Thư viện Online
  • Trang chủ
  • Sách mới cập nhật
  • Trang chủ
  • Sách mới cập nhật

Biến Động - Jared Diamond - Chương 4

  1. Home
  2. Biến Động - Jared Diamond
  3. Chương 4 - Một nước Chile cho mọi người Chile
Prev
Next

Viếng thăm Chile – Chile đến năm 1970 – Allende – Vụ đảo chính và Pinochet – Nền kinh tế đến khi “Không!” – Hậu Pinochet – Bóng ma của Pinochet – Khung biến cố – Trở lại Chile

Vào năm 1967, tôi có một kỳ nghỉ ở Chile, ở thời điểm khi mọi thứ còn có vẻ yên bình. Những chủ nhà của tôi nhấn mạnh rằng đất nước Chile rất khác với những quốc gia Mỹ Latin khác. Họ giải thích rằng Chile có một lịch sử lâu dài về chính phủ dân chủ, chỉ bị ngắt quãng bởi một số vụ đảo chính hầu như không đổ máu. Chile không thường xuyên có chính quyền quân sự như Peru, Argentina và các nước khác ở Nam Mỹ và Trung Mỹ. Đất nước này được đánh giá là ổn định nhất về mặt chính trị trên khắp lục địa Mỹ Latin.

Người dân Chile có điểm tương đồng với châu Âu và Mỹ hơn Mỹ Latin. Chẳng hạn, chuyến viếng thăm của tôi là theo một chương trình trao đổi giữa Đại học Chile và Đại học California. Chương trình này được thành lập không chỉ để công nhận sự kiện địa lý là Chile và California đều giữ vị trí giống nhau ở các vùng khí hậu Địa Trung Hải trên bờ biển phía tây của các châu lục tương ứng – mà cũng để nhận thức rằng cả Chile và California còn giống nhau về nhân tố xã hội và sự ổn định về mặt chính trị. Những người bạn Chile của tôi tóm lược nó bằng câu nói sau: “Người Chile chúng tôi biết cách tự cai trị.”

Nhưng chỉ sáu năm sau chuyến viếng thăm của tôi, Chile lại bị cai trị bởi một chế độ độc tài quân sự phá vỡ những kỷ lục thế giới trước đó về mức độ tra tấn bạo hành của chính phủ. Trong quá trình đảo chính quân sự ở Chile vào ngày 11 tháng 9, vị tổng thống được bầu lên một cách dân chủ đã tự sát trong dinh tổng thống. Hội đồng quân sự Chile không chỉ giết hại người Chile với số lượng lớn, tra tấn người dân với số lượng còn lớn hơn, nghĩ ra những kỹ thuật tra tấn tinh thần lẫn thể xác đáng kinh tởm, đẩy người dân Chile vào con đường lưu vong, mà còn chỉ đạo những vụ khủng bố giết người mang tính chính trị bên ngoài Chile, bao gồm việc sát hại một công dân Mỹ ngay trên đất Mỹ (ở thủ đô Washington, DC vào năm 1976), vụ khủng bố mang màu sắc chính trị duy nhất tại Mỹ trước cuộc tấn công Trung tâm Thương mại Thế giới ngày 11 tháng 9 năm 2001 (trùng hợp với ngày đảo chính ở Chile). Quyền lực của chính phủ quân sự đó tồn tại trong gần 17 năm.

Ngày nay, 29 năm sau khi chính phủ quân sự rớt đài, đất nước Chile vẫn đang đấu tranh với di sản của nó. Một số kẻ tra tấn bạo hành và lãnh đạo quân đội bị tống giam, nhưng những lãnh đạo quân đội hàng đầu được tự do. Nhiều người Chile, trong khi lấy làm tiếc về các vụ tra tấn, vẫn cho rằng vụ đảo chính quân sự là cần thiết, không tránh được.

Khi các bạn đọc lịch sử đất nước Chile gần đây ở những trang kế tiếp, các bạn sẽ dấy lên nhiều câu hỏi trong tâm khảm. Làm thế nào để giải thích một sự chuyển hướng đột ngột ở một quốc gia từng có những truyền thống dân chủ mạnh mẽ đến thế? Làm thế nào Chile và những quốc gia khác đối phó với quá khứ đầy u ám gần đây? Làm thế nào để những chủ điểm về biến cố quốc gia và sự thay đổi lại xảy ra ở Chile? Bạn sẽ nhận thấy những thay đổi có chọn lọc lớn trong chính sách kinh tế của chính phủ và trong thỏa hiệp chính trị. Bạn cũng sẽ nhận ra một số chủ điểm tái diễn đều đặn: sự tự đánh giá một cách trung thực và việc thiếu điều đó, sự tự do hành động và việc thiếu điều đó, sự hỗ trợ hay đối nghịch từ đồng minh, và vai trò của một hình mẫu hay đối tượng được xem là một hình mẫu. Hai nhà lãnh đạo Chile đặt ra câu hỏi mang tính lịch sử tái diễn về việc liệu các nhà lãnh đạo với tính cách độc đáo có thật sự làm thay đổi tiến trình lịch sử hay không.

Với hầu hết những người bạn Mỹ của tôi, vấn đề Chile đặt ra một câu hỏi đáng sợ trong tâm trí khi các bạn đọc chương này, vì Mỹ và Chile đều có chung một truyền thống dân chủ mạnh mẽ. Đối với người Chile, dường như họ hoàn toàn không thể hình dung được việc truyền thống đó dễ dàng chuyển sang một chế độ độc tài vào năm 1967, như nhiều người Mỹ ngày nay hoàn toàn không thể hình dung ra chuyện tương tự. Song điều đó đã xảy ra ở Chile, những dấu hiệu cảnh báo đều có thể thấy được khi chúng ta nhìn lại. Liệu điều này có thể xảy ra cho nước Mỹ hay không?

Chúng ta hãy bắt đầu với địa lý, lịch sử và con người Chile. Khi nhìn vào một bản đồ (Hình 4), bạn sẽ bất ngờ khi thấy Chile là đất nước dài nhất và hẹp nhất trên thế giới. Trong khi bình quân chỉ rộng hơn 100 dặm từ tây sang đông, thì đất nước này lại dài gần 3.000 dặm từ bắc xuống nam: gần bằng chiều ngang nước Mỹ. Về mặt địa lý, Chile tách biệt với các nước khác bởi dãy núi cao Andes ở phía đông chia cắt nước này với Argentina, và bởi vùng sa mạc cằn cỗi nhất trên thế giới ở phía bắc chia cắt Chile với Bolivia và Peru. Kết quả là kể từ khi Chile giành được độc lập, nước này chỉ có hai cuộc chiến với các nước láng giềng phía bắc là Bolivia và Peru vào những năm 1836-1839 và 1879- 1883.

Mặc dù có chiều dài rất lớn, đất canh tác, đất nông nghiệp và dân số Chile chỉ tập trung trong một phần diện tích quốc gia, trong phạm vi Thung lũng Trung tâm bao quanh thủ đô Santiago. Chỉ cách Santiago 60 dặm là cảng chính Valparaíso của Chile, hải cảng rộng lớn nhất ở bờ biển phía tây Nam Mỹ. Sự tập trung về mặt địa lý này, cộng với sự thuần nhất chủng tộc sẽ đề cập dưới đây, đã góp phần vào sự đoàn kết của Chile, họ không bao giờ phải đối mặt với các phong trào ly khai về mặt địa lý vốn là căn bệnh lây lan ở hầu hết các nước có quy mô lãnh thổ như Chile.

Không như các nước vùng Nam Mỹ khác thuộc khí hậu nhiệt đới, Chile cùng Argentina và Uruguay chia sẻ hai thuận lợi lớn do nằm ở vùng khí hậu ôn hòa ở cực nam của Nam Mỹ. Những thuận lợi này là sản lượng nông nghiệp bình quân cao hơn và bình quân gánh nặng bệnh tật thấp hơn so với các vùng khí hậu nhiệt đới. Kết quả là Chile, Argentina và Uruguay là những quốc gia Nam Mỹ có thu nhập bình quân đầu người cao nhất, bất chấp những chính sách sai lầm kinh niên của các chính phủ Argentina. Sự thịnh vượng tương ứng của Chile phát sinh từ nông nghiệp, công nghiệp đánh bắt cá, khoáng sản (nói thêm ở phần dưới) và kỹ nghệ chế biến. Chile từng là nước xuất khẩu lúa mì lớn trong thời kỳ Cơn sốt vàng (Gold Rush) ở California và Úc hồi thập niên 1840, và vẫn là nước xuất khẩu nông sản từ đó đến nay. Trong những thập niên gần đây, Chile trở thành nước xuất khẩu hải sản hàng đầu ở Nam Mỹ, và là một trong những quốc gia xuất khẩu hải sản hàng đầu thế giới. Cuối cùng, Chile cũng sản xuất nhiều hàng hóa hơn hầu hết các nước Mỹ Latin khác.

Về lịch sử và con người Chile, trước khi người châu Âu đến vùng đất nay là Chile, thì ở đó chỉ có dân cư bản địa sống thưa thớt, thiếu hẳn những thành tựu văn hóa và chính trị như của Đế quốc Inca hùng mạnh, đông dân và giàu có ở phía bắc, nơi hiện giờ là Bolivia, Peru và Ecuador. Như tại hầu hết phần còn lại của Nam Mỹ và Trung Mỹ, những người châu Âu chinh phục và định cư ở Chile là người Tây Ban Nha, khởi đầu trong thập niên 1540. Họ nhập vào một ít nô lệ châu Phi và kết hôn với người bản địa. Do vậy, không như hầu hết các quốc gia Nam Mỹ khác, ngày nay Chile mang đặc tính cộng đồng sắc tộc hơn là thuần nhất và không có cộng đồng người châu Mỹ bản địa lớn hay các nhóm thiểu số châu Phi. Thay vào đó, người Chile đa phần là gốc Tây Ban Nha và mestizo (hậu duệ của những người đến từ Tây Ban Nha với người châu Mỹ bản địa), hầu hết đều theo Công giáo và nói tiếng Tây Ban Nha (không như các nhóm dân tộc thiểu số lớn nói những ngôn ngữ bản địa ở các nước Mỹ Latin khác). Nhóm thiểu số đông nhất là thổ dân Mapuche, chỉ chiếm 1% dân số. Có tương đối ít người không phải gốc Tây Ban Nha và dòng dõi người bản địa.

Như vậy, các đặc điểm địa lý, lịch sử và dân tộc Chile đều đóng góp vào sự đoàn kết thống nhất của nước này. Đây là một khía cạnh tích cực trong lịch sử Chile, khiến nó ít lộn xộn hơn so với lịch sử của các nước Mỹ Latin khác. Nhưng Chile có chung một thế lực tiêu cực lớn với nhiều nước Mỹ Latin khác: thực dân Tây Ban Nha thành lập những khu đất đai rộng lớn chứ không như các nông trại nhỏ mà người định cư phương Tây lập ra ở Bắc Mỹ. Do đó, trong khi nước Mỹ và Canada phát triển những chính phủ dân chủ dựa trên nền tảng rộng lớn từ lúc khởi đầu những khu định cư của người châu Âu, thì ở Chile chế độ quyền lực tập trung kiểm soát hầu hết đất đai, tài sản và nền chính trị. Sự tập trung quyền lực chính trị đã hình thành một vấn nạn cơ bản trong lịch sử Chile.

Mâu thuẫn tiềm ẩn giữa thế lực truyền thống của chế độ quyền lực tập trung cố chấp và thế lực của những tầng lớp xã hội khác đang trỗi dậy đúng ra có thể giải quyết bằng thỏa hiệp chính trị hoặc không thể giải quyết do bế tắc chính trị. Hệ quả thứ hai trở nên gia tăng thường xuyên sau khi Chile thông qua hiến pháp mới vào năm 1925 làm chao đảo các cuộc bầu cử tổng thống, Thượng viện và Hạ viện trong những năm khác nhau. Dự tính tốt đẹp đó, vốn được thông qua trên nguyên tắc cân bằng quyền lực rõ ràng, rủi thay lại dẫn đến tình trạng chức vụ tổng thống, sự kiểm soát Thượng viện và Hạ viện lại thường thuộc về các đảng phái chính trị khác nhau, tùy thuộc vào đảng nào xem ra mạnh nhất trong một năm bầu cử cụ thể. Hai thay đổi lớn sau đó trong các tiến trình bầu cử đã gia tăng số phiếu bầu cánh tả, gây bất lợi cho sự thống trị trước đó của chế độ quyền lực tập trung. Một thay đổi là phụ nữ Chile cuối cùng cũng được quyền đi bầu ở các cuộc bầu cử thành phố vào năm 1934, rồi ở các cuộc bầu cử tổng thống năm 1949. Thay đổi kia là việc bầu bán ở Chile có truyền thống mở và công khai, khiến giới chủ đất dễ quan sát và gây ảnh hưởng đến việc bỏ phiếu của giới nông dân. Do đó, việc thông qua đạo luật bỏ phiếu kín vào năm 1958 đã sản sinh sự dịch chuyển về phe cánh tả.

