12 năm mới chuyển đổi xong. Một hạn chế là người Hà Lan không chịu chuyển giao một nửa đảo New Guinea thuộc Hà Lan (phần phía tây). Thay vào đó, họ vẫn giữ nó dưới sự điều hành chính quyền của mình với lý do New Guinea kém phát triển về mặt chính trị hơn phần còn lại của Đông Ấn Hà Lan, nên nó chưa chuẩn bị cho sự độc lập vốn rất mơ hồ, và vì hầu hết người New Guinea khác biệt với hầu hết người Indonesia cũng như với nhóm người châu Âu về mặt chủng tộc. Hạn chế kia là những công ty Hà Lan như Shell Oil vẫn duy trì quyền sở hữu đối với tài nguyên thiên nhiên của Indonesia.

Những nỗ lực của người Hà Lan nhằm tái thiết lập việc kiểm soát đất nước Indonesia giai đoạn 1945-1949 được tiến hành với những phương pháp tàn bạo đến nỗi những đồng nghiệp người Indonesia của tôi vẫn còn kể với tôi nỗi cay đắng 30 năm sau đó, và được miêu tả sinh động trong những bức tranh về lịch sử Indonesia ở hành lang khách sạn tôi lưu trú năm 1979. (Chẳng hạn như một trong những bức tranh vẽ hai binh sĩ Hà Lan hãm hiếp một phụ nữ Indonesia.) Đồng thời, những phương pháp tàn bạo khác cũng được những người Indonesia áp dụng với những người Indonesia khác, vì trong nội bộ Indonesia vẫn có đối kháng với Cộng hòa Indonesia, nhìn theo quan điểm của những người Indenosia phía đông và người dân đảo Sumatra là bị người Java thống trị. Một lần nữa, tôi vẫn nghe thấy những lời oán hận và mong mỏi chia tách khỏi Indonesia về mặt chính trị từ những người bạn không phải người Java của tôi trong thập niên 1980. Ngoài ra còn có đối kháng với sự lãnh đạo của những người Cộng hòa từ cánh cộng sản Indonesia, lên đến đỉnh điểm bằng cuộc nổi dậy năm 1948 để rồi bị nghiền nát bởi Quân đội Cộng hòa khiến ít nhất 8.000 đảng viên cộng sản bị giết – một dạo đầu cho những gì rồi sẽ xảy đến trên một bình diện rộng lớn hơn sau vụ đảo chính thất bại năm 1965.

Quốc gia mới trỗi dậy này cần đối mặt với những vấn nạn nan giải phải gánh chịu từ thời kỳ trước khi có được độc lập, và một trong những vấn nạn đó giờ đây lại trở nên trầm trọng thêm. Từng là một cựu thuộc địa bị Hà Lan thống trị lâu dài để đáp ứng lợi ích của người Hà Lan, đất nước Indonesia độc lập bắt đầu sự tồn tại của mình từ một nền kinh tế cực kỳ kém phát triển. Sự gia tăng dân số (gần 3% mỗi năm trong suốt thập niên 1960) tiếp tục là gánh nặng kinh tế sau khi độc lập, như ở thời kỳ còn người Hà Lan cai trị. Nhiều người còn thiếu cả ý thức về căn tính quốc gia, vẫn định danh họ là người Java, người Moluccan, người Sumatra hoặc thành viên của một số tộc người trong khu vực thay vì nhận là người Indonesia. Ngôn ngữ Indonesia, đóng góp sau cùng vào sự thống nhất của Indonesia, lúc đó vẫn chưa phổ biến rộng rãi; trong khi vẫn có 700 ngôn ngữ địa phương được sử dụng. Những người tự nhận mình thuộc quốc gia Indonesia cũng có những tầm nhìn khác nhau đối với đất nước này. Một số lãnh đạo Hồi giáo muốn Indonesia trở thành một quốc gia theo Hồi giáo. Đảng Cộng sản Indonesia thì lại muốn đây là một nước cộng sản. Còn một số không phải người Java lại vừa muốn tự trị khu vực, vừa muốn độc lập khu vực hoàn toàn và đã tổ chức những cuộc nổi dậy trong vùng nhưng cuối cùng bị quân đội Cộng hòa đánh bại.

Quân đội tự thân cũng là tâm điểm của sự phân ly, cùng những tranh cãi về vai trò của nó. Liệu quân đội có nên được kiểm soát bởi các chính trị gia dân sự như ở các chế độ dân chủ khác, những người mà các sĩ quan quân đội đang ngày càng gia tăng mối hồ nghi? Hay thay vào đó quân đội nên độc lập hơn và theo đuổi các chính sách riêng đối với Indonesia? Quân đội xem mình như là người cứu rỗi cho cuộc cách mạng, là lực lượng bảo vệ căn tính quốc gia, nên đòi hỏi được bảo đảm bằng một số lớn phiếu bầu vào Quốc hội. Ngược lại, chính quyền dân sự lại tìm cách tiết kiệm tài chính bằng cách thải hồi một số đơn vị quân đội, giảm thiểu số sĩ quan và đẩy binh sĩ ra khỏi quân đội và bảng lương chính phủ phải chịu thuế. Cũng có những bất đồng nội bộ giữa các binh chủng trong quân đội, đặc biệt là bất đồng giữa không quân và các binh chủng khác. Còn thêm những bất đồng giữa các chỉ huy quân đội, đặc biệt là giữa các chỉ huy vùng có tính cách mạng và các chỉ huy ở trung tâm vốn bảo thủ. Những lãnh đạo quân đội bóp nặn tiền bạc của những người dân khác và từ các doanh nghiệp phục vụ mục đích quân sự, kiếm tiền bằng buôn lậu và đánh thuế sở hữu radio và dùng điện, đồng thời ngày càng kiểm soát kinh tế vùng, do đó việc thiết chế hóa nạn tham nhũng này đến nay vẫn là một trong những vấn nạn lớn nhất của Indonesia.

Sukarno (1901-1970), vị tổng thống đầu tiên thành lập quốc gia Indonesia, bắt đầu sự nghiệp chính trị trong thời kỳ vẫn còn người Hà Lan, là một nhà lãnh đạo theo dân tộc chủ nghĩa chống chính quyền thuộc địa Hà Lan (Ảnh 5.1). (Cũng như nhiều người Indonesia, ông ta chỉ có một cái tên gọi duy nhất, không phải là tên và cũng không phải họ.) Người Hà Lan lưu đày ông, rồi người Nhật lại đưa ông trở lại từ nơi lưu đày. Chính Sukarno là người ban hành Bản Tuyên ngôn Độc lập của Indonesia vào ngày 17 tháng 8 năm 1945. Rất quan tâm đến căn tính quốc gia yếu ớt của Indonesia, ông đặt ra một bộ năm nguyên tắc gọi là Pancasila mà ngày nay là khung ý thức hệ cho sự thống nhất Indonesia và được trân trọng đưa vào hiến pháp năm 1945. Các nguyên tắc này rất rộng: đức tin vào một đấng tối cao, thống nhất dân tộc Indonesia, chủ nghĩa nhân đạo, dân chủ và công bằng xã hội cho tất cả người dân Indonesia.

Trên cương vị tổng thống, Sukarno quy kết sự nghèo đói của Indonesia là do chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa tư bản, hủy bỏ những nợ nần mà Indonesia phải thừa hưởng từ trước, quốc hữu hóa tài sản của người Hà Lan và chuyển giao cho quân đội quản lý. Ông phát triển một nền kinh tế tập trung do nhà nước quản lý mà quân đội, giới quan liêu chính phủ và chính Sukarno có thể bòn rút lợi nhuận; nên không lấy gì làm ngạc nhiên khi doanh nghiệp tư nhân và nguồn tài trợ nước ngoài bị suy trầm. Chính phủ Mỹ và Anh trở nên lo lắng và tìm cách gạt bỏ vị trí của Sukarno như Mỹ từng gạt bỏ Allende ở Chile. Sukarno đáp trả bằng việc tuyên bố Mỹ hãy “cút xuống địa ngục với viện trợ của mấy người”; sau đó, vào năm 1965 ông trục xuất lực lượng Chí nguyện Hòa bình Mỹ và rút khỏi Liên Hợp Quốc, Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Lạm phát gia tăng, và đồng tiền của Indonesia (rupiah) mất 90% giá trị trong năm 1965.

Vào thời điểm Indonesia độc lập, đất nước này chưa có lịch sử về chính quyền tự quản dân chủ, mà thay vào đó là kinh nghiệm về chính quyền cai trị của Hà Lan mà trong những thập niên sau cùng lại như một nhà nước cảnh sát, như kiểu người Nhật cai trị năm 1942. Nền tảng cho mọi nền dân chủ vận hành chính là việc dân trí được phổ biến, nhận thức về quyền phản biện các chính sách của chính phủ, khoan dung với các quan điểm trái chiều, chấp nhận bị rớt do phiếu bầu và sự bảo vệ của chính phủ đối với những người không có quyền lực chính trị. Với những lý do dễ hiểu, tất cả những tiền đề trên đối với Indonesia đều yếu và thiếu. Vì thế, trong suốt thập niên 1950 các thủ tướng và nội các cứ lên rồi bị lật đổ liên tục. Trong cuộc bầu cử tháng 9 năm 1955, có đến 92% số cử tri có đăng ký đi bỏ phiếu, mức cao đến ngạc nhiên, nhưng kết quả vẫn bế tắc, vì bốn đảng phái dẫn đầu đều chỉ chiếm từ 15% đến 22% số phiếu bầu và số ghế trong Quốc hội. Họ lại không thể thỏa hiệp và rơi vào tình trạng bế tắc chính trị. Sự đổ vỡ thỏa hiệp giữa các đảng phái chẳng khác gì tình cảnh ở Chile với vụ đảo chính của Pinochet (Chương 4) – chỉ với khác biệt là Chile có trình độ dân trí và một lịch sử lâu dài về chính phủ dân chủ, trong khi Indonesia thiếu cả hai điều này.

