Thư viện Online
  • Trang chủ
  • Sách mới cập nhật
  • Trang chủ
  • Sách mới cập nhật

Biến Động - Jared Diamond - Chương 2:

  1. Home
  2. Biến Động - Jared Diamond
  3. Chương 2: - Cuộc chiến ở Phần Lan
Prev
Next

Đi thăm Phần Lan – Ngôn ngữ – Phần Lan trước năm 1939 – Cuộc chiến Mùa đông – Cuộc chiến Mùa đông chấm dứt – Cuộc chiến Tiếp diễn – Sau năm 1945 – Đu dây – Phần Lan hóa – Khung biến cố

Phần Lan là một xứ sở có dân số 6 triệu người, thuộc bán đảo Scandinavia (Bắc Âu), giáp Thụy Điển ở phía tây và Nga ở phía đông. Ở thế kỷ trước Thế chiến I, đây là một phần lãnh thổ tự trị thuộc Nga chứ không phải là một quốc gia độc lập. Đất nước này nghèo khổ và không mấy ai quan tâm trong phạm vi châu Âu, và hầu như vô danh đối với bên ngoài châu Âu. Vào lúc khởi đầu Thế chiến II, Phần Lan đã là một nước độc lập nhưng vẫn còn nghèo đói, có một nền kinh tế chỉ tập trung vào nông nghiệp và lâm sản. Ngày nay, Phần Lan nổi tiếng trên khắp thế giới về công nghiệp, kỹ nghệ và trở thành một trong những nước giàu có nhất trên thế giới với thu nhập bình quân đầu người ngang với nước Đức và Thụy Điển. Sự yên ổn của nước này rõ ràng dựa trên một nghịch lý: đây là một thể chế dân chủ xã hội tự do mà trong nhiều thập niên vẫn duy trì một mối quan hệ tuyệt hảo và tin cậy với Liên bang Xô Viết trước đây và nước Nga hiện thời. Sự kết hợp các đặc trưng này tạo thành một ví dụ điển hình nổi bật cho việc thay đổi có chọn lọc.

Nếu bạn mới đến thăm Phần Lan lần đầu và muốn hiểu biết con người và lịch sử đất nước này, thì một nơi tốt đẹp để bắt đầu chính là Nghĩa trang Hietaniemi, nghĩa trang lớn nhất nằm ở thủ đô Helsinki. Không như Mỹ, chôn cất những người lính ở Nghĩa trang Quốc gia Arlington bên ngoài thủ đô Washington và ở các nghĩa trang cựu chiến binh rải rác khắp đất nước, Phần Lan không có những nghĩa trang quân đội như vậy; thay vào đó, những binh lính đã ngã xuống đều được đem về quê nhà chôn cất trong các nghĩa trang thường ở các thành phố hay trong giáo xứ. Một phần lớn của Nghĩa trang Hietaniemi dành cho binh lính tử trận ở Helsinki. Họ dựng một địa điểm vinh danh ở đó, nằm trên một con dốc cạnh phần mộ của các đời tổng thống và lãnh đạo chính trị của Phần Lan, và gần ngôi mộ của Thống chế Carl Gustaf Mannerheim (1867-1951).

Khi đến gần Nghĩa trang Hietaniemi, điều đầu tiên bạn để ý là mình không hiểu chút nào những biển giao thông và bảng thông báo (Ảnh 2.1). Ở hầu hết mọi nước châu Âu khác, ngay cả khi không biết ngôn ngữ nước đó, bạn cũng có thể nhận ra một số chữ, do hầu hết các ngôn ngữ châu Âu đều thuộc ngữ hệ Ấn-Âu, bao gồm tiếng Anh và mọi ngôn ngữ Ấn-Âu cùng chung nhiều ngữ căn. Ngay ở Lithuania, Ba Lan và Iceland bạn cũng có thể nhận biết một số từ trên biển giao thông hay bảng thông báo. Nhưng bạn hầu như không thể nhận biết được một chữ Phần Lan nào, vì tiếng Phần Lan là một trong những ngôn ngữ hiếm hoi ở châu Âu hoàn toàn không dính dáng gì đến ngữ hệ Ấn-Âu.

Điều kế tiếp gây ấn tượng cho bạn ở Nghĩa trang Hietaniemi là tính đơn giản và vẻ đẹp trong thiết kế. Phần Lan vốn nổi tiếng với nhiều kiến trúc sư và nhà trang trí giỏi, những người biết cách tạo hiệu ứng đẹp theo những cách đơn giản. Tôi còn nhớ trong chuyến viếng thăm Phần Lan đầu tiên, khi được mời vào phòng khách của một trong những ngôi nhà của chủ nhân, tôi lập tức nghĩ rằng: “Đây là căn phòng đẹp nhất mình từng thấy.” Rồi suy nghĩ kỹ, tôi hiểu lý do tại sao nó lại đẹp đẽ đến thế, vì đó chỉ là một căn phòng nhỏ hầu như trống không, chỉ có một ít đồ đạc bằng gỗ. Nhưng vật liệu và hình dạng căn phòng cùng số đồ gỗ là kiểu Phần Lan đặc trưng với vẻ đơn giản và duyên dáng.

Rồi bạn có thể sẽ ngạc nhiên bởi số lượng binh lính được chôn cất hay tưởng nhớ ở Hietaniemi. Tôi đếm có khoảng 3.000 bia mộ có tên những người lính được tìm thấy xác, sắp xếp từng hàng theo hình vòng cung. Bên ngoài phần nghĩa trang với những bia mộ có tên, người ta xây một bức tường cao khoảng hơn một mét, dài hơn trăm mét và chia thành 55 tấm bảng ghi tên các binh lính tử trận – tôi đếm được 715 tên – được đưa vào danh sách “mất tích,” vì không tìm thấy xác để đem về. Vẫn còn một tượng đài tập thể vô danh khác, không có cái tên nào khắc trên đó, để tưởng nhớ mọi binh lính chết trong tù. Nhưng tất cả những tử sĩ ở Hietaniemi đều chỉ xuất thân ở Helsinki; còn những nghĩa trang tương tự như thế dành cho tử sĩ nằm ở mọi thành phố và giáo phận ở Phần Lan. Bạn mới bắt đầu nhận ra được vô số binh lính Phần Lan đã ngã xuống trong chiến tranh.

Nếu đi dọc các mộ chí ở Hietaniemi, bạn sẽ lại ấn tượng với những dòng chữ khắc trên đó vì đa phần không đọc được chúng viết gì, vì chúng lại là tiếng Phần Lan. Nhưng hầu hết mộ chí ở mọi nơi, dù được viết bằng ngôn ngữ nào, đều ghi tên người chết, ngày sinh và nơi sinh, ngày chết và nơi chết. Hình mẫu này thì dễ nhận ra, ngay cả ở nghĩa trang Phần Lan đó. Bạn sẽ nhận thấy rằng mọi ngày chết đều từ năm 1939 đến năm 1944, trong giai đoạn Thế chiến II. Đa số binh lính tử trận đều sinh trong khoảng các thập niên 1920 và 1910, có nghĩa rằng hầu hết đều chết trong độ tuổi 20, cũng là điều dễ hiểu. Nhưng bạn sẽ ngạc nhiên khi thấy cũng có nhiều người lính chết ở độ tuổi 50 hoặc khi mới là thiếu niên. Chẳng hạn, bia mộ của Viktor Pahlsten ghi rằng ông ta sinh ngày 4 tháng 8 năm 1885 và chết ngày 15 tháng 8 năm 1941, 19 ngày sau lần sinh nhật thứ 56. Klara Lappalainen sinh ngày 30 tháng 7 năm 1888 và chết ngày 19 tháng 10 năm 1943 ở tuổi 55. Ở cực ngược lại, cậu học sinh Lauri Martti Hamalainen sinh ngày 22 tháng 7 năm 1929, tình nguyện ra trận và bị giết ngày 15 tháng 6 năm 1943, ở độ tuổi 13, còn thiếu năm tuần nữa thì đến sinh nhật lần thứ 14. Tại sao ngoài những người lính ở độ tuổi 20, đất nước Phần Lan lại trưng tập cả đàn ông và phụ nữ ở độ tuổi 50 và thiếu niên (Ảnh 2.2)?

Khi đọc ngày và nơi chết trên các mộ chí, bạn sẽ thấy những người lính này đều chết tập trung vào một vài khoảng thời gian và địa điểm. Số lượng người chết lớn nhất xảy ra từ cuối tháng 2 đến đầu tháng 3 năm 1940, rồi vào tháng 8 năm 1941, và lập lại vào tháng 6 và tháng 8 năm 1944. Nhiều địa danh ghi ở nơi chết như Viipuri hay một số địa điểm mà chỉ một người Phần Lan mới có thể xác định cho bạn, chẳng hạn, Syvari, Kannas, Ihantola. Điều này khiến bạn thắc mắc: điều gì khiến địa danh Viipuri quan trọng và đặc biệt, tại sao có quá nhiều người lính hi sinh ở đó chỉ trong một khoảng thời gian ngắn đến thế?