Các đảng phái chính trị ở Chile tiến đến hình thành ba khối – cánh tả, phe trung dung và cánh hữu – có sức mạnh tương đương nhau. Từ đó, việc chính phủ do cánh tả hay cánh hữu kiểm soát tùy vào phe trung dung ngả theo cánh nào. Mỗi khối tự nó lại bao hàm các yếu tố nhiều hoặc ít cực đoan trong mâu thuẫn đối kháng với nhau. Chẳng hạn, ngay bên trong khối cánh tả cũng có những người theo phái ôn hòa (bao gồm hầu hết những người cộng sản chính thống) muốn đạt được thay đổi qua phương tiện hiến pháp, cạnh tranh với phe cánh tả cấp tiến vốn thiếu kiên nhẫn và chỉ muốn thay đổi bằng một cuộc cách mạng. Quân đội vẫn đứng ngoài các cuộc đấu tranh chính trị hiện đại của Chile – cho đến năm 1973.

Cuộc bầu cử tổng thống gần nhất ở Chile trước khi tôi đến ở đất nước này năm 1967 diễn ra vào năm 1964. Điều đặc biệt đối với Chile, nơi ứng cử viên tổng thống dẫn đầu thường chỉ cần đạt đa số phiếu tương đối thay vì cần đa số phiếu quá bán, là cuộc bầu cử năm 1964 lại có đa số phiếu quá bán dành cho ứng cử viên phe trung dung Eduardo Frei. Ông này được xem là người có ý hướng tốt và trung thực. Do e ngại chương trình theo đường lối Marxist và sức mạnh đang lên của liên minh cánh tả, nhiều cử tri cánh hữu đã ủng hộ Frei, đồng thời đảng của ông cũng kiểm soát được Hạ viện Quốc hội trong cuộc bầu cử năm 1965. Điều này làm dấy lên hi vọng rằng Frei có thể đưa ra thay đổi chính yếu để chấm dứt tình huống bế tắc chính trị ở Chile.

Frei nhanh chóng hành động để chính phủ Chile có thể mua 51% quyền kiểm soát các công ty khai thác mỏ đồng do Mỹ sở hữu ở Chile. Ông đổ các khoản đầu tư chính phủ vào nền kinh tế Chile, mở rộng cơ hội tiếp cận việc học hành cho những người nghèo khổ ở Chile, thành công trong việc trở thành nước nhận tài trợ kinh tế của Mỹ tính trên bình quân đầu người lớn nhất châu Mỹ Latin, đồng thời phát động một chương trình cải cách ruộng đất để phá bỏ hệ thống nắm giữ đất đai. Nhưng khả năng thay đổi xã hội Chile của Frei lại bị hạn chế bởi bế tắc chính trị kéo dài. Một mặt, Frei không đủ cấp tiến đối với những người cánh tả, vốn chỉ muốn Chile kiểm soát nhiều hơn nữa các mỏ đồng, đầu tư của chính phủ và tái phân phối đất đai. Dưới thời Frei, nền kinh tế Chile tiếp tục bị đình đốn do các cuộc đình công, nạn lạm phát và thiếu hụt mọi thứ. Chẳng hạn, trong những tháng tôi ở Chile đã xảy ra sự thiếu hụt nguồn thịt kinh niên: ngay cả thịt cá voi và thịt bò dai nhách cũng chỉ thi thoảng mới có mặt ở cửa hàng thịt, dù mỗi ngày trong tuần vẫn có mặt hàng mắt cừu. Những người bạn của tôi trở thành nạn nhân của bạo lực đường phố. Khoảng năm 1969, cả ba khối chính trị của Chile – cánh hữu, cánh tả và phe trung dung – đều cảm thấy thất vọng về tình hình chính trị hiện tại.

Những phát triển của Chile từ năm 1970 trở đi đều được dẫn dắt bởi hai nhà lãnh đạo tiếp nối nhau tiêu biểu cho hai đối cực về chính trị và tính cách cá nhân: Salvador Allende và Augusto Pinochet. Họ chỉ giống nhau ở chỗ cho đến nay người ta vẫn không biết tại sao mỗi người trong số họ lại hành động như thế.

Hiểu biết của tôi về Allende dựa trên những thông tin công khai về ông ta, và những thông tin thu thập được từ một người bạn Chile của tôi, vốn biết rõ ông ta và gia đình. Allende là một chuyên gia Chile thuộc tầng lớp tinh hoa, xuất thân từ một gia đình trung-thượng lưu, giàu có, thông minh, có lý tưởng, có tài hùng biện và được phú một tính cách có sức lôi cuốn (Ảnh 4.1). Ngay từ thời kỳ còn là sinh viên, ông đã trở thành một nhà Marxist rõ rệt, đồng thời thuộc nhóm thành lập đảng Xã hội Chile, vốn thuộc cánh tả cực đoan hơn cả đảng Cộng sản Chile. Song Allende được đánh giá là ôn hòa theo những tiêu chuẩn xã hội của Chile, vì mục đích của ông là đưa chính phủ Marxist vào Chile theo đường lối dân chủ chứ không phải bằng cách mạng vũ trang. Ông tốt nghiệp trường y khoa và trở thành Bộ trưởng Y tế Chile lúc mới 31 tuổi, một chức vụ mà ông đảm nhiệm rất thành công. Ông chạy đua vào vị trí tổng thổng ở các năm 1952, 1958 và 1964 và cả ba lần đều thất bại, hai lần do chênh lệch phiếu bầu lớn. Do đó, vào thời điểm Allende ứng cử tổng thống lần nữa vào năm 1970 trên cương vị người đứng đầu liên minh Đoàn kết Nhân dân gồm các phe phái xã hội, cộng sản, cấp tiến và trung dung, tiếng tăm của ông chỉ là một kẻ thất bại lâu năm không có gì đáng gờm.

Trong cuộc bầu cử năm 1970, Allende nhận được số phiếu bầu phổ thông lớn nhất (36%), nhưng cũng chỉ vừa đủ, vì tỉ lệ cử tri bỏ phiếu chống ông (64%) tuy nhiều hơn nhưng lại bị phân tán giữa liên minh cánh hữu (35%, chỉ thấp hơn số phiếu bầu cho Allende 1,4%) và liên minh trung dung (28%). Do Allende chỉ được đa số phiếu tương đối chứ không phải đa số phiếu quá bán, nên kết quả bầu cử đòi hỏi phải được Quốc hội thông qua, chấp thuận cho ông đổi lại bằng một loạt các sửa đổi hiến pháp đảm bảo quyền tự do báo chí và các quyền tự do khác. Dù tính cách điềm đạm và lý lịch ứng xử của Allende không có gì phải phàn nàn, nhưng sự đắc cử của ông đã ngay lập tức kích động một nỗ lực bất thành của chính phủ Mỹ nhằm tập trung sự ủng hộ của Quốc hội Chile phản đối việc chấp thuận ông, đồng thời cũng khích động gia đình của một trong những người bạn Chile của tôi phải di cư mà không quan tâm chờ đợi những chính sách mà Allende đề ra. Tại sao việc bầu một con người ôn hòa lịch thiệp như vậy làm tổng thống lại bị đón nhận bằng những phản ứng tiêu cực mạnh mẽ đến thế?

Lý do chính đó là việc Allende và liên minh đảng phái của ông đã tuyên bố mục tiêu đưa chính phủ Marxist vào đất nước Chile: một viễn cảnh làm kinh hoàng những người Chile cánh hữu và trung dung, quân đội Chile lẫn chính phủ Mỹ. Ngày nay, hàng thập niên sau vụ sụp đổ của Liên bang Xô Viết và kết thúc thời kỳ Chiến tranh Lạnh, những bạn đọc trẻ của tôi, vốn không sống trong các thập niên 1940, 1950 và 1960, sẽ không thể hình dung được lý do tại sao những thiết chế quyền lực đó lại kiên quyết rằng một chính quyền Marxist ở Chile phải bị chặn trước bằng mọi giá. Lời giải thích này bắt đầu bằng việc sau Thế chiến II, Liên Xô bắt tay vào một chính sách gây ảnh hưởng trên thế giới và phát triển bom nguyên tử, bom nhiệt hạch và tên lửa đạn đạo vượt đại dương. Nước này cố gắng kiểm soát Tây Berlin vào năm 1948 bằng cách phong tỏa mọi ngã đường bộ. Nước này cũng hậu thuẫn cho các chính quyền cộng sản lên nắm quyền ở Tiệp Khắc, Đông Đức, Hungary và Ba Lan.

Nhưng nguy hiểm nhất chính là các dàn phóng hỏa tiễn đạn đạo trang bị đầu đạn nguyên tử được đặt ở Cuba, chỉ cách bờ biển nước Mỹ 90 dặm. Trong một tuần kinh hoàng vào tháng 10 năm 1962, khắc sâu không thể nào quên trong ký ức tất cả những ai sống vào thời đó và tuổi tác còn đủ để nhớ lại, thế giới cận kề bên bờ vực của cuộc chiến tranh nguyên tử hơn bất kỳ lúc nào khác trong lịch sử từ trước đến nay (Ảnh 4.2). Sau biến cố đó, việc giải mật thông tin về sự việc trước đó từ phía Mỹ và cả Liên Xô đã cho thấy rõ chúng ta từng cận kề với sự hủy diệt hơn những đánh giá ở thời điểm ấy biết bao. Chính những lãnh đạo quân sự của Mỹ hồi đó, dù biết rằng có ít nhất 162 tên lửa được thiết lập ở Cuba, cũng chỉ nghĩ những đầu đạn nguyên tử chưa đến, lại không hề biết nhiều đầu đạn thực sự đã được đem đến Cuba.

Sau cuộc Khủng hoảng tên lửa Cuba, Liên Xô đáp trả bằng việc khởi động chương trình phát triển vũ khí nguyên tử và tên lửa đạn đạo có khả năng hủy diệt mạnh hơn. Phía Mỹ đáp lại bằng quyết định sẽ không bao giờ chấp nhận cho việc thiết lập một chính phủ cộng sản ở Tây bán cầu một lần nữa. Bất kỳ tổng thống Mỹ nào thất bại trong việc ngăn chặn sự việc đó xảy ra lập tức sẽ bị luận tội và phải rời bỏ cương vị của mình vì tội coi thường những quyền lợi của nước Mỹ, như Tổng thống Kennedy đã được cảnh báo rằng ông sẽ bị luận tội nếu thất bại trong việc buộc Liên Xô rút tên lửa khỏi Cuba. Bắt đầu vào thập niên 1960, Mỹ cũng bị ám ảnh bởi nguy cơ cộng sản ở Việt Nam và các quốc gia Đông Nam Á khác. Các phe phái cánh hữu, trung dung và quân đội đều kiên quyết không để tồn tại một chính phủ Marxist nào ở Chile vì họ đã chứng kiến những gì xảy ra cho những người chống chủ nghĩa Marx ở Cuba khi Castro lên nắm quyền. Họ không thể chấp nhận lịch sử đó sẽ lặp lại ở Chile.

Một động cơ khác khiến nước Mỹ quan tâm về Chile chính là các mỏ đồng ở đất nước này, vốn là một bộ phận lớn nhất của nền kinh tế Chile, thuộc sở hữu của Mỹ đồng thời cũng được phát triển bằng vốn đầu tư của Mỹ, do Chile vào thế kỷ 19 thiếu vốn và công nghệ để có thể tự mình phát triển việc khai thác các mỏ này. Dưới thời tổng thống Frei, Chile truất hữu (có bồi hoàn) 51% quyền lợi các mỏ đồng; nước Mỹ sợ rằng (chính xác, vì nó đã diễn ra) Allende sẽ truất hữu 49% còn lại mà không bồi hoàn. Do đó, từ thập niên 1960 trở đi, thông qua một chương trình gọi là Liên minh vì Tiến bộ, chính phủ Mỹ hỗ trợ các đảng phái cải cách trung dung Mỹ Latin (bao gồm Chile) và đổ tiền viện trợ nước ngoài vào các nước Mỹ Latin do các đảng này cai trị, nhằm ngăn ngừa việc hỗ trợ cho những cuộc cách mạng của cánh tả. Dưới thời Tổng thống Frei, Chile trở thành nước nhận tiền phát triển của Mỹ hàng đầu ở châu Mỹ Latin.

