Biến Động - Jared Diamond - Chương 3
Những kết nối với Nhật Bản của tôi – Nhật Bản trước năm 1853 – Perry – Từ năm 1853 đến năm 1868 – Kỷ nguyên Minh Trị – Cải cách Minh Trị – “Tây phương hóa” – Bành trướng ra hải ngoại – Khung biến cố – Những câu hỏi
Không như các quốc gia khác được thảo luận trong sách này, đối với Nhật Bản, tôi không nói được tiếng nước này, không sống ở đó trong những thời kỳ dài và chỉ mới đến đó lần đầu tiên cách đây hai thập niên. Tuy nhiên, tôi lại có nhiều cơ hội để học hỏi gián tiếp về những thay đổi có chọn lọc của Nhật Bản và sự hòa trộn giữa châu Âu với những đặc trưng truyền thống Nhật Bản của đất nước này. Khi chuyển đến California từ Boston ở bờ tây nước Mỹ, nơi tôi sinh ra và lớn lên, tôi thấy mình đang ở trong một phần nước Mỹ với lượng dân số châu Á đông đúc hơn, trong số đó có người Nhật hay người Mỹ gốc Nhật. Những người châu Á hiện nay chiếm một tỉ lệ lớn nhất trong số sinh viên ở trường đại học của tôi (Đại học California ở Los Angeles), vượt xa số sinh viên có nguồn gốc từ châu Âu. Tôi có nhiều người bạn và đồng nghiệp người Nhật, gồm cả một trợ lý nghiên cứu tuyệt vời, biết rất rõ về nước Mỹ và châu Âu do sống ở đó trong một thời gian dài và trong một số trường hợp lại có những cuộc hôn nhân dị chủng. Ngược lại, tôi cũng có nhiều người bạn và đồng nghiệp Mỹ biết rất rõ nước Nhật do sống ở đó rất lâu và cũng có một số trường hợp hôn nhân dị chủng. Chính tôi cũng có mấy anh chị em cô cậu và cháu gái người Nhật do gia đình vợ tôi có hai chi họ người Nhật.
Kết quả là tôi thường nghe kể về những khác biệt giữa nước Nhật với nước Mỹ hay châu Âu từ những người Nhật, người Mỹ và người châu Âu qua kinh nghiệm lâu dài khi sống ở cả Nhật Bản và Mỹ hay châu Âu. Mọi người thân, sinh viên, bạn bè và đồng nghiệp đều nói về những dị biệt lớn cùng tồn tại với những tương đồng lớn giữa các xã hội Nhật Bản với Mỹ hay châu Âu. Một số dị biệt mà họ chỉ ra liên quan đến: xin lỗi (hoặc không xin lỗi), khó khăn của việc học đọc và viết, im lặng chịu đựng gian khổ, hòa hợp rộng rãi với khách hàng giao dịch có triển vọng, cực kỳ lịch sự, cảm nhận về người ngoại quốc, thái độ trọng nam khinh nữ không cần che đậy, giao tiếp giữa bệnh nhân/bác sĩ, tự hào về chữ viết đẹp, giảm trừ chủ nghĩa cá nhân, quan hệ với bố mẹ vợ, nổi bật về sự khác biệt với những người khác, địa vị xã hội của phụ nữ, nói thẳng cảm nghĩ của mình, không ích kỷ, những cách biểu thị sự không hài lòng với người khác – và nhiều đặc trưng khác nữa.
Tất cả những dị biệt đó là di sản của nước Nhật truyền thống, cùng tồn tại với những ảnh hưởng từ phương Tây lên nước Nhật hiện đại. Sự hòa trộn đó bắt đầu từ một biến cố bùng nổ vào ngày 8 tháng 7 năm 1853 và được thúc đẩy nhanh hơn với công cuộc Minh Trị Duy Tân năm 1868 (sẽ nói nhiều hơn dưới đây), khi nước Nhật bắt tay vào một chương trình thay đổi có chọn lọc kéo dài trên nửa thế kỷ. Nhật Bản thời Minh Trị có lẽ là điển hình nổi bật của thế giới hiện đại về sự thay đổi dân tộc có chọn lọc và áp dụng hình mẫu của các quốc gia khác. Giống như biến cố của Phần Lan mà chúng ta đã bàn ở chương trước, biến cố của Nhật Bản cũng bắt đầu bằng một mối đe dọa từ người ngoài (nhưng không phải một cuộc tấn công thực sự). Giống như Phần Lan, nước Nhật thể hiện rất rõ sự tự đánh giá trung thực, và kiên nhẫn thử nghiệm nhiều giải pháp khác nhau cho đến khi tìm được những giải pháp có hiệu quả. Nhưng không giống Phần Lan, nước Nhật chấp nhận nhiều thay đổi có chọn lọc toàn diện và có được tự do hành động rộng rãi hơn. Do đó, Nhật Bản thời Minh Trị là một nghiên cứu trường hợp tốt để đi cặp với Phần Lan trong thảo luận của chúng ta.
Nhật Bản là một đất nước hiện đại không-phải-châu-Âu đầu tiên khế hợp với các xã hội châu Âu và tân châu Âu ở hải ngoại (Mỹ, Canada, Úc và New Zealand) về mức sống, công nghiệp hóa và công nghệ. Nước Nhật ngày nay không chỉ giống như châu Âu và các nước châu Âu mới về phương diện kinh tế và công nghệ, mà còn về nhiều mặt chính trị và xã hội, chẳng hạn như một nền dân chủ nghị viện, trình độ học vấn cao, học theo y phục phương Tây và thu nạp âm nhạc phương Tây cùng âm nhạc truyền thống Nhật Bản. Nhưng về các mặt khác, đặc biệt về xã hội và văn hóa, Nhật Bản vẫn còn khác biệt với mọi xã hội châu Âu hơn bất kỳ xã hội nào trong phạm vi châu Âu với nhau. Nhưng không có gì phải ngạc nhiên về những bình diện phi châu Âu của xã hội Nhật Bản. Chúng hoàn toàn được như mong đợi, vì nước Nhật nằm cách Tây Âu đến 8.000 dặm và đã chịu ảnh hưởng nặng nề từ các nước trong nội địa châu Á ở gần (đặc biệt là Trung Hoa và Cao Ly), vốn có chung một lịch sử lâu dài với Nhật Bản.
Trước năm 1542, châu Âu không có chút ảnh hưởng nào tới Nhật Bản. Tiếp theo là một thời kỳ ảnh hưởng gắn kết với sự bành trướng ra hải ngoại của châu Âu (nhưng chỉ giới hạn bởi khoảng cách tiếp cận quá lớn) trong giai đoạn 1542-1639, kế tiếp là một giai đoạn giảm dần ảnh hưởng cho đến năm 1853. Hầu hết những khía cạnh châu Âu ở xã hội Nhật Bản đương đại đều đến từ năm 1853. Dĩ nhiên chúng không thay thế mọi thứ đối với nước Nhật truyền thống, những thứ vẫn còn được lưu giữ nhiều. Nghĩa là nước Nhật, cũng giống như những người sống sót sau vụ hỏa hoạn Cocoanut Grove và như nước Anh sau Thế chiến II, là một mảnh ghép giữa bản sắc cũ và bản sắc mới – nhiều hơn so với bất kỳ xã hội nào được thảo luận trong cuốn sách này.
Trước thời Minh Trị Duy Tân, người thực sự cai trị nước Nhật là một nhà độc tài quân sự theo chế độ cha truyền con nối, gọi là shogun (tướng quân), trong khi vị hoàng đế chỉ ngồi làm vì, không có thực quyền. Giai đoạn 1639-1853, các shogun hạn chế sự tiếp xúc giữa Nhật Bản với người ngoại quốc, từ đó tiếp nối một lịch sử cách biệt lâu dài nảy sinh từ những tác động về mặt địa lý, với vị trí hòn đảo giữa biển. Lịch sử đó đầu tiên có thể làm chúng ta ngạc nhiên khi nhìn vào bản đồ thế giới và so sánh địa lý Nhật Bản với địa lý của quần đảo Anh.
Nhìn bề ngoài, hai quần đảo này có vẻ mang nhiều điểm tương đồng về địa lý, mỗi bên đều lần lượt nằm ngoài khơi bờ đông và bờ tây của lục địa Á-Âu (để có tính thuyết phục, các bạn chỉ cần nhìn bản đồ). Nhật Bản và Anh trông cũng khá tương đồng về diện tích, và cả hai đều nằm gần đại lục Á-Âu, do đó người ta dễ nghĩ có những lịch sử tương tự liên quan đến đại lục. Thực ra, kể từ thời Chúa Jesus, Anh quốc đã bị bốn lần xâm chiếm thành công xuất phát từ đại lục, nhưng Nhật Bản thì không. Ngược lại, Anh quốc cũng có những đạo quân chiến đấu ở đại lục trong mỗi thế kỷ kể từ cuộc chinh phục của người Norman vào năm 1066, nhưng đến tận cuối thế kỷ 19 không có đội quân Nhật Bản nào ở đại lục ngoại trừ hai giai đoạn ngắn. Ngay trong thời kỳ đồ đồng hơn 3.000 trước đây, đã có giao thương mạnh mẽ giữa Anh và lục địa châu Âu; những khu mỏ ở vùng Cornwall là nguồn thiếc chính để làm ra đồng ở châu Âu. Một hoặc hai thế kỷ trước đó, nước Anh là quốc gia giao thương hàng đầu thế giới, trong khi giao thương với nước ngoài của Nhật Bản vẫn còn nhỏ bé. Tại sao lại có những khác biệt lớn lao mâu thuẫn rõ ràng với những kỳ vọng về mặt địa lý đến thế?
Lời giải thích cho sự mâu thuẫn này liên quan đến các chi tiết quan trọng về địa lý. Trong khi Nhật Bản và Anh quốc nhìn thoáng qua thì giống nhau về diện tích và sự tách biệt, thì Nhật Bản xa đại lục gấp năm lần so với Anh (110 dặm so với 22 dặm) và diện tích gấp rưỡi, đồng thời đất đai màu mỡ hơn. Do đó, dân số Nhật Bản ngày nay hơn gấp đôi Anh, sản xuất thực phẩm trên đất liền và gỗ cùng hải sản trong vùng bờ biển cũng cao hơn. Trước khi nền công nghiệp hiện đại đòi hỏi phải nhập dầu và kim loại, nước Nhật vẫn tự túc phần lớn các nguồn thiết yếu và có ít nhu cầu giao thương với nước ngoài – không giống như ở Anh. Đó là bối cảnh địa lý cho việc tách biệt đã đặc trưng hóa phần lớn lịch sử Nhật Bản, và hầu như chỉ tăng lên sau năm 1639.
Những người châu Âu đầu tiên đến Trung Hoa và Nhật Bản bằng đường biển tương ứng các năm 1514 và 1542. Nước Nhật, từng giao thương một số mặt hàng với Trung Hoa và Cao Ly, sau đó bắt đầu buôn bán với bốn nhóm người châu Âu: Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan và Anh. Đó là chưa kể đến giao thương trực tiếp giữa Nhật Bản và châu Âu, nhưng chỉ ở những khu định cư trên bờ biển Trung Hoa và ở nơi khác ở vùng Đông Nam Á. Những lần tiếp xúc với người châu Âu đã tác động đến các lĩnh vực của xã hội Nhật Bản, từ vũ khí đến tôn giáo. Khi những kẻ phiêu lưu người Bồ Đào Nha đến Nhật vào năm 1542, họ bắn vịt trời bằng những khẩu súng còn thô sơ nhưng cũng khiến người Nhật rất ấn tượng đến nỗi họ say sưa phát triển loại súng cầm tay cho riêng mình, và kết quả là vào khoảng năm 1600 Nhật Bản còn có nhiều súng tốt hơn bất kỳ nước nào trên thế giới. Những nhà truyền giáo đầu tiên đến Nhật vào năm 1549 và đến năm 1600, nước Nhật có đến 300.000 Ki-tô hữu.
Nhưng các shogun có nhiều lý do để lưu tâm đến ảnh hưởng của phương Tây nói chung, và về Ki-tô giáo nói riêng. Những người châu Âu bị kết tội can thiệp vào chính trị nước Nhật và cung cấp vũ khí cho những kẻ phản loạn chống lại chính quyền Nhật Bản. Các giáo sĩ truyền đạo dạy rằng không khoan dung với các tôn giáo khác, họ cũng không tuân thủ những lệnh cấm truyền đạo của chính quyền Nhật Bản và chỉ trung thành với một người ngoại quốc (Giáo hoàng). Vì thế, sau khi đóng đinh hàng ngàn giáo dân Nhật, trong giai đoạn 1636-1639, shogun cắt đứt hầu hết các mối quan hệ giữa Nhật Bản và châu Âu. Ki-tô giáo bị cấm đoán. Hầu hết người Nhật bị cấm đi lại hay sống ở nước ngoài. Những ngư dân Nhật bị đắm thuyền ngoài biển, được tàu phương Tây hay Mỹ cứu mà quay về Nhật thường bị quản thúc ở nhà hay cấm nói về những trải nghiệm của họ ở nước ngoài. Những cuộc viếng thăm nước Nhật của người nước ngoài cũng bị cấm đoán, ngoại trừ những thương nhân Trung Hoa được giới hạn ở một khu vực trên thành phố cảng Nagasaki, và thương nhân Hà Lan ở đảo Deshima trong vịnh Nagasaki. (Do những người Hà Lan theo đạo Tin lành nên Nhật xem họ không phải tín đồ Ki-tô giáo.) Cứ mỗi bốn năm một lần, những thương nhân Hà Lan được lệnh đem đồ triều cống đến kinh đô theo một lộ trình đã vạch trước dưới những đôi mắt soi mói dọc đường đi như những con vi trùng nguy hiểm được giữ bên trong lọ được niêm phong cẩn thận. Một số lãnh địa thành công trong việc giao thương với Cao Ly, Trung Hoa và Lưu Cầu (Ryukyu), một quần đảo cách Nhật Bản vài trăm dặm về hướng nam, bao gồm cả Okinawa. Giao thương ngắt quãng của Cao Ly đến Nhật được che đậy với người dân là những chuyến đi sứ được cho phép để nhận “triều cống” từ Cao Ly. Nhưng tất cả những mối liên hệ đó vẫn giới hạn về quy mô.