Lời giải thích: Viipuri trước đây từng là thành phố lớn thứ nhì ở Phần Lan cho đến khi được nhượng lại cho Liên Xô, cùng với 1/10 tổng diện tích đất đai Phần Lan, sau một cuộc chiến tranh tàn khốc vào mùa xuân 1939-1940, cộng thêm một cuộc chiến nữa giai đoạn 1941-1944. Vào tháng 10 năm 1939, Liên Xô yêu sách đất đai trên lãnh thổ bốn nước vùng Baltic: Phần Lan, Estonia, Latvia và Lithuania. Phần Lan là nước duy nhất từ chối yêu sách dù Liên Xô có một đội quân hùng hậu và dân số lại gấp 50 lần Phần Lan. Tuy vậy, người Phần Lan quyết tâm tiến hành một cuộc kháng chiến dữ dội để rồi vẫn giữ được độc lập, dù sự tồn sinh của đất nước họ vẫn đặt ra mối nghi ngờ trầm trọng do một chuỗi biến cố kéo dài một thập niên. Tổn thất nặng nề nhất họ phải gánh chịu nằm trong ba giai đoạn đỉnh điểm mà các bia mộ ghi lại, khi quân đội Xô Viết tiếp cận Viipuri từ tháng 2 đến tháng 3 năm 1940, rồi tiếp đó người Phần Lan chiếm lại Viipuri vào tháng 8 năm 1941, và cuối cùng là khi quân đội Liên Xô tiến chiếm lại Viipuri vào mùa hè năm 1944 (Ảnh 2.3 và 2.4).

Tổn thất của Phần Lan trong chiến tranh với Liên Xô là gần 100.000 nhân mạng, hầu hết là nam giới. Với người Mỹ, người Nhật và các nước châu Âu ngoại trừ Phần Lan, những người còn nhớ tổn thất gần như tức thì là 100.000 nhân mạng ở mỗi vụ dội bom xuống một thành phố (Hiroshima, Hamburg và Tokyo), Liên Xô và Trung Hoa mỗi nước gánh tổn thất khoảng 20 triệu nhân mạng trong Thế chiến II, thì 100.000 nhân mạng Phần Lan trong khoảng thời gian năm năm có vẻ khiêm tốn. Nhưng nó lại đại diện cho 2,5% tổng dân số Phần Lan 3.700.000 người thời đó và 5% nam giới. Tỉ lệ đó tính ra tương đương với 9.000.000 người Mỹ bị chết trong một cuộc chiến ngày nay: gần gấp 10 lần toàn bộ số người Mỹ chết trong tất cả các cuộc chiến tranh trong lịch sử 240 năm của nước này. Chuyến thăm gần nhất của tôi đến Nghĩa trang Hietaniemy là vào Chủ nhật, ngày 14 tháng 5 năm 2017. Tuy binh sĩ tử trận cuối cùng được tưởng niệm ở phần đất quân đội của nghĩa trang Hietaniemi đã từ hơn 70 năm trước (năm 1944), tôi vẫn thấy hoa tươi được đặt trên nhiều ngôi mộ và các gia đình đi lại quanh chúng. Tôi dừng lại bắt chuyện với một gia đình bốn người, người lớn tuổi nhất là một người đàn ông ở độ tuổi 40. Điều này có nghĩa rằng người lính đã ngã xuống nằm ở ngôi mộ mà gia đình đang thăm viếng không thể là bố mẹ mà chỉ có thể là ông bà của họ. Khi tôi bình luận với người đàn ông về những cuộc thăm viếng vẫn tiếp tục, sự tưởng nhớ và những bó hoa tươi, ông ta giải thích: “Mọi gia đình Phần Lan hồi đó đều có người thân bị mất nằm đây.”

Chuyến thăm Phần Lan lần đầu tiên của tôi là vào mùa hè năm 1959, chỉ mới 15 năm sau chiến tranh Phần Lan-Liên Xô, và cũng chỉ 4 năm sau ngày Liên Xô rút khỏi các căn cứ quân sự trên lãnh thổ Phần Lan nằm ở vùng ngoại thành Helsinki. Những chủ nhà của tôi đều là cựu binh, quả phụ hoặc thiếu niên trong giai đoạn chiến tranh này, ngoài ra còn có một người lính đang tại ngũ. Họ kể lại cho tôi những mẩu chuyện đời riêng và lịch sử gần đây của đất nước mình một cách chi tiết. Tôi học thứ tiếng Phần Lan tuyệt vời đủ để thoải mái đi đây đi đó ở xứ sở này, để cảm tạ ngôn ngữ này đã góp phần cho ý thức độc đáo của xứ sở Phần Lan và để thúc đẩy biến cố riêng của tôi, được mô tả ở chương trước. Với những độc giả chưa có dịp đến Phần Lan, một số đặc trưng của khung biến cố và thay đổi trong cuốn sách này để lưu giữ trong tâm trí khi các bạn đọc những thông tin dưới đây, gồm: sức mạnh và cội nguồn của căn tính quốc gia Phần Lan; đánh giá hiện thực chính xác của người Phần Lan về tình trạng địa chính trị của đất nước họ; sự kết hợp những thay đổi có chọn lọc tạo thay đổi nghịch lý mà tôi đã đề cập ở đoạn mở đầu; và việc Phần Lan thiếu tự do chọn lựa, thiếu sự giúp đỡ từ đồng minh ở những thời điểm quyết định, và thiếu những hình mẫu hiệu quả để áp dụng.

Phần Lan đồng nhất với bán đảo Scandinavia và được xem là một phần của bán đảo này. Nhiều người Phần Lan đều có tóc vàng mắt xanh cũng như người Thụy Điển và Na Uy. Về mặt di truyền học, người Phần Lan thực ra có đến 75% gốc Bắc Âu như người Thụy Điển và Na Uy, và chỉ 25% có nguồn gốc từ phía đông. Nhưng chính địa lý, ngôn ngữ và văn hóa lại khiến người Phần Lan khác biệt với những chủng tộc Bắc Âu khác, và họ lấy làm tự hào về những khác biệt đó. Về mặt địa lý, người Phần Lan mô tả đất nước này bằng những câu được nhắc đi nhắc lại: “Chúng tôi là một đất nước nhỏ bé,” và “Địa lý của đất nước chúng tôi sẽ không bao giờ thay đổi.” Ở câu sau, người Phần Lan có ý nói rằng biên giới giữa Phần Lan và Nga (hay với Liên Xô, tiền thân của nước Nga) hiện hữu còn lâu hơn biên giới của nó với bất kỳ quốc gia châu Âu nào khác. Quả thực Phần Lan là vùng đệm giữa Nga và phần còn lại của bán đảo Scandinavia.

Ngoài gần 100 ngôn ngữ bản địa ở châu Âu đều mang những thành tố liên hệ với ngữ hệ Ấn-Âu, có một ngôn ngữ riêng biệt ở vùng Basque và bốn ngôn ngữ khác. Bốn ngôn ngữ đó là tiếng Phần Lan, thứ tiếng quan hệ gần gũi với tiếng Estonia, cùng tiếng Hungary và ngôn ngữ Lapp (Saami)5 có quan hệ xa xôi, tất cả đều thuộc ngữ hệ Finno- Ugric. Tiếng Phần Lan là một ngôn ngữ đẹp đẽ và là điểm nhấn của niềm tự hào và căn tính của nước này. Trường ca Kalevala của Phần Lan thậm chí còn giữ một vị trí quan trọng đối với ý thức dân tộc hơn cả những vở kịch của Shakespare đối với những dân tộc nói tiếng Anh. Với người ngoài, tiếng Phần Lan không chỉ là một ngôn ngữ tuyệt mỹ với chất giọng như hát, mà còn là thứ ngôn ngữ rất khó học. Một điều gây khó khăn cho việc học ngôn ngữ này là từ vựng của nó, vì chữ Phần Lan không có ngữ căn Ấn-Âu tương tự, mà hầu hết từ vựng của nó phải học thuộc lòng từng từ một.

Những điều khác làm tiếng Phần Lan khó học là thanh điệu và ngữ pháp. Mẫu tự k rất phổ biến: trong 200 trang từ điển Phần Lan – Anh của tôi, có đến 31 trang dành cho các từ mở đầu bằng mẫu tự k. (Hãy thử thưởng thức những dòng thơ trong Kalevala: “Kullervo, Kalervon poika, sinisukka äijön lapsi, hivus keltainen, korea, kengän kauto kaunokainen”). Tôi không phiền hà gì với dạng sở hữu k’s, nhưng hỡi ơi, Tiếng Phần Lan, khác với tiếng Anh, lại có phụ âm đôi (như kk) phát âm khác với những phụ âm đơn (như k). Chính đặc trưng đó của việc phát âm tiếng Phần Lan khiến các chủ nhà của tôi ở đất nước này khó tiếp nhận khi tôi nói những câu ngắn bằng tiếng Phần Lan. Hậu quả của việc không phân biệt được phát âm của các phụ âm đơn và đôi có thể rất nghiêm trọng. Chẳng hạn, động từ tiếng Phần Lan “gặp” là “tapaa” với một phụ âm p, trong khi đó “giết” là “tappaa” với hai phụ âm p. Do vậy, nếu bạn đề nghị một người Phần Lan gặp mình nhưng lại nhầm lẫn dùng hai phụ âm p, bạn có thể kết thúc bằng cái chết.