Dựa vào những thực tế đó, chính sách nào để Allende áp dụng khi trở thành tổng thống? Mặc dù ông biết rằng chức vụ của mình chỉ được 36% cử tri ủng hộ và bị quân đội cùng chính phủ Mỹ phản đối, ông vẫn không chịu nhân nhượng, đề phòng hay thỏa hiệp, mà vẫn tiếp tục theo đuổi các chính sách chắc chắn sẽ bị các thế lực thù địch nguyền rủa. Biện pháp đầu tiên của ông, với sự đồng thuận của Quốc hội Chile, là quốc hữu hóa các công ty khai thác đồng do Mỹ sở hữu mà không bồi hoàn; đó là một phương sách tạo ra những kẻ thù quốc tế hùng mạnh. (Lý do cho việc Allende thoái thác bồi hoàn là cho rằng lợi nhuận của các công ty đã vượt trên một tỉ lệ hoàn vốn nhất định được xem là “lợi nhuận thặng dư,” được tính để khấu trừ khoản đền bù và triệt tiêu khoản nợ bồi hoàn.) Ông cũng quốc hữu hóa những công ty quốc tế lớn khác. Ông còn khiến lực lượng quân đội kinh hoàng khi đưa một lượng lớn người Cuba vào Chile, khi đeo một khẩu súng máy do Fidel Castro tặng, và mời Castro đến thăm Chile suốt năm tuần. Ông hạn định giá cả (ngay đến một món hàng nhỏ như dây giày), thay các yếu tố thị trường tự do của nền kinh tế Chile bằng kế hoạch nhà nước theo kiểu xã hội chủ nghĩa, trợ cấp cho việc gia tăng tiền công, gia tăng mạnh mẽ các khoản chi tiêu chính phủ, và cho in tiền giấy để bù đắp các khoản thiếu hụt do chính phủ gây ra. Ông còn mở rộng chính sách cải cách ruộng đất của Tổng thống Frei bằng việc truất hữu các điền trang lớn và biến chúng thành hợp tác xã nông dân. Mặc dù chính sách cải cách ruộng đất và các mục tiêu của Allende là có ý hướng tốt nhưng chúng lại được thực hiện một cách kém cỏi. Chẳng hạn, một người bạn Chile của tôi vào lúc đó đã là một nhà kinh tế, dù chỉ là sinh viên chưa tốt nghiệp mới 19 tuổi, chịu trách nhiệm chính trong việc lập biểu giá cho hàng tiêu dùng ở Chile. Một người bạn Chile khác miêu tả về chính sách của Allende như sau: “Allende có những ý tưởng tốt, nhưng thực hiện chúng một cách nghèo nàn. Dù ông ta nhận ra những vấn đề của Chile một cách chính xác, nhưng lại áp dụng những giải pháp sai cho những vấn đề đó.”

Kết quả cho các chính sách của Allende là sự lan rộng của hỗn loạn kinh tế, bạo lực và sự phản kháng lại ông. Thâm hụt ngân sách chính phủ chỉ được trám lại bằng việc in thêm tiền gây siêu lạm phát, đồng lương thật sự (đó là lương đã điều chỉnh theo lạm phát) rơi xuống dưới mức năm 1970, dù đồng lương không điều chỉnh theo lạm phát trên danh nghĩa đã tăng lên. Đầu tư trong và ngoài nước, cùng nguồn hỗ trợ nước ngoài, đều cạn kiệt. Thâm hụt thương mại gia tăng. Hàng tiêu dùng, gồm cả giấy vệ sinh, trở nên khan hiếm trên thị trường, thể hiện qua những quầy hàng trống rỗng và hàng dài người xếp hàng ngày càng tăng. Khẩu phần lương thực, kể cả nước, trở nên khan hiếm. Công nhân, tầng lớp từng ủng hộ Allende một cách tự nhiên, giờ cũng gia nhập phe chống đối và tham gia các cuộc biểu tình trên toàn quốc; điều đặc biệt hủy hoại nền kinh tế Chile là những vụ đình công của thợ mỏ và giới tài xế xe tải. Bạo lực đường phố và những đồn đoán về một cuộc đảo chính rộ lên. Phía cánh tả, các ủng hộ viên cấp tiến của Allende tự trang bị vũ khí; phía cánh hữu, các bích chương treo trên đường phố đưa ra tuyên ngôn: “Yakarta viene,” nghĩa đen là “Jakarta đang đến gần,” ám chỉ vụ cánh hữu thảm sát những người cộng sản ở Indonesia năm 1965, sẽ đề cập ở chương sau. Điều này là một lời đe dọa công khai từ những người cánh hữu đối với cánh tả, và rồi đe dọa đó hóa ra lại thành sự thực. Ngay cả Giáo hội Công giáo đầy quyền lực ở Chile cũng quay sang chống Allende khi ông đề xuất những cải cách về chương trình giáo dục cưỡng bách ở các trường Công giáo tư nhân cũng như trường học của chính phủ, nhằm tạo ra một thế hệ “Con người mới” tập thể và không nghĩ đến quyền lợi bản thân bằng cách định hướng học sinh đến các lĩnh vực lao động chân tay.

Kết quả của những diễn biến này là cuộc đảo chính năm 1973 mà nhiều người bạn Chile của tôi xác định là điều tất yếu mặc dù hình thức đảo chính thì không tất yếu chút nào. Một nhà kinh tế, bạn của tôi, đã tóm gọn sự sụp đổ của Allende như sau: “Allende bị rớt đài do các chính sách kinh tế của ông ta dựa vào những biện pháp dân túy vốn đã lần lượt thất bại ở các quốc gia khác. Chúng sản sinh những lợi ích ngắn hạn với cái giá là việc thế chấp tương lai của Chile và tạo ra lạm phát chóng mặt.” Nhiều người Chile ngưỡng mộ Allende và xem ông như một vị thánh. Nhưng đức hạnh của một vị thánh không nhất thiết tạo ra thành công về mặt chính trị.

Tôi trình bày về Allende để nói rằng lý do tại sao ông ta lại làm những điều như thế vẫn chưa rõ ràng. Tôi cứ tự hỏi: tại sao mà Allende, một chính trị gia lão luyện và là một con người ôn hòa, lại theo đuổi những chính sách cực đoan mà ông ta biết là không được chấp nhận bởi đa phần người dân cũng như lực lượng quân đội Chile? Những người bạn Chile của tôi đã đưa ra hai câu trả lời khả dĩ, nhưng không một ai có thể chắc chắn câu trả lời nào, nếu có, giải thích đúng đắn lý lẽ của Allende. Có một khả năng là những thành công về mặt chính trị trước đó của Allende đã đánh lừa chính ông khi cho rằng mình có thể làm lắng dịu sự chống đối. Ông từng thành công trên cương vị bộ trưởng y tế; từng xoa dịu những nghi ngờ của Quốc hội trong cuộc bầu cử thắng lợi bằng những sửa đổi hiến pháp nhằm không trói buộc ông về những chính sách kinh tế; và Quốc hội đã đồng thuận chính sách truất hữu của ông đối với các công ty khai thác đồng mà không bồi hoàn. Giờ đây, ông hi vọng có thể xoa dịu quân đội bằng việc đưa cả ba chỉ huy quân sự vào nội các của mình. Một khả năng khác là Allende buộc phải đưa ra những biện pháp cực đoan ngược với suy xét của mình do phe ủng hộ cực đoan nhất của ông, Phong trào Cách mạng Cánh tả (viết tắt theo tiếng Tây Ban Nha là MIR) muốn một cuộc cách mạng nhanh chóng nhằm lật đổ nhà nước theo chủ nghĩa tư bản của Chile. Họ tích trữ vũ khí, đưa ra khẩu hiệu “Trang bị cho nhân dân,” trách cứ Allende quá yếu đuối và từ chối lắng nghe những khẩn nài của ông, “Hãy kiên nhẫn chờ đợi trong vài năm nữa thôi.”

Ngay cả khi hai lời giải thích khả dĩ này được cho là tạo ra các động cơ của Allende, tôi thấy vẫn chưa thỏa mãn. Với tôi, dường như ngay lúc đó chứ chưa cần tới kinh nghiệm muộn màng sau này, đã có thể thấy rằng các chính sách của Allende chỉ dựa trên những đánh giá phi thực tế.

Cuộc đảo chính được dự đoán đã lâu xảy ra vào ngày 11 tháng 9 năm 1973, sau khi ba binh chủng quân đội – lục quân, hải quân và không quân – đồng lòng với kế hoạch trước đó 10 ngày. Mặc dù CIA kiên trì ủng hộ việc chống đối Allende và tìm cách phá hoại ông ta, thì ngay cả những người Mỹ bóc trần sự can thiệp của CIA trong nội tình Chile cũng đồng ý rằng cuộc đảo chính chỉ được thực hiện bởi chính người Chile chứ CIA không can dự vào. Không quân Chile thả bom dinh tổng thống ở Santiago, trong khi xe tăng pháo kích vào đó (Ảnh 4.3). Nhận thấy tình trạng tuyệt vọng của mình, Allende đã tự sát bằng chính khẩu súng máy Fidel Castro tặng ông ta. Phải thú nhận rằng tôi hoài nghi về khẳng định đó, mà ngờ rằng Allende bị giết bởi binh lính đảo chính. Nhưng một ủy ban điều tra do chính phủ dân chủ phục hồi ở Chile thành lập sau khi chấm dứt chính quyền quân sự đã kết luận rằng Allende quả đã chết một mình do tự sát. Kết luận đó được một người bạn Chile của tôi xác nhận, người này vốn quen biết một nhân viên chữa cháy trong đội cứu hỏa đã đến dinh tổng thổng khi đang cháy dở và gặp những chiến hữu sống sót cuối cùng của Allende, kể cả người sau cùng trông thấy ông ta còn sống.

Cuộc đảo chính được hoan nghênh trong sự thở phào và ủng hộ rộng rãi bởi những người Chile thuộc phe trung dung và cánh hữu, hầu hết thuộc tầng lớp trung lưu, và dĩ nhiên là cả nhóm thiểu số ủng hộ chế độ quyền lực tập trung. Vào lúc đó, nền kinh tế hỗn loạn, các chính sách kinh tế điên khùng của chính phủ và bạo lực đường phố dưới thời Allende đã hết thuốc chữa. Cuộc đảo chính chỉ được hội đồng quân sự xem là một giai đoạn quá độ không tránh được để hướng đến nguyên trạng trước đó, khi sự thống trị chính trị của giới dân sự thuộc tầng lớp trung lưu và thượng lưu thắng thế trước năm 1970. Một người bạn Chile kể lại cho tôi câu chuyện về một bữa tiệc tối có 18 người mà ông ta tham dự vào tháng 12 năm 1973, chỉ ba tháng sau cuộc đảo chính như sau: khi chủ đề của cuộc nói chuyện chuyển sang câu hỏi dự đoán hội đồng quân sự còn ở lại với quyền lực trong bao lâu nữa, thì 17/18 người dự đoán là chỉ khoảng hai năm. Riêng dự đoán của người thứ 18 là bảy năm thì bị những người khác cho là ngớ ngẩn; họ nói rằng điều đó không thể xảy ra ở Chile, nơi mà các chính quyền quân sự trước đây luôn nhanh chóng trao lại quyền lực cho một chính phủ dân sự. Không một ai trong bữa tiệc hôm đó tiên đoán được hội đồng quân sự vẫn nắm quyền lực trong gần 17 năm. Chính quyền này đình chỉ mọi hoạt động chính trị, giải tán Quốc hội, cấm đoán các đảng phái chính trị cánh tả, ngay cả đảng Dân chủ Ki-tô giáo thuộc phe trung dung (trước sự ngỡ ngàng của những người theo đảng này), kiểm soát các trường đại học và cử các lãnh đạo quân sự làm hiệu trưởng.