Về mặt kinh tế, giao thương nhỏ lẻ giữa Hà Lan và Nhật Bản thì không đáng kể. Nhưng điều quan trọng đối với Nhật Bản là những thương nhân Hà Lan trở thành một nguồn thông tin quan trọng về châu Âu. Trong những khóa hướng dẫn do các trường tư của người Nhật tổ chức có môn gọi là “Hà Lan học.” Những lớp này dạy những thông tin thu thập được từ Hà Lan về các môn thực hành và khoa học: đặc biệt là y học, thiên văn, bản đồ, khảo sát súng ống và chất nổ. Trong bộ phận Thông Thiên Giám của chính quyền Nhật Bản có một văn phòng chuyên dịch sách vở Hà Lan về những môn học trên sang tiếng Nhật. Nhiều thông tin về thế giới bên ngoài (kể cả châu Âu) cũng lọt vào Nhật Bản thông qua Trung Hoa, sách vở Trung Hoa, và sách vở châu Âu dịch sang chữ Hán.
Tóm lại, cho đến năm 1853, mối liên hệ giữa Nhật Bản và người nước ngoài còn hạn chế và bị chính quyền Nhật kiểm soát.
Nhật Bản vào năm 1853 rất khác với nước Nhật ngày nay, ngay cả nước Nhật vào năm 1900, ở nhiều mặt quan trọng. Phần nào giống như châu Âu thời Trung cổ, Nhật Bản năm 1853 vẫn còn là một xã hội phân tầng phong kiến, phân chia thành các lãnh địa, mỗi lãnh địa do một daimyo (lãnh chúa) kiểm soát, quyền lực vượt xa các lãnh chúa châu Âu thời trung cổ. Trên đỉnh cao quyền lực là một shogun (Ảnh 3.1) thuộc dòng dõi Tokugawa đã cai trị nước Nhật từ năm 1603 và kiểm soát 1/4 đất trồng lúa của Nhật Bản. Daimyo phải được sự cho phép của shogun mới được cưới vợ, di dời hay xây dựng sửa chữa một lâu đài. Luân phiên hai năm một lần, họ cũng được yêu cầu phải dẫn theo tùy tùng trình diện và mất nhiều thời gian với tổn phí lớn ở bản doanh của shogun. Bên cạnh căng thẳng tạo ra từ những nguyên nhân trên giữa shogun và các daimyo, những vấn nạn của nước Nhật thời kỳ các shogun dòng Tokugawa phát sinh từ lỗ hổng giữa chi phí và thu nhập của shogun, những cuộc nổi loạn thường xuyên gia tăng, sự đô thị hóa và trỗi dậy của tầng lớp thương nhân. Nhưng các shogun dòng Tokugawa vẫn xử lý được các vấn nạn đó và vẫn nắm giữ quyền lực trong 250 năm và không gặp rủi ro báo trước nào về việc bị lật đổ. Thay vào đó, cú sốc dẫn đến việc họ bị lật đổ lại đến từ phương Tây.
Bối cảnh của áp lực từ phương Tây lên Nhật Bản chính là từ áp lực của phương Tây lên Trung Hoa, vốn sản xuất thứ hàng hóa mà phương Tây khao khát nhiều hơn hẳn so với Nhật Bản. Đặc biệt, người tiêu dùng châu Âu thích trà và lụa Trung Hoa, nhưng ngược lại, phương Tây sản xuất ít loại hàng hóa mà Trung Hoa cần, do đó người châu Âu phải bù đắp vào khoản thiếu hụt bằng vận chuyển bạc đến Trung Hoa. Để giảm việc chảy máu bạc, thương nhân Anh có một ý tưởng sáng suốt là vận chuyển nha phiến từ Ấn Độ đến bán ở Trung Hoa với giá thấp hơn nguồn cung nội địa hiện thời. (Vâng, chính sách nha phiến của người Anh không phải là sự vu khống được nghĩ ra để chống phương Tây: điều này đúng thực sự, và cần được ghi nhớ khi muốn tìm hiểu thái độ của Trung Hoa hiện đại đối với phương Tây.) Nên có thể thông cảm việc chính quyền Trung Hoa đáp trả bằng việc quy kết nha phiến gây nguy hại cho sức khỏe, cấm nhập khẩu và yêu cầu các nhà buôn châu Âu phải giao nộp tất cả số nha phiến trên tàu đang neo đậu ngoài khơi bờ biển Trung Hoa. Nước Anh phản đối sự đáp trả của Trung Hoa, cho là một sự kiềm chế giao thương bất hợp pháp.
Kết quả là nổ ra cuộc Chiến tranh Nha phiến I (1839-1842) giữa Anh và Trung Hoa, phép thử nghiêm túc đầu tiên về sức mạnh quân sự giữa Trung Hoa với phương Tây. Mặc dù đất nước Trung Hoa rộng lớn hơn và đông dân hơn Anh rất nhiều, nhưng hải quân và bộ binh của Anh lại được trang bị và huấn luyện vượt trội hơn so với hải quân và bộ binh Trung Hoa. Do đó, Trung Hoa bị đánh bại và buộc phải nhượng bộ nhục nhã, bồi thường một khoản chiến phí lớn và ký một hiệp ước mở năm cảng biển cho người Anh giao thương. Rồi sau đó, Pháp và Mỹ cũng bòn rút được những nhượng bộ tương tự từ Trung Hoa.
Khi chính quyền Nhật biết được những tình huống phát sinh từ Trung Hoa, nước này sợ rằng việc một số cường quốc phương Tây yêu sách một hiệp ước tương tự về hệ thống cảng biển ở Nhật chỉ còn là vấn đề thời gian. Điều này thực sự xảy ra vào năm 1853, và cường quốc phương Tây đứng ra lãnh trách nhiệm là nước Mỹ. Lý do khiến Mỹ là quốc gia đầu tiên trong số các nước phương Tây khởi động sự đối nghịch với Nhật Bản là vì cuộc chinh phục vùng đất California từ tay Mexico vào năm 1848, theo đó là việc phát hiện ra vàng ở vùng đất này, tạo ra sự bùng nổ lưu thông tàu thuyền đến bờ biển Thái Bình Dương. Việc đi lại trên Thái Bình Dương để săn bắt cá voi và buôn bán cũng gia tăng. Điều không thể tránh được là một số tàu Mỹ bị đắm, một số vụ đắm tàu xảy ra ở vùng biển gần Nhật Bản và một số thủy thủ sống sót tình cờ đến được Nhật Bản, ở đó họ bị giết hay bị bắt theo chính sách biệt lập của shogun Tokugawa. Nhưng Mỹ lại muốn những thủy thủ đó được bảo vệ và giúp đỡ, và cũng muốn tàu Mỹ được mua than ở Nhật Bản.
Vì thế, Tổng thống Millard Fillmore gửi Phó đề đốc Matthew Perry cùng hạm đội gồm bốn tàu chiến đến Nhật, trong đó có hai tàu chiến trang bị đại bác chạy bằng hơi nước hoàn toàn vượt trội về sức mạnh so với bất kỳ tàu chiến Nhật nào vào thời kỳ đó (nước Nhật hồi đó chưa có tàu chạy bằng hơi nước cũng như máy hơi nước). Vào ngày 8 tháng 7 năm 1853, Perry đưa hạm đội không mời mà đến của mình vào Vịnh Edo (Vịnh Tokyo ngày nay), khước từ mệnh lệnh bắt phải rời đi của Nhật, chuyển thư yêu cầu của Tổng thống Fillmore, đồng thời tuyên bố ông ta mong nhận được phúc đáp khi trở lại vào năm sau.
Đối với Nhật Bản, việc hạm đội của Perry xuất hiện ở vịnh Edo và lời đe dọa công khai với sức mạnh vượt trội, phù hợp với định nghĩa của chúng ta về “biến cố”: một thách thức nghiêm trọng không thể xử lý bằng những phương pháp có sẵn. Sau khi Perry rời đi, vị shogun liền chuyển bức thư của Fillmore đến các daimyo để tham khảo ý kiến về việc đáp trả thế nào là tốt nhất; điều này quả là bất thường. Trong số những ý kiến phúc đáp trở lại của các daimyo, chủ điểm chung vẫn là thể hiện một mong ước mạnh mẽ tiếp tục duy trì sự “biệt lập” của Nhật Bản, nhưng đều nhận thức được điều bất khả trên thực tế của nước Nhật trong việc bảo vệ đất nước trước những tàu chiến của Perry, do đó có ý kiến cho rằng nên thỏa hiệp để kéo dài thời gian cho đến khi Nhật Bản có được súng ống và công nghệ phương Tây để tự bảo vệ. Chính quan điểm sau cùng đã thắng thế.
Khi Perry trở lại vào ngày 13 tháng 2 năm 1854, lần này với một hạm đội gồm chín tàu chiến, vị shogun đáp lại bằng việc ký hiệp ước đầu tiên của Nhật với một quốc gia phương Tây. Mặc dù Nhật Bản thành công trong việc trì hoãn yêu cầu của Perry về một thỏa thuận giao thương, nhưng họ đã có những nhượng bộ khác, chấm dứt chính sách biệt lập trong suốt 215 năm. Nhật đồng ý mở hai cảng biển làm chỗ trú cho tàu Mỹ, chấp thuận có một lãnh sự Mỹ đặt văn phòng ở một trong những cảng này và đồng ý đối xử nhân đạo với thủy thủ Mỹ bị đắm tàu. Sau khi Nhật ký hiệp ước với Mỹ, các chỉ huy hải quân Anh, Nga và Hà Lan ở vùng Viễn Đông cũng nhanh chóng đạt được những hiệp ước tương tự với Nhật.
Thời kỳ 14 năm bắt đầu vào năm 1854, khi chính quyền của shogun (gọi là bakufu, hay Mạc phủ) ký hiệp ước với Perry, chấm dứt mấy thế kỷ biệt lập của Nhật, là một thời kỳ hỗn loạn trong lịch sử Nhật Bản. Mạc phủ phải đấu tranh để giải quyết các vấn nạn do việc buộc phải mở cửa gây ra. Nhưng cuối cùng shogun cũng thất bại do việc mở cửa đã khởi phát những thay đổi không thể ngừng được trong xã hội và chính quyền Nhật. Đến lượt những thay đổi này lại dẫn đến việc những đối thủ của shogun lật đổ ông ta, và rồi quá nhiều thay đổi lại vượt quá xa khỏi tầm tay của chính phủ mới do những đối thủ của shogun dẫn dắt.
Hiệp ước của Perry và những sĩ quan đồng cấp người Anh, Nga và Hà Lan vẫn không thỏa mãn được mục đích mở cửa nước Nhật để giao thương của phương Tây. Do đó, vào năm 1858, người lãnh sự Mỹ mới ở Nhật lại thương thảo một hiệp ước rộng rãi hơn đề cập tới giao thương, và một lần nữa lại là những hiệp ước tương tự với Anh, Pháp, Nga và Hà Lan. Những hiệp ước này bị xem là một sự sỉ nhục cho nước Nhật và được cho là “những hiệp ước bất bình đẳng” vì chúng thấm đẫm quan niệm phương Tây cho rằng Nhật Bản không xứng đáng để được ứng xử theo cách những cường quốc phương Tây ứng xử với nhau. Chẳng hạn, những hiệp ước cấp cho công dân phương Tây đặc quyền ngoại giao, đó là họ không phải tuân phục luật pháp Nhật Bản. Mục tiêu chính của chính sách Nhật Bản ở nửa thế kỷ tiếp đó đã bị những hiệp ước bất bình đẳng này hủy hoại.
Sự yếu kém về quân sự của Nhật Bản năm 1858 đã chuyển mục tiêu đó đến tương lai xa hơn. Thay vào đó, mục tiêu cấp thời đơn giản của Mạc phủ vào năm 1858 là giảm thiểu sự xâm nhập của người phương Tây cùng những ý tưởng và ảnh hưởng của họ. Nhật đạt được điều này khi tiếp tục tuân thủ các hiệp ước, nhưng đồng thời cũng vô hiệu hóa chúng bằng cách trì hoãn, đơn phương thay đổi các thỏa thuận, lợi dụng sự không quen thuộc địa danh tiếng Nhật dễ gây nhầm lẫn cho người phương Tây và kích động các nước phương Tây kình chống lẫn nhau. Qua các hiệp ước năm 1858, Nhật Bản đã thành công trong việc giới hạn giao thương chỉ ở hai cảng biển, gọi là “cảng hiệp ước,” và hạn chế người nước ngoài ở những khu vực được quy định trong phạm vi cảng và không được ra khỏi những khu vực đó.