Bắt đầu từ năm 1957, Tổng thống Sukarno chấm dứt tình trạng bế tắc bằng cách tuyên bố thiết quân luật, rồi thay chế độ dân chủ bằng cái gọi là “dân chủ có định hướng,” thứ ông cho là thích hợp hơn với đặc trưng dân tộc của Indonesia. Dưới thể chế “dân chủ có định hướng,” Quốc hội đáng ra phải thực hiện việc “hợp tác lẫn nhau” hay “đồng thuận thông qua thảo luận,” lại áp dụng khái niệm dân chủ thông thường về lập pháp như là một môi trường để các đảng phái cạnh tranh lẫn nhau. Để bảo đảm rằng Quốc hội sẽ cùng hợp tác với các mục tiêu của Sukarno, hơn một nửa ghế trong Quốc hội không còn do bầu bán nữa mà do chính Sukarno chỉ định và phân công cái gọi là “các nhóm chức năng” thay vì những đảng phái chính trị, và quân đội là một trong “các nhóm chức năng” đó.

Sukarno ngày càng tin rằng ông ta có khả năng tiên đoán và diễn giải những ước vọng (kể cả ước vọng vô ý thức) của người dân Indonesia, và đóng vai đấng tiên tri của họ. Sau hội nghị Bandung năm 1955 của các nước thuộc khối Á-Phi, Sukarno mở rộng các mục tiêu của mình sang tầm thế giới và bắt đầu xem trách nhiệm của cá nhân ông ta là để Indonesia đóng vai trò dẫn dắt nền chính trị chống thực dân của Thế giới Thứ ba7, trong thời điểm mà những vấn đề nội bộ của chính Indonesia quá căng thẳng (Ảnh 5.2). Năm 1963, ông tự tuyên bố làm tổng-thống-trọn-đời.

Sukarno tung ra hai chiến dịch để chuyển hóa lập trường chống thực dân của mình thành hành động, bằng cách cố sáp nhập hai lãnh thổ đang bên bờ độc lập. Chiến dịch đầu tiên nhắm đến New Guinea thuộc Hà Lan mà do sự khác biệt về chủng tộc của cư dân nên người Hà Lan từ chối trao trả cho Indonesia sau cuộc cách mạng. Người Hà Lan liền tung ra một chương trình cấp tốc để chuẩn bị độc lập cho người dân New Guinea, và các lãnh đạo New Guinea cũng đã thông qua quốc kỳ và quốc ca riêng. Nhưng Sukarno tuyên bố New Guinea Hà Lan thuộc Indonesia, gia tăng áp lực ngoại giao với người Hà Lan, và đến năm 1961 ông ra lệnh cho cả ba binh chủng quân đội chiếm New Guinea thuộc Hà Lan bằng vũ lực.

Kết quả là một thành công của Sukarno về mặt chính trị, nhưng lại là một bi kịch đối với quân đội Indonesia có liên quan và cho cả những người dân New Guinea đang mong chờ độc lập. Trong khi một trong những bức tranh treo ở hành lang khách sạn tôi trú ngụ vào năm 1979 ở Indonesia miêu tả một con tàu được cho là “chiến hạm” Indonesia đang tiến lên tấn công người Hà Lan, thì sự thực nó chỉ là một tàu tuần duyên cỡ nhỏ bị chiến hạm Hà Lan đánh đắm, làm nhiều thủy thủ Indonesia thiệt mạng. Lực lượng nhảy dù được thả xuống New Guinea từ phi cơ gặp kết quả mà theo lời một người bạn của tôi, người từng phục vụ trong lực lượng phòng vệ Hà Lan hồi đó, mô tả như sau: có lẽ vì sợ lực lượng phòng không của Hà Lan vào ban ngày, nên lính nhảy dù được thả đại vào ban đêm trên một địa hình rừng rậm, đẩy họ vào tình huống hiểm nghèo. Số lính dù không may rơi xuống một đầm lầy đầy cọ sago đầy muỗi mòng và nóng bức, những người lính còn sống sót thì vướng cây sago, bị treo lơ lửng trên cây do vướng dù. Những nhóm nhỏ hơn bỏ được dù thì rơi hoặc trèo xuống đúng vùng nước đọng của đầm lầy. Người bạn của tôi và đơn vị Hà Lan của ông ta bao vây đầm lầy, chờ đúng một tuần rồi chèo thuyền vào đầm để cứu số lính dù còn sống sót.

Dù quân đội Hà Lan ở đó gặt hái thắng lợi, nhưng chính phủ Mỹ muốn ra mặt hỗ trợ phong trào chống thực dân của Thế giới Thứ ba, và đã ép buộc người Hà Lan trao trả New Guinea. Để giữ thể diện, người Hà Lan không trao trả trực tiếp cho Indonesia mà giao cho Liên Hợp Quốc, mà đến bảy tháng sau mới chuyển giao việc kiểm soát hành chính (chứ không phải chuyển giao quyền sở hữu) cho Indonesia, để còn tùy thuộc vào một cuộc trưng cầu dân ý trong tương lai. Sau đó, chính quyền Indonesia khởi động một chương trình di dân quy mô từ các tỉnh khác đến, một phần để bảo đảm có tỉ lệ đa số người Indonesia- không-phải-cư-dân New Guinea định cư trên đảo New Guinea. Bảy năm sau, một hội đồng lãnh đạo New Guinea được lựa chọn kỹ lưỡng bỏ phiếu dưới áp lực để sáp nhập New Guinea thuộc Hà Lan vào Indonesia. Người New Guinea vốn từng ở bên bờ độc lập khỏi người Hà Lan, lúc đó tung ra một chiến dịch du kích để giành lại độc lập từ Indonesia mà cho đến nay, hơn nửa thế kỷ sau, vẫn còn tiếp diễn.

Chiến dịch khác của Sukarno để chuyển lập trường chống thực dân thành hành động là nhắm đến những vùng thuộc Malaysia, một nhóm các cựu thuộc địa của Anh. Malaysia bao gồm nhiều tiểu quốc nằm trên bán đảo Malay của đại lục châu Á đã giành được độc lập vào năm 1957, cộng thêm hai thuộc địa cũ của Anh (Sabah và Sarawak) nằm cùng trên đảo Borneo với Indonesia và Brunei. Sabah và Sarawak nhập vào nước Malaysia độc lập vào năm 1963. Nếu Sukarno tuyên bố quyền thừa hưởng New Guinea thuộc Hà Lan vốn là một phần của Đông Ấn Hà Lan trước đó, thì ông ta không thể tuyên bố như thế với phần Borneo thuộc Malaysia. Tuy nhiên, được khuyến khích bởi thành quả ở New Guinea thuộc Hà Lan, Sukarno bắt đầu kiểu mà ông gọi là một “cuộc đối đầu” với Malaysia vào năm 1962, theo đó là những cuộc tấn công quân sự vào vùng Borneo thuộc Malaysia vào năm sau. Nhưng người dân ở vùng Borneo thuộc Malaysia không có biểu hiện nào muốn nhập vào Indonesia, trong khi các đội quân của Anh và Khối thịnh vượng chung lại phòng thủ một cách hiệu quả, nên quân đội Indonesia mất đi lòng “khát khao” đối đầu.

Trong suốt thập niên 1960 diễn ra cuộc đấu tranh phức tạp và khó hiểu để giành quyền lực giữa ba nhánh trong số các thế lực mạnh nhất ở Indonesia. Một thế lực là Sukarno, nhà lãnh đạo đầy lôi cuốn và chính trị gia lão luyện, người được sự ủng hộ rộng rãi của người dân Indonesia như người cha của nền độc lập dân tộc và cũng là vị tổng thống đầu tiên và duy nhất (cho đến lúc đó). Thế lực thứ hai là quân đội, độc quyền về sức mạnh quân sự. Thế lực thứ ba là Đảng Cộng sản Indonesia (Partai Komunis Indonesia – PKI) thiếu sức mạnh quân sự nhưng đã trở thành đảng phái chính trị mạnh nhất và được tổ chức tốt nhất.

Nhưng ba nhánh này lại bị chia rẽ nội bộ và lôi kéo về những hướng khác nhau. Trong khi nền “dân chủ có định hướng” của Sukarno dựa vào một liên minh giữa ông ta và quân đội, thì Sukarno càng lúc càng có xu thế liên minh với PKI để làm một đối trọng với phe quân đội. Những người Indonesia gốc Hoa lại trở nên lo lắng do tâm lý bài Trung ở Indonesia đến nỗi nhiều người đã quay về Trung Quốc. Nhưng đồng thời Indonesia cũng tăng cường đồng minh với Trung Quốc về mặt ngoại giao và tuyên bố rằng sẽ sớm bắt chước Trung Quốc chế bom nguyên tử – khiến cả Mỹ và Anh đều sợ hãi. Lực lượng quân đội cũng phân ra thành các nhóm ủng hộ Sokarno, PKI và những sĩ quan muốn quân đội tiêu diệt PKI. Các sĩ quan quân đội thâm nhập vào PKI và ngược lại. Để sửa chữa sai lầm yếu kém của quân đội, vào năm 1965, PKI với sự hỗ trợ của Sukarno dự định trang bị vũ khí cho giới nông dân và công nhân, bề ngoài có vẻ nhằm phục vụ như một nhánh quân đội quốc gia thứ năm cùng với lục quân, hải quân, không quân và cảnh sát. Do lo sợ, các sĩ quan quân đội chống cộng được báo cáo là đã thành lập một Hội đồng Tướng lĩnh để chuẩn bị các phương án chống lại mối đe dọa của cộng sản ngày càng hiện rõ.