Một thành viên hội đồng quân sự trở thành lãnh đạo của hội đồng, chủ yếu là do tình cờ, gia nhập vào hội đồng vào phút cuối và cũng không chỉ huy kế hoạch đảo chính: Tướng Augusto Pinochet (Ảnh 4.4). Chỉ hai tuần trước cuộc đảo chính, quân đội Chile làm áp lực buộc vị tham mưu trưởng cũ từ nhiệm vì ông ta phản đối sự can thiệp quân sự. Theo mặc định, tham mưu trưởng quân đội mới lại là Pinochet, người chỉ huy một đơn vị quân đội ở vùng Santiago. Ngay cả ở thời điểm đó, Pinochet cũng bị xem là hơi già (58 tuổi). Các tướng lĩnh và chỉ huy quân đội nghĩ rằng họ hiểu đồng đội của mình, CIA cũng thế, nên đã tập trung vào thông tin tán dương ông ta. Đánh giá của CIA về Pinochet: trầm lặng, tính khí mềm mỏng, trung thực, vô hại, thân thiện, siêng năng, thực tế, có đức tin tôn giáo và lối sống giản dị, một người chồng và người cha khoan dung và tròn bổn phận, không có quan tâm nào ngoài quân đội, Giáo hội Công giáo và gia đình – tóm lại, không có khả năng là người lãnh đạo cuộc đảo chính. Hội đồng quân sự mong có một ủy ban bình đẳng với quyền lãnh đạo luân phiên. Họ chọn Pinochet là nhà lãnh đạo đầu tiên chủ yếu vì ông ta là người lớn tuổi nhất, là tham mưu trưởng một binh chủng lớn nhất của Chile (trong quân đội), và có lẽ vì họ cũng nghĩ như CIA là ông ta vô hại. Khi hội đồng quân sự nắm quyền, chính Pinochet cũng tuyên bố rằng lãnh đạo hội đồng sẽ theo hình thức luân phiên.
Nhưng đến khi hết nhiệm kỳ lãnh đạo, Pinochet lại không chịu rời bỏ chức vị. Thay vào đó, ông ta dọa dẫm các thành viên trong hội đồng quân sự bằng một đơn vị mật vụ do ông ta dựng lên. Hàng trăm sự cố được phơi bày liên quan đến những bất đồng chính kiến trong nội bộ hội đồng quân sự nhưng Pinochet vẫn luôn thành công khi làm theo ý mình. Các thành viên trong hội đồng quân sự cũng như CIA và bất kỳ ai khác đều không lường trước được sự tàn nhẫn, sự lãnh đạo kiên quyết và khả năng bám giữ quyền lực của ông ta – cùng lúc đó ông ta vẫn tiếp tục vẽ ra hình ảnh một ông già nhân từ và một người Công giáo mộ đạo, được truyền thông do nhà nước kiểm soát mô tả khi đối xử với con cái và đi lễ nhà thờ.

Chúng ta không thể hiểu được những hành động man rợ xảy ra ở Chile sau ngày 11 tháng 9 năm 1973 nếu không nhận ra vai trò của Pinochet. Cũng như Hitler ở Đức vào giai đoạn thập niên 1930 và 1940, Pinochet dù chỉ là một phần tử trong bối cảnh rộng lớn hơn, lại là một lãnh tụ đã đặt dấu ấn của mình lên tiến trình lịch sử. Ông ta thậm chí còn bí hiểm hơn cả Allende. Trong khi đề cập đến hai giải thích dành cho những hành động của Allende, thì tôi không nghe được bất kỳ giải thích đáng tin cậy nào về sự bạo hành của Pinochet. Như một người bạn Chile giải thích cho tôi: “Tôi không hiểu được tâm lý của Pinochet.”

Ngay khi hội đồng quân sự nắm lấy quyền lực, những nhà lãnh đạo đảng Đoàn kết Nhân dân của Allende và những người được cho là cánh tả (như các sinh viên đại học và ca sĩ hát dân ca nổi tiếng Victor Jara; Ảnh 4.5) bị tập trung lại với mục tiêu hủy diệt các nhà cánh tả theo nghĩa đen. Chỉ trong vòng 10 ngày đầu, hàng ngàn người theo cánh tả bị đưa vào hai sân vận động ở Santiago, bị thẩm vấn, tra tấn, và giết chết. (Chẳng hạn, thi thể của Jara được tìm thấy ở một con kênh bẩn thỉu với 44 lỗ đạn, các ngón tay đều bị chặt đứt, và khuôn mặt thì biến dạng.) Năm tuần sau cuộc đảo chính, đích thân Pinochet ra lệnh cho một tướng lĩnh đi khắp các thành phố ở Chile, được biết dưới danh xưng “Chuyến đi của Thần chết,” để giết hết những tù nhân chính trị và chính trị gia đảng Đoàn kết Nhân dân mà quân đội quá chậm chạp không kịp thực hiện. Hội đồng quân sự cấm đoán mọi hoạt động chính trị, đóng cửa Quốc hội và chiếm lấy các trường đại học.

Hai tháng sau vụ đảo chính, Pinochet thành lập một tổ chức sau chuyển thành DINA (Dirección de Inteligencia Nacional), tổ chức tình báo quốc gia và lực lượng cảnh sát mật. Chỉ huy tổ chức này báo cáo trực tiếp với Pinochet, và tổ chức biến thành nhân tố chính của sự trấn áp. Nó khét tiếng tàn bạo, ngay cả khi đánh giá theo những tiêu chuẩn về sự tàn bạo của các đơn vị tình báo khác thuộc quân đội Chile. Đơn vị này thiết lập mạng lưới các trại giam giữ bí mật, nghĩ ra những phương pháp tra tấn mới và làm nhiều người Chile “biến mất” (sát hại họ không để lại dấu vết). Một trung tâm gọi là La Venda Sexy chuyên cưỡng bức tình dục để lấy thông tin – chẳng hạn, tập trung các thành viên trong gia đình của tù nhân và hành hạ họ ngay trước mặt tù nhân đó, bằng những phương pháp ghê tởm đến nỗi không thể mô tả trên giấy được và sử dụng đến cả loài gặm nhấm và chó được huấn luyện. Nếu có dịp đến Santiago, có một bao tử tốt và không dễ gặp ác mộng, bạn có thể làm một chuyến tham quan một trung tâm giam giữ như thế ở biệt thự Villa Grimaldi, giờ đây đã chuyển thành một bảo tàng.

Vào năm 1974, DINA bắt đầu mở rộng hoạt động ra khỏi biên giới Chile, bắt đầu với Argentina qua vụ đánh bom xe giết chết cựu tham mưu trưởng quân đội Chile, tướng Carlos Prats và người vợ, Sofia, do Prats từ chối gia nhập cuộc đảo chính và Pinochet cho rằng đó là một mối đe dọa tiềm ẩn. Sau đó, DINA tung ra một chiến dịch quốc tế chống khủng bố của chính phủ, mang tên Chiến dịch Thần ưng (Operation Condor), tham dự hội nghị những người đứng đầu ngành cảnh sát mật của Chile, Argentina, Uruguay, Paraguay, Bolivia và cuối cùng là Brazil, để hợp tác trong việc săn đuổi xuyên biên giới những kẻ đào tị, theo cánh tả và những nhân vật chính trị. Hàng trăm người Chile bị theo dõi và giết chết ở các nước Nam Mỹ, châu Âu và thậm chí còn có một vụ ở Mỹ. Trường hợp ở Mỹ xảy ra năm 1976 ngay ở thủ đô Washington D.C., chỉ cách Nhà Trắng 14 khối nhà, khi một quả bom xe phát nổ giết chết nhà cựu ngoại giao Chile Orlando Letelier (bộ trưởng quốc phòng dưới thời Allende) cùng một đồng nghiệp người Mỹ. Như tôi đã đề cập trước đó, đây là trường hợp duy nhất mà một tên khủng bố nước ngoài sát hại một công dân Mỹ ngay trên đất Mỹ – trước khi xảy ra vụ tấn công Trung tâm Thương mại Thế giới năm 2001.

Vào khoảng năm 1976, chính phủ của Pinochet đã bắt giữ 130.000 người Chile, hay 1% dân số Chile. Tuy sau cùng đa số đó cũng được thả, nhưng các nhân viên của hội đồng quân sự cũng đã kịp giết và làm “biến mất” hàng ngàn người (hầu hết đều dưới độ tuổi 35) cùng với bốn công dân Mỹ và các công dân nước khác. Những vụ sát hại này thường là bị tra tấn trước khi giết, một phần để nhằm khai thác thông tin. Dù vậy, cũng không rõ việc tra tấn được thúc đẩy do động cơ bạo hành đến mức độ nào; các sinh viên Chile mà tôi cùng thảo luận về vấn đề này đều đưa ra hai động cơ. Có khoảng 100.000 người lâm vào cảnh tha hương, và nhiều người không bao giờ trở lại.

Người ta phải đặt câu hỏi là tại sao một nước vốn trước đây theo chế độ dân chủ lại trỗi dậy những tiềm ẩn hành vi về số lượng giết người và bạo hành đến thế, vượt xa những cuộc can thiệp quân sự trước đó trong tiến trình lịch sử của Chile. Câu trả lời một phần nằm ở sự phân cực ngày càng gia tăng, bạo lực, sự phá vỡ những thỏa hiệp chính trị, và lên đến cực điểm dưới thời Allende khi trang bị vũ khí cho những người cực tả và trong câu cảnh báo “Yakarta viene” về vụ thảm sát do phái cực hữu gây ra đang treo lơ lửng trên đầu. Những thiết kế theo đường lối Marxist và mối liên kết với Cuba, còn hơn cả những chương trình của cánh tả ở Chile trước đó, khiến quân đội cảm thấy lo sợ và phải sẵn sàng tiến hành các hành động ngăn ngừa. Một phần khác của câu trả lời, theo những người Chile tôi từng nói chuyện, lại dính dáng đến chính Pinochet, một con người bất thường dù có vẻ bình thường khi tìm cách tạo dựng hình tượng như một lão già Công giáo hiền từ, ngoan đạo. Một số tài liệu gắn trực tiếp Pinochet với các hành động tàn ác; mà có lẽ cận kề nhất cho thông tin chứng minh ông ta là kẻ thủ ác chính là việc ông ta cho tiến hành Chuyến đi của Thần chết. Nhiều người Chile thuộc cánh hữu vẫn tin rằng Pinochet không đích thân ra lệnh tra tấn và giết người mà chính những vị tướng và lãnh đạo khác đã làm điều đó. Nhưng tôi thấy thật khó tin rằng Pinochet có thể gặp viên chỉ huy lực lượng mật vụ (DINA) hằng tuần, thậm chí hằng ngày, hoặc nhiều sĩ quan khác trong quân đội Chile dám luân phiên tra tấn mà không có chỉ thị rõ ràng của Pinochet.

Vì thế, cũng giống như Hitler, Pinochet dường như là điển hình của một nhà lãnh đạo xấu xa đã làm thay đổi tiến trình lịch sử. Nhưng chưa hết, những tội ác của quân đội Chile không thể quy vào mỗi Pinochet, vì không ai cho rằng cá nhân ông ta có thể bắn hay tra tấn ai được. Ở đỉnh điểm, DINA có đến 4.000 nhân viên mà công việc chỉ là thẩm vấn, tra tấn và giết người. Tôi không diễn giải điều đó để có ý cho rằng hầu hết những người Chile là độc ác vô song: mọi quốc gia đều có hàng ngàn người rối loạn nhân cách chống đối xã hội (sociopath) có thể phạm tội ác nếu được ra lệnh hay chỉ cần được phép làm điều đó. Chẳng hạn, bất kỳ người nào từng bị giam giữ, dù ở các nước mà cái ác thường không phổ biến như Anh hay Mỹ, hoặc từng gặp xui rủi khi gặp phải những tù nhân mắc chứng bạo dâm và đám cai ngục không được ra lệnh bạo hành một cách rõ ràng, thì có thể hình dung được những tù nhân và cai ngục đó sẽ cư xử ra sao khi họ thật sự được phép bạo hành một cách công khai.

Ngoài việc triệt tiêu những người cánh hữu, một nỗ lực khác của chế độ độc tài Pinochet là tái cơ cấu nền kinh tế Chile dựa trên nền tảng kinh tế thị trường, chuyển đổi nguyên tắc mở rộng sự can thiệp của chính phủ trước đó. Sự chuyển đổi này không diễn ra trong giai đoạn một năm rưỡi đầu tiên Pinochet nắm quyền lực, khi nền kinh tế tiếp tục co cụm, lạm phát vẫn dai dẳng và nạn thất nghiệp vẫn gia tăng. Nhưng từ 1975 trở đi, Pinochet để việc quản lý kinh tế cho một nhóm tư vấn kinh tế tân-tự do được biết dưới tên gọi Các chàng trai Chicago (Chicago Boys), vì nhiều người trong số họ học ở Đại học Chicago có liên hệ với kinh tế gia Milton Friedman. Những chính sách của họ nhấn mạnh đến doanh nghiệp tự do, thương mại tự do, định hướng thị trường, cân đối ngân sách, giảm lạm phát, hiện đại hóa các doanh nghiệp Chile và giảm sự can thiệp của chính phủ.