Chiến lược cơ bản của Mạc phủ từ 1854 trở đi là câu giờ. Điều này đồng nghĩa với việc thỏa mãn những yêu cầu của các cường quốc phương Tây (với càng ít nhượng bộ càng tốt), nhưng cùng lúc tiếp thu kiến thức, công nghệ và sức mạnh quân sự lẫn không thuộc quân sự của phương Tây để có khả năng chống đỡ phương Tây càng sớm càng tốt. Mạc phủ, cùng những lãnh địa hùng mạnh Satsuma và Choshu6 trên danh nghĩa vẫn phục tùng Mạc phủ, nhưng vẫn được hưởng nhiều quyền tự trị, ganh đua nhau mua tàu bè, súng ống phương Tây, hiện đại hóa quân đội và gửi du học sinh đến châu Âu và Mỹ. Những du học sinh này không chỉ học về những điều thực tiễn như kỹ thuật hàng hải, tàu thuyền, kỹ nghệ, xây dựng, khoa học và công nghệ phương Tây mà còn về luật pháp, ngôn ngữ, thể chế, kinh tế học, chính trị học và mẫu tự phương Tây. Mạc phủ còn triển khai một Viện Nghiên cứu về Sách vở của người Ngoại tộc (người nước ngoài), dịch sách phương Tây và tài trợ cho việc xuất bản sách ngữ pháp và một từ điển bỏ túi tiếng Anh.
Nhưng trong khi Mạc phủ và các lãnh địa lớn đang cố xây dựng sức mạnh, thì các vấn đề nảy sinh từ mối liên hệ với phương Tây cũng phát triển ở Nhật. Mạc phủ và các lãnh địa gánh nợ nần chồng chất từ những chủ nợ nước ngoài do các tổn phí cho việc mua vũ khí và gửi học sinh đi du học. Giá tiêu dùng và sinh hoạt tăng vọt. Nhiều samurai (tầng lớp chiến binh) và thương nhân phản đối những nỗ lực của Mạc phủ nhằm độc quyền ngoại thương. Giờ đây, do shogun phải xin lời khuyên từ các daimyo sau chuyến viếng thăm đầu tiên của Perry, nên một số daimyo muốn tham gia nhiều hơn về chính sách và kế hoạch thay vì để shogun xử lý mọi việc như trước đây. Chính shogun là người thương thảo và ký các hiệp ước với những cường quốc phương Tây, nhưng ông ta lại không thể kiểm soát được các daimyo ở xa vi phạm những hiệp ước đó.
Kết quả là một số khuynh hướng mâu thuẫn lại giao nhau. Các cường quốc phương Tây mâu thuẫn với Nhật về việc mở cửa nước Nhật nhiều (mục tiêu của phương Tây) hay ít (mục tiêu thịnh hành của người Nhật) với phương Tây. Những lãnh địa như Satsuma và Choshu, vốn đã có truyền thống đối kháng với Mạc phủ, giờ đây càng đối kháng sâu sắc hơn, mỗi phe đều thử áp dụng thiết bị và kiến thức phương Tây cũng như liên kết đồng minh để chống lại phe kia. Mâu thuẫn gia tăng giữa các lãnh địa. Ngay cả giữa Mạc phủ và vị hoàng đế làm vì ở triều đình cũng có xung khắc về việc ai được cho là người thay mặt Mạc phủ để hành động. Chẳng hạn, triều đình từ chối chấp thuận hiệp ước 1858 mà Mạc phủ thương thảo với Mỹ, nhưng Mạc phủ vẫn tiến hành ký kết.
Xung đột dữ dội nhất trong nội bộ nước Nhật phát sinh từ sự nan giải về chiến lược căn bản: hoặc cố gắng kháng cự và tống xuất người nước ngoài lúc này, hoặc chờ đến khi nước Nhật hùng cường hơn. Việc Mạc phủ ký kết những hiệp ước bất bình đẳng đã tạo ra phản ứng dữ dội trong nước: sự giận dữ đối với những kẻ ngoại quốc lăng nhục nước Nhật, cùng sự giận dữ nhằm vào vị shogun và các lãnh chúa khác đã chấp nhận để cho nước Nhật bị lăng nhục. Đến khoảng năm 1859, giới samurai trẻ tuổi phẫn uất, ngây thơ, nóng nảy bắt đầu theo đuổi mục tiêu tống xuất những kẻ ngoại quốc bằng một chiến dịch ám sát. Họ được biết dưới tên gọi “shishi,” nghĩa là “chí sĩ.” Tín điều của họ chính là những giá trị truyền thống Nhật Bản, họ tự cho là có phẩm hạnh cao quý hơn những chính khách già nua.
Công bố sau đây về những nguyên tắc của các shishi này, tuyên ngôn năm 1861, đã chuyển tải mùi vị sự giận dữ của họ: “Chính từ căn nguyên của nỗi thống khổ sâu xa đối với Thiên hoàng của chúng ta về việc đất nước thần thánh và diễm lệ của chúng ta bị lũ man rợ lăng nhục, và Tinh thần Võ sĩ đạo Nhật Bản lưu truyền từ xa xưa, sắp sửa bị hủy diệt… Thiên hạ nói rằng khi chủ nhân của một người bị lăng nhục, những tùy hầu của ông ta phải chọn cái chết để hoàn thành bổn phận. Há chúng ta không phải nhấn mạnh hơn về tình huống hiện tại, khi mà Đất nước của Thiên hoàng sắp sửa biết đến nỗi hổ nhục hay sao? Chúng ta thề trước thần linh rằng, một khi Lá cờ của Thiên hoàng phất lên, chúng ta sẽ dấn thân vào chốn hiểm nguy để làm tâm trí Thiên hoàng nhẹ nhõm, để thực hiện di nguyện của cựu hoàng, và thanh trừng loài quỷ dữ này khỏi người dân chúng ta. Nếu có kẻ nào, đối với sự nghiệp này, mà mưu cầu đưa ra những toan tính riêng tư, kẻ đó sẽ gánh sự trừng phạt bởi sự giận dữ của chư thần, và bị đưa ra trước những những đồng chí của mình để tự xử bằng mổ bụng.”
Chủ nghĩa khủng bố của các shishi nhắm trực tiếp đến những người ngoại quốc, và cũng thường nhắm đến những người Nhật làm việc hay thỏa hiệp với người ngoại quốc. Vào năm 1860, một nhóm shishi chém đầu quan nhiếp chính Ii Naosuke, người đã ủng hộ việc ký các hiệp ước với phương Tây. Những vụ tấn công người ngoại quốc lên đến cao trào ở hai sự kiện vào năm 1862 và năm 1863 liên quan đến hai lãnh địa Satsuma và Choshu. Vào ngày 14 tháng 9 năm 1862, Charles Richardson, thương nhân 28 tuổi người Anh, bị các kiếm sĩ ở Satsuma tấn công trên một con đường lộ, rồi bị vứt lại chảy máu đến chết vì anh ta được cho là không thể hiện sự tôn trọng thích đáng một đám rước trong đó có người cha của vị daimyo ở Satsuma. Nước Anh không những yêu cầu Satsuma mà còn cả Mạc phủ phải bồi thường nhân mạng, xin lỗi, và xử tử các thủ phạm. Sau gần một năm thương thảo với vị daimyo bất thành, một hạm đội tàu chiến của Anh nã pháo và hủy diệt hầu như toàn bộ thủ đô Kagoshima của lãnh địa Satsuma, giết chết khoảng 1.500 chiến binh Nhật. Sự kiện sau đó diễn ra vào cuối tháng 6 năm 1863 khi đại bác trên bờ lãnh địa Choshu bắn vào các tàu phương Tây và đóng cửa Eo biển Shimonoseki nằm giữa hai đảo chính Honshu và Kyushu của Nhật Bản. Một năm sau, hạm đội gồm 17 chiến hạm của Anh, Pháp Mỹ và Hà Lan nã pháo và hủy diệt những đại bác trên bờ và lấy đi một đại bác còn lại của Choshu.
Hai cuộc trả thù của phương Tây đã thuyết phục cả nhóm “nóng máu” ở Satsuma và Choshu về sức mạnh của súng đạn phương Tây, và về sự vô ích của nỗ lực tống xuất chủ nhân của chúng ra khỏi đất nước trong điều kiện yếu ớt hiện thời. Những kẻ nóng nảy sẽ phải chờ đợi cho đến khi Nhật Bản đạt được sức mạnh quân sự ngang bằng với phương Tây. Điều trớ trêu, đó cũng là chính sách mà Mạc phủ đã theo đuổi và vì nó mà những kẻ “nóng máu” chỉ trích Mạc phủ.
Nhưng một số lãnh địa, đặc biệt là Satsuma và Choshu, giờ đây lại tin rằng shogun không đủ khả năng để tăng cường sức mạnh cho Nhật Bản đến mức có thể đối chọi với phương Tây. Các daimyo kết luận rằng nếu họ chia sẻ mục tiêu của Mạc phủ để thu nạp công nghệ phương Tây, sẽ đạt được mục tiêu đòi hỏi việc tái cơ cấu chính quyền và xã hội Nhật Bản. Từ đó, họ dần dần khôn ngoan hơn vị shogun. Hai lãnh địa Satsuma và Choshu, trước đây từng là đối thủ của nhau, nghi ngờ nhau và đánh lẫn nhau; thấy rằng những nỗ lực xây dựng sức mạnh quân sự của shogun sẽ đe dọa cả hai lãnh địa, nên giờ đây lại kết đồng minh.
Sau cái chết của vị shogun đời trước vào năm 1866, vị shogun mới lên thay đưa ra một chương trình hiện đại hóa và cải cách cấp thời, bao gồm việc nhập thiết bị và cố vấn quân sự từ Pháp. Điều này càng làm gia tăng mối đe dọa cảm nhận được đối với Satsuma và Choshu. Khi vị hoàng đế trước đó cũng băng hà vào năm 1867, vị hoàng tử mới 15 tuổi kế vị ngai vàng (Ảnh 3.2). Các daimyo của vùng Satsuma và Choshu liền âm mưu với người ông của vị hoàng đế mới và tranh thủ được sự ủng hộ của vương triều. Vào ngày 3 tháng 1 năm 1868, nhóm âm mưu chiếm giữ các cổng thành của Cung điện ở Kyoto, triệu tập một hội đồng tước bỏ đất đai và danh vị trong hội đồng của vị shogun này và kết thúc chế độ Mạc phủ. Hội đồng còn đưa ra một công bố hư cấu về việc “phục hồi” trách nhiệm cai trị nước Nhật thuộc về Thiên hoàng, dù rằng trách nhiệm đó trước đây hẳn nhiên là của các vị shogun. Sự kiện đó được biết đến là sự Khôi phục triều đại Minh Trị, và nó đánh dấu sự khởi đầu của Kỷ nguyên Minh Trị: thời kỳ cai trị của vị Thiên hoàng mới.
Sau vụ đảo chính giành được quyền lực ở Kyoto, vấn đề tức thời mà các nhà lãnh đạo ở triều đại Minh Trị phải đối mặt là thiết lập quyền kiểm soát trên khắp nước Nhật. Trong khi vị shogun chấp nhận sự thất bại của mình, thì những tướng lĩnh khác lại không chịu. Kết quả là xảy ra nội chiến giữa các đội quân ủng hộ và chống đối chính quyền mới của vương triều. Chỉ đến khi lực lượng đối kháng cuối cùng ở phía bắc hòn đảo chính Hokkaido bị đánh bại, vào tháng 6 năm 1869 thì các cường quốc phương Tây mới công nhận chính quyền của vương triều là chính danh. Và chỉ đến lúc đó, các nhà lãnh đạo dưới triều Minh Trị mới theo đuổi nỗ lực cải cách đất nước.
Vào giai đoạn đầu của Kỷ nguyên Minh Trị, đất nước Nhật đầy những biến động. Một số lãnh đạo muốn một Thiên hoàng có quyền lực thực sự; số khác lại chỉ muốn một Thiên hoàng làm vì còn quyền lực thực sự sẽ nằm trong tay hội đồng “cố vấn” (giải pháp đó cuối cùng thất bại); và còn có đề xuất khác là Nhật Bản trở thành một nước cộng hòa, không còn hoàng đế nào nữa. Một số người Nhật đánh giá cao mẫu tự Latin đưa ra đề xuất để mẫu tự đó thay thế hệ thống chữ viết tiếng Nhật, tuy đẹp nhưng phức tạp, vì gồm cả ký tự lấy từ Trung Hoa (Hán tự) với hai kiểu chữ tượng thanh của Nhật Bản. Một số người lại muốn phát động một cuộc chiến với Cao Ly không được trì hoãn, số khác lại bàn nên chờ đợi. Giới samurai thì lại muốn giữ lại lực lượng phòng vệ riêng để sử dụng, trong khi những người khác thì muốn giải giáp và kết thúc tầng lớp Samurai.