Cuộc đấu tranh ba phe phái này lên đến cực điểm vào khoảng 3:15 rạng sáng ngày 30 tháng 9 – ngày 1 tháng 10 năm 1965, khi hai đơn vị quân đội với các chỉ huy cánh tả và 2.000 binh lính nổi dậy và đưa các toán vũ trang đến bắt bảy vị tướng hàng đầu (gồm cả chỉ huy lục quân và bộ trưởng quốc phòng) ngay tại nhà, rồi giải họ đến gặp Tổng thống Sukarno thuyết phục ông ta trấn áp Hội đồng Tướng lĩnh. Đến 7:15 sáng ngày 1 tháng 10, các lãnh tụ đảo chính cũng chiếm được tòa nhà viễn thông nằm một bên quảng trường trung tâm thủ đô Jakarta, phát đi tuyên bố trên sóng truyền thanh rằng họ là Phong trào 30 tháng 10, và bày tỏ mục đích của họ là để bảo vệ Tổng thống Sukarno bằng việc ngăn chặn trước một âm mưu đảo chính do các tướng lĩnh thối nát, được cho là công cụ của CIA và người Anh, cầm đầu. Đến 2:00 chiều, các lãnh đạo vụ đảo chính phát thêm ba thông cáo trên đài phát thanh, sau đó họ rơi vào im lặng. Ghi chú: dù thông tin về một vụ đảo chính của những người cộng sản được miêu tả sinh động trên hành lang khách sạn tôi lưu trú vào năm 1979, cuộc nổi dậy lại do một đơn vị quân đội phát động chứ không phải một đám đông theo cộng sản.

Nhưng vụ đảo chính lại quá đỗi vụng về. Bảy đội được cử đi bắt các tướng lĩnh không được huấn luyện kỹ, dễ bị kích động và chỉ được tập trung vào phút cuối. Họ lại chưa được diễn tập bắt cóc; nên hai đội quan trọng nhất được chỉ định bắt cóc (không phải giết) hai vị tướng có cấp hàm cao nhất trong quân đội lại do hai sĩ quan cấp thấp thiếu kinh nghiệm chỉ huy. Các đội bắt cóc này kết thúc công việc bằng hành động giết chết ba vị tướng ngay trong nhà họ, hai người bị bắn còn một người bị đâm chết bằng lưỡi lê. Vị tướng thứ tư trốn thoát bằng cách vượt tường rào sau nhà. Đội bắt cóc vô tình bắn chết đứa con gái mới 5 tuổi của ông ta, như mô tả trong bức tranh treo trong khách sạn tôi ở, và giết luôn viên trung úy tùy viên của ông ta vì nhầm viên trung úy này là ông tướng (để cho ngắn gọn, tôi vẫn nói đến “bảy vị tướng”). Các đội thi hành nhiệm vụ chỉ bắt cóc thành công ba viên tướng còn lại, tuy nhiên họ vẫn tiến hành thủ tiêu những viên tướng này thay vì thực hiện mệnh lệnh đưa các viên tướng còn sống đến gặp Sukarno.

Dù trong số các lãnh đạo vụ đảo chính có một viên chỉ huy đội cận vệ của Tổng thống Sukarno, người có công việc phải nắm rõ Sukarno ở đâu vào mọi lúc, nhưng họ vẫn không tìm thấy ông ta, lúc đó có lẽ đang qua đêm ở nhà của một trong bốn người vợ của ông. Một sai lầm cực kỳ quan trọng là những lãnh đạo vụ đảo chính đã không chiếm giữ tổng hành dinh của Lực lượng Dự bị Chiến lược của quân đội Indonesia (gọi là Kostrad), cũng nằm ở một bên quảng trường Trung tâm, mặc dù các đơn vị đảo chính đã chiếm giữ ba mặt kia của quảng trường. Các nhà lãnh đạo vụ đảo chính lại không có xe tăng và bộ đàm. Do họ đã đóng hệ thống điện thoại của Jakarta vào thời điểm chiếm đóng tòa nhà viễn thông, nên việc các lãnh đạo này cố liên lạc với nhau ở các điểm khác nhau trong thành phố chỉ còn một cách là gửi các thông báo qua các đường phố. Có một điều khó tin là các lãnh đạo đảo chính không cung cấp được thực phẩm và nước uống cho binh lính trú đóng ở quảng trường, kết quả là nguyên một tiểu đoàn rã ngũ. Một tiểu đoàn khác đến căn cứ không quân Halim, thấy cổng căn cứ bị đóng nên đi rong trên đường phố quanh căn cứ suốt đêm. Người lãnh đạo PKI, dường như là một trong những người tổ chức vụ đảo chính đã không thông báo và phối hợp hành động với những thành viên còn lại trong PKI, do đó không có vụ nổi dậy rộng lớn nào từ phía những người cộng sản.

Sau Sukarno, chỉ huy Lực lượng Dự bị Chiến lược là nhà lãnh đạo chính trị thứ nhì có những phẩm chất vượt trội ảnh hưởng đến tiến trình lịch sử. Ông ta có những điểm tương đồng với Sukarno, có cái tên tương tự Suharto dễ nhầm với Sukarno, cũng là người Java và có khả năng về chính trị (Ảnh 5.3). Nhưng Suharto khác với Sukarno là trẻ hơn ông này đến 20 tuổi (1921-2008), không đóng một vai trò đặc biệt nào trong cuộc đấu tranh chống chính quyền thuộc địa Hà Lan và hầu như vô danh đối với các tầng lớp ngoài quân đội cho đến buổi sáng ngày 1 tháng 10 năm 1965. Khi Suharto nghe tin về cuộc nổi loạn vào sáng hôm đó, ông ta đưa ra một chuỗi phương án phản công trong khi chơi trò câu giờ và cố tính toán một chuỗi khai triển nhanh chóng và mơ hồ. Ông triệu tập chỉ huy của hai tiểu đoàn quân đội ở quảng trường trung tâm đến gặp ông tại tổng bộ Kostrad, bảo rằng họ đang tham gia nổi dậy và ra lệnh cho họ phải nhận mệnh lệnh từ ông; họ chấp hành lệnh theo trách nhiệm. Các nhà lãnh đạo vụ đảo chính, thêm Sukarno, mà do tình huống xảy ra quá nhanh nên cũng bối rối như Suharto, giờ đây tập trung ở căn cứ không quân Halim, vì không quân là một binh chủng trong quân đội có cảm tình với những người cộng sản. Suharto đáp trả bằng việc gửi binh lính tin cẩn chiếm lại tòa nhà viễn thông đầu tiên, rồi sau đó là căn cứ không quân Halim một cách dễ dàng, chỉ có đụng độ không đáng kể. Đến 9:00 tối ngày 01 tháng 10, Suharto phát đi một tuyên bố trên đài phát thanh rằng ông ta đã kiểm soát được quân đội Indonesia, đè bẹp Phong trào 30 tháng 10, và bảo vệ được Tổng thống Sukarno. Các nhân vật lãnh đạo cuộc đảo chính trốn khỏi căn cứ Halim và Jakarta tách riêng ra chạy về các thành phố khác ở miền trung Java bằng xe lửa hay máy bay, rồi tổ chức những cuộc nổi dậy khác khiến thêm một số tướng lĩnh bị giết. Nhưng các cuộc nổi dậy này bị đàn áp bởi các đội quân trung thành với chính phủ chỉ trong một đến hai ngày, cũng như vụ nổi loạn ở Jakarta.

Đến tận ngày nay, nhiều câu hỏi về vụ đảo chính thất bại vẫn chưa có lời giải đáp. Một điều trông có vẻ rõ ràng là vụ đảo chính có nỗ lực chung giữa hai nhóm lãnh đạo: một số sĩ quan trẻ trong quân đội và một hay nhiều thủ lĩnh PKI. Nhưng tại sao những sĩ quan quân đội chuyên nghiệp lại tổ chức một vụ đảo chính cẩu thả thiếu tính chuyên nghiệp đến vậy? Tại sao họ lại không tổ chức một cuộc họp báo để lôi kéo sự ủng hộ của công chúng? Có phải sự liên quan của PKI đến vụ đảo chính chỉ giới hạn trong chỉ một số lãnh đạo của đảng này? Có hay không sự dính dáng của đảng Cộng sản Trung Quốc trong việc vạch kế hoạch và hỗ trợ cho vụ đảo chính? Tại sao các nhà lãnh đạo vụ đảo chính lại không đưa Suharto vào danh sách các tướng lĩnh phải bắt cóc? Tại sao lực lượng đảo chính không chiếm tổng bộ Kostrad ở một bên quảng trường trung tâm? Liệu Tổng thống Sukarno có biết trước về vụ đảo chính hay không? Tướng Suharto có biết trước vụ đảo chính không? Liệu các tướng lĩnh chống cộng có biết trước vụ đảo chính nhưng vẫn để nó nổ ra nhằm tạo lý cớ cho những kế hoạch đã vạch ra trước đó để đàn áp PKI hay không?