Các chính phủ quân sự Nam Mỹ luôn thích một nền kinh tế mà họ có thể kiểm soát nhằm phục vụ cho lợi ích của mình hơn là một nền kinh tế thị trường tự do mà họ không kiểm soát được. Vì lý do đó, việc hội đồng quân sự chấp nhận các chính sách của nhóm Các chàng trai Chicago đúng là một điều bất ngờ, và người ta vẫn còn không biết chắc lý do tại sao nó lại xảy ra. Điều này có khả năng không xảy ra nếu không có bàn tay của Pinochet, vì các chính sách đó bị một số chỉ huy cấp cao của giới quân sự chống đối, gồm cả một thành viên hội đồng (tướng không quân Gustavo Leigh), người mà cuối cùng Pinochet ép phải từ nhiệm vào năm 1978. Việc chấp nhận có khi được cho là do chuyến thăm Chile năm 1975 của Milton Friedman, ông gặp gỡ Pinochet trong 45 phút, và việc tiếp theo sau cuộc gặp là ông gửi cho Pinochet một bức thư dài đầy những đề xuất. Nhưng khi rời khỏi cuộc gặp, Friedman đánh giá thấp Pinochet, vốn chỉ hỏi Friedman một câu hỏi trong suốt cuộc nói chuyện. Thực ra, chương trình của nhóm Các chàng trai Chicago khác xa những đề xuất của Friedman và đưa ra những kế hoạch chi tiết mà các kinh tế gia Chile đã trình bày trong một tài liệu có biệt danh “viên gạch” (vì nó quá dài dòng và nặng nề).

Một lời giải thích khả dĩ đó là Pinochet nhận thấy ông ta không biết gì về kinh tế học, phác họa mình như (hay từng) là một con người đơn giản, và cảm thấy bị thu hút bởi những đề xuất đơn giản, thích hợp và đầy thuyết phục của nhóm này. Một nhân tố khác có thể là do Pinochet nhận ra nhóm Các chàng trai Chicago và chính sách của họ cùng với Mỹ đều ủng hộ ông ta mạnh mẽ, cùng chia sẻ quan điểm thù ghét những người cộng sản và phục hồi các khoản vay dành cho Chile ngay sau vụ đảo chính của Pinochet. Đúng như một số hành động khác của Pinochet (và Allende), những động cơ trong trường hợp này cũng không rõ ràng.

Dù động cơ có là gì đi nữa, thì kết quả của các chính sách thị trường tự do bao gồm việc tái tư nhân hóa hàng trăm doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước được quốc hữu hóa dưới thời Allende (ngoại trừ các công ty khai thác đồng); giảm thâm hụt của chính phủ bằng việc cắt giảm về mọi mặt ngân sách các bộ phận chính phủ từ 15% đến 25%; giảm thuế nhập khẩu bình quân từ 120% xuống 10%; và mở cửa nền kinh tế Chile cho cạnh tranh quốc tế. Điều này khiến chương trình của nhóm Các chàng trai Chicago bị nhóm quyền lực tập trung gồm các nhà tư bản công nghiệp và gia đình có thế lực truyền thống chống đối, do doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả của họ trước đây được bảo vệ khỏi cạnh tranh quốc tế bằng việc đánh thuế cao, còn bây giờ buộc phải cạnh tranh và đổi mới. Nhưng các kết quả hiện tiền là tỉ lệ lạm phát giảm từ 600% mỗi năm dưới thời Allende xuống chỉ còn 9%, nền kinh tế Chile tăng trưởng ở mức gần 10% mỗi năm, đầu tư nước ngoài tăng cao, mức tiêu dùng của người Chile cũng tăng, và các mặt hàng xuất khẩu cuối cùng cũng đa dạng và gia tăng.

Các kết quả tích cực này không phải không có những trục trặc và hậu quả đau đớn. Một quyết định rủi ro là neo giá trị đồng peso Chile vào đồng đô la Mỹ đã tạo ra một khoản thâm hụt thương mại lớn và một biến cố kinh tế vào năm 1982. Lợi ích kinh tế của Chile không được phân phối công bằng: giới trung lưu và thượng lưu thì giàu có, nhưng nhiều người khác lại gánh chịu cực khổ và thấy mình vẫn sống dưới mức nghèo. Trong một xã hội dân chủ thì sẽ khó để bắt người dân nghèo Chile gánh chịu tổn thương, cũng như áp đặt những chính sách của chính phủ bị các nhóm doanh nghiệp đầu sỏ giàu có chống đối. Điều này chỉ khả thi dưới một chế độ độc tài áp bức. Một người bạn Chile, tuy vẫn không có cảm tình với Pinochet, giải thích với tôi: “Vâng, nhưng đã có quá nhiều người dân Chile phải gánh chịu những vấn đề kinh tế trước đó dưới thời Allende, họ không hi vọng gì vào một sự cải thiện.” Khi mọi sự được phơi bày rõ ràng là chế độ hội đồng quân sự không còn là một giai đoạn chuyển tiếp tạm thời mà dự định vẫn tiếp tục nắm quyền lực, nhiều người Chile thuộc tầng lớp trung và thượng lưu dù vậy vẫn tiếp tục ủng hộ Pinochet do sự cải thiện nền kinh tế này (được phân phối bất bình đẳng), bất chấp sự đàn áp của chính phủ. Chủ nghĩa lạc quan và có chút thở phào nhẹ nhõm về việc chấm dứt sự hỗn loạn kinh tế xuất hiện dưới thời Allende đã nảy sinh trong lòng người dân Chile, những người nằm ngoài các bộ phận xã hội bị tra tấn hay giết chóc.

Cũng như nhiều người dân Chile, chính phủ Mỹ ủng hộ Pinochet trong hơn một nửa thời gian ông ta nắm quyền lãnh đạo Chile như một nhà độc tài quân sự – ở trường hợp của Mỹ là vì lập trường chống cộng mạnh mẽ của ông ta. Chính sách của Mỹ là gia tăng hỗ trợ về mặt kinh tế và quân sự cho Chile và công khai phủ nhận những ngược đãi vi phạm nhân quyền của Pinochet, ngay cả khi có những người bị tra tấn và giết hại là công dân Mỹ. Như ngoại trưởng Kissinger đã diễn đạt: “… tuy họ [hội đồng quân sự] hành động không dễ chịu chút nào, nhưng đối với chúng ta thì dù sao chính phủ này [chính phủ của Pinochet] cũng tốt hơn chính phủ của Allende.” Sự ủng hộ Pinochet và làm ngơ với những ngược đãi của ông ta từ chính phủ Mỹ tiếp tục kéo dài qua mấy đời tổng thống Mỹ Richard Nixon, Gerald Ford, Jimmy Carter và thời kỳ ban đầu của Ronald Reagan.

Nhưng từ giữa thập niên 1980 trở đi, có hai điều đã khiến chính phủ Mỹ chống lại Pinochet. Một là những chứng cứ về sự bức hại ngày càng tích lũy, trong đó có những vụ bức hại công dân Mỹ – những chứng cứ khó làm ngơ được càng lúc càng gia tăng; và bước ngoặt là vụ giết hại thảm khốc Rodrigo Rojas, một thiếu niên Chile có thẻ cư trú hợp pháp ở Mỹ, khi cậu ta bị lính Chile tưới xăng và đốt cháy. Một nhân tố khác khiến chính quyền Reagan chống lại Pinochet là do suy thoái kinh tế Chile trong giai đoạn 1982-1984, khiến công chúng Chile chống đối Pinochet. Do sự phục hồi kinh tế từ năm 1984 trở về sau không cải thiện được đời sống của nhiều người dân, nên cánh tả ở Chile lại giành được sức mạnh, Giáo hội Công giáo Chile trở thành nơi tập trung công khai sự chống đối (dù Pinochet là một giáo dân mộ đạo), và ngay cả quân đội cũng không hài lòng đối với ông ta. Tóm lại, Pinochet không chỉ là một kẻ ác: còn tệ hơn nữa theo quan điểm của chính quyền Mỹ, ông ta đã trở thành một gánh nặng cho lợi ích chính trị của Mỹ.

Vào năm 1980, hội đồng quân sự đề xuất một hiến pháp mới để bám giữ những lợi ích của cánh hữu và phe quân đội, đồng thời yêu cầu cử tri hợp thức hóa Pinochet bằng việc bỏ phiếu kéo dài nhiệm kỳ tổng thống thành tám năm (từ năm 1981 đến năm 1989). Sau chiến dịch bầu cử được hội đồng quân sự kiểm soát chặt chẽ, đa số cử tri Chile bỏ phiếu đồng thuận với hiến pháp mới và gia hạn nhiệm kỳ tổng thống. Khi nhiệm kỳ gia hạn đó gần đến năm 1989, hội đồng quân sự lại tuyên bố trưng cầu dân ý vào năm 1988 để kéo dài nhiệm kỳ của Pinochet thêm tám năm nữa cho đến 1997 khi ông ta đã 82 tuổi. Dù vậy, lần này Pinochet đã tính toán sai lầm và bị các đối thủ của mình vượt mặt. Mối quan tâm quốc tế buộc chiến dịch này phải tiến hành công khai, và việc bỏ phiếu phải trung thực. Mỹ dốc nguồn lực ủng hộ phe chống đối, tổ chức một nỗ lực to lớn để đăng ký 92% cử tri tiềm năng, nâng lên thành một chiến dịch được vạch ra một cách sáng tạo xoay quanh khẩu hiệu đơn giản “Không!” (Ảnh 4.6). Trước sự kinh ngạc của Pinochet, chiến dịch “Không!” lại thắng thế với 58% số phiếu bầu. Mặc dù phản ứng ban đầu của Pinochet vào đêm bầu cử là cố phủ nhận kết quả bầu cử, nhưng các thành viên khác trong hội đồng quân sự đã buộc ông ta phải chấp nhận nó. Song, vẫn còn 42% người Chile bỏ phiếu cho Pinochet trong cuộc bầu cử tự do năm 1988.

Với chiến thắng “Không!,” các đối thủ của Pinochet cuối cùng cũng có cơ hội trở lại nắm quyền trong cuộc bầu cử dự kiến năm 1990. Nhưng những người tham gia chiến dịch “Không!” lại có đến 17 nhóm khác nhau, với 17 tầm nhìn khác nhau cho đất nước Chile thời kỳ hậu Pinochet. Do đó, Chile có nguy cơ rơi vào vết xe đổ của các thể chế dân chủ khối Đồng minh từng đánh bại Nhật và Đức trong Thế chiến II, theo như Winston Churchill đã viết trong chương cuối của Triumph and Tragedy (Thắng lợi và Bi kịch), cuốn sách về lịch sử Thế chiến II gồm 16 chương, “Các thể chế dân chủ vĩ đại đã thắng lợi, và vì thế có thể tiếp tục những hành động điên rồ mà họ gần như phải trả giá bằng mạng sống.” Một câu hỏi tương tự cũng đang treo lơ lửng cho Chile: liệu người Chile có tiếp tục những điều điên rồ của sự không khoan nhượng và thái độ không thỏa hiệp vốn đã khiến nhiều người phải trả giá bằng mạng sống và khiến đất nước họ phải trả giá bằng chính quyền dân chủ hay không?

Về các đối thủ cánh tả của Pinochet không bị ông ta giết, có 100.000 người đào tẩu ra nước ngoài, bắt đầu khoảng năm 1973. Họ vẫn phải sống lưu vong trong một thời gian dài, khoảng 16 năm (cho đến năm 1989). Vì thế, họ có đủ thời gian để ngẫm lại về sự không khoan nhượng trước đây của mình. Một số người đến Đông Âu hoặc Tây Âu, nơi họ có nhiều năm quan sát những người theo phái xã hội, cộng sản và những người cánh tả khác ở các nước châu Âu hoạt động như thế nào hay sống ra sao. Những người sống lưu vong ở Đông Âu có khuynh hướng trở nên thất vọng khi nhận ra các nhà lý tưởng cánh tả cố chấp nắm quyền lại không tạo ra hạnh phúc cho dân tộc. Những kẻ đào tẩu sang Tây Âu thay vì quan sát những chế độ dân chủ xã hội ôn hòa đang hành động, thì chỉ thấy mức sống cao và một bầu khí chính trị tĩnh lặng hơn bầu khí đã phổ biến ở Chile. Họ thấy rằng những người cánh tả không cần phải cấp tiến và cố chấp, mà họ vẫn có thể đạt được nhiều mục tiêu của mình bằng thương thảo hay thỏa hiệp với những người khác quan điểm chính trị. Những người sống lưu vong còn chứng kiến sự sụp đổ của Liên Xô và các chính quyền cộng sản ở Đông Âu, và cuộc đàn áp biểu tình đẫm máu ở Chile vào năm 1989. Tất cả những quan sát trên đã xoa dịu chủ nghĩa cực đoan và những người Chile cánh tả có cảm tình với chủ nghĩa cộng sản.