Tiếng Phần Lan cũng có hình thái nguyên âm ngắn và nguyên âm dài. Chẳng hạn, từ “biên giới” tiếng Phần Lan là “raja” với một a trước ngắn, nhưng từ để chỉ chân hay tay lại là “raaja” với một a trước dài, và điều này khiến tôi bị hiểu nhầm khi đang gần ranh giới của một công viên quốc gia Phần Lan và nói lộn khi kéo dài mẫu tự a trước để cố nói về từ biên giới. Những nguyên âm Phần Lan này, a và o và u, xuất hiện ở hai hình thái, phát âm hoặc ở sau hoặc ở trước miệng, và viết lần lượt a và ä, o và ö, u và y. Trong phạm vi một từ đơn lẻ, cả ba nguyên âm đó phải là nguyên âm sau hoặc nguyên âm trước; đó là sự hòa hợp nguyên âm được quy định. Chẳng hạn, từ Phần Lan có nghĩa là “đêm” mà tôi thường dùng khi chúc ngủ ngon chỉ có các nguyên âm trước (“yötä”), trong khi từ có nghĩa “lòng sông” chỉ có những nguyên âm sau (“uoma”).

Nếu bạn thấy mơ hồ với bốn cách (case) của tiếng Đức hay sáu cách của tiếng Latin, bạn sẽ còn kinh hoàng hơn khi biết rằng tiếng Phần Lan có đến 15 cách, nhiều cách trong đó thay thế các giới từ trong tiếng Anh. Một trong những giờ khắc thú vị nhất trong lần thăm Phần Lan đầu tiên là khi tôi tiếp xúc với một người lính, không nói được tiếng Anh và chỉ nói chuyện với tôi bằng tiếng mẹ đẻ, đã dạy tôi sáu cách vị trí, tiếng Anh là locative case (thay thế các giới từ on, off, onto, in out of, into) bằng cách chỉ vào một cái bảng (“pöytä”) trên đó (“pöydällä”: hòa hợp nguyên âm) là một chiếc tách và trong đó (“pöydässä”) là một cái đinh, và bằng cách chuyển chiếc tách lên trên (“pöydälle”) và khỏi (“pöydältä”) cái bàn, rồi đóng cái đinh vào (“pöytään”) và ra khỏi (“pöydästä”) cái bàn.

Ở các cách khác, có hai cách làm người nước ngoài mơ hồ nhất là đối cách (accusative case) và định lượng cách (partitive case). Trong ngôn ngữ Latin và Đức, vốn thiếu định lượng cách, mọi tân ngữ trực tiếp đều được biểu đạt bằng đối cách: “I hit the ball” (Tôi đánh quả bóng) trong tiếng Anh là “ich schlage den Ball” ở tiếng Đức. Nhưng trong tiếng Phần Lan, bất cứ khi nào bạn dùng một tân ngữ trực tiếp, bạn phải cân nhắc xem động từ của bạn đang làm điều gì với toàn bộ tân ngữ (đòi hỏi một đối cách) hay chỉ một phần của tân ngữ (đòi hỏi một định lượng cách). Có thể việc bạn quyết định mình sẽ đánh toàn bộ trái bóng hay chỉ một phần trái bóng thì dễ dàng, nhưng sẽ khó quyết định hơn với việc nên dùng đối cách hay định lượng cách trong tiếng Phần Lan khi bạn sử dụng một danh từ trừu tượng. Chẳng hạn, nếu bạn có một ý tưởng, tiếng Phần Lan đòi hỏi bạn phải quyết định xem mình có toàn bộ hay chỉ một phần ý tưởng, vì điều đó mới xác định dùng đối cách hay định lượng cách là chính xác. Một trong những chủ nhà của tôi vào năm 1959 là một người Phần Lan gốc Thụy Điển, ngôn ngữ quê hương của ông là tiếng Thụy Điển, nhưng ông lại nói tiếng Phần Lan lưu loát. Tuy vậy, ông ta không thể kiếm được việc làm ở bất kỳ cơ quan chính quyền nào ở Phần Lan vì mọi việc làm trong chính quyền Phần Lan yêu cầu phải đỗ các kỳ thi tiếng Phần Lan và Thụy Điển. Người bạn của tôi nói rằng vào thập niên 1950, nếu bạn chỉ vướng một lỗi nhỏ khi lựa chọn giữa đối cách và định lượng cách, bạn sẽ bị đánh hỏng và không thể tìm được việc trong nhà nước.

Tất cả những đặc điểm đó góp phần làm tiếng Phần Lan khác biệt, tuyệt mỹ, trở thành một nguồn tự hào dân tộc, và hầu như chỉ người Phần Lan mới nói được. Tiếng Phần Lan đã tạo nên cốt lõi cho căn tính quốc gia của nước này, mà vì nó quá nhiều người Phần Lan sẵn sàng hi sinh trong cuộc chiến với Liên Xô.

Những điểm trọng yếu khác của căn tính quốc gia Phần Lan là các nhà soạn nhạc, kiến trúc sư, nhà thiết kế, và cả những vận động viên chạy đường dài. Nhà soạn nhạc Phần Lan Jean Sibelius được xem là một trong những nhà soạn nhạc vĩ đại nhất ở thế kỷ 20. Những kiến trúc sư và nhà thiết kế nội thất Phần Lan thì nổi tiếng khắp thế giới. (Các độc giả Mỹ sẽ nghĩ đến Gateway Arch ở Saint Louis, sân bay Dulles bên ngoài thủ đô Washington, Nhà ga sân bay TWA ở phi trường Kennedy, New York, tất cả đều được kiến trúc sư Eero Saarinen người gốc Phần Lan thiết kế). Sau Thế chiến I, khi nhiều quốc gia mới (kể cả Phần Lan) được khai sinh từ chiến thắng của phe Đồng minh, Phần Lan nổi bật lên vì Siberius và Paavo Nurmi, biệt danh Người Phần Lan Bay, vận động viên chạy đường dài lập kỷ lục nổi tiếng nhất. Ở Thế vận hội 1924, ông chiến thắng và lập kỷ lục Olympic ở cự ly 1.500 mét, rồi 5.000 mét chỉ sau đó một giờ; rồi tiếp tục chiến thắng ở cuộc đua băng đồng cự ly 10.000 mét sau đó hai ngày; tiếp đó ông lại giành vô địch ở cự ly 3.000 mét ngay ngày hôm sau. Ông giữ kỷ lục thế giới ở môn chạy cự ly trung bình (1.600 mét) trong 8 năm. Điều đó làm dấy lên câu nói rằng Nurmi và những vận động viên chạy bộ khác của Phần Lan “đã đưa Phần Lan vào bản đồ thế giới.” Tất cả những thành quả đó cũng đóng góp vào nhận thức của người Phần Lan về tính khác biệt, căn tính quốc gia và sự tự nguyện chiến đấu với Liên Xô bất chấp điều kiện chênh lệch rõ rệt.

Những người nói tiếng Phần Lan nguyên thủy đến đất nước này vào thời tiền sử, cách đây vài ngàn năm. Ở thời kỳ hữu sử, đó là sau khi những văn bản viết chi tiết về Phần Lan bắt đầu được ghi chép, khoảng năm 1100, thì Phần Lan là vùng đất bị Thụy Điển và Nga tranh giành. Phần Lan hầu như vẫn do Thụy Điển kiểm soát cho đến khi bị Nga thôn tính vào năm 1809. Trong gần suốt thế kỷ 19, các Sa hoàng nước Nga vẫn cho Phần Lan tự trị đa phần, nó vẫn có Quốc hội và nền hành chính riêng, đồng tiền riêng và không buộc phải sử dụng tiếng Nga. Nhưng sau khi Nicholas II trở thành Sa hoàng năm 1894 và cử một nhân vật xấu xa tên Bobrikov (bị một người Phần Lan ám sát năm 1904) làm thống đốc vùng đất này, thì sự thống trị của Nga mới trở nên hà khắc. Do đó, đến gần cuối Thế chiến I, khi cuộc cách mạng của những người Bolshevik nổ ra ở Nga cuối năm 1917, Phần Lan tuyên bố độc lập.

Kết quả này gây ra một cuộc Nội chiến Phần Lan đầy cay đắng, những người Phần Lan bảo thủ thuộc phe Trắng hay “Bạch vệ” gồm các đội quân được huấn luyện ở Đức và được hỗ trợ bởi những đội quân Đức đổ bộ vào Phần Lan, đánh lại những người Phần Lan cộng sản phe Đỏ hay “Hồng quân” và cả quân đội Nga đồn trú ở xứ sở này. Khi phe Trắng giành chiến thắng vào tháng 5 năm 1918, họ xử bắn khoảng 8.000 người phe Đỏ, và thêm khoảng 20.000 binh lính phe Đỏ chết vì đói khát và bệnh tật trong các trại tập trung. Nếu đem so sánh tỉ lệ phần trăm dân số quốc gia bị giết mỗi tháng, thì cuộc Nội chiến Phần Lan vẫn là cuộc nội chiến chết người nhiều nhất trên thế giới cho đến khi xảy ra cuộc diệt chủng ở Rwanda năm 1994. Điều này đúng ra có thể hủy hoại và làm phân rã một quốc gia mới mẻ – trừ việc đã có một cuộc hòa giải nhanh chóng, những người cánh tả nhận được đầy đủ các quyền lợi chính trị, và vào năm 1926, một nhân vật cánh tả đã trở thành thủ tướng Phần Lan. Nhưng những hồi ức về cuộc nội chiến đã khiến đất nước này thấm thía nỗi e ngại đối với nước Nga – với kết quả là thái độ sau đó của Phần Lan đối với Liên Xô.