Khả năng sau cùng có lý lẽ mạnh mẽ do tốc độ phản ứng của quân đội. Chỉ trong vòng ba ngày các chỉ huy quân sự đã bắt đầu một chiến dịch tuyên truyền để biện minh cho việc bố ráp và giết hại những người cộng sản Indonesia và các cảm tình viên trên diện rộng (Ảnh 5.4). Cuộc đảo chính ban đầu chỉ giết 12 người ở Jakarta vào ngày 1 tháng 10, cộng thêm một vài người tại các thành phố khác ở Java vào ngày 2 tháng 10. Nhưng chính những cái chết ít ỏi đó đã cho Suharto và quân đội Indonesia một lý do để giết người hàng loạt. Sự đáp trả lại vụ đảo chính quá nhanh, hiệu quả và tổng lực đến nỗi nó khó có thể là một kiểu ứng biến tự phát chỉ trong vòng vài ngày để đáp lại những khai triển không lường trước được; thay vào đó hẳn nó phải liên quan đến kế hoạch định sẵn chỉ chờ một lý do để triển khai, như vụ đảo chính vụng về ngày 1 và 2 tháng 10 đã cung cấp.

Các động cơ của quân đội trong vụ thảm sát này nảy sinh từ sự phá bỏ thỏa hiệp chính trị và chính quyền dân chủ của Indonesia vào thập niên 1950 và đầu thập niên 1960, lên đến đỉnh điểm trong cuộc đấu tranh quyền lực của ba phe phái vào năm 1965 giữa PKI, quân đội và Tổng thống Sukarno. Dường như quân đội bắt đầu thua trong cuộc đấu này. Trong khi đó, PKI, đảng phái chính trị lớn nhất và được tổ chức tốt nhất Indonesia, lại đang đe dọa quyền lực chính trị của quân đội và tiền bạc mà quân đội bòn rút được từ các doanh nghiệp nhà nước, buôn lậu và tham nhũng. Đề xuất của PKI nhằm trang bị vũ khí cho công nhân và nông dân như là một lực lượng quân đội riêng lại đe dọa độc quyền sức mạnh của quân đội. Và như những sự cố tiếp đó thể hiện, một mình Tổng thống Sukarno không thể chống lại quân đội. Nhưng ông ta lại coi PKI như một đồng minh tiềm năng đóng vai trò đối trọng với quân đội. Thêm vào đó, bản thân quân đội cũng bị chia rẽ, đồng thời trong đội ngũ có cả những cảm tình viên cộng sản, những người đã tổ chức vụ đảo chính (cùng với một hay nhiều lãnh tụ PKI). Từ đó, vụ đảo chính đã cho các sĩ quan quân đội chống cộng một cơ hội thanh trừng các đối thủ chính trị trong nội bộ quân đội. Nên ta cũng không ngạc nhiên khi thấy các chỉ huy quân đội được báo động về quyền lực đang trỗi dậy của PKI chuẩn bị kế hoạch dự phòng cho riêng họ, và vụ đảo chính đã cho nó cơ hội khởi động. Có một điều không rõ là bản thân Suharto có dính dáng tới việc vạch ra kế hoạch dự phòng hay không, hay (cũng giống như tướng Pinochet của Chile) trong phút cuối ông ta trở thành lãnh đạo của một vụ lật đổ quân sự do những người khác chuẩn bị.

Vào ngày 4 tháng 10, Suharto đến một vùng gọi là Lubang Buaya (“Lỗ Cá sấu” theo tiếng Indonesia), nơi các đội đảo chính đã ném xác của các vị tướng xuống một cái giếng. Những cái xác đang bị phân hủy được kéo lên khỏi giếng trước mặt các nhiếp ảnh gia và ống kính truyền hình. Vào hôm sau, ngày 5 tháng 10, quan tài của các vị tướng được chở về qua các con đường ở Jakarta với hàng ngàn người dân xếp hàng hai bên đường chờ đợi. Lãnh đạo quân đội chống cộng nhanh chóng kết tội cho đảng PKI là giết người, dù những vụ giết người này rõ ràng là do các đơn vị quân đội thực hiện. Một chiến dịch tuyên truyền chỉ có thể dàn dựng trước mới nhanh chóng được tung ra để tạo nên một không khí cuồng loạn, cảnh báo người dân Indonesia không theo cộng sản rằng họ đang gặp một mối nguy hiểm chết người từ những người cộng sản, những kẻ được cho là đã lên danh sách những người cần giết, và sẽ móc mắt họ. Những thành viên nữ phụ trợ của PKI bị gán cho việc tra tấn tình dục thô bạo và tùng xẻo các vị tướng bị bắt cóc. Tổng thống Sukarno cố giảm thiểu sự quan trọng của vụ đảo chính ngày 1 tháng 10 và phản đối quy mô các giải pháp phản ứng của quân đội, nhưng giờ đây quân đội đã giật quyền kiểm soát tình hình khỏi tay ông. Từ ngày 5 tháng 10 trở đi, quân đội bắt đầu một cuộc bố ráp nhằm loại trừ mọi thành viên của đảng PKI và các tổ chức trực thuộc, cùng gia đình của các thành viên này.

Phản ứng của PKI không như những gì người ta trông đợi từ một tổ chức từng vạch ra kế hoạch đảo chính. Suốt từ tháng 10 đến tháng 11, các thành viên PKI bị triệu tập đến các căn cứ quân sự, trong đó có nhiều người tự nguyện đến, vì họ hi vọng chỉ bị thẩm vấn rồi được thả ra. Đảng PKI đúng ra có thể hỗ trợ vụ đảo chính và cản trở những kế hoạch phản công của quân đội bằng cách huy động công nhân đường sắt phá hoại tàu hỏa và máy móc để phá phương tiện vận chuyển của quân đội, và nông dân phong tỏa đường bộ; nhưng họ đã không làm điều đó.

Do các vụ giết hại người dân Indonesia không được tiến hành có tổ chức và lưu hồ sơ một cách kỹ càng như các vụ giết người của Đức Quốc xã trong các trại tập trung ở Thế chiến II, nên số lượng nạn nhân còn quá mơ hồ. Ước lượng cao nhất là khoảng hai triệu người; con số được trích dẫn rộng rãi nhất là khoảng nửa triệu người theo ước tính lúc đó của ủy ban tìm hiểu sự thực của Tổng thống Sukarno. Kỹ thuật giết người của Indonesia cũng đơn giản hơn của Đức Quốc xã: nạn nhân bị giết từng người một bằng dao rựa và các loại vũ khí cầm tay khác hoặc thắt cổ, chứ không phải giết một lúc hàng trăm người bằng hơi ngạt. Việc tiêu hủy xác chết cũng bừa bãi thay vì được xử lý đặc biệt bằng các lò thiêu lớn. Tuy nhiên, những gì xảy ra ở Indonesia vào các năm 1965 và 1966 vẫn được xếp vào hàng một trong những bi kịch thảm sát hàng loạt lớn nhất trên thế giới kể từ Thế chiến II.

Một hiểu lầm phổ biến là nạn nhân các vụ thảm sát này chủ yếu là người Indonesia gốc Hoa. Không phải như thế, hầu hết nạn nhân đều là người Indonesia thuần túy; các mục tiêu là những người Indonesia bị nghi là cộng sản và thành viên trong gia đình chứ không nhất thiết là người Hoa. Một hiểu lầm khác, những vụ giết người là một sự bùng nổ tự phát bởi người dân mất lý trí, cảm xúc bất ổn và những người thiếu chín chắn có khuynh hướng “nổi cơn điên” (amok), một từ Malay để chỉ những người nổi điên rồi trở thành kẻ sát nhân. Không, tôi không biết bất kỳ chứng cứ nào cho thấy người Indonesia thực chất là bất ổn và có máu giết người. Thay vào đó, quân đội Indonesia đã vạch kế hoạch và bố trí việc giết người để bảo vệ quyền lợi của họ, và chiến dịch tuyên truyền của quân đội đã thuyết phục nhiều dân thường thực hiện các vụ thảm sát để đến phiên họ bảo vệ các quyền lợi của mình. Chiến dịch giết chóc của quân đội là ác độc nhưng không phải là bất hợp lý: nó nhắm đến việc tiêu diệt các đối thủ mạnh nhất ngay trong quân đội, và mục đích của họ đã thành công.

Do đó, tình huống xảy ra vào cuối tháng 10 năm 1965 khiến Suharto nắm được sự trung thành của một số chứ không phải toàn bộ lãnh đạo quân đội. Sukarno vẫn là tổng-thống-trọn-đời, vẫn được nhiều người dân tôn kính như vị cha già khai quốc của đất nước Indonesia, vẫn còn nổi tiếng trong giới sĩ quan và binh lính trong quân đội, và vẫn có kỹ năng chính trị. Suharto không thể gạt Sukarno sang một bên cũng như một số tướng lĩnh Mỹ không thể làm vậy với George Washington, người cha khai quốc yêu quý của nước Mỹ, ở nhiệm kỳ tổng thống thứ hai.

Trước đó, Suharto chỉ được xem là một vị tướng có khả năng chứ không có gì nổi trội. Nhưng giờ đây ông chuyển sang thể hiện các kỹ năng về chính trị còn vượt cả Sukarno. Dần dần, ông giành được sự ủng hộ của những sĩ quan quân đội khác, thay thế các quan chức quân sự lẫn dân sự có cảm tình với đảng PKI bằng những người trung thành, rồi sau hơn hai năm rưỡi, ông tiến dần một cách thận trọng đến cương vị thay thế Sukarno trong khi vẫn vờ hành động theo lệnh của Sukarno. Vào tháng 3 năm 1966, Sukarno bị ép ký một bức thư nhường quyền lực cho Suharto; vào tháng 3 năm 1967, Suharto trở thành tổng thống tạm quyền, và đến tháng 3 năm 1968, ông thay thế Sukarno trong cương vị tổng thống. Ông chính thức cầm quyền trong suốt thời gian 30 năm.