Trong suốt chiến dịch “Không!” năm 1989, những người có quan điểm khác nhau ủng hộ chiến dịch này nhận ra rằng họ không thể thắng nếu không học cách hợp tác với nhau. Họ cũng nhận ra rằng Pinochet vẫn nhận được sự ủng hộ rộng rãi trong cộng đồng doanh nhân và giới thượng lưu Chile, và họ không thể thắng hay (giả như họ thắng) không bao giờ được phép thâu tóm quyền lực, trừ phi những người ủng hộ Pinochet được bảo đảm an toàn cá nhân trong thời kỳ hậu Pinochet. Tuy đau khổ vì viễn cảnh đó, nhưng cánh tả phải học cách khoan dung đối với kẻ thù cũ, những người mà họ vốn không ưa quan điểm và thái độ ứng xử của những người này đối với họ từng rất khủng khiếp. Họ phải tuyên bố ước muốn xây dựng “một đất nước Chile cho mọi người Chile”: mục tiêu mà Patricio Aylwin, tổng thống dân chủ đầu tiên được bầu lên sau Pinochet, tuyên bố trong bài diễn văn nhậm chức ngày 12 tháng 3 năm 1990.

Vì thế, một khi sự liên minh của 17 nhóm “Không!” chiến thắng trong cuộc trưng cầu dân ý, thì liên minh cánh tả lại đối mặt với điều thiết yếu là thuyết phục phe trung dung thuộc đảng Dân chủ Ki-tô giáo của liên minh rằng không có gì phải sợ hãi một chính quyền mới thuộc cánh tả và họ cũng không cực đoan như chính phủ cánh tả dưới thời Allende. Do đó, các đảng phái cánh tả và trung dung mới kết hợp lại thành một liên minh gọi là Concertación. Những người cánh tả đồng ý rằng, nếu liên minh chiến thắng trong cuộc bầu cử năm 1990 (quả đúng như thế), thì chức vụ tổng thống sẽ do hai phe luân phiên nắm giữ, và sẽ để người của đảng Dân chủ Ki-tô giáo làm tổng thống trước. Phe cánh tả đồng ý các điều kiện đó vì chỉ bằng phương cách đó thì rốt cuộc họ mới có thể quay trở lại nắm quyền được.

Thực vậy, liên minh Concertación liên tục chiến thắng trong bốn cuộc bầu cử giai đoạn đầu tiên thời hậu Pinochet, vào các năm 1990, 1993, 2000 và 2006. Hai tổng thống đầu tiên là người của đảng Dân chủ Ki-tô giáo, Patricio Aylwin và Eduardo Frei, Jr. (con trai của cựu tổng thống Eduardo Frei). Hai tổng thống tiếp đó là người của đảng xã hội Ricardo Lagos và Michelle Bachelet; người sau là nữ tổng thống đầu tiên và cũng là con gái của một vị tướng đã bị hội đồng quân sự của Pinochet tra tấn và giam giữ. Vào năm 2010, liên minh Concertación bị đánh bại bởi một tổng thống cánh hữu (Sebastian Pinera), năm 2014 Tổng thống Bachelet phe xã hội trở lại quyền lực, và năm 2018 lại đến Tổng thống phe hữu Pinera. Vì thế, đất nước Chile thời kỳ hậu Pinochet chuyển đổi để trở thành một thể chế dân chủ không theo quy tắc nào ở châu Mỹ Latin, nhưng với một thay đổi có chọn lọc lớn lao: một ước muốn khoan dung, thỏa hiệp và luân phiên chia sẻ quyền lực.

Bên cạnh việc từ bỏ tính cố chấp, thay đổi chính yếu khác về đường hướng của các chính phủ liên minh dân chủ mới Concertación so với các chính phủ dân chủ thời kỳ tiền Pinochet là về chính sách kinh tế. Các chính phủ mới vẫn tiếp tục theo đuổi hầu hết các chính sách kinh tế thị trường tự do thời Pinochet, vì những chính sách này rốt cuộc được cho là mang lại lợi ích lớn lao. Thực vậy, các chính phủ liên minh Concertación còn đưa những chính sách này đi xa hơn, bằng cách giảm thuế quan nhập khẩu đến mức bình quân chỉ 3% vào năm 2007, mức thấp nhất thế giới. Các hiệp ước tự do mậu dịch được ký với Mỹ và Liên minh Châu Âu. Thay đổi chính yếu được liên minh Concertación đưa vào các chính sách kinh tế của chính quyền quân sự được áp dụng là gia tăng chi tiêu chính phủ vào các chương trình xã hội và cải cách luật lao động.

Kết quả là, từ sự thay đổi chính quyền năm 1990, nền kinh tế Chile đã có tỉ lệ tăng trưởng đầy ấn tượng, và dẫn đầu các nước Mỹ Latin về kinh tế. Thu nhập bình quân ở Chile chỉ bằng 19% ở Mỹ vào năm 1975; đến năm 2000, tỉ lệ này đã lên đến 44%, trong khi thu nhập bình quân của các nước Mỹ Latin còn lại rớt xuống trong cùng thời điểm. Tỉ lệ lạm phát ở Chile cũng thấp, luật pháp thì nghiêm minh, các quyền sở hữu tài sản cá nhân được bảo vệ, và nạn tham nhũng lan tràn mà tôi gặp phải trong chuyến thăm Chile năm 1967 đã giảm. Một hệ quả (đồng thời cũng là một phần nguyên nhân) của môi trường kinh tế được cải thiện này là việc đầu tư nước ngoài tăng gấp đôi xảy ra nhanh chóng trong bảy năm đầu tiên khôi phục nền dân chủ.

Ngày nay, Santiago trông hoàn toàn khác hẳn những gì tôi biết vào năm 1967. Nó mọc đầy những tòa nhà chọc trời (trong đó có tòa nhà cao nhất châu Mỹ Latin) với một hệ thống xe điện ngầm và một sân bay mới. Tuy nhiên, hiệu suất kinh tế Chile còn xa mới đạt được thành quả phân phối đều khắp cho mọi người. Tính thiếu bình đẳng kinh tế vẫn còn cao, động lực thúc đẩy kinh tế-xã hội vẫn còn thấp, và cũng như trước đây, Chile lại tiếp tục là một vùng đất của mâu thuẫn giàu nghèo, mặc dù người giàu hiện nay thường là các doanh nhân cầm đầu thuộc thế hệ mới chứ không phải là những điền chủ có đất đai rộng lớn trước đây. Nhưng về mặt tổng thể, cải thiện lớn lao của nền kinh tế Chile chính là, trong khi khoảng cách tương đối giữa người giàu và người nghèo vẫn duy trì, thì tình trạng kinh tế tuyệt đối của người nghèo trở nên tốt hơn. Tỉ lệ người Chile sống dưới ngưỡng nghèo giảm từ mức 24% trong năm cuối cùng Pinochet nắm quyền lực xuống chỉ còn 5% vào năm 2003.

Chiến thắng của chiến dịch “Không!” trong cuộc bỏ phiếu năm 1989 không có nghĩa rằng Chile đã được giải thoát khỏi Pinochet và lực lượng quân đội. Trái lại, trước khi rời khỏi cương vị tổng thống, Pinochet được ban hành pháp chế công nhận ông ta là nghị-sĩ-trọn-đời, cho phép ông ta bổ nhiệm một số thẩm phán Tòa án Tối cao mới, và vẫn giữ chức tổng tư lệnh quân đội cho đến khi ông ta về hưu ở tuổi 83. Điều này có nghĩa rằng Pinochet, và mối đe dọa ẩn tàng của một cuộc đảo chính quân đội, vẫn hiện diện trong tâm trí của các nhà lãnh đạo dân chủ. Như một người bạn Chile giải thích cho tôi: “Điều này như thể sau khi Đức Quốc xã đầu hàng vào ngày 9 tháng 5 năm 1945, Hitler không tự tử mà vẫn làm nghị-sĩ-trọn-đời và tổng tư lệnh quân đội Đức.” Để gia tăng thêm vị thế quân đội, hiến pháp của Pinochet còn kèm một điều khoản (đến nay vẫn còn hiệu lực) ghi rõ rằng 10% thu nhập bán ra từ việc khai thác đồng của quốc gia (đúng là bán ra chứ không phải lợi nhuận) hằng năm phải đưa vào ngân sách quân đội. Điều này cho phép quân đội Chile có một khoản tài chính vượt xa số tiền cần có để bảo vệ Chile khỏi bất kỳ mối đe dọa hiện hữu nào từ nước ngoài – một điều đặc biệt khi xét đến cuộc chiến gần nhất (đây chỉ là cuộc chiến thứ hai) đã kết thúc từ hơn một thế kỷ trước, vào năm 1883, trong khi biên giới Chile lại được bao bọc bởi đại dương, sa mạc và núi cao, đồng thời các nước láng giềng với Chile (Argentina, Bolivia, Peru) lại chẳng nguy hiểm chút nào. Thay vào đó, mục đích khả dĩ duy nhất để sử dụng quân đội Chile chính là nhằm chống lại người dân của chính họ.

Hiến pháp Chile được chấp thuận dưới thời Pinochet có ba điều khoản có lợi cho cánh hữu. Một điều khoản chỉ rõ rằng trong số 35 nghị sĩ Thượng viện thì có 10 người không do công chúng bầu ra mà lại được tổng thống chỉ định từ một danh sách có khả năng chỉ gồm những người theo cánh hữu (chẳng hạn như các cựu tư lệnh lục quân và hải quân); còn những cựu tổng thống thì trở thành nghị-sĩ-trọn-đời. Điều khoản thứ nhì (mãi đến năm 2015 mới xóa bỏ) ghi rõ rằng mỗi khu vực bầu cử Quốc hội bầu hai đại biểu, người đầu chỉ cần đạt được đa số phiếu tương đối, nhưng người sau cần phải đạt đa số phiếu 80%; điều này khiến bất kỳ khu vực bầu phiếu nào cũng khó có thể chọn được hai đại biểu cánh tả. Điều khoản cuối đòi hỏi phải có 5/7 đa số phiếu cử tri mới có thể thay đổi hiến pháp – nhưng trong một chế độ dân chủ (đặc biệt ở chế độ đã bị rạn nứt như Chile) để đạt 5/7 cử tri đồng thuận thì lại rất khó. Kết quả là, mặc dù đã nhiều thập niên qua đi kể từ khi Pinochet bị bỏ phiếu rời khỏi chức vụ tổng thống, Chile vẫn vận hành dưới một phiên bản hiến pháp của ông ta, mà hầu hết người dân Chile xem là bất hợp pháp.

Thật đau xót cho bất kỳ đất nước nào phải thừa nhận, đồng thời chuộc lỗi, cho các hành vi xấu xa mà quan chức nhà nước phạm phải đối với công dân nước mình hay các nước khác. Điều này thật đau xót vì không gì có thể sửa đổi quá khứ, và thường thì những thủ phạm vẫn còn sống, không ăn năn hối lỗi, đầy quyền lực và vẫn được ủng hộ. Sự thừa nhận và cứu chuộc lại đặc biệt khó khăn đối với đất nước Chile, vì Pinochet vẫn được đa số cử tri ủng hộ, ngay cả trong cuộc trưng cầu dân ý tự nguyện năm 1989, vì Pinochet vẫn còn là tổng tư lệnh quân đội, và vì chính quyền dân chủ có lý do để sợ xảy ra một vụ đảo chính quân sự khác nếu tiến hành truy tố những thủ phạm bên quân đội. Trong cả hai trường hợp – khi con trai của Pinochet bị tiến hành điều tra, và khi một ủy ban nhân quyền bắt đầu việc điều tra những vụ bức hại – thì binh lính trang bị binh phục đầy đủ xuất hiện trên các đường phố. Việc họ xuất hiện chỉ được cho là một “diễn tập theo định kỳ” – nhưng mối đe dọa tiềm ẩn đối với mọi người là quá rõ ràng.