Trong suốt hai thập niên 1920 và 1930, Phần Lan vẫn tiếp tục e ngại Nga, lúc đó được tái lập dưới tên Liên Xô. Về mặt ý thức hệ, hai quốc gia này trái ngược nhau: Phần Lan là một nước theo chế độ dân chủ tư bản tự do, còn Liên Xô là nước theo con đường cộng sản. Người Phần Lan vẫn còn nhớ sự áp bức dưới thời Sa hoàng cuối cùng. Họ sợ rằng Liên Xô sẽ tìm cách giành lại Phần Lan, chẳng hạn như hỗ trợ cho những người cộng sản Phần Lan lật đổ chính quyền. Họ quan tâm theo dõi sự cai trị của Stalin vào thập niên 1930. Mối quan tâm lớn nhất của Phần Lan chính là việc người Nga xây dựng những sân bay và tuyến đường sắt ở những khu vực dân cư thưa thớt nằm ở đường biên giới phía đông Phần Lan. Những tuyến đường sắt bao gồm các tuyến hướng về Phần Lan, chấm dứt ở giữa khu rừng chỉ cách biên giới một khoảng ngắn, không phục vụ cho mục đích cụ thể nào ngoại trừ tạo ưu thế cho việc xâm chiếm Phần Lan.

Vào thập niên 1930, Phần Lan bắt đầu gia tăng sức mạnh quân đội và quốc phòng dưới quyền của tướng Mannerheim, người đã dẫn dắt đội quân phe Trắng chiến thắng trong suốt cuộc nội chiến. Nhiều người Phần Lan tình nguyện làm việc suốt mùa hè năm 1939 để gia cố phòng tuyến chính của Phần Lan, gọi là Phòng tuyến Mannerheim, chạy ngang Eo đất Karelia, chia tách phần đông nam Phần Lan với Leningrad, thành phố gần Phần Lan nhất và lớn thứ nhì Liên Xô. Khi nước Đức tái vũ trang dưới thời Hitler và ngày càng gia tăng đối kháng vời Liên Xô, Phần Lan cố duy trì một chính sách đối ngoại dựa trên lập trường trung lập, phớt lờ Liên Xô và hi vọng rằng sẽ không có mối đe dọa nào cụ thể hóa theo hướng đó. Đến lượt Liên Xô vẫn nghi ngờ về nước láng giềng tư sản của mình vốn từng đánh bại phe cộng sản trong Nội chiến Phần Lan với sự trợ giúp của quân đội Đức.

Khi Phần Lan có những lý do mạnh mẽ về địa lý và chính trị để lưu tâm đến Liên Xô, thì Liên Xô cũng có lý do mạnh mẽ về địa lý và chính trị để lưu tâm đến Phần Lan. Trước Thế chiến II, biên giới giữa Phần Lan và Liên Xô chỉ trải dài 30 dặm phía bắc Leningrad (Hình 2). Quân đội Đức từng chiến đấu với cộng sản ở Phần Lan vào năm 1918; quân đội Anh và Pháp cũng từng tiến vào Vịnh Phần Lan để phong tỏa hay tấn công Leningrad (giờ là St. Petersburg) trong cuộc Chiến tranh Crimea ở thập niên 1850; và Pháp đã xây dựng một pháo đài lớn ở cảng Helsinki vào thập niên 1700 để sửa soạn cho một cuộc tấn công vào St. Petersburg. Vào cuối thập niên 1930, nỗi sợ hãi của Stalin đối với nước Đức thời Hitler ngày càng lớn dần với lý do hoàn toàn xác đáng. Những người Cộng sản và Quốc xã đều đưa ra những tuyên truyền độc hại về nhau. Hitler đã viết trong cuốn tự truyện Mein Kampf (Cuộc đấu tranh của tôi) về tầm nhìn hướng đông của nước Đức, có nghĩa là tiến nhập Liên Xô. Stalin quan sát nước Đức của Hitler sáp nhập nước Áo vào tháng 3 năm 1938, chiếm Tiệp Khắc vào tháng 3 năm 1939, và bắt đầu đe dọa Ba Lan. Pháp, Anh và Ba Lan phản bác các đề xuất hợp tác của Stalin trong việc phòng vệ Ba Lan đối phó với mối đe dọa ngày càng lớn của Đức.

Vào tháng 8 năm 1939, Phần Lan và phần còn lại của thế giới choáng váng khi biết rằng Hitler và Stalin đột nhiên ngưng cuộc chiến tranh tuyên truyền và ký Hiệp ước Bất tương xâm Đức-Nga, còn gọi là Hiệp ước Molotov-Ribbentrop. Người Phần Lan ngờ rằng hiệp ước này chính xác gồm cả những thỏa thuận bí mật phân chia phạm vi ảnh hưởng của hai nước này, với việc nước Đức thừa nhận Phần Lan thuộc về Liên Xô. Việc ký kết hiệp ước vừa xong thì xảy ra cuộc xâm lăng chớp nhoáng (blitzkrieg) của Đức vào Ba Lan, rồi sau đó chỉ trong vài tuần, quân đội Nga tiến đánh phần phía đông Ba Lan. Stalin hiểu rằng phải đẩy biên giới Liên Xô càng xa về phía tây càng tốt để chặn trước mối đe dọa ngày càng hiện rõ của Đức.

Vào tháng 10 năm 1939, Liên Xô vẫn còn sợ một cuộc tấn công bất ngờ nên vẫn muốn đẩy biên giới phía tây của mình càng xa hơn nữa về phía tây càng tốt. Với sự bảo đảm tạm thời của Hiệp ước Molotov- Ribbentrop, Liên Xô đưa ra tối hậu thư cho bốn nước láng giềng vùng Baltic: gọi là các nước cộng hòa Baltic gồm Lithuania, Latvia và Estonia, thêm Phần Lan. Liên Xô yêu sách đặt các căn cứ quân sự của nước này trên lãnh thổ các nước cộng hòa Baltic, thêm quyền được chuyển vận quân đội Liên Xô đến các căn cứ này. Mặc dù việc đóng quân của Liên Xô hiển nhiên khiến các nước cộng hòa này vô phương tự vệ, nhưng do các nước này quá nhỏ bé nên thấy rõ việc kháng cự là vô vọng đành chấp nhận các yêu sách của Liên Xô và không tránh được việc bị sáp nhập vào Liên Xô vào tháng 6 năm 1940. Được khuyến khích bởi thành quả này, vào đầu tháng 10 năm 1939 Liên Xô đưa ra hai yêu sách với Phần Lan. Yêu sách thứ nhất là biên giới Liên Xô-Phần Lan ở Eo đất Karelia phải lùi lại xa Leningrad để thành phố này không thể bị dội bom hay đánh chiếm nhanh chóng (chẳng hạn bởi quân Đức đồn trú ở Phần Lan như họ từng làm vào năm 1918). Trong khi không có nguy cơ Phần Lan tấn công Liên Xô, thì thực tế nước này vẫn sợ một cường quốc châu Âu tấn công Liên Xô qua cửa ngõ Phần Lan. Yêu sách thứ nhì là Phần Lan phải để Liên Xô thiết lập một căn cứ hải quân trên bờ biển phía nam Phần Lan gần thủ đô Helsinki, và nhượng lại một số đảo nhỏ trong Vịnh Phần Lan.

Các cuộc thương thảo giữa Phần Lan và Liên Xô tiếp diễn suốt hai tháng 11 và 12 năm 1939. Người Phần Lan muốn nhượng bộ một phần, nhưng hầu như không nhiều như những gì người Xô Viết muốn, ngay cả khi tướng Mannerheim của Phần Lan thuyết phục chính phủ nước mình nhượng bộ thêm vì ông biết sự yếu kém của quân đội Phần Lan và (trước đó từng là trung tướng trong quân đội Nga thời Sa hoàng) hiểu rõ những nguyên nhân địa lý đối với những yêu sách của Liên Xô theo quan điểm của họ. Nhưng người Phần Lan ở mọi thành phần phe phái chính trị – cánh tả và cánh hữu, phe Đỏ hay phe Trắng trong cuộc nội chiến – đều đồng lòng khước từ thỏa hiệp hơn nữa. Mọi đảng phái chính trị Phần Lan đều đồng ý với sự từ chối yêu sách của chính quyền, trong khi đó ở Anh vào tháng 7 năm 1940 đã có những chính trị gia hàng đầu muốn thỏa hiệp với Hitler để đổi lấy hòa bình.