Với sự hỗn loạn của những đề xuất mâu thuẫn nhau, các nhà lãnh đạo thời Minh Trị nhanh chóng đề ra ba nguyên tắc cơ bản. Đầu tiên, dù một số nhà lãnh đạo từng nằm trong nhóm “nóng máu” muốn nhanh chóng trục xuất người phương Tây, nhưng chủ nghĩa thực tiễn nhanh chóng chiếm ưu thế. Sự việc hiển nhiên đối với các lãnh đạo dưới triều Minh Trị cũng như với shogun rằng nước Nhật hiện thời không thể tống xuất được người phương Tây. Trước khi có thể thực hiện được điều này thì Nhật Bản phải trở nên mạnh mẽ bằng cách chấp nhận các nguồn lực phương Tây, nghĩa là không chỉ súng ống mà còn cả những cải cách xa hơn về mặt chính trị và xã hội đã cung cấp những nền móng cho sức mạnh phương Tây.
Thứ nhì, mục tiêu tối hậu của giới lãnh đạo thời Minh Trị là sửa đổi lại những hiệp ước bất bình đẳng mà phương Tây áp đặt lên nước Nhật. Nhưng điều này đòi hỏi Nhật Bản phải mạnh và được phương Tây xem là một quốc gia hợp pháp theo kiểu phương Tây với thể chế và luật lệ phương Tây. Chẳng hạn, Ngoại trưởng Anh, Lord Granville, nói thẳng thừng với các nhà thương thảo Nhật Bản rằng nước Anh chỉ công nhận “quyền xét xử đối với các chủ thể người Anh [cư trú ở Nhật] tương xứng rõ ràng với sự tiến bộ [của Nhật] về khai sáng và văn minh” theo đánh giá của Anh, phù hợp với các tiêu chuẩn về tiến bộ của nước Anh. Phải mất 26 năm kể từ lúc bắt đầu Minh Trị cho đến khi Nhật Bản có thể yêu cầu phương Tây sửa đổi những hiệp ước bất bình đẳng.
Nguyên tắc cơ bản thứ ba của giới lãnh đạo thời Minh Trị là trong mỗi lĩnh vực đời sống cần nhận diện, bắt chước và sửa đổi hình mẫu nước ngoài phù hợp nhất với những điều kiện và giá trị Nhật Bản.
Nhật Bản thời Minh Trị vay mượn đủ thứ từ các hình mẫu Anh, Đức, Pháp và Mỹ. Các quốc gia khác nhau trở thành hình mẫu ở các lĩnh vực khác nhau: chẳng hạn, hải quân và quân đội mới của Nhật Bản lần lượt lấy hình mẫu từ hải quân Anh và quân đội Đức. Ngược lại, trong một phạm vi cụ thể, nước Nhật thường thử kế thừa những hình mẫu nước ngoài khác nhau: chẳng hạn, để tạo ra một bộ luật dân sự Nhật, Bộ Tư pháp nhờ một học giả Pháp đưa ra một phác thảo ban đầu, nhưng rồi sau đó ở bản phác thảo kế tiếp lại dựa vào một hình mẫu Đức.
Sự vay mượn từ phương Tây của Nhật Bản thời Minh Trị đúng là ở quy mô lớn, có ý thức và kế hoạch. Một số vay mượn có khi đưa người phương Tây đến Nhật: chẳng hạn, nhập giáo viên phương Tây vào để giảng dạy hoặc tư vấn về giáo dục, đưa vào hai học giả Đức để giúp viết hiến pháp Nhật dựa nhiều vào hiến pháp Đức. Nhưng vay mượn nhiều hơn lại đến từ những người Nhật đi khảo sát ở châu Âu và nước Mỹ. Một bước quyết định, thực hiện chỉ hai năm sau khi chính quyền Minh Trị củng cố quyền lực, là phái đoàn Iwakura 1871-1873 (Ảnh 3.3), gồm 50 đại biểu chính phủ đi thăm nước Mỹ và một tá nước châu Âu, đến thăm các nhà máy và văn phòng chính phủ, gặp gỡ tổng thống Mỹ Grant và các nhà lãnh đạo châu Âu, sau đó công bố một báo cáo gồm năm tập, cung cấp cho Nhật những thông tin chi tiết trên phạm vi rộng lớn về những điều thực tiễn ở phương Tây. Phái đoàn tuyên bố mục đích của nó là nhằm “chọn lựa từ những thể chế đang chiếm ưu thế giữa những nước đã khai sáng để tìm cái phù hợp nhất trong điều kiện nước ta.” Khi bùng nổ Chiến tranh Pháp-Phổ vào năm 1870, Nhật gửi đi hai quan sát viên với một mục đích hạn hẹp hơn: chứng kiến tận mắt xem người châu Âu đánh nhau như thế nào.
Một sản phẩm phụ của các chuyến đi ra nước ngoài này là người Nhật có kinh nghiệm ở nước ngoài có khuynh hướng trở thành những nhà lãnh đạo Nhật Bản thời Minh Trị, cả trong chính phủ hay ở các lĩnh vực tư. Chẳng hạn, hai trong số những người trẻ tuổi quan trọng nhất vươn đến quyền lực trong chính quyền Minh Trị vào thập niên 1880, một người là Ito Hirobumi (người chỉ đạo thiết kế hiến pháp mới) từng có một số chuyến đi dài đến châu Âu, trong khi người kia, Yamagata Arimoto (sau này trở thành thủ tướng) học khoa học quân sự ở Đức. Godai Tomoatsu áp dụng kinh nghiệm ở châu Âu để trở thành chủ tịch của phòng thương mại Osaka đồng thời là người sáng lập ngành đường sắt và khai mỏ, trong khi đó, Shibusawa Eiichi (người kiểm soát tài chính của một phái đoàn Nhật ở Paris năm 1867) tiếp tục phát triển các kỹ nghệ ngân hàng và dệt may.
Để khiến cho sự vay mượn quy mô này từ phương Tây trở nên hợp khẩu vị của những người Nhật còn giữ truyền thống, những phát kiến và vay mượn ở Nhật Bản thời Minh Trị thường được tuyên bố là không mới chút nào, mà chỉ là quay về với những phương thức truyền thống Nhật Bản. Chẳng hạn, khi Thiên hoàng ban bố hiến pháp đầu tiên vào năm 1889, chủ yếu dựa vào hiến pháp Đức, trong bài nói, ngài viện dẫn “sự lên ngai vàng của kẻ thừa kế trực hệ liên tục trường tồn” và “quyền chủ quyền quốc gia [mà] chúng ta thừa hưởng từ Tổ tiên.” Tương tự như thế, những lễ nghi mới được nghĩ ra cho triều đình trong thời Minh Trị cũng được tuyên bố là những lễ nghi cung đình xưa cũ bất biến với thời gian.
Việc thay đổi nhận thức về các đổi mới được xem là vẫn giữ được truyền thống – hiện tượng “những truyền thống được phát kiến” thường được các nhà cải cách ở các quốc gia bên ngoài Nhật Bản viện dẫn – đã đóng góp vào thành công của những nhà lãnh đạo thời Minh Trị trong việc tiến hành những thay đổi quyết liệt. Sự thật khắc nghiệt là những nhà lãnh đạo phải đối mặt với một tình huống nguy hiểm khi họ nắm quyền lực vào tháng 1 năm 1868. Nước Nhật lúc đó có nguy cơ bị các cường quốc phương Tây tấn công, nguy cơ về một cuộc nội chiến giữa những đối thủ và những người ủng hộ Mạc phủ, nguy cơ chiến tranh giữa các lãnh địa, và nguy cơ về những cuộc nổi loạn bởi những nhóm bị đe dọa mất đi tước vị và quyền lực trước đó. Sự hủy bỏ những đặc quyền của giới Samurai cũng khơi dậy một vài vụ nổi loạn của giới Samurai, nghiêm trọng nhất là vụ nổi dậy ở Satsuma vào năm 1877. Những vụ nổi dậy nông dân vũ trang nổ ra định kỳ vào thập niên 1870. Nhưng đối kháng với những cải cách thời Minh Trị trở nên ít bạo lực hơn dự đoán. Các nhà lãnh đạo thời Minh Trị đã chứng tỏ được khả năng mua chuộc, thu nạp hoặc hòa giải với những đối thủ thực sự hay tiềm năng. Chẳng hạn, đô đốc hải quân Enomoto Takeaki chỉ huy hạm đội tiếp tục ở đảo Hokkaido chống lại lực lượng quân đội của Minh Trị cho đến năm 1869, nhưng cuối cùng lại được đưa vào các chức vụ bộ trưởng nội các và đặc sứ.
Bây giờ chúng ta hãy xem xét những thay đổi có chọn lọc nào thực sự được áp dụng ở Nhật Bản thời Minh Trị. Những thay đổi tác động tới hầu hết mọi phạm vi đời sống Nhật Bản: nghệ thuật, y phục, chính trị trong nước, kinh tế, giáo dục, vai trò của Thiên hoàng, chế độ phong kiến, chính sách ngoại giao, chính phủ, kiểu tóc, hệ tư tưởng, luật lệ, quân sự, xã hội và công nghệ. Những thay đổi cấp thiết nhất, được tác động và khởi phát trong một vài năm đầu của thời Minh Trị, là tạo ra một quân đội quốc gia hiện đại, loại bỏ chế độ phong kiến, thành lập một hệ thống giáo dục quốc dân, và đảm bảo thu nhập cho chính phủ bằng việc cải cách thuế khóa. Sau đó chuyển sang quan tâm đến cải cách các bộ luật, thiết kế thể chế, bành trướng ra nước ngoài và xóa bỏ các hiệp ước bất bình đẳng. Song hành với sự quan tâm về những vấn đề thực tiễn này, các nhà lãnh đạo thời Minh Trị cũng bắt đầu đưa ra thách thức về việc tạo ra một hệ tư tưởng rõ ràng để tranh thủ sự ủng hộ của công dân Nhật.
Cải tổ quân đội bắt đầu với việc mua thiết bị hiện đại của phương Tây, mời sĩ quan Pháp và Đức huấn luyện quân đội, và (sau này) thử nghiệm các hình mẫu Pháp và Anh để phát triển lực lượng hải quân hiện đại. Kết quả đạt được minh họa cho sự tài tình của Minh Trị trong việc chọn lựa hình mẫu nước ngoài tốt nhất: thay vì chỉ chọn một quân đội nước ngoài làm hình mẫu cho tất cả các binh chủng trong quân đội, Nhật Bản cuối cùng chọn lục quân Nhật rập khuôn lục quân Đức, nhưng chọn hải quân rập khuôn hải quân Anh (do ở cuối thế kỷ 19, lục quân Đức mạnh nhất, nhưng về hải quân thì Anh mạnh nhất châu Âu). Chẳng hạn, khi Nhật Bản muốn học cách đóng những tàu chiến chạy nhanh, gọi là tuần dương chiến hạm do người Anh đóng, Nhật đặt hàng cho một xưởng đóng tàu của Anh thiết kế và đóng chiếc tuần dương chiến hạm đầu tiên, rồi dùng nó làm mẫu để đóng thêm ba chiếc nữa ở ba xưởng đóng tàu khác nhau trên đất Nhật.
Một đạo luật về nghĩa vụ quân sự dựa theo hình mẫu châu Âu được thông qua năm 1873, cung cấp một lực lượng quân đội trang bị súng ống phục vụ trong ba năm. Trước đây, mỗi lãnh địa đều có lực lượng dân quân riêng là những kiếm sĩ dòng dõi Samurai, giờ đây trở nên vô dụng trong chiến tranh hiện đại nhưng vẫn còn là mối đe dọa cho chính phủ quốc gia Nhật Bản (Ảnh 3.4). Từ đó, đầu tiên các samurai bị cấm đeo kiếm hay thực hiện việc trừng phạt cá nhân, rồi đến việc chức nghiệp cha truyền con nối (bao gồm trở thành một Samurai) bị loại bỏ, tiếp đó, những cựu Samurai được chính phủ trợ cấp, rồi cuối cùng những khoản trợ cấp đó được chuyển thành trái phiếu chính phủ có sinh lãi.
Một mệnh lệnh khẩn cấp khác là chấm dứt chế độ phong kiến. Để làm nước Nhật trở nên hùng cường, đòi hỏi phải xây dựng một nhà nước tập quyền theo lối phương Tây. Điều này đặt ra một vấn đề tế nhị, do vào tháng 1 năm 1868, những quyền lực thực sự duy nhất vẫn còn nằm trong tay shogun; những quyền lực khác vẫn do các daimyo (lãnh chúa phong kiến) nắm giữ. Do đó, vào tháng 3 năm 1868, bốn daimyo, bao gồm hai lãnh chúa Satsuma và Choshu, những người xúi bẫy khôi phục vương triều Minh Trị, được thuyết phục dâng hiến lãnh địa và dân của họ cho Thiên hoàng bằng một văn thư đầy mơ hồ. Khi Thiên hoàng chấp nhận việc này vào tháng 7, những daimyo khác cũng được yêu cầu đưa ra đề xuất tương tự, và để ban thưởng, họ được phong là “toàn quyền” ngay ở đất phong cũ của mình. Cuối cùng, vào tháng 8 năm 1871, các daimyo được thông báo rằng đất phong (và cả chức toàn quyền) bấy giờ phải dẹp bỏ và thay bằng chế độ hành chính cấp quận và quận trưởng. Nhưng các daimyo được phép giữ lại 10% thu nhập định giá trên đất phong trước đây trong khi vẫn được hỗ trợ gánh nặng chi phí mà trước đây họ phải gánh. Vì thế, chỉ trong vòng 3 năm rưỡi, chế độ phong kiến kéo dài hàng bao thế kỷ được xóa bỏ.