Patricio Aylwin, tổng thống đầu tiên sau Pinochet, tiến hành việc khởi tố một cách cẩn thận. Khi ông hứa công lý sẽ được thực thi “trong phạm vi có thể” thì người Chile đặt hi vọng vào việc xem xét này đã cảm thấy vỡ mộng và sợ rằng câu nói của ông chỉ là một uyển ngữ cho “không có công lý nào cả.” Nhưng Aylwin đã lập một Ủy ban Sự thực và Hòa giải, trong năm 1991 đã đưa ra danh sách tên tuổi của 3.200 người Chile bị giết hại hoặc “biến mất,” và một ủy ban thứ nhì vào năm 2003 báo cáo về nạn tra tấn. Trên truyền hình, Aylwin nói gần như khóc khi ông thay mặt chính quyền Chile cầu xin những gia đình nạn nhân tha thứ. Những lời xin lỗi chân thành từ trái tim của các lãnh đạo chính phủ về những hành động tàn bạo của chính quyền ngày càng trở nên hiếm hoi trong lịch sử hiện đại; tương đồng gần nhất là lời xin lỗi chân thành của Thủ tướng Đức Willy Brandt tại khu Warsaw Ghetto gửi đến các nạn nhân của chính quyền Quốc xã trước đó (xem chi tiết ở Chương 6).

Một bước ngoặt trong vụ điều tra Pinochet là trát bắt giữ ông ta năm 1998 của chính phủ Anh khi ông đến một bệnh viện ở London để điều trị y tế. Trát tòa này được phát ra theo yêu cầu của một thẩm phán Tây Ban Nha đòi dẫn độ Pinochet đến Tây Ban Nha để trả lời cho những tội ác chống lại loài người, đặc biệt là việc giết hại những công dân Tây Ban Nha. Các luật sư của Pinochet đầu tiên cãi rằng Pinochet phải được miễn trừ truy tố vì việc tra tấn và giết người được thực hiện theo chức năng hợp pháp của chính quyền. Nhưng khi Thượng viện Anh bác bỏ biện hộ đó, thì luật sư của ông ta lại tuyên bố rằng ông ta đã già yếu và nên được thả ra vì những lý do nhân đạo. Luật sư chỉ cho phép được chụp ảnh ông ta khi đang ngồi trên xe lăn. Sau 503 ngày bị quản thúc tại gia, bộ trưởng nội vụ Anh từ chối yêu cầu dẫn độ của Tây Ban Nha, vì Pinochet được cho là thiếu khả năng biện hộ ở phiên tòa, nhưng có lẽ là do chính phủ Chile đã giúp đỡ Anh trong Chiến tranh Falkland giữa Anh với Argentina năm 1982. Sau đó, Pinochet lập tức bay về Chile. Khi phi cơ hạ cánh, ông ta rời xe lăn, đứng lên bước ra khỏi đường băng và bắt tay những tướng lĩnh có mặt để chào mừng (Ảnh 4.7).

Nhưng ngay cả những người cánh hữu cũng bị sốc khi một tiểu ban Thượng viện Mỹ tiết lộ rằng Pinochet đã cất giấu 30 triệu đô la trong 125 tài khoản ngân hàng bí mật ở Mỹ. Dù những người cánh hữu sẵn sàng khoan dung với những vụ tra tấn và giết hại, thì họ cũng vỡ mộng khi biết rằng Pinochet, một con người được cho là khác với, và tốt hơn, các nhà độc tài không trung thực ở Mỹ Latin, lại ăn cắp và giấu giếm tiền bạc. Tòa án Tối cao Chile tước quyền miễn trừ truy tố do đặc quyền nghị-sĩ-trọn-đời của Pinochet. Cơ quan thuế Chile (tương đương Sở Thuế vụ Mỹ) đưa ra một khiếu nại dành cho Pinochet về việc làm giả hồ sơ hoàn thuế (có thể các giới chức thẩm quyền lấy cảm hứng từ vụ tay xã hội đen Mỹ khét tiếng Al Capone đã tránh được bị kết tội giết người và ra lệnh giết người, buôn lậu và điều hành đường dây cờ bạc và gái điếm thành công, nhưng cuối cùng vẫn vào tù vì tội trốn thuế thu nhập của liên bang). Lúc này, Pinochet mới bị truy tố về các tội tài chính và giết người khác, và bị quản thúc tại gia, đồng thời vợ và bốn người con của ông ta cũng bị bắt giữ. Nhưng vào năm 2002, ông ta được tuyên bố không đủ năng lực để hầu tòa do bị chứng mất trí. Ông ta chết vì đột quỵ năm 2006, ở tuổi 91.

Cuối cùng, hàng trăm kẻ tra tấn và giết người cũng bị truy tố, và hàng tá người bị tống vào tù – kể cả tướng Manuel Contreras, giám đốc cơ quan tình báo mật DINA của Pinochet, ông ta bị kết án 526 năm tù và vẫn không chịu ăn năn cho đến lúc chết. Nhiều người Chile lớn tuổi vẫn xem những bản án là quá nghiêm khắc và vẫn xem Pinochet là một người tuyệt vời bị đối xử thiếu công bằng; trong khi những người khác lại cho các bản án là quá nhẹ, quá ít và quá muộn màng, chủ yếu chỉ nhằm vào những tội phạm cấp thấp thay vì cả tội phạm cao cấp, và kết quả là họ chỉ bị đưa vào các nhà tù đầy đủ tiện nghi như một khu an dưỡng đặc biệt. Chẳng hạn, mãi đến 2015 các thẩm phán mới kết án 10 sĩ quan quân đội đã giết ca sĩ nổi tiếng Victor Jara vào năm 1973 và 7 sĩ quan khác về tội giết Rodrigo Rojas năm 1986: theo thứ tự 42 và 29 năm sau khi xảy ra những hành động đó. Vào năm 2010, Tổng thống Michelle Bachelet khai trương Bảo tàng Villa Grimaldi ở Santiago trưng bày các tài liệu đầy chi tiết kinh hoàng của các vụ tra tấn và giết người dưới thời chính phủ quân đội. Hoàn toàn chẳng thể nghĩ tới điều này chừng nào Pinochet vẫn còn làm tổng tư lệnh quân đội.

Người Chile vẫn phải đánh vật với tình trạng khó xử về mặt đạo đức khi làm thế nào để cân phân các mặt tích cực và tiêu cực của chính phủ quân sự trước đó của đất nước mình: đặc biệt, tình trạng khó xử trong việc làm thế nào để cân đối những lợi ích kinh tế và những tội ác của chính phủ này. Tình trạng này không thể giải quyết được. Một câu hỏi đơn giản là: Tại sao lại cứ phải cân phân giữa lợi ích và tội ác? Tại sao không chỉ công nhận rằng chính phủ quân sự làm cùng hai điều là lợi ích và tội ác? Nhưng người dân Chile đã phải cân phân như vậy trong cuộc trưng cầu ý dân năm 1989, khi họ được quyền chỉ chọn “đồng ý” hoặc “không đồng ý” giữ Pinochet làm tổng thống thêm tám năm nữa, và họ không thể bỏ phiếu cho việc “đồng ý, nhưng…” hay “không đồng ý, nhưng…” Đối mặt với chọn lựa đó, 42% người Chile đã bỏ phiếu “đồng ý” mặc cho những hành động kinh tởm tiếp tục được trưng bày ở Bảo tàng Villa Grimaldi. Trong khi hầu hết lớp người trẻ khinh rẻ Pinochet, thì sự phân chia quan điểm giữa những người lớn tuổi đủ để còn nhớ những năm tháng dưới thời Allende và Pinochet là một minh họa cho tôi khi phỏng vấn hai cặp vợ chồng người Chile. Ở mỗi trường hợp, người chồng và người vợ đều yêu cầu tôi phỏng vấn riêng từng người vì quan điểm của họ về những vấn đề đau thương như vậy cũng khác biệt. Ở mỗi trường hợp, người chồng nói với tôi, trên thực tế “các chính sách của Pinochet làm lợi cho Chile về mặt kinh tế, nhưng các vụ tra tấn và giết chóc của ông ta thì không thể tha thứ được.” Các người vợ thì nói với tôi, trên thực tế “những vụ tra tấn và giết chóc của Pinochet là độc ác, nhưng ông phải hiểu rằng các chính sách của ông ta lại làm lợi cho Chile về mặt kinh tế.”

Từ góc nhìn trong khuôn khổ cuốn sách của tôi về những nhân tố tạo điều kiện thuận lợi hay cản trở kết quả của biến cố, Chile minh họa rất nhiều điều.

Đầu tiên, những thay đổi ở Chile thực sự có chọn lọc và lớn lao (nhân tố số 3 ở Bảng 1.2). Ban đầu, Chile phá vỡ truyền thống lâu dài về sự can thiệp quân sự tối thiểu của quốc gia này, cũng như giải quyết sự căng thẳng kéo dài giữa sự can thiệp về kinh tế của chính phủ và cách tiếp cận không can thiệp về kinh tế của chính phủ bằng việc thực thi một sự chuyển đổi quyết liệt sang cách tiếp cận không can thiệp. Cuối cùng, khi sự chuyển dịch can thiệp quân sự bị đảo ngược, thì sự thay đổi đó tự thân cũng có chọn lọc: vâng, chính phủ dân chủ được phục hồi, nhưng sự thay đổi sang nền kinh tế thị trường tự do mà bên quân đội đã đưa ra vẫn được giữ lại. Điều này trở thành một trong những thay đổi có chọn lọc kéo dài, cũng minh họa cho tính linh động đáng chú ý (nhân tố số 10): những người chủ nghĩa xã hội cuối cùng cũng trở lại quyền lực đã từ bỏ cam kết với chủ nghĩa xã hội và tiếp tục các chính sách kinh tế của chính phủ quân sự đáng ghét. Một thay đổi có chọn lọc kéo dài khác là chấm dứt (ít nhất cũng ở vài thập niên gần đây) những chống đối không khoan nhượng đối với thỏa hiệp chính trị vốn là đặc trưng chính trị quốc gia trong hầu hết lịch sử gần đây của Chile.

Chile đạt được những thay đổi có chọn lọc đó thông qua hai chu kỳ bất định và thất bại (nhân tố số 9). Chu kỳ đầu tiên là nỗ lực thất bại của Allende nhằm giải quyết các vấn nạn kinh tế và xã hội kinh niên của Chile bằng việc không thỏa hiệp và đưa vào một chính phủ Marxist. Chu kỳ thứ hai là nỗ lực thất bại của Pinochet cũng để không thỏa hiệp và để tạo ra một chính phủ quân sự dài hạn và một chức vụ tổng thống gia hạn cho chính ông ta, để rồi bị ngăn chặn do ông ta đã tính toán sai lầm trong cuộc trưng cầu dân ý năm 1988.

Làm thế nào mà Chile trỗi dậy từ gần 17 năm chịu sự áp bức của giới quân sự và sự tàn bạo phá kỷ lục của chính phủ mà không bị sang chấn tâm lý nặng nề hơn những gì đất nước này đã gánh chịu? Tuy ngày nay Chile vẫn đang đấu tranh với hậu quả của những năm dài dưới thời Pinochet, nhưng tôi ngạc nhiên một cách vui sướng rằng người Chile không còn bị đau khổ dằn vặt nữa. Kết quả đó chính là nhờ vào căn tính quốc gia và niềm kiêu hãnh của người Chile (nhân tố số 6). Người Chile vẫn ôm giữ câu mà những người bạn Chile đã nói với tôi vào năm 1967: “Chile khác với những nước châu Mỹ Latin khác; người Chile chúng tôi biết cách tự cai trị.” Người Chile đã rất nỗ lực để giữ sự khác biệt với những quốc gia Mỹ Latin khác, và để tự điều hành đất nước một cách hiệu quả. Họ sẵn sàng tuân thủ châm ngôn “xây dựng một đất nước Chile cho mọi người Chile” mặc dù những động cơ mạnh mẽ của quá nhiều người Chile là không chấp nhận những kiểu người Chile khác cùng thuộc về đất nước mình. Không có căn tính quốc gia, Chile không thể vượt qua được tình trạng tê liệt về chính trị, và cũng không thể quay trở lại là quốc gia dân chủ và giàu có nhất Mỹ Latin.