Ngược hẳn với Sukarno, Suharto không theo đuổi chính sách Thế giới Thứ ba chống chế độ thực dân và cũng không có tham vọng đất đai bên ngoài quần đảo Indonesia. Thay vào đó, ông ta tập trung vào những vấn đề trong nước. Đặc biệt, Suharto kết thúc cuộc “đối kháng” vũ trang với Malaysia về vấn đề Borneo, tái gia nhập Liên Hợp Quốc, từ bỏ mối liên kết bị thúc đẩy về ý thức hệ với Trung Hoa Cộng sản, và thay vào đó chuyển hướng sang phương Tây vì những lý do kinh tế và chiến lược.

Bản thân Suharto thiếu nền tảng học vấn đại học và không hiểu biết chút nào về lý thuyết kinh tế; nhưng thay vào đó, ông ta đặt nền kinh tế “chính thức” (trái với nền kinh tế không chính thức được mô tả dưới đây) vào tay của các nhà kinh tế Indonesia tài năng, nhiều người trong số này có bằng cấp tại Đại học California ở Berkeley. Việc này tạo nên tên hiệu “nhóm mafia Berkeley.” Dưới thời Sukarno, nền kinh tế bị thâm hụt chi tiêu do nợ nần và lạm phát trầm trọng. Cũng như nhóm Các chàng trai Chicago của tướng Pinochet ở Chile, nhóm mafia Berkeley của Suharto thực hiện những cải cách kinh tế bằng việc cân đối ngân sách, cắt giảm bao cấp, áp dụng một nền kinh tế định hướng thị trường, đồng thời giảm nợ công và lạm phát. Tận dụng sự bãi bỏ chính sách thiên tả của Sukarno, nhóm mafia Berkeley kêu gọi đầu tư nước ngoài và thu hút nguồn tài trợ từ Mỹ và châu Âu để phát triển nguồn tài nguyên thiên nhiên của Indonesia, đặc biệt là dầu khí và khoáng sản.

Một bộ phận khác của việc hoạch định kinh tế Indonesia là quân đội. Suharto tuyên bố: “Quân đội đã có quyền lợi lớn trong tiến trình hiện đại hóa đất nước và xã hội, đồng thời có nguyện vọng đóng một vai trò năng động trong tiến trình này… Nếu quân đội đứng trung lập trong việc đối mặt với các vấn đề củng cố Trật tự Mới, nó sẽ từ bỏ vai trò cũng như lời kêu gọi của lịch sử… Quân đội có hai chức năng, đó là một công cụ vũ trang của nhà nước và một nhóm hoạt động để đạt được các mục tiêu của cuộc cách mạng.” Hãy thử hình dung một tướng lĩnh Mỹ trở thành tổng thống và nói điều này về quân đội Mỹ xem! Trên thực tế, quân đội Indonesia đã phát triển một chính quyền song song với một ngân sách tương đương gần bằng ngân sách chính thức của chính phủ. Dưới thời Suharto, các sĩ quan quân đội chiếm hơn một nửa chức vụ thị trưởng, quản lý địa phương và tỉnh trưởng. Các sĩ quan quân đội địa phương có quyền bắt giữ vô hạn định bất kỳ ai bị nghi ngờ có những hành động “gây tổn hại nền an ninh.”

Các sĩ quan quân đội cũng thành lập doanh nghiệp và học đòi tham nhũng đồng thời tống tiền ở phạm vi rộng lớn để tài trợ cho quân đội và nhồi nhét cho đầy túi riêng của mình. Trong khi Suharto không có lối sống xa hoa phô trương, thì vợ con ông ta lại nổi tiếng tham nhũng. Ngay cả khi không đầu tư vào quỹ riêng của mình, những người con của ông cũng mở những doanh nghiệp đủ làm cho họ trở nên giàu có. Sau đó, khi gia đình ông ta bị kết tội tham nhũng, Suharto nổi giận và khăng khăng rằng sự giàu có mới phát của gia đình con cái mình chỉ là nhờ tài kinh doanh của họ. Người Indonesia gán cho vợ của Suharto (Ibu Tien = Quý bà Tien) một hỗn danh là “Quý bà Mười phần trăm” vì người ta cho rằng bà luôn nhận một khoản trích 10% giá trị hợp đồng với chính phủ. Vào cuối giai đoạn tại vị của Suharto, Indonesia được xếp là một trong những quốc gia tham nhũng nhất thế giới.

Nạn tham nhũng tràn ngập khắp mọi lĩnh vực đời sống ở Indonesia. Chẳng hạn, khi tôi đang làm việc cho Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (World Wildlife Fund – WWF) ở Indonesia, một người bạn Indonesia cùng làm việc trong tổ chức này chỉ cho tôi một giám đốc văn phòng WWF ở Indonesia và thì thầm bên tai tôi hỗn danh của ông ta là “Ngài Tham nhũng” – vì ông ta không chỉ tham nhũng bình thường, mà còn là loại tham nhũng siêu hạng; một con tàu là quà tặng của tổ chức WWF nước ngoài đã biến thành con tàu riêng của “Ngài Tham nhũng.” Một ví dụ khác về tham nhũng ở ngoài khu vực chính phủ là, công việc của tôi ở Indonesia theo thông lệ đòi hỏi tôi phải bay cùng hành lý nặng nề, cồng kềnh khiến tôi luôn chịu cước phí hành lý vượt trọng lượng quy định. Tôi bắt đầu quen với việc mỗi lần làm thủ tục kiểm tra ở quầy sân bay địa phương, thì nhân viên làm thủ tục kiểm tra của hãng hàng không ra khỏi quầy kiểm tra gặp tôi và yêu cầu thanh toán cước phí phụ thu bằng tiền mặt để nhét túi chứ không thanh toán cho hãng hàng không.

Suharto thay nguyên tắc cai trị “dân chủ có định hướng” của Sukarno bằng nguyên tắc có tên gọi “Trật tự Mới,” được cho là trở lại với những khái niệm thuần túy trong hiến pháp Indonesia năm 1945 và năm nguyên tắc Pancasila. Suharto tuyên bố đang gỡ bỏ những thay đổi tồi tệ sau này do các đảng phái chính trị đưa ra mà ông thấy không có giá trị. Ông ta xem người dân Indonesia là vô nguyên tắc, dốt nát, dễ bị ảnh hưởng trước những tư tưởng nguy hiểm và chưa sẵn sàng cho một chế độ dân chủ. Trong tự truyện của mình, ông ta viết: “Trong thể chế dân chủ Pancasila, không có chỗ cho sự đối lập theo kiểu phương Tây. Trong thể chế dân chủ Pancasila, chúng ta nhận thấy có sự cân nhắc [musyawarah] để đạt đến đồng thuận [mufakat] của người dân… nhưng chúng ta không nhận thấy sự đối lập dựa trên tính mâu thuẫn, sự đối lập chỉ cố tạo nên khác biệt… Dân chủ phải biết kỷ luật và trách nhiệm vì nếu không có hai điều trên thì dân chủ chỉ có nghĩa là một điều mơ hồ, rối rắm.”

Những nét đặc trưng này của Suharto – cho rằng chỉ có một phương cách, và không nên bàn cãi gì nữa – được áp dụng cho mọi phạm trù đời sống của người dân Indonesia. Chỉ có một hệ tư tưởng chấp nhận được, đó là Pancasila, mà viên chức chính quyền và thành viên của quân đội phải học tập theo một chương trình truyền bá trong guồng máy quan liêu. Dĩ nhiên, những cuộc đình công của giới lao động bị cấm đoán: chúng trái ngược với nguyên tắc Pancasila. Duy nhất một định danh về chủng tộc được thống nhất là người Indonesia, do đó người Indonesia gốc Hoa bị cấm dùng chữ Hoa hoặc giữ lại tên tiếng Hoa của mình. Sự thống nhất chính trị quốc gia không thừa nhận quyền tự trị địa phương cho các vùng Aceh, Đông Timor, New Guinea thuộc Indonesia hay những vùng ngoại lệ khác. Về mặt lý tưởng, đúng ra Suharto chỉ thích có một đảng phái chính trị, nhưng các cuộc bầu cử Quốc hội cần thiết phải có nhiều đảng phái tranh cử để chính phủ Indonesia trông có vẻ chính danh trên trường quốc tế. Tuy nhiên, một “nhóm hoạt động” trong chính phủ duy nhất gọi là Golkar luôn thắng cử với tỉ lệ lên đến 70% số phiếu bầu, trong khi mọi đảng phái chính trị khác hợp nhất thành hai nhóm hoạt động, một trong hai nhóm thuộc khối Hồi giáo và nhóm kia thuộc khối không theo Hồi giáo, và luôn luôn thất cử. Vì thế, Indonesia dưới thời Suharto trở thành một đất nước quân sự, gần giống như trong thập niên cuối cùng của chính quyền thuộc địa Hà Lan – chỉ khác một điều là đất nước này giờ đây được điều hành bởi người Indonesia chứ không phải người ngoại quốc.