Một nguyên nhân cho sự đồng lòng của người Phần Lan là nỗi e sợ rằng mục đích thực sự của bên kia là muốn chiếm toàn bộ đất nước. Họ sợ rằng việc đáp ứng những yêu sách cứ cho là còn khiêm tốn lúc đó có thể khiến họ không thể từ chối những yêu sách lớn hơn trong tương lai. Nếu Phần Lan từ bỏ vùng đất phòng thủ ở Eo đất Karelia thì Liên Xô sẽ dễ dàng xâm chiếm Phần Lan bằng đường bộ, đồng thời một căn cứ hải quân Liên Xô gần Helsinki thì lại dễ dàng dội bom thủ đô Phần Lan bằng đường bộ cũng như đường biển. Người Phần Lan đã rút được bài học từ số phận của Tiệp Khắc, năm 1938 chịu áp lực phải nhượng cho Đức phần đất biên giới Sudeten gồm cả tuyến phòng thủ mạnh nhất, để rồi không thể ngăn chặn cuộc chiến tranh tổng lực của Đức vào tháng 3 năm 1939. Lý do thứ hai cho sự không thỏa hiệp là tính toán sai lầm khi cho rằng Stalin chỉ mạnh miệng và có thể dàn xếp ít hơn những gì ông ta đòi hỏi. Tương tự như thế, Stalin cũng đánh giá sai và nghĩ rằng người Phần Lan cũng chỉ mạnh miệng. Stalin không thể hình dung một quốc gia nhỏ bé lại có thể điên khùng đến mức muốn chống lại một đất nước có dân số gấp gần 50 lần. Những kế hoạch chiến tranh của Liên Xô dự kiến sẽ chiếm Helsinki trong vòng chưa đầy hai tuần. Lý do thứ ba cho sự từ chối nhượng bộ thêm của người Phần Lan là họ tính toán sai lầm khi cho rằng các nước hữu nghị truyền thống với Phần Lan sẽ giúp bảo vệ đất nước này. Cuối cùng, một số nhà lãnh đạo chính trị đánh giá rằng quân đội Phần Lan có thể kháng cự lại một cuộc xâm lược của Liên Xô ít nhất cũng được sáu tháng dù Mannerheim đã cảnh báo rằng điều đó là bất khả thi.

Ngày 30 tháng 11 năm 1939, Liên Xô tấn công Phần Lan, tuyên bố rằng đạn pháo Phần Lan rơi trên phần đất của Liên Xô làm chết một số binh sĩ (sau này Khrushchev thừa nhận rằng những viên đạn pháo này là do đại bác của Liên Xô bắn theo lệnh một viên tướng muốn kích động chiến tranh). Trận chiến này sau đó được gọi là Cuộc chiến Mùa đông. Quân đội Liên Xô tấn công dọc theo toàn biên giới Phần Lan/ Liên Xô, trong khi máy bay thả bom xuống Helsinki và những thành phố khác. Thương vong của thường dân Phần Lan vào đêm đầu tiên bị dội bom ước tính khoảng 10% tổng số thương vong trong cuộc nội chiến trong suốt năm năm dài của Thế chiến II. Khi các đạo quân Liên Xô tràn sang biên giới Phần Lan và chiếm giữ ngôi làng gần nhất, Stalin lập tức công nhận một lãnh tụ cộng sản Phần Lan tên Kuusinen là người đứng đầu của cái gọi là chính quyền “dân chủ” Phần Lan để bào chữa rằng cuộc tấn công này không phải nhằm xâm lược Phần Lan mà chỉ nhằm bảo vệ “cái” chính quyền Phần Lan này. Việc dựng lên một chính quyền bù nhìn nhằm giúp thuyết phục những người Phần Lan còn nghi ngờ việc Stalin thật sự muốn thâu tóm đất nước của họ.

Vào thời điểm cuộc chiến nổ ra ngày 30 tháng 11 năm 1939, các chi tiết về mặt quân sự không tương xứng một cách phi lý như sau: Liên Xô có dân số 170 triệu so với 3.700.000 người Phần Lan. Liên Xô tấn công Phần Lan với “chỉ” bốn tập đoàn quân, tổng cộng 500.000 quân, và còn giữ nhiều tập đoàn quân khác làm dự phòng cho các mục đích quân sự khác. Trong khi đó, toàn bộ quân đội phòng thủ của Phần Lan chỉ có chín sư đoàn, tổng cộng 120.000 lính. Lực lượng hỗ trợ cho bộ binh Liên Xô gồm hàng ngàn xe tăng, máy bay chiến đấu và pháo binh tối tân; trong khi Phần Lan hầu như không có xe tăng, máy bay chiến đấu và pháo binh tối tân cũng như súng chống tăng và cao xạ. Điều tệ nhất là mặc dù quân đội Phần Lan có súng cá nhân và súng máy loại tốt nhưng số lượng đạn dược rất hạn chế, nên những người lính được lệnh phải tiết kiệm đạn dược, chỉ bắn khi quân Liên Xô tiến đến gần.

Tất cả những yếu tố chênh lệch đó khiến cơ hội đánh bại Liên Xô bằng không nếu Stalin quyết tâm chiến thắng. Thế giới đã chứng kiến Ba Lan, với dân số gấp 10 lần Phần Lan cùng khí tài quân sự tối tân hơn nhiều, đã bị đánh bại nhanh chóng như thế nào chỉ trong vòng vài tuần bởi những đạo quân Đức với quân số chỉ bằng một nửa các đạo quân Liên Xô. Vì thế, người Phần Lan không điên gì để hình dung ra việc họ có thể đạt được một chiến thắng về mặt quân sự. Thay vào đó, như một người bạn Phần Lan kể lại với tôi: “Mục đích của chúng tôi là làm cho chiến thắng của Nga càng chậm đến và gánh chịu tổn thất với giá đắt chừng nào càng tốt chừng đó.” Đặc biệt, mục đích của Phần Lan là kháng cự đủ lâu để chính quyền Phần Lan có thời gian cầu viện các nước đồng minh và để Stalin phải mệt mỏi vì tổn phí quân sự mà Liên Xô gánh chịu.

Liên Xô và phần còn lại của thế giới đã gặp phải bất ngờ lớn khi Phần Lan vẫn đứng vững. Kế hoạch quân sự của Liên Xô là tấn công Phần Lan suốt dọc chiều dài biên giới hai nước, kể cả tấn công thẳng vào Phòng tuyến Mannerheim bắc ngang Eo đất Karelia cùng nỗ lực “cắt ngang thắt lưng Phần Lan” bằng cách dồn sức mạnh vào khu vực nằm giữa Phần Lan ở điểm hẹp nhất của nước này. Để chống xe tăng Liên Xô tấn công Phòng tuyến Mannerheim, người Phần Lan bù đắp việc thiếu súng chống tăng bằng cách chế ra thứ vũ khí gọi là “cốc-tai Molotov,” đó là loại chai đổ vào hợp chất gồm xăng và các loại hóa chất khác để gây nổ, có tác dụng vô hiệu hóa xe tăng đối phương. Các chiến binh Phần Lan khác thì nằm trong hầm cá nhân chờ xe tăng chạy ngang qua rồi nhét một khúc gỗ vào bánh xích xe để bắt nó ngừng lại, trong khi những người lính gan dạ khác tiếp cận xe tăng bị bất động, đưa súng vào họng đại bác và lỗ quan sát, rồi bắn lính tăng Liên Xô ở bên trong. Bình thường thì tỉ lệ thương vong của những đội chống tăng này lên đến 70%.

Điều nhận được sự thán phục hơn cả của các quan sát viên thế giới về những người lính phòng thủ của Phần Lan là thành quả của họ trong việc tiêu diệt hai sư đoàn Liên Xô tấn công vào thắt lưng của Phần Lan. Quân Xô Viết hành tiến bằng cơ giới và xe tăng dọc theo một số con đường dẫn từ Liên Xô vào Phần Lan. Những nhóm nhỏ các chiến binh Phần Lan sử dụng ván trượt tuyết và khoác quân phục trắng để ngụy trang trên tuyết, di chuyển qua những cánh rừng không lối mòn, chia cắt đội hình quân địch thành từng đoạn rồi dứt điểm hết đoạn này sang đoạn khác (Ảnh 2.5). Một cựu binh đã kể lại cho tôi vào năm 1959 về các chiến thuật mà ông ta cùng đồng đội của mình áp dụng ở những trận đánh vào mùa đông đó. Vào ban đêm, lính Xô Viết dừng xe cơ giới thành một hàng dài dọc theo đường rừng hẹp chỉ chạy được một chiều rồi xúm quanh những đống lửa lớn để sưởi ấm (trong khi lính Phần Lan giữ ấm bằng bếp lò nhỏ trong lều vào ban đêm để bên ngoài khỏi nhìn thấy). Ông bạn của tôi cùng trung đội dùng ván trượt xuyên rừng, ngụy trang quân phục trắng, tiến đến phạm vi đúng tầm khai hỏa vào đội hình đoàn xe (Ảnh 2.6) rồi mang súng leo lên cây gần đó, chờ đến khi phát hiện các sĩ quan Xô Viết dưới ánh lửa, bắn chết các sĩ quan này rồi trượt tuyết đi, chỉ còn lại những binh sĩ Xô Viết kinh hoàng, mất tinh thần vì không còn người chỉ huy.