Chile minh họa cho đánh giá thực tế và trung thực về sức mạnh ở một giai đoạn, và sự thiếu tính thực tế ở giai đoạn khác (nhân tố số 7). Pinochet và các lãnh đạo chiến hữu của ông ta chứng tỏ họ đã đúng vào năm 1973 khi có thể đánh bại những kẻ thù của mình bên trong và bên ngoài đất nước; Allende chứng tỏ đã sai lầm trong niềm tin rằng ông ta có thể thành công khi dựng lên một chính phủ Marxist ở Chile một cách dân chủ. Điều khác biệt này minh họa thêm cho một sự thật đáng buồn: thành công không nhất thiết sẽ đến với những người công chính có ý hướng tốt, thành công cũng chưa chắc sẽ từ chối những kẻ xấu xa.

Chile minh họa cho vai trò trợ giúp và thiếu trợ giúp từ người khác (nhân tố số 4), và về các hình mẫu để học hỏi (nhân tố số 5). Sự đối nghịch của Mỹ đóng một vai trò trong sự sụp đổ của Allende, và việc phục hồi nhanh chóng sự giúp đỡ kinh tế của Mỹ tiếp sau vụ đảo chính năm 1973 đã đóng một vai trò trong sự tồn tại kéo dài của chính quyền quân sự. Nhận thức của Pinochet (không hoàn toàn đúng trên thực tế) về nền kinh tế Mỹ như là hình mẫu của thị trường tự do đã đóng một vai trò trong việc đi theo chính sách kinh tế của Các chàng trai Chicago.

Tương tự, Chile cũng minh họa cho những thuận lợi của việc tự do hành động và bất lợi của việc thiếu tự do hành động (nhân tố số 12). Sự tách biệt về mặt địa lý bởi núi non và sa mạc với các nước láng giềng ở Nam Mỹ đã giúp Allende và Pinochet giảm trừ nhu cầu quan tâm đến việc chính sách của họ có thể kích động sự can thiệp của các nước láng giềng Argentina, Peru và Bolivia. Ngược lại, những chính phủ độc tài ở Uganda, Rwanda, Đông Pakistan, Cam-pu-chia và nhiều nước khác đều bị lung lay bởi sự can thiệp từ các quốc gia láng giềng. Nhưng sự tự do hành động của Allende bị kiềm chế bởi nước Mỹ xa xôi, còn sự tự do hành động của mọi chính phủ Chile đều bị ràng buộc bởi việc nền kỹ nghệ khai thác đồng (cột trụ lớn nhất của kinh tế Chile) lệ thuộc vào những điều kiện của nền kinh tế thị trường thế giới, vượt ngoài tầm kiểm soát của nước này.

Đó là những đặc trưng biến cố của Chile nhìn từ quan điểm biến cố cá nhân. Bây giờ chúng ta xét đến những đặc trưng riêng cho những biến cố quốc gia (nằm ngoài biến cố cá nhân), và đối chiếu các sự kiện xảy ra ở Chile với sự kiện ở các nước khác mà chúng ta đề cập trong cuốn sách này.

Đầu tiên, biến cố của Chile vào năm 1973, giống như biến cố ở Indonesia năm 1965 sẽ thảo luận ở chương sau, là một biến cố từ bên trong, khác với những cú sốc đến từ bên ngoài của Nhật Bản năm 1853 và Phần Lan năm 1939. (Điều này không phải để phủ nhận vai trò áp lực từ bên ngoài của Mỹ trong biến cố ở Chile.) Cả hai biến cố xảy ra ở Chile và Indonesia đều nảy sinh từ sự phân cực chính trị, sự bất đồng sâu xa về những giá trị cốt lõi, và một khát khao giết chóc và nguy cơ bị giết hại thay vì thỏa hiệp.

Thứ nhì, lịch sử Chile minh họa chủ đề tiến trình hòa bình đối nghịch với cách mạng bạo lực. Ở Đức vào năm 1848 và khi bạo lực cấp tiến khởi phát ở đó lặp lại vào năm 1968, cách mạng bạo lực đã thất bại, nhưng tiến trình hòa bình sau đó lại thành công trong việc đạt được cùng lúc nhiều mục tiêu. Những thay đổi ở Úc từ năm 1945 trở đi cũng thành công mỹ mãn nhờ vào tiến trình hòa bình chứ không có bất kỳ nỗ lực cách mạng bạo lực nào cả. Ngược lại, các biến cố ở Chile vào năm 1973 và ở Indonesia vào năm 1965 đều đạt đến cực điểm của cách mạng bạo lực, tạo ra các chính quyền quân sự lên nắm quyền lực lâu dài. Nhưng cả hai chính quyền quân sự ở các nước này đều bị hất khỏi quyền lực bằng những phản kháng hòa bình. Trong khi thành công của những phản kháng này không được bảo đảm ở thời điểm bắt đầu, thì lựa chọn khác nhằm hạ bệ Pinochet và Suharto ở Indonesia nhờ cách mạng bạo lực chắc chắn sẽ khích động quân đội và bị nghiền nát. Nhưng lực lượng quân đội Chile và Indonesia đều không thể để binh lính bắn vào đám đông khổng lồ phản kháng hòa bình trên đường phố.

Thứ ba, một lần nữa lại giống như Indonesia năm 1965 và Đức năm 1933, nhưng không giống Nhật Bản thời Minh Trị hay Úc sau Thế chiến II, Chile minh họa cho vai trò của một lãnh đạo nổi bật: trong trường hợp của Pinochet, một nhà lãnh đạo có tính ác nổi bật (theo quan điểm của tôi). Những người bạn Chile kể với tôi rằng tính phân cực ngày càng phát triển ở Chile vào cuối thập niên 1960 và đầu thập niên 1970 khiến khả năng giải quyết vấn đề phải là bằng bạo lực. Ngay cả trước khi nổ ra vụ đảo chính ngày 11 tháng 9 năm 1973, nạn bạo lực đã ngày càng gia tăng trong suốt sáu năm. Điều làm người Chile ngỡ ngàng là sự kéo dài của bạo lực, trái ngược với dự đoán của những người bạn của tôi trong bữa tiệc tối hồi tháng 12 năm 1973 rằng chính phủ quân sự chỉ nắm quyền trong chưa đầy hai năm. Đây không chỉ là một sự bùng phát giết chóc trong vài ngày hay vài tuần sau vụ đảo chính, mà người Chile tiếp tục bị tra tấn và giết hại trong nhiều năm, và Pinochet tiếp tục nắm giữ quyền lực trong gần 17 năm. Hậu quả đó đúng là gây bất ngờ, không chỉ cho người dân Chile, mà còn cho cả hai nhóm khác được xem là có thể dự đoán sát nhất động thái của Pinochet: những đồng sự của ông ta trong hội đồng quân sự, những người đã đi theo và chia sẻ sự nghiệp của ông ta trong mấy thập niên, và CIA mà nhiệm vụ của họ chính là hiểu rõ những gì có thể xảy ra ở những quốc gia khác. Các đồng sự của Pinochet trong hội đồng quân sự cũng ngỡ ngàng như CIA trước tính cách tàn nhẫn và quyết đoán của ông ta trong việc đeo bám quyền lực, ngược hẳn truyền thống của mọi nhà lãnh đạo đảo chính trước đó trong lịch sử đất nước Chile. Tâm lý cá nhân của ông ta lại tiếp tục gây trở ngại cho các sử gia.

Chủ đề còn lại được minh họa bởi lịch sử Chile thời hiện đại liên quan đến những ràng buộc tạo ra trở ngại trong việc nắm bắt những hành vi xấu ác trong quá khứ. Vào tháng 5 năm 1945, khi Đức Quốc xã bị đánh bại hoàn toàn về mặt quân sự, thì nhiều lãnh đạo Quốc xã đã tự sát, và toàn bộ đất nước bị chiếm đóng. Sau Thế chiến II, vẫn còn nhiều cựu thành viên Quốc xã trong chính quyền Đức, nhưng họ không thể công khai bảo vệ các tội ác của đảng Quốc xã. Do vậy, nước Đức cuối cùng phải công bố rộng rãi các tội ác đó. Ở cực ngược lại, khi quân đội Indonesia giết hại hay bố trí việc giết hơn nửa triệu người Indonesia vào năm 1965, chính phủ đứng sau những vụ giết người hàng loạt vẫn nghiễm nhiên nắm quyền lực đến tận ngày nay. Không lấy gì làm ngạc nhiên là ngay đến hôm nay, 50 năm sau những vụ thảm sát, người Indonesia vẫn ngần ngại nói về chúng.

Chile là một trường hợp trung gian. Chính quyền quân sự Chile từng ban hành các mệnh lệnh giết chóc lại chịu chuyển giao cho một chính phủ dân chủ một cách hòa bình. Nhưng các lãnh đạo quân sự vẫn còn sống và còn nắm giữ nhiều quyền lực nên ban đầu chính phủ dân chủ mới lên không dám truy tố các tội phạm bên quân đội. Ngày nay, việc đó vẫn được tiến hành một cách cẩn trọng. Tại sao lại phải cẩn trọng? Vì quân đội có thể trở lại. Vì vẫn còn nhiều người Chile muốn bảo vệ Pinochet. Vì khẩu hiệu “một đất nước Chile cho mọi người dân Chile” rủi thay lại có ý nghĩa là một đất nước Chile bao gồm cả những cựu tội phạm chiến tranh.

Cuối cùng, nhiều bạn đọc Mỹ của tôi, vốn quan tâm đến sự phân cực chính trị ở Mỹ ngày nay, sẽ thấy thông tin về lịch sử Chile gần đây đáng sợ chừng nào. Tuy có truyền thống dân chủ mạnh mẽ, song sự phân cực chính trị và phá vỡ thỏa hiệp đã lên đến đỉnh điểm trong bạo lực và một chế độ độc tài mà ít có người dân Chile nào lường trước được. Liệu điều này có thể xảy ra cho nước Mỹ không?

Sẽ có người tức khắc phản bác: “Không, dĩ nhiên là không bao giờ. Nước Mỹ khác với Chile. Quân đội Mỹ không bao giờ nổi loạn để dựng lên một chế độ độc tài.”

Vâng, nước Mỹ quả là khác biệt với Chile; nhưng một số khác biệt làm giảm đi, và một số lại làm gia tăng nguy cơ chấm dứt nền dân chủ ở Mỹ. Nếu nền dân chủ ở Mỹ chấm dứt thì sẽ không phải qua một cuộc nổi dậy bởi những chỉ huy quân đội; có nhiều cách khác để chấm dứt nền dân chủ. Tôi sẽ bàn luận xa hơn về những câu hỏi đối với nước Mỹ ở Chương 9.

Khi trở lại Chile vào năm 2003, lần đầu tiên kể từ khi tôi rời đất nước này năm 1967, tôi đến thăm dinh tổng thống của Allende, bây giờ trở thành một địa điểm du lịch. Tôi được kể rằng công chúng được vào cửa tự do. Ở cửa trước là một cảnh vệ (carabinero) trông dữ tợn bồng súng đứng trên một bục gác cao gần nửa mét khiến anh ta vượt hẳn lên so với tôi. Anh ta nhìn chằm chằm xuống tôi, không cười, và hỏi tôi muốn gì. Tôi trả lời mình là một du khách và anh ta để tôi qua. Nhưng tôi tự hỏi anh ta sẽ làm gì nếu như tôi vô tình vi phạm một quy định nào đó. Tôi ngẫm nghĩ: “Đây chính là một tay cảnh sát hay người lính cũng giống như người từng tưới xăng lên người Rodrigo Rojas rồi châm lửa đốt!” Rồi tôi cảm thấy sợ hãi nên một phút sau đã rời khỏi chốn đó, cùng với chút hiểu biết thêm lý do tại sao chính quyền dân chủ Chile lại tiến hành truy tố những kẻ tra tấn và giết người của Pinochet một cách cẩn trọng.

Prev
Next

Có thể bạn muốn đọc thêm

21-bai-hoc-cho-the-ky-21-Yuval-Noah-Harari
21 Bài Học Cho Thế Kỷ 21 – Yuval Noah Harari
February 23, 2021
sapiens-yuval-noah-harari
Sapiens: Lược Sử Loài Người – Yuval Noah Harari
February 22, 2023
sung-vi-trung-va-thep-jared-diamond
Súng, Vi Trùng Và Thép – Jared Diamond
April 25, 2023
nhung-tu-nha-cua-dia-ly-tim-marshall
Những Tù Nhân Của Địa Lý – Tim Marshall
April 15, 2022

ThuVienOnline © 2026