Trưng bày lịch sử mà tôi xem trong hành lang khách sạn năm 1979 thể hiện sự nhấn mạnh của Suharto về vụ đảo chính bị phá vỡ là một âm mưu của phe cộng sản, được khắc họa như là thời điểm xác lập sự thay đổi trong lịch sử Indonesia hiện đại. Ở Tượng đài Pancasila bề thế dựng năm 1969 để tưởng nhớ việc giết hại bảy vị tướng (Ảnh 5.5), được cho là “bảy anh hùng của cuộc cách mạng,” hằng năm (đến bây giờ vẫn thế) đều tổ chức một buổi lễ nghiêm trang để tưởng nhớ và tái hiến dâng cho Pancasila. Một bức phù điêu gắn trên tượng đài, và một Bảo tàng về sự bội phản của PKI ở kế cận, mô tả lịch sử đất nước Indonesia thời kỳ hậu thuộc địa là một sự nối tiếp một chuỗi dài những hành động phản bội của những người cộng sản, và đỉnh điểm là vụ đảo chính vào năm 1965. Vào ngày 30 tháng 9 hằng năm, mọi đài truyền hình đều được yêu cầu phát sóng, và mọi học sinh bị buộc phải xem, một cuốn phim dài bốn tiếng do chính phủ đặt hàng kể về bảy vụ bắt cóc và giết người man rợ. Dĩ nhiên không một lời nhắc đến vụ đáp trả giết hại nửa triệu người Indonesia. Mãi đến 12 năm sau (năm 1979) khi tôi bắt đầu làm việc ở Indonesia thì hầu hết tù nhân chính trị cuối cùng mới được trả tự do.

Quốc hội Indonesia bầu lại Suharto làm tổng thống hết nhiệm kỳ năm năm này đến nhiệm kỳ năm năm khác. Sau gần 33 năm, sau khi Quốc hội tôn vinh ông thêm một nhiệm kỳ bảy năm thì chế độ của ông ta sụp đổ nhanh chóng và đầy bất ngờ vào tháng 5 năm 1998. Chế độ này đã bị xói mòn bởi sự kết hợp giữa nhiều yếu tố. Một trong số đó là khủng hoảng tài chính châu Á làm giảm giá trị đồng tiền Indonesia khoảng 80% và kích động bạo loạn. Yếu tố khác đến từ chính Suharto, ở tuổi 77, ông ta trở nên mất kết nối với thực tại, mất luôn các kỹ năng chính trị, và bị sốc bởi cái chết của vợ ông vào năm 1996, người vừa là bạn đời vừa là nơi nương tựa gần gũi nhất. Có một nỗi giận dữ lan truyền trong công chúng về sự tham nhũng và tài sản mà gia đình ông ta tích lũy được. Mặc dù những thành công của Suharto đã tạo ra một xã hội Indonesia công nghiệp hóa hiện đại, nhưng những công dân của ông ta không còn chịu đựng được sự ngoan cố của ông ta khi cho rằng người dân không thể tự nắm quyền được. Quân đội Indonesia đã đi đến kết luận, cũng như quân đội Chile sau cuộc bỏ phiếu “Không!” năm 1998, rằng họ không thể chặn được làn sóng phản kháng, và rằng Suharto (cũng như Pinochet) nên từ chức trước khi tình hình vượt khỏi tầm kiểm soát.

Vào năm 1999, một năm sau khi Suharto bị lật đổ, Indonesia tiến hành các cuộc bầu cử tương đối tự do đầu tiên sau hơn 40 năm.

Kể từ đó, Indonesia có một chuỗi các cuộc bầu cử với tỉ lệ cử tri đi bầu còn cao hơn nhiều so với Mỹ: tỉ lệ đi bầu là 70%-90%, trong khi tỉ lệ đi bầu ở Mỹ hiếm khi đạt 60% ngay cả ở các cuộc bầu cử tổng thống. Trong cuộc bầu cử tổng thống gần đây nhất vào năm 2014, một người chống lại thiết chế cầm quyền giành chiến thắng, đó là cựu thị trưởng Jakarta, Joko Widodo, người đã đánh bại đối thủ vốn là một tướng lĩnh quân đội. Tình trạng tham nhũng giảm, và đôi khi còn nhận sự trừng phạt.

Chúng ta hãy làm một tóm tắt về chính quyền Suharto và di sản của biến cố bộc phát sau vụ đảo chính thất bại vào năm 1965 cùng vụ phản đảo chính thành công. Di sản tồi tệ là điều hiển nhiên. Tồi tệ nhất là vụ thảm sát hàng loạt nửa triệu người Indonesia và giam giữ 100.000 người trong hơn một thập niên. Tham nhũng tràn lan làm giảm tỉ lệ phát triển của Indonesia xuống dưới mức mà đáng ra họ phải được thụ hưởng nếu như số tiền chảy vào túi quân đội không quá nhiều, khi quân đội điều hành chính quyền riêng song hành với một ngân sách tương đương với chính phủ. Vấn nạn tham nhũng này đã lây lan trong khắp xã hội Indonesia (ngay cả ở những nhân viên hàng không). Chính đức tin của Suharto rằng người dân của ông ta không thể tự điều hành được đã lấy đi vài thập niên cơ hội của người Indonesia để học cách tự điều hành đất nước một cách dân chủ.

Từ các sự kiện năm 1965, lực lượng quân đội Indonesia rút ra bài học là thành công phải đạt được bằng việc sử dụng sức mạnh và giết người thay vì giải quyết các vấn đề khiến người dân không hài lòng. Chính sách trấn áp bằng việc giết người của quân đội đã khiến Indonesia phải trả giá đắt ở New Guinea thuộc Indonesia, ở Sumatra, và đặc biệt là ở Đông Timor thuộc Indonesia bị phân chia về mặt chính trị giữa một thuộc địa Bồ Đào Nha ở phía đông và lãnh thổ Indonesia ở phía tây. Khi người Bồ Đào Nha bỏ rơi những thuộc địa cuối cùng vào năm 1974, mọi logic về mặt địa lý đều chứng tỏ Đông Timor là một tỉnh của Indonesia, vốn đã cung cấp cho nhiều tỉnh khác các nền văn hóa, ngôn ngữ và lịch sử khác nhau. Dĩ nhiên người ta có thể phản bác rằng các biên giới quốc gia không chỉ được định hình bởi tính hợp lý về mặt địa lý: Canada không phải là một phần của Mỹ, và Đan Mạch cũng không phải là một phần của Đức. Nhưng với Đông Timor thì không thể đem so sánh với Canada hay Đan Mạch: nó chỉ là nửa phía đông của một đảo nhỏ nằm trong một chuỗi dài những hòn đảo, và những phần còn lại đều hoàn toàn thuộc về Indonesia. Nếu chính phủ và quân đội Indonesia thể hiện một chút khéo léo, họ có thể đã thương thảo một sự sắp xếp để hợp nhất Đông Timor với một số quyền tự trị vào Indonesia rồi. Thay vào đó, quân đội Indonesia lại xâm lấn, thảm sát và chiếm đóng Đông Timor. Dưới áp lực của quốc tế, và trong nỗi kinh hoàng của quân đội Indonesia, Tổng thống Habibie, người tiếp nhiệm Suharto, đã cho phép một cuộc trưng cầu dân ý về nền độc lập của Đông Timor vào tháng 8 năm 1999. Đến lúc đó, dĩ nhiên số đông cử tri lấn át đều bỏ phiếu cho nền độc lập của họ. Ngay sau đó, quân đội Indonesia tổ chức những đội dân quân thân Indonesia để tiếp tục cuộc thảm sát, cưỡng bức nhiều người dân sơ tán đến Tây Timor thuộc Indonesia rồi đốt trụi hầu hết nhà cửa của quốc gia mới định hình này – nhưng vô ích, vì các đội quân quốc tế đến khôi phục trật tự, và cuối cùng Đông Timor vẫn nắm quyền kiểm soát và trở thành Cộng hòa Dân chủ Đông Timor (Timor-Leste) hiện nay. Cái giá phải trả của người Đông Timor là khoảng một phần tư dân số bị chết, và những người sống sót giờ đây hình thành quốc gia nhỏ bé nghèo nhất châu Á với thu nhập bình quân đầu người thấp hơn Indonesia sáu lần. Cái giá phải trả của Indonesia là giờ đây ngay giữa họ là một quốc gia riêng biệt có chủ quyền trên một đáy biển phong phú tài nguyên dầu lửa đầy tiềm năng mà nguồn doanh thu từ đó sẽ không chảy vào Indonesia nữa.

Bây giờ chúng ta đang dừng lại ở những di sản kinh hoàng của chính quyền Suharto, có vẻ không còn gì để nói về nó nữa. Nhưng lịch sử hiếm khi phơi bày cho chúng ta điều xấu ác thuần túy hay điều tốt đẹp thuần túy, và lịch sử nên được xem xét một cách trung thực. Về nhiều mặt thì nó đúng là ghê tởm, nhưng chính quyền Suharto cũng có những di sản tích cực. Nó đã tạo ra và duy trì sự phát triển kinh tế, ngay cả khi sự phát triển này bị giảm thiểu do tệ nạn tham nhũng (Ảnh 5.6, 5.7). Nó thu hút đầu tư nước ngoài. Nó tập trung năng lực vào các vấn đề trong nước thay vì phân tán vào nền chính trị chống thực dân trên thế giới hay vào nỗ lực triệt phá nước láng giềng Malaysia. Nó thúc đẩy kế hoạch hóa gia đình, từ đó giải quyết một trong những vấn đề căn bản lớn nhất làm điêu đứng đất nước Indonesia độc lập cũng như chế độ thuộc địa của người Hà Lan trước đó. (Ngay ở những khu làng xa xôi nhất thuộc New Guinea của Indonesia, tôi vẫn thấy những tấm bích chương của chính phủ khuyến khích kế hoạch hóa gia đình.) Nó đảm đương một cuộc cách mạng xanh bằng việc cung cấp phân bón và cải thiện hạt giống làm gia tăng nhanh chóng năng suất lúa và hoa màu, từ đó nâng cao sản lượng nông nghiệp và dinh dưỡng cho người dân Indonesia trên diện rộng. Trước năm 1965, Indonesia luôn trong tình trạng căng thẳng; ngày nay, nó không cho thấy bất kỳ nguy cơ cận kề nào về sự phân rã dù đất nước này hợp thành từ những hòn đảo, lãnh thổ trải dài hàng ngàn dặm, có đến hàng trăm ngôn ngữ bản địa, và việc tồn tại đồng thời nhiều tôn giáo và tín ngưỡng vốn là những mầm mống gây thảm họa. 80 năm trước, hầu hết người dân không bao giờ nghĩ mình là người Indonesia, nhưng giờ đây họ tự hào chọn nó như một căn tính quốc gia.