Có một điều không thay đổi: Thiên hoàng vẫn là Thiên hoàng. Tuy nhiên, hoàng đế không còn ngự trong Cung điện Hoàng gia ở Kyoto: ngài được chuyển về kinh đô thực sự ở Edo, đặt tên lại là Tokyo. Trong suốt 45 năm trị vì, Thiên hoàng thực hiện đến 102 chuyến tuần du ra khỏi Tokyo và khắp nước, so với chỉ ba chuyến tuần du của tất cả Thiên hoàng cộng lại trong suốt 265 năm thời kỳ Mạc phủ Tokugawa (1603-1868).
Giáo dục là chủ điểm cho những cải cách lớn lao, với những kết quả cũng lớn lao. Lần đầu tiên trong lịch sử, nước Nhật có được một hệ thống giáo dục quốc dân. Các trường tiểu học bắt buộc được thành lập năm 1872, sau đó là trường đại học đầu tiên ở Nhật được thành lập vào năm 1877, trường trung học cơ sở năm 1881 và trường trung học phổ thông năm 1886. Đầu tiên hệ thống trường học theo hình mẫu tập trung cao của Pháp, đến năm 1879 chuyển sang hình mẫu kiểm soát theo địa phương của Mỹ, rồi đến năm 1886 lại áp dụng mô hình Đức. Kết quả cuối cùng của nền cải cách giáo dục đó là Nhật Bản ngày nay có tỉ lệ phần trăm công dân biết chữ cao nhất thế giới (99%) dù có hệ thống chữ viết khó học và phức tạp nhất thế giới. Tuy hệ thống giáo dục quốc dân mới bị ảnh hưởng từ phương Tây, họ vẫn đặt ra những mục tiêu hoàn toàn mang đặc trưng Nhật Bản: dạy cho người Nhật thành những công dân trung thành và yêu nước, tôn kính Thiên hoàng và thấm nhuần tư duy đoàn kết dân tộc.
Một mục đích thế tục hơn nhưng cũng quan trọng không kém của việc cải cách giáo dục là đào tạo những con người mới làm việc trong chính phủ và phát triển vốn con người cho Nhật Bản để nước Nhật có thể trỗi dậy trên thế giới và trở nên thịnh vượng. Vào thập niên 1880, việc tuyển dụng viên chức chính phủ trung ương đã dựa trên một kỳ thi tuyển kiểm tra kiến thức phương Tây thay vì kiểm tra kiến thức về học thuyết Khổng giáo. Giáo dục quốc dân cùng với việc chính thức loại bỏ chức vị cha truyền con nối của chính phủ đã làm suy yếu sự phân chia giai cấp truyền thống của Nhật Bản, vì giờ đây việc học tập còn cao hơn dòng dõi gia thế để làm bàn đạp tiến thân trong văn phòng cao cấp của chính phủ. Một phần từ kết quả này, ngày nay trong số 14 chế độ dân chủ rộng lớn và giàu có, Nhật Bản là nước có sự phân chia của cải ngang bằng nhất, và có tỉ lệ tỉ phú ít nhất tính trên dân số; nước Mỹ lại nằm ở cực ngược lại về cả hai khía cạnh này.
Tính ưu việt hàng đầu còn lại của chính phủ thời Minh Trị là phân chia nguồn thu nhập để hỗ trợ tài chính cho các hoạt động của chính phủ. Nước Nhật chưa bao giờ có các loại thuế quốc gia theo kiểu phương Tây. Thay vào đó, mỗi daimyo đánh thuế riêng trên đất đai của mình để trả cho những chi phí hoạt động riêng, còn shogun vẫn đánh thuế tương tự chỉ trên lãnh địa của mình nhưng cũng yêu cầu mọi daimyo đóng tiền thêm cho các mục đích đặc biệt. Ngoài ra, chính phủ thời Minh Trị còn an ủi các cựu daimyo bằng chức vụ “toàn quyền” dù đã chuyển đổi lãnh địa cũ của họ sang đơn vị hành chính “quận” và ban sắc luật công nhận những quận này được chính quyền trung ương quản lý, để các cựu daimyo không cần (theo lời các lãnh đạo thời Minh Trị) thu thuế để trả cho các hoạt động quản lý của riêng họ. Từ đó, Bộ Tài chính thời Minh Trị lý giải rằng giờ đây bộ này cần số thu nhập thuế hằng năm ít nhất cũng bằng số shogun và tất cả daimyo kết hợp lại trước đây đã trích ra. Và họ đã đạt được mục đích theo kiểu phương Tây, bằng cách đánh một khoản thuế đất là 3%. Nông dân Nhật thường xuyên than phiền và gây bạo động, vì hằng năm họ phải trả bằng tiền mặt bất kể thu hoạch của vụ mùa như thế nào. Nhưng đúng ra họ phải cho là mình còn may mắn nếu đoán trước tỉ lệ đóng thuế của phương Tây thời hiện đại. Chẳng hạn, ngay tại bang California của tôi, chúng tôi phải trả 1% thuế tài sản bang, cộng thuế thu nhập bang lên đến 12%, cộng thuế thu nhập quốc gia hiện lên đến 44%.
Những vấn đề ít khẩn thiết hơn là áp dụng một hệ thống pháp luật theo kiểu phương Tây thay thế cho hệ thống luật pháp truyền thống Nhật Bản. Mô hình tòa án với thẩm phán theo chỉ định được giới thiệu vào năm 1871, tiếp đó là Tòa án Tối cao vào năm 1875. Những cải cách luật hình sự, thương mại và dân sự lần lượt đi theo con đường Tây phương hóa bằng việc thử nghiệm các hình mẫu khác nhau của nước ngoài. Bộ luật hình sự ban đầu được cải cách theo hình mẫu của Pháp, rồi đổi sang hình mẫu Đức; bộ luật thương mại áp dụng các khái niệm của Pháp, Anh và bản địa trước khi hoàn chỉnh với sự truyền cảm hứng từ hình mẫu của Đức. Trong mỗi trường hợp, những thách thức ảnh hưởng đến việc lựa chọn, bao gồm việc tìm giải pháp phù hợp với quan điểm của người Nhật, cộng thêm việc mô phỏng các thể chế phương Tây để có được sự tôn trọng của quốc tế, vốn cần thiết cho việc sửa đổi các hiệp ước bất bình đẳng. Chẳng hạn, điều này đòi hỏi loại bỏ sự tra tấn truyền thống của Nhật và áp dụng rộng rãi án tử hình mà phương Tây không còn xem là đúng đắn.
Việc hiện đại hóa cơ sở hạ tầng của Nhật bắt đầu sớm ở Kỷ nguyên Minh Trị. Năm 1872 chứng kiến sự thành lập hệ thống bưu điện quốc gia cùng việc xây dựng tuyến đường sắt đầu tiên và đường dây điện tín, kế tiếp là thành lập một ngân hàng quốc gia vào năm 1873. Đèn chiếu sáng thắp bằng khí gas được lắp đặt ở Tokyo. Chính phủ cũng tham gia vào nền kỹ nghệ hóa bằng cách xây dựng nhà máy sản xuất gạch, xi măng, thủy tinh, máy móc và lụa với máy móc và phương pháp của phương Tây. Sau khi thắng lợi trong cuộc chiến với Trung Hoa giai đoạn 1894-1895, chi tiêu của chính phủ dần tập trung vào các kỹ nghệ liên quan đến chiến tranh như than, điện, nhà máy vũ khí, sắt, thép, đường sắt và xưởng đóng thuyền.
Cải cách của chính phủ đặc biệt quan trọng nếu nước Nhật có được sự tôn trọng trên trường quốc tế – và đặc biệt là đầy thách thức. Nội các chính phủ ra mắt năm 1885, nhưng năm 1881 đã có tuyên bố về một hiến pháp sắp ra đời, phần nào để hồi đáp áp lực từ công chúng. Sau đó phải mất tám năm để đưa ra một hiến pháp theo phong cách phương Tây hài hòa với hoàn cảnh nước Nhật. Giải pháp cho thách thức đó dựa trên việc chọn hình mẫu của hiến pháp Đức thay vì hiến pháp Mỹ, vì hiến pháp Đức làm nổi bật một vị hoàng đế mạnh mẽ, thích hợp với các điều kiện ở Nhật Bản. Hiến pháp Nhật kêu gọi đức tin của người dân rằng Thiên hoàng là hậu duệ của thần linh thuộc dòng giống không gián đoạn của các tiên đế trải qua hàng thiên niên kỷ. Trong một buổi lễ diễn ra ở điện thiết triều vào một thời điểm (ngày 11 tháng 2) theo truyền thống kỷ niệm năm thứ 2.549 ngày sáng lập vương triều, Thiên hoàng cầu khấn tổ tiên và chuyển cuộn giấy ghi hiến pháp mới cho thủ tướng như một món quà của ngài cho đất nước Nhật Bản. Hiện diện ở buổi lễ có đại diện của các phái đoàn ngoại giao và cộng đồng nước ngoài để bảo đảm rằng họ không bỏ qua thời điểm đó. Nước Nhật giờ đó đã là một đất nước văn minh với một chính phủ lập hiến, ngang bằng các chính phủ lập hiến khác trên thế giới (và – ám chỉ rằng – không còn bị áp đặt bởi các hiệp ước bất bình đẳng nữa).
Cũng như các khía cạnh khác trong đời sống Nhật Bản, nền văn hóa Nhật đã trở thành một mảnh ghép giữa các yếu tố phương Tây và các yếu tố truyền thống của Nhật Bản. Y phục và kiểu tóc phương Tây trở nên thịnh hành ở Nhật lúc đó và nhanh chóng được bắt chước – bởi nam giới Nhật (Ảnh 3.5 và 3.6). Ví dụ như một bộ ảnh chụp năm thành viên trong phái đoàn Iwakura năm 1872, chỉ bốn năm sau khi khôi phục triều đại Minh Trị và chỉ 19 năm sau khi Phó đề đốc Perry đến, cho thấy bốn thành viên mặc lễ phục, đeo cà vạt, đội mũ cao và để kiểu tóc phương Tây, chỉ có một người (Iwakura) vẫn mặc y phục Nhật Bản với kiểu tóc gọt búi cao (top-knot) truyền thống của Nhật (Ảnh 3.3). Trong các bộ môn nghệ thuật thì âm nhạc, hội họa, tranh mộc bản, kịch kabuki và kịch Noh truyền thống Nhật Bản vẫn tồn tại song song với khiêu vũ, quân nhạc, dàn nhạc giao hưởng, opera, nhà hát, hội họa và tiểu thuyết phương Tây.
Bất kỳ quốc gia nào cũng đều có nguy cơ bị phân rã nếu công dân nước đó không cảm thấy được hòa nhập bởi một số hệ tư tưởng dân tộc thống nhất. Mỗi quốc gia đều có những ý tưởng và câu nói tương tự cho nhiệm vụ tạo ra một hệ tư tưởng thống nhất. Chẳng hạn, những tư tưởng của người Mỹ gồm có dân chủ, công bằng, tự do cá nhân và dân tộc, và cơ hội cho mọi người, như thường thấy trong những câu nói như “ai cũng có cơ hội làm giàu” (rags to riches), “nồi đúc hỗn hợp” (melting pot), “vùng đất tự do” (land of liberty), “vùng đất của mọi cơ hội” (land of equal opportunity), và “vùng đất của mọi khả năng không giới hạn” (land of unlimited possibilities). Đặc biệt ở những nước mới giành được độc lập như Indonesia (Chương 5) hay ở các nước đang trải qua thay đổi nhanh chóng như Nhật Bản thời Minh Trị, các chính phủ đưa ra công thức và thúc đẩy những hệ tư tưởng dân tộc thống nhất một cách có ý thức. Vậy Nhật Bản thời Minh Trị tiến hành điều này như thế nào?
Nhu cầu cần có một hệ tư tưởng Minh Trị nhất quán được miêu tả trong một diễn giải được lan truyền rộng rãi vào năm 1891 về Huấn dụ Giáo dục của Thiên hoàng ban hành năm 1890: “Nhật Bản… là một nước nhỏ. Do hiện nay có những kẻ nuốt chửng các quốc gia khác mà không bị trừng phạt, chúng ta phải xem toàn bộ thế giới là kẻ thù… vì thế bất kỳ người dân Nhật chân chính nào cũng phải có trách nhiệm chung, theo đó hắn ta phải xem đời mình nhẹ như hạt bụi, hăng say tiến bước, và sẵn sàng hi sinh bản thân cho đất nước… Mục đích của Huấn dụ này là tăng cường nền tảng quốc gia bằng cách trau dồi đức trung hiếu và tình huynh đệ, đức tính trung thành và chân thật, và sẵn sàng trong mọi tình huống khẩn cấp bằng cách nuôi dưỡng tinh thần yêu nước tập thể… Nếu chúng ta không đoàn kết người dân, thì thành trì và tàu chiến cũng sẽ không đủ. Nếu quả chúng ta đoàn kết được họ, thì ngay đến một triệu kẻ thù ghê gớm cũng không thể làm gì tổn hại được chúng ta.”