Tại sao quân đội Phần Lan lại chiếm ưu thế lâu dài trong việc bảo vệ đất nước chống lại quân đội Xô Viết với những ưu thế vượt trội về cả quân số lẫn khí tài? Một lý do chính là động cơ thúc đẩy: Binh sĩ Phần Lan hiểu rằng họ đang chiến đấu cho gia đình, đất nước và nền độc lập, và họ khát khao hi sinh cho các mục đích đó. Chẳng hạn, khi lực lượng quân đội Xô Viết đang hành tiến qua Vịnh Phần Lan băng giá chỉ được những nhóm nhỏ binh lính trên các hòn đảo trong vịnh bảo vệ, những người lính bảo vệ Phần Lan được báo rằng không còn phương tiện giải cứu: họ phải trụ lại trên các hòn đảo đó và cố giết càng nhiều lính Xô Viết càng tốt trước khi bị giết; và quả họ đã làm thế thật. Thứ hai, lính Phần Lan đã quen sống và trượt tuyết trong những khu rừng Phần Lan vào mùa đông, và họ cũng quen thuộc với địa hình nơi họ chiến đấu. Thứ ba, binh sĩ Phần Lan được trang bị binh phục, giày vớ, lều trại và súng ống phù hợp với cái lạnh mùa đông ở Phần Lan, nhưng binh lính Xô Viết thì không. Cuối cùng, quân đội Phần Lan, cũng giống như quân đội Do Thái ngày nay, rất hiệu quả trong việc xử lý và ứng biến nhanh chóng, do không theo nghi thức thông thường mà nhấn mạnh đến sự chủ động và đưa ra quyết định riêng của người lính thay vì tuân lệnh một cách mù quáng.

Nhưng những thành quả tạm thời và bền gan của quân đội Phần Lan chỉ để mua thêm thời gian. Khi băng tan vào mùa xuân, Liên Xô cuối cùng cũng tận dụng được sự vượt trội về quân số và khí tài để vượt qua Eo đất Karelia và Vịnh Phần Lan. Những hi vọng của Phần Lan bây giờ dựa vào việc tiếp nhận sự trợ giúp quân tình nguyện, quân dụng và các đơn vị quân đội từ các nước khác. Vậy điều gì đang diễn ra trên mặt trận ngoại giao này?

Việc cảm thông cho đất nước Phần Lan nhỏ bé dũng cảm chiến đấu chống quân Xô Viết đông đảo đã khiến 12.000 quân tình nguyện nước ngoài, hầu hết từ Thụy Điển, đến Phần Lan tham gia chiến đấu. Nhưng hầu hết những người tình nguyện này vẫn chưa hoàn tất huấn luyện quân sự vào thời điểm chiến tranh kết thúc. Một số quốc gia gửi khí tài quân sự đủ loại hạng. Chẳng hạn, một cựu binh Phần Lan kể cho tôi về những khẩu pháo cũ kỹ từ thời Thế chiến I được gửi đến từ Ý. Khi người pháo thủ bắn đi một viên đạn từ khẩu pháo, thì khẩu pháo giật hậu, do đó phải đặt nó trên một bệ đỡ vững chắc để bảo đảm an toàn. Mỗi khẩu pháo không những cần một pháo thủ ở ngay đó, mà còn có một người chỉ điểm ở một khoảng cách phía trước khẩu pháo để quan sát xem đạn rơi xuống ở đâu để điều chỉnh xạ trường cho phát bắn kế tiếp. Nhưng theo lời người bạn cựu binh của tôi, những khẩu pháo Ý cũ kỹ này được thiết kế giảm độ giật rất dở nên mỗi khẩu phải có đến hai người chỉ điểm: một là người chỉ điểm như lệ thường đứng trước khẩu pháo để điều chỉnh tầm pháo; thêm một người đằng sau khẩu pháo để xem nó rơi xuống đâu.

Trên thực tế, số ít các quốc gia mà Phần Lan có hi vọng nhận được sự giúp đỡ về quân đội và/hoặc được cung cấp trang bị là Thụy Điển, Đức, Anh, Pháp và Mỹ. Nhưng nước láng giềng Thụy Điển, dù gắn bó gần gũi với Phần Lan qua lịch sử và văn hóa đã chia sẻ lâu dài, lại từ chối gửi quân chi viện do sợ bị lôi kéo vào chiến tranh với Liên Xô. Trong khi nước đức tuy từng gửi quân hỗ trợ cho nền độc lập của Phần Lan và có những quan hệ về văn hóa và hữu nghị lâu dài với Phần Lan, nhưng Hitler lại không muốn phá vỡ Hiệp ước Molotov- Ribbentrop do giúp đỡ Phần Lan. Nước Mỹ thì lại quá xa, và Tổng thống Roosevelt vẫn bị trói buộc bởi những quy tắc trung lập, hậu quả từ những thập niên theo đuổi chính sách biệt lập của Mỹ.

Điều đó khiến chỉ còn Anh và Pháp là các nguồn trợ giúp hiện thực. Anh và Pháp cuối cùng cũng chấp nhận gửi quân. Nhưng cả hai đang có chiến tranh với Đức, và điều này là mối bận tâm hàng đầu của hai chính phủ Anh và Pháp, nên không thể để vấn đề nào can thiệp vào mục tiêu đó. Đức đang nhập nguồn quặng sắt từ nước Thụy Điển trung lập. Hầu hết quặng sắt được xuất từ Thụy Điển vận chuyển xuyên qua Na Uy bằng đường sắt đến cảng Narvik không bao giờ đóng băng của Na Uy, và từ đó được chở tới Đức. Điều cả Anh và Pháp thực sự mong muốn là giành quyền kiểm soát những mỏ sắt ở Thụy Điển và cắt đứt đường thủy từ Narvik. Họ đề nghị gửi quân ngang qua nước Na Uy và Thụy Điển trung lập để giúp Phần Lan chỉ là một cái cớ để đạt được những mục đích thực sự đó.

Vì thế, khi chính phủ Anh và Pháp đề nghị giúp Phần Lan với hàng chục ngàn quân viện, thì hóa ra hầu hết đội quân này sẽ đồn trú ở Narvik và dọc theo tuyến đường sắt Narvik, kể cả ở những mỏ sắt ở Thụy Điển. Chỉ một bộ phận nhỏ của đoàn quân này đến Phần Lan. Dĩ nhiên, ngay sự đồn trú đó cũng sẽ đòi hỏi phải có sự cho phép của chính phủ Na Uy và Thụy Điển, vốn vẫn còn là các nước trung lập, và họ đã không cho phép.

Vào tháng 1 năm 1940, cuối cùng Liên Xô cũng bắt đầu thấm thía những bài học về những tổn thất nhân mạng và thất bại quân sự khủng khiếp trong tháng 12. Stalin chối bỏ chính phủ bù nhìn Phần Lan mà ông ta đã dựng lên dưới sự dẫn dắt của lãnh tụ cộng sản Kuusinen. Điều đó có nghĩa rằng Stalin không còn khước từ thừa nhận chính phủ Phần Lan thực sự, vốn đã gửi người thăm dò việc thương thảo hòa bình. Quân đội Xô Viết ngừng những cố gắng lãng phí nhằm chia cắt Phần Lan ở thắt lưng, thay vào đó, họ dồn một đội quân lớn cùng tăng pháo ngay trên Eo đất Karelia, nơi địa hình trống trải thuận lợi cho họ. Binh sĩ Phần Lan đã liên tục chiến đấu ở các mặt trận trong suốt hai tháng và bắt đầu kiệt sức, trong khi đó Liên Xô lại có thể ném thêm vô số lực lượng dự phòng còn mới toanh vào mặt trận. Sau cùng, vào đầu tháng 2, Liên Xô mở cuộc tấn công trên toàn Phòng tuyến Mannerheim, buộc quân đội Phần Lan phải rút về phòng tuyến yếu ớt phía sau. Mặc dù các tướng lĩnh dưới quyền Mannerheim đề nghị ông triệt thoái xa hơn đến vị trí phòng thủ vững chắc khác, nhưng Mannerheim có quyết tâm sắt đá: dù quân đội bị thương vong nặng nề, ông vẫn từ chối rút lui sâu hơn vì biết rằng Phần Lan cần thiết phải giữ vững phần lãnh thổ của mình càng nhiều càng tốt vào thời điểm những cuộc thương thảo hòa bình vẫn đang diễn ra.

Vào cuối tháng 2 năm 1940, khi đội quân kiệt quệ của Phần Lan đang chuẩn bị đón chờ hòa bình, thì cả Anh và Pháp vẫn thuyết phục người Phần Lan tiếp tục chống đỡ. Thủ tướng Pháp Daladier khẩn cấp gọi điện báo rằng ông ta sẽ gửi cho Phần Lan 50.000 quân chi viện vào cuối tháng 3, cùng với 100 máy bay ném bom sẵn sàng cất cánh, và ông ta cam kết sẽ “thu xếp” chuyển quân theo đường bộ đi qua Na Uy và Thụy Điển. Điều này là nguyên nhân khiến người Phần Lan tiếp tục chiến đấu thêm một tuần nữa để có thêm vài ngàn binh lính tử trận.