Nhưng vẫn có nhiều người, kể cả người Indonesia hay người ngoài, cho điểm chính quyền Suharto bằng không, thay vì có đánh giá một số điểm tích cực. Họ phản bác: Indonesia cũng có thể đạt được những tiến bộ tương tự dưới một chính quyền khác chứ không chỉ dưới thời Suharto. Đây lại là một dạng câu hỏi “giá như?” trong lịch sử, nhưng những câu hỏi như thế thì lại không thể trả lời với độ tin cậy chính xác. Người ta chỉ có thể so sánh những gì thực sự xảy ra với những gì có thể xảy ra ở Indonesia sau năm 1965 dưới hai lựa chọn khả dĩ: việc chính quyền Sukarno nắm quyền cho đến năm 1965, hay thay thế nó bằng một chế độ cộng sản dưới sự lãnh đạo của PKI, vốn đang tìm cách nắm lấy quyền lực. Một mặt, chính quyền Sukarno đã đẩy đất nước Indonesia đến những xáo trộn chính trị và bế tắc về kinh tế đến năm 1965. Những vụ tra tấn, giết người, nghèo đói áp bức và chính sách ở một số nước khác đã cảnh báo chúng ta rằng một sự thay thế cho chính quyền Suharto có thể còn tồi tệ hơn cả những gì Suharto đã làm. Mặt khác, cũng có những người cho rằng chính quyền Sukarno đang dẫn đến những điều kỳ diệu, hay một chế độ cộng sản Indonesia có thể chứng tỏ sự khác biệt với các chế độ cộng sản ở những nơi khác trên thế giới. Chúng ta sẽ không bao giờ biết được.

Làm thế nào để biến cố ở Indonesia khớp với bộ khung của chúng ta khiến biến cố quốc gia tương đồng với biến cố cá nhân?

Indonesia đúng là minh họa cho sự thay đổi có chọn lọc và vẽ ra một hàng rào (nhân tố số 3, Bảng 1.2). Bên trong phạm vi hàng rào là những lĩnh vực chủ yếu được cho là chín muồi để thay đổi. Những lĩnh vực đó bao gồm sự thay thế chính phủ dân sự bằng một chính quyền độc tài quân sự của Suharto, và thay đổi ngược lại bởi những người kế nhiệm ông ta, cùng việc sử dụng các nhà kinh tế được học hành bài bản ở phương Tây để biến sự thoái trào kinh tế thành phát triển kinh tế, và việc Suharto loại bỏ tham vọng lãnh đạo chính trị Thế giới Thứ Ba của Sukarno. Mặt khác, bên ngoài hàng rào vẫn còn những đặc điểm chủ yếu của Indonesia được lưu giữ nguyên vẹn sau năm 1965, bao gồm sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và sự khoan dung lớn lao về mặt tôn giáo. Những tính chất liên tục này được xem là giá trị cốt lõi không bàn cãi bởi cả Sukarno và Suharto cũng như những người kế nhiệm Suharto, ngoại trừ việc Sukarno mong muốn ngả sang phía những người cộng sản.

Một số nhân tố ở Indonesia khiến đất nước này gặp phải khó khăn trong việc xử lý những vấn đề của mình. Với tư cách là một cựu thuộc địa mới được độc lập, Indonesia chỉ bắt đầu với căn tính quốc gia hạn chế (nhân tố 6) – chứ không như Phần Lan, vốn đã có được một chính quyền tự quản độc lập đáng kể trong một thế kỷ trước khi giành được độc lập hoàn toàn. Với tư cách một quốc gia mới, Indonesia thiếu sự tự tin từ một lịch sử thay đổi thành công trước đó, ngoại trừ những cuộc đấu tranh giành độc lập đất nước ở giai đoạn 1945-1949 (nhân tố số 8). Việc tự đánh giá thực tế trung thực (nhân tố số 7) ở Tổng thống Sukarno còn khiếm khuyết, ông ta tin mình được phú một khả năng độc đáo là hiểu được những ước muốn vô thức của người dân Indonesia. Những giá trị cốt lõi của hầu hết sĩ quan quân đội chỉ mang tính cực đoan chứ không phải ước mong tốt đẹp (nhân tố số 11). Sự tự do hành động của Indonesia bị hạn chế bởi những ràng buộc của nghèo đói và phát triển dân số (nhân tố số 12).

Mặt khác, Indonesia cũng có được những thuận lợi trong việc xử lý các vấn nạn. Vốn là một quần đảo, đất nước này không chịu những kiềm chế từ bên ngoài như Chile nhưng khác với Phần Lan: không một quốc gia nào đe dọa Indonesia kể từ khi người Hà Lan rời đi (lại nhân tố số 12). Những kinh tế gia thuộc nhóm mafia Berkeley có thể đưa ra những hình mẫu đã được thử nghiệm tốt ở các nước khác để cải tổ nền kinh tế Indonesia và đạt được sự phát triển kinh tế (nhân tố số 5). Sau khi Suharto bãi bỏ chính sách đối ngoại thân Trung Hoa Cộng sản của người tiền nhiệm và áp dụng một chính sách thân phương Tây, Indonesia nhận được nhiều đầu tư và trợ giúp của nước ngoài từ các nước phương Tây trong việc tái thiết nền kinh tế (nhân tố số 4).

Suharto là minh họa cho sự đánh giá trung thực, thực tế, và đầy mưu thuật (nhân tố số 7). Trong việc dần dần loại bỏ người cha khai quốc và cũng là tổng thống đầu tiên của đất nước Indonesia là Sukarno, Suharto tiến hành rất thận trọng, tính toán từng bước một về những việc ông ta có thể tránh được hoặc không tránh được bị chỉ trích hay trừng phạt, và rồi cuối cùng ông ta cũng thành công trong việc thay thế Sukarno, mặc dù phải mất thời gian. Suharto cũng thực tế trong việc loại bỏ những tham vọng về chính sách đối ngoại của Sukarno vượt quá tầm đất nước Indonesia, bao gồm cuộc chiến tranh du kích chống Malaysia và nỗ lực lãnh đạo phong trào chống thực dân trên thế giới.

Indonesia cũng minh họa ba vấn đề về biến cố quốc gia không nảy sinh đối với biến cố cá nhân. Giống Chile nhưng khác với Phần Lan, Indonesia minh họa sự thất bại của thỏa hiệp chính trị tạo ra sự bế tắc và các phong trào ly khai đầu thập niên 1950, dẫn đến việc Sukarno đặt ra thiết chế “dân chủ có định hướng,” rồi đến việc đảng Cộng sản Indonesia kêu gọi trang bị vũ khí cho công nhân và nông dân khiến quân đội trả đũa bằng vụ thảm sát tập thể. Cũng giống Chile nhưng khác với Phần Lan, Indonesia minh họa cho vai trò của những lãnh đạo khác thường. Trong trường hợp của Indonesia, những nhân vật đó là Sukarno, người được ban cho một uy tín thu hút quần chúng và cũng gặp họa vì quá cả tin vào uy tín của mình; và Suharto, vốn được ban cho đức tính kiên nhẫn, cẩn thận và các kỹ năng chính trị, nhưng cũng gặp tai ương bởi chính sách giết người tàn bạo, bởi sự mù quáng trước sự tham nhũng trong gia đình, và bởi việc thiếu lòng tin vào người dân của mình. Cuối cùng, về sự hòa giải sau những vụ giết người được khơi dậy từ việc thỏa hiệp chính trị thất bại, thì Indonesia lại ở cực đối nghịch với Phần Lan, với Chile ở trung gian: Phần Lan nhanh chóng hòa giải sau cuộc Nội chiến; nhiều tranh cãi và xét xử công khai các thủ phạm dính líu vào biến cố ở Chile, nhưng sự hòa giải vẫn chưa hoàn tất; trong khi đó ở Indonesia thì sự tranh cãi hay hòa giải rất hạn chế, đồng thời lại không có vụ xét xử nào. Những nhân tố chịu trách nhiệm cho việc thiếu xét xử gồm những truyền thống dân chủ yếu kém của Indonesia; sự kiện khẩu hiệu “một tổ quốc cho mọi người dân Chile” xuất hiện thời kỳ hậu Pinochet hầu như không có âm hưởng gì ở thời kỳ hậu Sukarno ở Indonesia; và đặc biệt là Indonesia vẫn giữ một nền cai trị độc tài quân sự trong suốt 33 năm sau vụ thảm sát tập thể, và hiện nay quân đội vẫn còn nắm giữ nhiều quyền lực hơn so với ở Chile.

Tôi có thể thêm vào kinh nghiệm cá nhân của mình về những thay đổi có chọn lọc ở Indonesia. Tôi đã làm việc ở đất nước này trong suốt 17 năm ở thời kỳ Suharto, từ năm 1979 đến năm 1996. Sau đó, đến năm 2012 tôi mới trở lại (14 năm sau khi triều đại Suharto sụp đổ) và còn tiếp tục đến đó nhiều lần sau này. Nhiều điều ngạc nhiên đã chờ đón tôi khi trở lại.