Trong hai thập niên cuối Kỷ nguyên Minh Trị, dù phải giải quyết những vấn đề bình thường nhưng khẩn cấp như cải cách thuế má và soạn thảo các bộ luật, nhưng chính phủ vẫn có thể tập trung chú ý hơn đến nhiệm vụ thấm nhuần cho dân Nhật ý thức về nghĩa vụ công. Điều này đạt được một phần cũng nhờ vào sự hỗ trợ của chính phủ đối với tín ngưỡng truyền thống, nhưng phần nhiều hơn là nhờ sự quan tâm của chính phủ đối với sự nghiệp giáo dục. Tín ngưỡng truyền thống Nhật Bản đóng vai trò đoàn kết người dân qua việc rao giảng những đức tin được chia sẻ về dòng dõi thần linh của Thiên hoàng, tinh thần ái quốc, trách nhiệm công dân, lòng hiếu thuận, kính trọng thần linh, và tình yêu tổ quốc. Vì thế, chính phủ khuyến khích tín ngưỡng Thần đạo (Shinto) và triết lý Khổng giáo, trợ cấp cho các đền thờ Thần đạo hàng đầu quốc gia và bổ nhiệm tu sĩ trụ trì. Những giá trị đó, kết hợp với sự tôn thờ Nhật hoàng như một vị thần sống, được đề cao một cách nổi bật trong các bộ sách giáo khoa nhất quán của quốc gia được quy định ở mọi cấp học trong ngành giáo dục.
Bây giờ chúng ta tóm tắt những nhân tố chính của sự thay đổi có chọn lọc ở Nhật Bản thời Minh Trị – ngoài những thay đổi trong chính sách bành trướng ra hải ngoại được khảo sát ở những trang kế tiếp – chúng ta hãy soi rọi những thay đổi ở thời Minh Trị và loại trừ những hiểu lầm có thể xảy ra.
Mục tiêu của các nhà lãnh đạo thời Minh Trị rõ ràng không phải là “Tây phương hóa” nước Nhật, trong ý nghĩa chuyển đổi đất nước thành một xã hội châu Âu bên ngoài châu Âu – không giống như những thực dân Anh ở Úc mà mục đích là chuyển đổi Úc thành một xã hội Anh bên ngoài nước Anh (Chương 7). Thay vào đó, mục đích của chính quyền Minh Trị là mô phỏng nhiều đặc điểm của phương Tây, nhưng cải biến chúng cho phù hợp với hoàn cảnh Nhật Bản đồng thời giữ lại nhiều truyền thống Nhật. Những đặc trưng phương Tây được mô phỏng và cải biến được ghép trên cốt lõi Nhật lưu giữ từ lịch sử nước Nhật. Chẳng hạn, nước Nhật không cần châu Âu làm hình mẫu cho tri thức và đô thị hóa: nước Nhật thời kỳ Tokugawa đã có tri thức cao và Edo, thủ đô của Mạc phủ (đổi tên thành Tokyo) đã là thành phố lớn nhất thế giới cả một thế kỷ rưỡi trước khi Phó đề đốc Perry đến. Việc Tây phương hóa ở thời Minh Trị không phải là bắt chước một cách mù quáng những phần đặc thù của các thể chế phương Tây: các lãnh đạo thời Minh Trị điều hành đất nước với sự hiểu biết rõ ràng toàn diện về xã hội phương Tây để làm nền móng cho các thiết chế quân sự, giáo dục, và những thứ khác ở Nhật Bản cùng với những cải biến thích hợp.
Nhật Bản thời Minh Trị có khả năng rút ra nhiều hình mẫu, bao gồm các hình mẫu đa dạng của phương Tây: Anh, Đức, Pháp, Mỹ ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Cũng có nhiều hình mẫu bản địa để rút ra: cuối thời kỳ Mạc phủ Tokugawa, nước Nhật có đến 240 phiên (lãnh địa) riêng rẽ, khác nhau về chính sách thuế khóa và ở một số thiết chế. Ngoài những hình mẫu tích cực đó, Nhật Bản thời Minh Trị còn hưởng lợi từ một hình mẫu tiêu cực khác: Trung Hoa, một nước mà số phận của nó là bị phương Tây thống trị đã cho thấy rõ những gì nước Nhật muốn tránh.
Những cải cách của Minh Trị được nhắm đến hai “khán giả” khác nhau: một là người dân trong nước, và khán giả khác là người phương Tây ở hải ngoại. Một mặt, công cuộc cải cách được nhắm vào chính Nhật Bản: để tăng cường sức mạnh quốc gia về mặt quân sự và kinh tế, đồng thời để thấm nhuần tư tưởng đoàn kết cho người dân Nhật. Mặt khác, những cải cách cũng nhằm để các nước phương Tây tôn trọng Nhật Bản như một quốc gia bằng vai phải vế, vì nước Nhật giờ đây đã mô phỏng các thiết chế phương Tây vốn dĩ được các nước phương Tây tôn trọng. Những thiết chế này gồm các quy tắc định chế cơ bản như hiến pháp và bộ luật theo kiểu cách phương Tây; và những quy tắc về thể diện bên ngoài, như y phục và kiểu tóc phương Tây, và cả việc Nhật hoàng tổ chức một đám cưới theo phong cách phương Tây với chỉ duy một hoàng hậu cũng theo kiểu phương Tây (những Thiên hoàng trước đó công khai có nhiều hầu thiếp).
Trong khi các lãnh đạo thời Minh Trị đều nhất trí về mục tiêu tổng thể là tăng cường sức mạnh Nhật Bản để đất nước có thể đề kháng với Phương Tây, họ không khởi đầu bằng một thiết kế hoàn chỉnh. Thay vào đó, những cải cách thời Minh Trị được vạch ra và mô phỏng từng phần trong nhiều giai đoạn: đầu tiên, tạo ra một quân đội quốc gia, một dòng thu nhập và một hệ thống giáo dục, rồi loại bỏ chế độ phong kiến; sau đó, đưa ra một hiến pháp và các bộ luật dân sự và hình sự; và muộn hơn là bành trướng ra hải ngoại thông qua chiến tranh (sẽ được thảo luận ở những trang sau). Không phải tất cả những cải cách đều được sao chép trơn tru và đồng thuận: có sự đối kháng nội bộ trong Nhật Bản thời Minh Trị, như những cuộc khởi loạn của giới Samurai và nổi dậy của nông dân.
Dòng chủ đạo còn lại của sự thay đổi có chọn lọc vào Kỷ nguyên Minh Trị mà chúng ta chưa xem xét là sự chuyển hóa của nước Nhật từ việc là mục tiêu lại biến thành tác nhân gây ra sự bành trướng và tấn công bằng quân sự ra nước ngoài. Chúng ta thấy rằng nước Nhật thời kỳ Mạc phủ Tokugawa thi hành chủ nghĩa biệt lập và không có tham vọng chinh phục đất đai bên ngoài nước Nhật. Nhưng vào năm 1853, nước Nhật có vẻ gặp hiểm họa hiện tiền từ quân đội còn lớn hơn các cường quốc nước ngoài. Tuy nhiên, vào lúc khởi đầu của Kỷ nguyên Minh Trị vào năm 1868, những cải cách quân đội và xây dựng nền kỹ nghệ đã gạt bỏ hiểm họa hiện tiền ấy và thay vào đó là chấp nhận một sự bành trướng từng bước một. Bước đầu tiên là năm 1869, Nhật thôn tính hợp pháp hòn đảo Hokkaido ở phía bắc, nguyên là nơi sinh sống của một tộc người (người Ainu) hoàn toàn khác với người Nhật, nhưng trước đó phần nào nằm dưới sự kiểm soát của Mạc phủ. Rồi vào năm 1874, một đạo quân trừng phạt được gửi đến đảo Đài Loan do người dân bản địa ở đó đã giết hàng tá ngư dân Lưu Cầu.
Tuy nhiên, vào cuối cuộc viễn chinh, Nhật lại rút binh và ngưng việc thôn tính Đài Loan. Năm 1879, quần đảo Lưu Cầu (cách Nhật Bản vài trăm dặm về hướng nam) bị thôn tính. Trong giai đoạn 1894-1895, Nhật Bản thời Minh Trị đã chiến thắng trong cuộc chiến tranh đầu tiên ở hải ngoại với Trung Hoa và thôn tính được Đài Loan.
Cuộc Chiến tranh Nga-Nhật (1904-1905) tạo điều kiện cho Nhật Bản lần đầu tiên có phép thử khi chống lại một cường quốc phương Tây; cả hải quân lẫn lục quân Nhật đều đánh bại Nga (Ảnh 3.7 và 3.8). Đó là một dấu mốc trong lịch sử thế giới: thất bại của một cường quốc phương Tây trước một nước phương Đông trong một cuộc chiến tranh tổng lực. Từ kết quả của hòa ước này, nước Nhật thôn tính được một nửa phía nam đảo Sakhalin và nắm quyền kiểm soát tuyến đường sắt Nam Mãn Châu. Nhật thiết lập chế độ bảo hộ đối với Cao Ly năm 1905 rồi thôn tính đất nước này vào năm 1910. Năm 1914, Nhật chiếm đóng các hòn đảo nhỏ (quần đảo Marshall) thuộc phạm vi ảnh hưởng của Trung Hoa do Đức kiểm soát ở Thái Bình Dương (Ảnh 3.9). Cuối cùng, vào năm 1915, Nhật gửi cho Trung Hoa cái gọi là 21 Yêu sách, rõ ràng họ đã xem Trung Hoa như một thuộc quốc; Trung Hoa thỏa mãn một số nhưng không phải toàn bộ yêu sách.
Nước Nhật đã xem xét việc tấn công Trung Hoa và Cao Ly trước năm 1894 nhưng rồi gặp trở ngại do nước này nhận ra mình chưa đủ mạnh và có nguy cơ tạo cớ cho các cường quốc phương Tây can thiệp. Trường hợp duy nhất mà Nhật Bản thời Minh Trị đánh giá quá cao sức mạnh của mình là vào năm 1895, khi kết thúc cuộc chiến với Trung Hoa. Những nhượng bộ mà Nhật nhận được từ Trung Hoa lúc đó bao gồm việc nhượng lại cho Nhật bán đảo Liêu Đông, nơi kiểm soát các tuyến đường biển và đường bộ giữa Trung Hoa và Cao Ly. Nhưng Pháp, Nga và Đức phản ứng bằng cách cùng đồng thuận buộc Nhật từ bỏ bán đảo, rồi ba năm sau Nga tiến hành thuê nó từ Trung Hoa. Sự rút lui nhục nhã này khiến nước Nhật nhận thức được sự yếu kém của mình khi đứng một mình đối mặt với các cường quốc phương Tây. Do đó, vào năm 1902, Nhật kết đồng minh với Anh để phòng vệ và được bảo đảm trước khi tấn công Nga năm 1904. Ngay cả khi được bảo đảm bằng một liên minh với Anh, Nhật cũng chỉ đưa ra yêu sách với Trung Hoa khi mà những lực lượng quân sự ở các cường quốc phương Tây bị vướng vào Thế chiến I, không thể đe dọa can thiệp được như đã làm vào năm 1895.
Tóm lại, chủ nghĩa bành trướng quân sự của Nhật Bản thời Minh Trị thành công một cách nhất quán do được chỉ đạo từng bước một với sự đánh giá thông tin trung thực, thực tế và cẩn trọng về sức mạnh tương ứng của Nhật Bản và các mục tiêu của họ, và bởi một đánh giá chính xác về những gì có khả năng trở thành hiện thực đối với Nhật Bản. Bây giờ, hãy so sánh sự bành trướng thành công của Nhật Bản thời Minh Trị và tình trạng của nước Nhật vào ngày 14 tháng 8 năm 1945. Vào ngày đó nước Nhật cùng lúc ở trong tình trạng chiến tranh với Trung Hoa, Mỹ, Anh, Nga, Úc và New Zealand (cũng như với nhiều quốc gia khác tuyên bố chiến tranh với Nhật nhưng không thực sự tham chiến). Tình trạng đó quả là vô vọng khi mọi kẻ thù kết hợp lại để đánh một mình nước Nhật. Đa phần quân đội Nhật bị giam chân nhiều năm ở Trung Hoa. Hai quả bom nguyên tử phá hủy hoàn toàn Hiroshima và Nagasaki. Một hạm đội hỗn hợp Anh-Mỹ nã pháo vào bờ biển Nhật Bản. Các đạo quân của Nga tiến quân vào Mãn Châu và bán đảo Sakhalin dưới sự kháng cự yếu ớt của quân Nhật. Binh lính Úc và New Zealand thì đang càn quét các đội quân đồn trú trên một số đảo ở Thái Bình Dương. Hầu hết mọi chiến hạm lớn và đội thương thuyền của Nhật bị đánh đắm hoặc loại bỏ. Hơn ba triệu người Nhật bị chết.