Nhưng sau đó người Anh thừa nhận rằng đề nghị của Daladier chỉ là một trò lừa phỉnh dối trá, chẳng có những đội quân và máy bay nào sẵn sàng cả, và Na Uy cùng Thụy Điển vẫn khước từ mở đường cho đội quân đã hứa hẹn, và đề xuất của Pháp đưa ra chỉ để khai triển những mục đích riêng của phe Đồng minh và giữ thể diện cho Daladier. Sau đó, thủ tướng Phần Lan dẫn một phái đoàn đến Moscow để đàm phán hòa bình. Cùng lúc, Liên Xô vẫn duy trì áp lực quân sự lên Phần Lan bằng việc tiến quân đến Viipuri, thành phố lớn thứ nhì Phần Lan và cũng là thủ phủ của tỉnh Karelia. Trận chiến đó giải thích cho những bia mộ liệt sĩ có ghi “Viipuri, tháng 2 hay tháng 3 năm 1940” mà các bạn nhìn thấy trong nghĩa trang Hietaniemi.

Những điều kiện mà Liên Xô đòi hỏi vào tháng 3 năm 1940 còn khắc nghiệt hơn những điều kiện mà người Phần Lan từ chối vào tháng 10 năm 1939. Bây giờ họ yêu sách toàn bộ tỉnh Karelia cùng vùng đất xa hơn về phía bắc chạy dọc theo biên giới Phần Lan/Liên Xô, và cảng Hanko gần Helsinki làm căn cứ hải quân. Thay vì ở lại quê nhà dưới sự thống trị của Liên Xô, toàn bộ người dân ở Karelia, lên đến 10% dân số Phần Lan, đã chọn rời bỏ Karelia lùi về phần đất còn lại của Phần Lan. Ở đó, họ phải sống chen chúc trong những căn hộ chung cư hay ở nhờ nhà những người Phần Lan khác cho đến khi hầu hết được cấp nhà riêng vào năm 1945. Đây là một điều độc đáo so với những quốc gia châu Âu khác khi có sự dịch chuyển dân cư trong nước lớn lao đến vậy, Phần Lan không bao giờ sắp xếp cho những công dân phải di dời vào những trại tị nạn. Mười chín năm sau, những người chủ nhà nơi tôi lưu trú trong suốt chuyến viếng thăm Phần Lan vẫn còn nhớ sự căng thẳng lớn đến chừng nào trong việc tìm chỗ ở và hỗ trợ cho những người nhập cư từ Karelia.

Tại sao vào tháng 3 năm 1940, Stalin lại không ra lệnh cho quân đội Xô Viết tiếp tục tấn công và chiếm lấy toàn bộ Phần Lan? Một lý do là sức đề kháng dữ dội của người Phần Lan đã cho thấy một cuộc tiến công xa hơn cũng sẽ tiếp tục chậm chạp, gây tổn thất và tổn phí cho Liên Xô, mà giờ đây họ còn phải đối mặt với nhiều vấn đề lớn hơn – cụ thể là những vấn đề tái cơ cấu và tái trang bị quân đội để chuẩn bị cho một cuộc tấn công của quân Đức. Sự thể hiện nghèo nàn của quân đội Xô Viết to lớn khi gặp phải đội quân nhỏ bé của Phần Lan đã gây bối rối cho Liên Xô: cứ khoảng tám người lính Xô Viết bị giết thì chỉ có một lính Phần Lan tử trận. Cuộc chiến với Phần Lan tiếp diễn càng lâu dài thì nguy cơ can thiệp của Anh và Pháp càng cao, có thể lôi kéo Liên Xô vào một cuộc chiến tranh với các nước này và mời gọi người Anh và người Pháp tấn công vào những giếng dầu ở vùng Caucasus. Một số tác giả kết luận các điều khoản hòa bình vào tháng 3 năm 1940 khắc nghiệt đó chỉ ra rằng người Phần Lan đáng ra nên chấp nhận những điều khoản dễ chịu hơn do Stalin yêu sách vào tháng 10 năm 1939. Nhưng những hồ sơ lưu trữ của Nga được giải mật vào thập niên 1990 đã khẳng định sự nghi ngờ của người Phần Lan thời chiến tranh là đúng: Liên Xô sẽ tận dụng cơ hội của việc giành được đất đai một cách êm thấm và hậu quả của việc phòng tuyến của Phần Lan bị chọc thủng vào tháng 10 năm 1939 để đạt mục đích thâu tóm toàn bộ Phần Lan, như đã làm với ba nước Cộng hòa vùng Baltic năm 1940. Chính cuộc kháng cự quyết liệt và quyết tâm hi sinh của người Phần Lan cùng với sự chậm chạp và tổn phí chiến tranh khiến Liên Xô không cố chinh phục tất cả đất nước này vào tháng 3 năm 1940.

Sau cuộc đình chiến vào tháng 3 năm 1940, Liên Xô tái cơ cấu quân đội và thôn tính ba nước Cộng hòa vùng Baltic. Đức chiếm đóng Na Uy và Đan Mạch vào tháng 4 năm 1940 rồi đánh bại Pháp vào tháng 6 cùng năm, nên Phần Lan lúc đó bị cắt đứt mọi sự giúp đỡ có thể từ bên ngoài – ngoại trừ từ nước Đức. Phần Lan tái xây dựng quân đội của mình, đặc biệt với trang bị của Đức.

Hitler quyết định tấn công Liên Xô vào năm sau đó (1941). Không sớm thì muộn, các nhà hoạch định quân sự của Đức cũng sẽ bàn thảo với đồng sự Phần Lan về những chiến dịch hợp tác chống Liên Xô “theo giả thuyết.” Nhưng do Phần Lan lại không ưa gì Hitler và chủ nghĩa Quốc xã, nên họ hiểu một sự thật tàn nhẫn là họ không thể tránh được việc chọn phe cũng như không thể giữ được sự trung lập trong cuộc chiến giữa Đức và Liên Xô: nếu không, một trong hai nước sẽ tìm cách chiếm đóng Phần Lan. Kinh nghiệm cay đắng về việc phải đơn độc chiến đấu với Liên Xô trong Cuộc chiến Mùa đông khiến viễn cảnh lập lại kinh nghiệm đó còn tồi tệ hơn việc lựa chọn một đồng minh thủ đoạn như Đức Quốc xã – câu “ít kinh khủng hơn trong số những phương án tồi tệ” được trích dẫn từ cuốn tiểu sử về Mannerheim của tác giả Steven Zaloga. Sự thể hiện nghèo nàn của quân đội Xô Viết trong Cuộc chiến Mùa đông đã thuyết phục mọi giới quan sát – không chỉ ở Phần Lan mà còn ở Đức, Anh và Mỹ – rằng một cuộc chiến nổ ra giữa Đức và Liên Xô sẽ kết thúc bằng chiến thắng của Đức. Và cũng là điều bình thường khi người Phần Lan muốn lấy lại tỉnh Karelia đã mất. Quả nhiên, vào ngày 21 tháng 6 năm 1941, Đức tấn công Liên Xô. Phần Lan tuyên bố rằng họ đứng trung lập, nhưng ngày 25 tháng 6 phi cơ Liên Xô dội bom xuống các thành phố Phần Lan, tạo cớ cho chính phủ Phần Lan một lần nữa tuyên bố chiến tranh với Liên Xô vào ngay đêm đó.

Cuộc chiến tranh thứ hai chống Liên Xô, sau Cuộc chiến Mùa đông đầu tiên, được gọi là Cuộc chiến Tiếp diễn. Lần này, Phần Lan động viên một phần sáu dân số tham gia hoặc làm việc trực tiếp cho quân đội: một tỉ lệ lớn nhất so với bất kỳ nước nào trong Thế chiến II. Điều đó như thể nước Mỹ ngày nay sửa đổi luật động viên để xây dựng một đội quân trên 50 triệu người. Số phục vụ trực tiếp trong quân đội là nam giới tuổi từ 16 đến đầu 50, cộng thêm số phụ nữ phục vụ gần tiền tuyến. Tất cả người Phần Lan không phục vụ trong quân đội, nam lẫn nữ và ở độ tuổi từ 15 đến 64, phải làm việc trong các bộ phận công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp phục vụ chiến tranh hoặc ở các bộ phận cần thiết khác trong quốc phòng. Thiếu niên thì làm việc trên đồng ruộng, trong xưởng cưa hay tham gia các đội phòng không.

Do sợ quân đội Xô Viết chiếm trước để ngăn chặn cuộc tấn công của Đức, Phần Lan nhanh chóng chiếm giữ phần đất Karelia thuộc Phần Lan và còn (gây nhiều tranh cãi hơn) vượt qua biên giới trước đó để tiến vào vùng đất Karelia thuộc Liên Xô. Nhưng các mục tiêu của Phần Lan trong cuộc chiến này vẫn giữ giới hạn, và người Phần Lan không coi mình là “đồng minh” mà chỉ là “bên cùng tham chiến” với Đức Quốc xã. Đặc biệt, Phần Lan cứng rắn từ chối những yêu cầu của Đức cho hai việc: gom người Do Thái ở Phần Lan (dù Phần Lan có giao một số nhỏ người Do Thái không có quốc tịch Phần Lan cho Gestapo); và tấn công Leningrad từ mặt bắc trong khi Đức tấn công thành phố này ở mặt nam. Sự từ chối sau đã cứu Leningrad, giúp thành phố này đứng vững trong cuộc phong tỏa kéo dài của Đức, và đóng góp vào quyết định sau này của Stalin là không cần thiết để xâm lấn Phần Lan quá vùng Karelia (xem phần dưới).