Điều ngạc nhiên thứ nhất liên quan đến ngành du lịch hàng không. Vào thập niên 1980 và 1990, hoạt động của các cảng hàng không thương mại Indonesia thường bất cẩn và nguy hiểm. Ngoài cảm giác bị tống tiền do phải đưa hối lộ và trả cước phí vượt trọng lượng quy định không đúng nơi đúng chỗ, tôi còn trải qua một chuyến bay mà những thùng nhiên liệu lớn được đặt một cách thiếu an toàn ngay trong cabin hành khách, tiếp viên thì vẫn đứng trong suốt thời gian cất cánh, còn dây an toàn và túi nôn cho hành khách (trong khi có một người bị nôn ói) thì lại thiếu. Ở một chuyến bay khác trên một chiếc máy bay chở khách loại lớn đến thủ phủ Jayapura của tỉnh Papua, cơ trưởng và cơ phó chỉ chú tâm đến việc tán gẫu với mấy cô tiếp viên qua cửa khoang buồng lái mở toang đến nỗi họ không nhận ra đang tiếp đất ở vị trí quá cao nên phải bù đắp sự cẩu thả này bằng cách dốc thẳng máy bay xuống, và phải thắng gấp khi đáp, chiếc máy bay chỉ dừng khi cách đường hào vành đai đường băng sáu mét. Nhưng đến năm 2012, hãng máy bay hàng đầu của Indonesia, công ty hàng không Garuda, được xếp loại là một trong những công ty vận chuyển hành khách trong vùng tốt nhất thế giới. Kể từ năm 2012 trở đi, mỗi lần kiểm tra hành lý thừa trọng lượng, tôi đều được yêu cầu đến phòng giải quyết hành lý dư thừa để trả cước phí cho hãng bằng thẻ tín dụng và được nhận lại hóa đơn. Trong khi đến tận năm 1996, tôi vẫn thường bị nhân viên yêu cầu phải hối lộ, thì kể từ năm 2012 trở đi tôi chưa bao giờ gặp lại chuyện này.

Trong khi đang ở trên vùng biển ven bờ Indonesia vào năm 2012, tôi nhận ra một con tàu tìm kiếm của quân đội gần đó và tự hỏi nó là con tàu gì thì ngạc nhiên khi biết rằng đó là một tàu tuần tra của chính phủ đang tìm kiếm những tàu đánh cá bất hợp pháp. Đến tận năm 1996, tôi vẫn xem cụm từ “tàu tuần tra của chính phủ Indonesia” là một phép nghịch hợp đầy mâu thuẫn cũng như nói “con tôm thẻ nhỏ mà to.” Tôi đã trở nên quen với những hoạt động của quân đội như việc tạo ra nhu cầu để tuần tra thay vì tiến hành việc tuần tra.

Khi bước chân lên bờ biển New Guinea thuộc Indonesia vào năm 2014, tôi ngạc nhiên khi chạm mặt những con chim to lớn với màu sắc rực rỡ mà trước đây là mục tiêu hàng đầu của nạn săn bắn bất hợp pháp, giờ đây đang kêu vang và nhảy nhót gần hoặc ngay trong những ngôi làng ven biển: bồ câu hoàng đế (chim gầm ghì), hồng hoàng, vẹt mào cọ và các loại chim họ Thiên đường. Trước đây, các loài chim này thường bị bắn hay bẫy gần các ngôi làng, và chúng ta chỉ bắt gặp chúng ở những nơi xa dân cư.

Trong chuyến trở lại New Guinea, những người bạn Indonesia của tôi kể lại một câu chuyện mà thoạt nghe như những mẫu chuyện xưa cũ thường xảy ra vào các thập niên 1980 và 1990. Trong ngôi làng ở ngay New Guinea này, mới đây một viên cảnh sát Indonesia đã bắn bốn người New Guinea; ở quận nọ, một quan chức rất tham nhũng. Hừm! Dĩ nhiên rồi, vậy thì có gì mới đâu? Lần này thì lại khác, đó là cả viên cảnh sát lẫn tên quan chức đều bị ra tòa và tống vào tù; một điều chưa từng xảy ra trước đây.

Trong khi có những dấu hiệu tiến bộ, chúng cũng không nên được cường điệu quá mức. Những vấn đề xưa cũ của Indonesia vẫn tồn tại ở những mức độ khác nhau. Tệ nạn hối lộ vẫn tràn lan dù tôi không còn phải đối mặt với nó nữa. Những người bạn Indonesia thân thiết của tôi vẫn không nhắc đến vụ thảm sát năm 1965: những người bạn trẻ hơn tôi lúc đó chưa ra đời, còn những người lớn tuổi sống ở thời kỳ 1965 thì vẫn kín tiếng với tôi về sự kiện đó, dù những đồng nghiệp Mỹ nói rằng họ từng gặp nhiều người Indonesia quan tâm đến vụ giết chóc này. Vẫn còn nỗi sợ về sự can thiệp của giới quân sự vào nền dân chủ của Indonesia: khi một chính trị gia dân sự đánh bại một tướng lĩnh trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2014, đã có những tháng ngày lo lắng trước khi mọi sự rõ ràng là viên tướng này đã thất bại trong việc không công nhận kết quả bầu cử. Vào năm 2013, một phát đạn súng trường từ dưới đất bắn lên làm vỡ kính chắn gió chiếc trực thăng tôi thuê trên không phận New Guinea; và đến nay vẫn còn không chắc phát đạn đó xuất phát từ du kích quân trên đảo New Guinea, những người vẫn còn chiến đấu cho nền độc lập, hay từ chính những đơn vị quân đội đóng giả hoạt động của du kích để biện hộ cho một sự đàn áp không nương tay.

Quan sát cá nhân còn lại của riêng tôi đòi hỏi giải thích thêm. Trong những quốc gia được bàn luận trong cuốn sách này, Indonesia là đất nước có lịch sử dân tộc ngắn nhất và ngôn ngữ đa dạng nhất cho đến nay, và khởi đầu là quốc gia duy nhất có nguy cơ nghiêm trọng với việc lãnh thổ bị chia rẽ. Thuộc địa của Hà Lan trước đây của vùng Đông Ấn Hà Lan có thể bị phân tách thành một số quốc gia dân tộc tách rời, cũng như thuộc địa cũ thuộc Pháp ở bán đảo Đông Dương tách rời thành Việt Nam, Cam-pu-chia và Lào. Sự phân tách này rõ ràng là ý định của người Hà Lan khi họ cố thiết lập những bang riêng rẽ trong thuộc địa của mình vào cuối thập niên 1940 để làm suy yếu nước Cộng hòa Indonesia thống nhất còn non trẻ.

Nhưng Indonesia không bị phân tách. Điều ngạc nhiên là đất nước này, từ tay trắng, đã nhanh chóng xây dựng một ý thức về căn tính quốc gia. Căn tính này phát triển một phần là do tự phát, và một phần là do được gia cố từ những nỗ lực có ý thức của chính phủ. Một nền tảng của ý thức này chính là sự tự hào về cuộc cách mạng 1945-1949, và về việc trút bỏ được sự cai trị của người Hà Lan. Chính phủ gia cố ý thức tự hào mang tính tự phát đó bằng cách nhắc đi nhắc lại câu chuyện về thời kỳ 1945-1949, với lý do khá chính đáng, như là cuộc đấu tranh anh dũng giành độc lập dân tộc – cũng như mọi trường học ở Mỹ kể đi kể lại cuộc cách mạng lập quốc cho học sinh vậy. Người Indonesia lấy làm tự hào về quy mô rộng lớn của lãnh thổ nước mình, thể hiện trong bài quốc ca “Dari Sabang sampai Merauke” (“Từ Sabang đến Merauke,” hai mũi cực tây và cực đông của Indonesia cách nhau đến 3.400 dặm). Nền tảng khác của căn tính quốc gia là việc nhanh chóng đưa thứ tiếng Bahasa dễ học và linh hoạt tuyệt vời trở thành ngôn ngữ quốc gia cùng tồn tại với 700 thổ ngữ.

Cùng với những căn nguyên nền tảng của căn tính quốc gia, chính phủ Indonesia còn tiếp tục nỗ lực gia cố căn tính này bằng việc nhấn mạnh vào bộ khung Pancasila gồm năm điểm, và bằng những buổi lễ hằng năm tưởng niệm bảy tướng lĩnh bị sát hại, tổ chức tại Tượng đài Pancasila ở Jakarta. Và dù từng lưu trú ở nhiều khách sạn từ khi trở lại Indonesia vào năm 2012, tôi chưa bao giờ thấy một hành lang khách sạn nào thể hiện những thông tin về “vụ đảo chính của cộng sản” để chào đón tôi như ở hành lang khách sạn đầu tiên tôi ở lại vào năm 1979. Người Indonesia giờ đây cảm thấy đủ an toàn với căn tính quốc gia của mình đến nỗi họ không còn cần đến những thông tin định hướng sai lầm về một “vụ đảo chính của cộng sản” để củng cố lòng tin thêm nữa. Và đối với tôi, ở tư cách một du khách đến Indonesia, ý thức sâu xa về căn tính quốc gia của người dân Indonesia chính là một trong những thay đổi quan trọng nhất mà tôi chứng kiến.

Prev
Next

Có thể bạn muốn đọc thêm

21-bai-hoc-cho-the-ky-21-Yuval-Noah-Harari
21 Bài Học Cho Thế Kỷ 21 – Yuval Noah Harari
February 23, 2021
sung-vi-trung-va-thep-jared-diamond
Súng, Vi Trùng Và Thép – Jared Diamond
April 25, 2023
sapiens-yuval-noah-harari
Sapiens: Lược Sử Loài Người – Yuval Noah Harari
February 22, 2023
nhung-tu-nha-cua-dia-ly-tim-marshall
Những Tù Nhân Của Địa Lý – Tim Marshall
April 15, 2022

ThuVienOnline © 2026