Sự việc đáng ra đã đủ tồi tệ nếu những sai lầm nghiêm trọng trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản đã khiến nước này bị mọi quốc gia tấn công, nhưng những sai lầm của Nhật Bản còn tồi tệ hơn nữa: chính nước này là quốc gia đi tấn công những nước đó. Vào năm 1937, Nhật tung ra một cuộc chiến tranh toàn diện vào Trung Hoa. Nước Nhật còn gây ra hai cuộc chiến tranh biên giới, nhanh chóng nhưng khốc liệt, với Nga vào năm 1938 và năm 1939. Năm 1941, Nhật bất ngờ tấn công Mỹ, Anh và Hà Lan trong khi vẫn còn nguy cơ chiến tranh trở lại với Nga. Cuộc tấn công nhằm vào Anh tự động gây ra hậu quả là sự tuyên chiến từ các nước thuộc Anh ở Thái bình dương là Úc và New Zealand; Nhật tiến hành đánh bom Úc. Năm 1945, Nga tấn công Nhật. Đến ngày 15 tháng 8 năm 1945, nước Nhật cuối cùng cũng chịu khuất phục bởi kết cục vốn đã trì hoãn trong một thời gian dài và không thể tránh khỏi, và đầu hàng. Tại sao nước Nhật từ năm 1937 trở đi có bước sai lầm trong việc bành trướng quân sự một cách phi thực tế và thất bại hoàn toàn trong khi Nhật Bản thời Minh Trị từ năm 1868 trở đi lại tiến hành từng bước bành trướng quân sự một cách thực tế và hiệu quả?
Có vô số lý do: chiến tranh với Nga đạt thắng lợi, vỡ mộng với Hiệp ước Versailles, sự sụp đổ của phát triển kinh tế dựa vào xuất khẩu năm 1929, và nhiều nguyên nhân khác. Nhưng một lý do thêm vào đặc biệt thích hợp cho cuốn sách này: một khác biệt giữa Nhật Bản thời Minh Trị và nước Nhật ở thập niên 1930 và 1940 nằm ở kiến thức và khả năng tự đánh giá trung thực của các nhà lãnh đạo Nhật Bản. Trong thời Minh Trị, nhiều người Nhật, bao gồm những lãnh đạo quân sự, ra nước ngoài tham quan. Do đó họ có được kiến thức trực tiếp một cách chi tiết về Trung Hoa, Mỹ, Đức và Nga cùng quân đội và hải quân các nước này. Họ có thể đánh giá trung thực về sức mạnh của Nhật Bản so với các nước khác. Và Nhật chỉ tấn công khi nắm chắc thành công. Ngược lại, vào thập niên 1930, quân đội Nhật ở vùng đại lục châu Á được chỉ huy bởi những sĩ quan trẻ nóng máu không có kinh nghiệm ở nước ngoài (ngoại trừ ở Đức Quốc xã) và không tuân lệnh những lãnh đạo có kinh nghiệm ở Tokyo. Những sĩ quan nóng máu này không có hiểu biết trực tiếp về sức mạnh kỹ nghệ và quân sự của Mỹ và những đối thủ có triển vọng khác của Nhật. Họ không hiểu tâm lý người Mỹ và chỉ xem Mỹ là một nước của các chủ cửa hàng không biết chiến đấu.
Chỉ có một số lãnh đạo lớn tuổi trong chính phủ Nhật Bản và quân đội (đặc biệt là hải quân) ở thập niên 1930 mới chứng kiến tận mắt sức mạnh của Mỹ và châu Âu. Thời điểm thấm thía nhất trong lần đầu tiên đi Nhật vào năm 1998 là vào một buổi chiều tôi ngồi cùng bàn ăn chung với một ủy viên quản trị ngành thép của Nhật đã về hưu, lúc đó ông ta ở độ tuổi 90, kể lại cho tôi câu chuyện của ông về những chuyến viếng thăm các nhà máy thép ở Mỹ vào thập niên 1930. Ông nói rằng mình đã sửng sốt khi biết rằng năng suất sản xuất thép chất lượng cao của Mỹ gấp 50 lần của Nhật, và chỉ một điều đó cũng đủ thuyết phục ông ta rằng nước Nhật có điên mới đi gây chiến với Mỹ.
Nhưng các lãnh đạo lớn tuổi có kinh nghiệm từng xuất ngoại vào thập niên 1930 đều bị đe dọa hoặc bị khống chế và một số thì bị ám sát, bởi những kẻ nóng máu trẻ tuổi thiếu kinh nghiệm nước ngoài – nhiều cũng bằng các lãnh đạo nước Nhật ở cuối thập niên 1850 và thập niên 1860 bị các shishi nóng máu ám sát và hăm dọa. Dĩ nhiên, các chí sĩ này cũng không có chút kinh nghiệm gì về sức mạnh của các quốc gia bên ngoài chẳng khác gì những sĩ quan trẻ của Nhật vào thập niên 1930. Sự khác nhau ở đây là việc các chí sĩ tấn công người phương Tây dẫn đến việc tàu chiến phương Tây bắn phá Kagoshima và Eo biển Shimonoseki, điều này đã thuyết phục các chí sĩ rằng chiến lược của họ là phi thực tế. Vào thập niên 1930, không có cuộc bắn phá nước ngoài nào như thế vào nước Nhật để buộc lớp sĩ quan trẻ chưa từng ra nước ngoài phải thực tế hơn.
Thêm vào đó, kinh nghiệm lịch sử của các nhà lãnh đạo Nhật Bản trưởng thành ở Kỷ nguyên Minh Trị rõ ràng trái ngược với kinh nghiệm của các nhà lãnh đạo thập niên 1930. Các nhà lãnh đạo thời Minh Trị đã dành những năm của họ để xây dựng một nước Nhật yếu ớt có nguy cơ bị những kẻ thù tiềm năng mạnh mẽ tấn công. Nhưng đối với những lãnh đạo Nhật Bản thập niên 1930, chiến tranh chỉ có nghĩa là thắng lợi đầy men nồng trong cuộc Chiến tranh Nga-Nhật, việc hủy diệt hạm đội Thái Bình Dương của Nga ở cảng Lữ Thuận (Port Arthur) bằng một cuộc tấn công bất ngờ được dùng làm hình mẫu cho cuộc tấn công bất ngờ vào hạm đội Mỹ ở Trân Châu Cảng (Ảnh 3.7), và hải quân Nhật hủy diệt hạm đội Bắc Hải (Baltic) của Nga một cách ngoạn mục trong cuộc hải chiến ở Eo biển Tsushima (Ảnh 3.8). Khi thảo luận về nước Đức ở Chương 6, chúng ta sẽ bắt gặp một ví dụ khác về những thế hệ thành công trong cùng một quốc gia đã có những quan điểm chính trị khác nhau rõ rệt chỉ do những kinh nghiệm lịch sử khác nhau.
Vì thế, một phần – không phải toàn bộ, nhưng chỉ một phần – lý do của việc nước Nhật khởi phát Thế chiến II bất chấp những sự chênh lệch vô vọng đến thế là do lớp lãnh đạo quân sự trẻ ở thập niên 1930 thiếu vắng nền tảng kiến thức và kinh nghiệm lịch sử cần thiết cho việc tự đánh giá trung thực, thực tế và cân nhắc cẩn trọng. Kết quả là một thảm họa cho Nhật Bản.
Nhật Bản thời Minh Trị minh họa sâu sắc cho sự tương đồng của hầu hết 12 nhân tố được xác định ở Chương 1 như là những hệ quả tác động của biến cố cá nhân. Đối với một nhân tố (nhân tố số 5 ở Bảng 1.2) nước Nhật chính là dẫn chứng nổi bật trong số bảy quốc gia; với nhân tố khác (nhân tố số 7), Nhật Bản là một trong hai dẫn chứng nổi bật; bảy nhân tố kia (số 1, 3, 4, 6, 9, 10 và 11) cũng quan trọng; và một nhân tố (số 12) vận hành vừa tích cực vừa tiêu cực.
Hơn tất cả những quốc gia được thảo luận trong cuốn sách này, Nhật Bản thời Minh Trị minh họa sự thay đổi từ việc vay mượn những hình mẫu nước ngoài (nhân tố số 5), sau khi đối chiếu cẩn thận các hình mẫu khác nhau để xác định cái nào phù hợp nhất trong hoàn cảnh Nhật Bản ở một phạm vi đặc thù. Kết quả là thể chế và quân đội Nhật Bản tiến đến chỗ dựa trên hình mẫu của Đức, còn hạm đội hải quân thì dựa trên hình mẫu của Anh, bản dự thảo bộ luật dân sự ban đầu lại dựa vào hình mẫu của Pháp, và công cuộc cải cách giáo dục năm 1879 dựa trên hình mẫu của Mỹ. Ngay cả Bản Tuyên ngôn Độc lập Mỹ dường như cũng được dùng làm hình mẫu cho một dự thảo về cải cách chính phủ năm 1870 do Itagaki Taisuke và Fukuoka Kotei soạn, bắt đầu bản dự thảo của họ bằng lời mở đầu tuyên ngôn rằng mọi người đều có quyền bình đẳng, để từ đó đưa ra mọi quyết định. (Hãy đối chiếu với câu thứ nhì trong bản Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ: “Chúng tôi khẳng định những chân lý này là hiển nhiên, mọi người sinh ra đều bình đẳng…” dẫn đến nhiều kết luận.) Những đề xuất của Itagaki và Fukuoka dựa trên hình mẫu của Mỹ không được thông qua, nhưng nhiều hình mẫu nước ngoài khác được áp dụng.
Chúng ta đã thảo luận trong phần trước đó về vai trò của việc đánh giá thực tế (nhân tố số 7) ở Nhật Bản thời Minh Trị, vai trò tương tự chỉ diễn ra ở Phần Lan. Thảo luận của chúng ta đã làm rõ rằng việc đánh giá quốc gia thành công đòi hỏi có hai nhân tố. Một là ý nguyện đương đầu với những sự thực đau đớn: trong trường hợp nước Nhật, sự thực là những kẻ ngoại bang đáng ghét lại mạnh hơn Nhật Bản, và nước Nhật chỉ có thể đạt được sức mạnh bằng cách học hỏi từ những kẻ ngoại bang đó. Điều kiện tiên quyết khác chính là kiến thức. Việc các nhà lãnh đạo thời Minh Trị và những chí sĩ ở thập niên trước thời Minh Trị có ý nguyện đương đầu với sự thực cay đắng về sức mạnh quân sự của phương Tây là chưa đủ: họ cần đến kiến thức về sức mạnh đó từ quan sát hay kinh nghiệm trực tiếp. Nhưng các sĩ quan trẻ của nước Nhật vào thập niên 1930 lại thiếu kiến thức trực tiếp về sức mạnh quân sự của phương Tây. Sự tự đánh giá thực tế thời Minh Trị được nối với đánh giá khác về những nhân tố hệ quả tiếp diễn: sự đồng thuận rộng rãi của người Nhật về biến cố mà chuyến ghé vịnh Edo của Phó đề đốc Perry đặt ra với nước Nhật (nhân tố số 1).
Nhật Bản thời Minh Trị là minh họa tốt cho việc xây dựng một hàng rào và việc áp dụng thay đổi có chọn lọc (nhân tố số 3). Những thay đổi rộng lớn được áp dụng ở nhiều phạm vi xã hội thời Minh Trị, bao gồm các bình diện kinh tế, luật pháp, quân sự, chính trị, xã hội và công nghệ. Nhưng các đặc trưng truyền thống khác của Nhật vẫn được lưu giữ ở Kỷ nguyên Minh Trị, kể cả luân lý Khổng giáo, tôn thờ Nhật hoàng, tính đồng nhất dân tộc, lòng hiếu thảo, Thần đạo và hệ thống chữ viết. Ban đầu, dự kiến cũng có những thay đổi dành cho một số đặc trưng kể trên, như đề xuất đưa nước Nhật theo chế độ cộng hòa và áp dụng bảng ký tự phương Tây. Nhưng nước Nhật nhanh chóng lập một hàng rào, tách riêng những đặc trưng truyền thống để lưu giữ chúng khỏi những điều đang cần thay đổi. Trong khi ước ao thay đổi vẫn mạnh mẽ, thì ước ao giữ lại truyền thống cũng mạnh không kém đến nỗi một số thay đổi phải được khắc họa như sự duy trì hư cấu của “những truyền thống được phát kiến” để khiến chúng có thể được chấp nhận. Sự kết hợp giữa việc thay đổi quyết liệt này với việc duy trì bảo tồn cũng minh họa cho nhân tố của tính linh hoạt quốc gia trong tình huống đặc thù (nhân tố số 10).
Cùng với giá trị của các hình mẫu nước ngoài, Nhật Bản thời Minh Trị minh họa cho giá trị của sự giúp đỡ từ bên ngoài (nhân tố số 4). Có vô số dẫn chứng, bao gồm thương nhân người Anh Thomas Glover có cơ sở buôn bán ở Nagasaki đã gửi một nhóm 19 thanh niên ở Satsuma đi du học ở Anh từ năm 1864; nhiều người phương Tây ở châu Âu và Mỹ đón tiếp khách thăm người Nhật; năm 1886 có hai nhà cố vấn người Đức là Albert Mosse và Hermann Roesler đến Nhật Bản để giúp đỡ Ito Hirobumi xây dựng hiến pháp; và xưởng đóng tàu Vickers đã đóng chiếc Kongo, tuần dương chiến hạm đầu tiên cho Nhật Bản, để sau đó làm hình mẫu cho những chiếc tuần dương chiến hạm Haruna, Hiei và Kirishima được đóng ngay tại Nhật.
Nhật Bản thời Minh Trị, và Nhật Bản ngày nay, minh họa mạnh mẽ cho căn tính quốc gia (nhân tố số 6). Người dân Nhật và các lãnh đạo của họ xem nước Nhật là độc đáo, thượng đẳng, và tách biệt với phần còn lại của thế giới. Niềm tin được sẻ chia này đã giúp người Nhật chịu được những căng thẳng về tâm lý trong Kỷ nguyên Minh Trị, đôi khi có sự khác biệt về phương cách tốt nhất để bảo đảm cho tương lai Nhật Bản, nhưng không bao giờ nghi ngờ giá trị của đất nước họ.
Nhật Bản thời Minh Trị cũng làm minh họa cho đức tính kiên nhẫn, sự sẵn sàng chịu đựng những thất bại ban đầu và tính kiên trì cho đến khi tìm ra một giải pháp khả dụng (nhân tố số 9). Phản ứng ban đầu của Nhật đối với những mối đe dọa của nước ngoài vào thập niên 1850 và 1860 là cố giữ khoảng cách tách biệt với những kẻ ngoại quốc, sau đó (khi những người này được thừa nhận ở một số hải cảng của Nhật theo hiệp ước) lại cố tống xuất họ đi một lần nữa. Nhưng dần dần mọi sự cũng ngã ngũ và Mạc phủ, giới chí sĩ cùng các nhà lãnh đạo thời Minh Trị đều chấp nhận một điều là phương cách đó không hiệu quả, và nhất thiết phải có một phương cách khác: mở cửa nước Nhật cho phương Tây, để từ đó tăng cường sức mạnh Nhật Bản. Tương tự như thế, những nỗ lực thời Minh Trị để soạn các bộ luật, một hệ thống giáo dục quốc gia, và một hiến pháp phải mất nhiều năm làm dự thảo, thử nghiệm và thay đổi. Trong mỗi lĩnh vực này, chính phủ thời Minh Trị ban đầu thử nghiệm với một hay nhiều hình mẫu nước ngoài, loại trừ những hình mẫu không thích hợp với hoàn cảnh nước Nhật, rồi cuối cùng mới chọn một hình mẫu khác từ nước ngoài: chẳng hạn như bộ luật dân sự, bắt đầu với những hình mẫu lấy từ Pháp và Anh, nhưng kết thúc bằng hình mẫu của Đức.
Những giá trị cốt lõi không tương nhượng (nhân tố số 11) đã đoàn kết người Nhật để sẵn sàng hi sinh. Nổi bật trong những giá trị này là lòng tận trung với Thiên hoàng. Điều này được minh họa rõ nét vào cuối Thế chiến II, khi Mỹ yêu cầu Nhật đầu hàng vô điều kiện. Ngay cả sau khi bị thả hai quả bom nguyên tử và quân đội thì trong tình trạng tuyệt vọng, nước Nhật vẫn kiên trì với một điều kiện: “rằng tuyên bố [đầu hàng] như đã nêu không bao gồm bất kỳ yêu cầu nào làm tổn hại đến đặc quyền của Hoàng đế ở cương vị nhà lãnh đạo tối cao.” Nếu không chấp nhận điều kiện đó, nước Nhật sẵn sàng kháng cự lại sự đe dọa xâm chiếm của Mỹ trên đất Nhật. Sức mạnh của những giá trị cốt lõi của người Nhật cũng được minh họa trong Thế chiến II bằng việc số lượng lớn binh lính Nhật sẵn sàng tự sát, vượt xa so với bất kỳ quốc gia hiện đại nào khác. Nổi tiếng nhất là các phi công Thần phong (kamikaze) của loại máy bay chiến đấu thông thường và phi công “khùng” (baka) điều khiển tàu lượn gắn hỏa tiễn, chuyên lao máy bay gắn bom vào chiến hạm kẻ địch; và các thủy thủ điều khiển ngư lôi hoặc tàu tự sát được phóng đi từ tàu chiến Nhật để lao vào chiến hạm đối phương. Các loại vũ khí công nghệ cao này chỉ được tung ra khi gần kết thúc Thế chiến II, vài năm sau khi xảy ra các vụ tự sát công nghệ thấp, khi lính Nhật giả vờ đầu hàng rồi cho nổ lựu đạn để chết chung với kẻ thù. Mọi hình thức tự sát này chỉ có mục đích quân sự tức thời để giết binh lính đối phương. Ngoài ra, binh sĩ và sĩ quan Nhật cũng thường tự sát mà không kéo theo kẻ địch theo tinh thần giá trị được khắc ghi là “không đầu hàng.” Chẳng hạn, trong tổng số 2.571 binh lính tinh nhuệ của Nhật bảo vệ đảo san hô Tarawa vào tháng 11 năm 1943 kháng cự cuộc đổ bộ của lính Mỹ lên đảo, có đến 2.563 chết, nhiều binh lính trong số đó cuối cùng đã tự sát, chỉ còn tám người bị bắt làm tù binh.
Nhật Bản, vốn là một quần đảo không tiếp giáp với đất liền, ở điều kiện tương đối thuận lợi nếu xét về mặt ràng buộc bởi địa chính trị (nhân tố số 12) so với các nước khác như Phần Lan hay Đức, do không có chung đường biên giới đất liền với nước nào. Như chúng ta đã thấy ở chương trước đó, biên giới chung dài giữa Phần Lan và Nga đã tạo ra vấn nạn cơ bản cho Phần Lan. Và ở Chương 6, chúng ta sẽ thấy việc có chung biên giới trên đất liền với các cường quốc cũng là một chủ điểm chính trong lịch sử nước Đức. Tuy nhiên, chính các cường quốc khác đã gây ra vấn nạn cơ bản cho Mạc phủ Tokugawa và Nhật Bản thời Minh Trị mặc dù các nước này cách Nhật đến nửa vòng Trái đất bởi đại dương mênh mông. Đến thế kỷ 19, và ngay cả ở thế giới hiện đại ngày nay, công nghệ mới làm giảm bớt những ràng buộc địa chính trị – nhưng vẫn chưa hoàn toàn loại bỏ được chúng.
Chúng ta hãy kết lại thảo luận về Nhật Bản thời Minh Trị bằng cách xem xem nó dẫn đến đâu với bốn câu hỏi nảy sinh cho biến cố quốc gia chứ không dành cho biến cố cá nhân: cách mạng đối lập với tiến trình, sự lãnh đạo, đối kháng và hòa giải nhóm, và sự hiện diện hay thiếu vắng một tầm nhìn thống nhất.
Các biến cố quốc gia chọn hình thức cách mạng bạo lực (Chile năm 1973, Indonesia năm 1965) hay tiến trình hòa bình (nước Úc thời kỳ hậu chiến). Nhật Bản thời Minh Trị ở dạng trung gian, nhưng gần hơn với kết cục sau về tính liên tục. Chức vị shogun chấm dứt vào ngày 3 tháng 1 năm 1868 do một cuộc đảo chính hầu như không đổ máu. Một số nhân vật ủng hộ shogun, chứ không phải chính ông ta, phản kháng và cuối cùng bị đánh bại trong một cuộc nội chiến kéo dài một năm rưỡi. Nhưng cuộc nội chiến đó gây thương vong với tỉ lệ còn ít hơn cuộc đảo chính và phản đảo chính ở Indonesia năm 1965, đảo chính ở Chile năm 1973 và di chứng sau đó của nó, hay cuộc Nội chiến Phần Lan năm 1918.
Không có nhà lãnh đạo nào thống trị vào thời Minh Trị như Hitler, Pinochet và Suharto đặt dấu ấn cá nhân của họ lên nước Đức Quốc xã, Chile sau năm 1973 và Indonesia sau năm 1965, theo thứ tự tương ứng. Thay vào đó, vào bất kỳ thời điểm nào cũng có nhiều nhà lãnh đạo ở thời Minh Trị, đồng thời có một tiến trình chuyển tiếp từng bước một quyền lãnh đạo ở thập niên 1880. Tất cả các nhà lãnh đạo khác nhau đều có kinh nghiệm trực tiếp về phương Tây, và tất cả đều tận tâm với chiến lược cơ bản là tăng cường sức mạnh nước Nhật bằng cách áp dụng những hình mẫu nước ngoài một cách chọn lọc. Nhật hoàng vẫn chỉ là một biểu tượng đứng đầu nước Nhật chứ không phải là một nhà lãnh đạo thực sự.
Về đối kháng và hòa giải nhóm, giai đoạn 1853-1868 có những bất đồng về chiến lược nền tảng bên trong nước Nhật. Từ khoảng năm 1868 trở đi, khi chiến lược cơ bản được hình thành, vẫn có những bất đồng bình thường phát sinh ở bất kỳ vùng miền nào về những chính sách tác động đến chiến lược đó. Đến tận năm 1877, một số bất đồng này vẫn phải giải quyết bằng bạo lực: đặc biệt là giữa Mạc phủ và liên minh các lãnh địa Satsuma-Choshu đến tận năm 1869, giữa các chí sĩ và những người theo phái ôn hòa ở thập niên 1860, và giữa chính phủ thời Minh Trị với giới samurai bất mãn trong các cuộc nổi loạn của giới samurai. Mức độ bạo lực cũng vẫn khiêm nhường so với mức độ ở Chile và Indonesia. Sự hòa giải sau đó giữa các phe phái đối kháng về những bất đồng vẫn nhanh hơn so với ở Chile và còn nhanh hơn nữa so với ở Indonesia: một phần vì có ít tổn thất nhân mạng hơn; và một phần vì các nhà lãnh đạo chính quyền thời Minh Trị nỗ lực hơn và thể hiện khả năng tốt hơn trong việc hòa giải với những kẻ đối nghịch so với các lãnh đạo quân sự của Chile và Indonesia. Trong số các nước được đề cập trong cuốn sách này thì chỉ có Phần Lan sau cuộc nội chiến năm 1918 mới có thể cho một so sánh tương đương gần nhất với Nhật Bản thời Minh Trị trong việc loại bỏ di sản của các cuộc phản kháng bạo lực.
Các giải pháp xử lý của hầu hết biến cố quốc gia đòi hỏi nhiều thay đổi chính sách khác nhau, có thể thay đổi dần dần hoặc có thể tất cả đều là một phần của viễn cảnh thống nhất. Nhật Bản thời Minh Trị là nghiên cứu trường hợp tiếp cận gần nhất với đỉnh cao của viễn cảnh thống nhất. Phải nói là các lãnh đạo thời Minh Trị không đưa ra mọi thay đổi chính sách cùng lúc: họ biết rằng có một số vấn đề khẩn thiết hơn những vấn đề khác. Họ bắt đầu bằng việc tạo ra một quân đội Thiên hoàng, thực hiện cải cách thuế khóa và giải quyết một số vấn đề căng thẳng ở đầu thập niên 1870, nhưng không phát động chiến tranh chính thức ra hải ngoại cho đến năm 1894. Tuy nhiên, tất cả những chính sách này đều bắt nguồn từ một nguyên tắc dựa trên sự đồng thuận ở khởi điểm của Kỷ nguyên Minh Trị: sự cần thiết phải tăng cường sức mạnh của nước Nhật ở nhiều lĩnh vực khác nhau bằng cách học hỏi từ phương Tây một cách chọn lọc.
Do đó, Nhật Bản thời Minh Trị cho chúng ta một nghiên cứu trường hợp thứ hai rất tốt cho việc khám phá những vấn đề liên quan đến các biến cố quốc gia thông qua sự thay đổi có chọn lọc. Phần Lan (trường hợp thứ nhất) và Nhật Bản thời Minh Trị đều giống nhau về việc đối mặt với biến cố bùng nổ vào một ngày khi sự đe dọa quân sự từ bên ngoài vốn đã phát triển trong nhiều năm tháng đột nhiên trở thành hiện thực. Cả người Phần Lan và người Nhật đều có căn tính và giá trị cốt lõi quốc gia mạnh mẽ để phòng vệ bằng việc hi sinh mạng sống chống lại những thế lực vượt trội bên ngoài; người Nhật được thử nghiệm nó trong Thế chiến II chứ không phải ở Kỷ nguyên Minh Trị. Cả người Phần Lan và người Nhật thời Minh Trị đều trung thực và thực tế một cách khủng khiếp. Dù vậy, ở một số mặt khác thì họ lại ở hai đối cực khác nhau. Nhật Bản thời Minh Trị nhận được sự giúp đỡ từ nhiều quốc gia, ngay từ chính những quốc gia đã đe dọa họ; còn Phần Lan rõ ràng không nhận được sự giúp đỡ nào trong suốt Cuộc chiến Mùa đông. Nước Nhật giải quyết các vấn đề của mình bằng cách sử dụng nhiều hình mẫu, trong khi Phần Lan không thể áp dụng hình mẫu nào cả. Việc dân số đông, sức mạnh kinh tế, và khoảng cách địa lý cách xa kẻ thù cho phép nước Nhật có thời gian và không gian cần thiết để tiến đến ngang tầm về mặt quân sự với các quốc gia đe dọa họ; sự gần gũi về mặt địa lý và kích thước tương quan giữa Phần Lan và Nga đã loại trừ cơ hội đó của Phần Lan. Trong hai chương kế tiếp, chúng ta sẽ chuyển sang các nước cũng có biến cố đẩy lên đỉnh điểm một cách đột ngột như ở Phần Lan và Nhật Bản thời Minh Trị, nhưng sự bùng phát lại nằm ngay trong nội bộ.