Tuy nhiên, điều hiển nhiên là Phần Lan vẫn sát cánh với Đức Quốc xã. Đối với những người ngoài cuộc không hiểu tình trạng của Phần Lan thì họ không phân biệt hai từ “đồng minh” và “các bên cùng tham chiến” và xem chúng như nhau. Khi lớn lên ở nước Mỹ trong giai đoạn Thế chiến II, tôi chỉ nghĩ Phần Lan là nước thứ tư trong phe Trục, cùng với Đức, Ý và Nhật. Dưới áp lực của Stalin, Anh tuyên chiến với Phần Lan. Nhưng hành động duy nhất của Anh là cho máy bay dội bom xuống thành phố Turku của Phần Lan một lần duy nhất, nhưng các phi công Anh cố tình thả bom ở ngoài khơi thay vì vào mục tiêu đã định.

Sau đầu tháng 12 năm 1941, quân đội Phần Lan ngừng tiến quân, và Cuộc chiến Tiếp diễn giữa Liên Xô và Phần Lan không xảy ra biến động quân sự gì trong gần ba năm. Một mặt, Phần Lan không có mục đích nào khác ngoài việc chiếm lại vùng Karelia. Mặt khác, quân đội Xô Viết quá bận đối phó với binh lực của Đức nên không thể chia quân đánh Phần Lan. Cuối cùng, sau khi Liên Xô đạt được tiến triển khi đẩy lùi các binh đoàn Đức ra khỏi đất nước mới cảm thấy có thể chuyển hướng sự chú ý sang Phần Lan, vào tháng 6 năm 1944, họ tung ra một cuộc tổng tấn công vào Eo đất Karelia. Các đạo quân Xô Viết nhanh chóng phá vỡ Phòng tuyến Mannerheim, nhưng (cũng như vào tháng 2 năm 1941) người Phần Lan thành công trong việc củng cố mặt trận. Đà tiến của quân đội Liên Xô chững lại, một phần vì Stalin đặt ưu tiên cao hơn cho quân đội của mình từ phía đông phải tiến vào Berlin trước quân Mỹ và quân Anh đang tiến đến từ phía tây; và một phần cũng do những tình huống tiến thoái lưỡng nan mà Liên Xô từng phải đối mặt trong Cuộc chiến Mùa đông: để chiến thắng cuộc kháng chiến của Phần Lan với cuộc chiến du kích trong rừng một lần nữa, tổn thất dự kiến phải cao, và còn phải tính toán xem phải làm gì với Phần Lan nếu Liên Xô có chinh phục thắng lợi đi nữa. Vì vậy, năm 1944 cũng như ở năm 1941, cuộc kháng chiến của Phần Lan đã đạt được mục tiêu hiện thực như người bạn Phần Lan của tôi bày tỏ: dù không đánh bại được Liên Xô, nhưng làm cho những chiến thắng của quân đội Xô Viết phải trả giá quá cao, đến một cách chậm chạp và chịu nhiều tổn thất. Kết quả là Phần Lan trở thành quốc gia châu Âu đại lục duy nhất chiến đấu trong Thế chiến II tránh được sự chiếm đóng của kẻ thù.

Vào tháng 7 năm 1944, khi mặt trận được tái củng cố, các nhà lãnh đạo Phần Lan lại bay đến Moscow để tìm kiếm hòa bình và ký một hiệp định mới. Lần này, những yêu sách về đất đai của Liên Xô hầu như cũng chẳng khác gì những yêu sách vào năm 1941. Liên Xô vốn đã chiếm lại phần đất tỉnh Karelia thuộc Phần Lan và một căn cứ hải quân ở bờ biển phía nam Phần Lan. Phần lãnh thổ được thêm chỉ là sáp nhập cảng và các mỏ nickel ở Bắc Băng Dương. Phần Lan đồng ý buộc 200.000 quân Đức trú đóng ở phía bắc nước này phải rời đi để tránh phải để quân đội Xô Viết tiến vào Phần Lan làm việc đó. Việc “mời” quân Đức ra khỏi đất nước phải mất nhiều tháng, và trong quá trình quân Đức triệt thoái, họ đã tàn phá hầu như mọi thứ có giá trị trên toàn tỉnh Lapland của Phần Lan. Khi tôi đến Phần Lan năm 1959, những người chủ nhà vẫn còn cay cú về việc người bạn đồng minh Đức một thời đã dựa dẫm Phần Lan nhưng rồi lại tàn phá Lapland.

Tổng thiệt hại của Phần Lan từ việc đối đầu với Liên Xô và người Đức trong hai cuộc chiến, Cuộc chiến Mùa Đông và Cuộc chiến Tiếp diễn, vào khoảng 100.000 nhân mạng. Nếu tính trên tỉ lệ dân số Phần Lan hồi đó, thì tổn thất này ngang bằng 9.000.000 người lính Mỹ bị giết trong một trận chiến ngày nay. Khoảng 94.000 người Phần Lan bị què quặt, 30.000 phụ nữ trở thành góa phụ, 55.000 trẻ em bị mồ côi, và 615.000 người bị mất quê hương nhà cửa. Điều này so ra thì bằng một cuộc chiến giả định khiến 8 triệu người Mỹ bị tàn phế, 2,5 triệu phụ nữ Mỹ trở thành góa phụ, nửa triệu trẻ em Mỹ bị mồ côi và 50 triệu người mất nhà cửa. Thêm vào đó, ở một trong những cuộc sơ tán lớn nhất trong lịch sử, 80.000 trẻ em Phần Lan phải sơ tán (chủ yếu đến Thụy Điển), với những hậu quả bị sang chấn tâm lý dai dẳng, kéo dài đến tận thế hệ sau (Ảnh 2.7). Ngày nay, con gái của những người mẹ từng phải sơ tán khi còn nhỏ có khả năng nhập viện để điều trị bệnh tâm lý có số lượng gấp đôi những người chị em họ có mẹ không phải đi sơ tán. Tổn thất chiến tranh của Liên Xô còn nặng nề hơn, chết khoảng nửa triệu lính và 1/4 triệu bị thương. Số lượng bị chết này bao gồm 5.000 binh sĩ Xô Viết bị bắt làm tù binh và được hồi hương sau khi đình chiến, rồi bị xử bắn ngay vì tội đầu hàng.

Hiệp ước đình chiến yêu cầu Phần Lan “phải cộng tác với các nước Đồng minh trong việc bắt giữ những kẻ bị kết án gây tội ác chiến tranh.” Phe Đồng minh diễn giải “tội phạm chiến tranh người Phần Lan” là: giới lãnh đạo chính quyền Phần Lan trong cuộc chiến tranh Phần Lan chống lại Liên Xô. Nếu Phần Lan không truy tố những người này, thì Liên Xô sẽ làm và áp đặt những bản án nặng nề, thậm chí là án tử hình. Vì thế, Phần Lan buộc phải làm một điều bị coi là nhục nhã: nước này thông qua một đạo luật có hiệu lực hồi tố, tuyên bố các lãnh đạo chính quyền là bất hợp pháp khi bảo vệ Phần Lan bằng việc theo đuổi những chính sách hợp pháp và được ủng hộ rộng rãi theo luật Phần Lan vào thời điểm các chính sách đó được áp dụng. Tòa án Phần Lan kết án tù các lãnh đạo chính quyền thời chiến, gồm Tổng thống Ryti, hai Thủ tướng Rangell và Linkomies, bộ trưởng ngoại giao và bốn bộ trưởng khác, thêm đại sứ Phần Lan ở Berlin. Sau khi chịu án tù ở các nhà tù Phần Lan đặc biệt đầy đủ tiện nghi, hầu hết những người này đều được bầu và bổ nhiệm lại vào những chức vụ cao.

Hiệp ước hòa bình yêu cầu Phần Lan phải trả một khoản bồi thường chiến phí cao cho Liên Xô: 300 triệu đô la, trả trong 6 năm. Ngay cả sau khi Liên Xô nới thời hạn thành 8 năm và giảm khoản bồi thường xuống còn 226 triệu đô la, thì đó vẫn là một gánh nặng cho nền kinh tế nhỏ lẻ và chưa công nghiệp hóa của Phần Lan. Dù vậy, điều ngược đời là chính khoản bồi thường chiến phí này lại trở thành một động lực kinh tế để buộc Phần Lan phát triển các nền công nghiệp nặng, như đóng tàu và thành lập các nhà máy dành cho hàng xuất khẩu. (Những sự bồi thường này là minh họa cho từ nguyên chữ Hán “wei-ji,” nghĩa là “nguy cơ” gồm hai ký tự “nguy” trong “hiểm nguy” và “cơ” trong “cơ hội.”) Việc công nghiệp hóa đóng góp vào sự phát triển của Phần Lan thời hậu chiến, đến mức đây đã trở thành một nước công nghiệp hiện đại (và bây giờ là một nước công nghệ cao) thay vì (như trước đây) là một nước nông nghiệp nghèo nàn.

Cộng thêm với việc bồi thường chiến phí, Phần Lan còn phải chấp nhận tăng cường mậu dịch với Liên Xô, lên đến 20% toàn bộ giao thương của Phần Lan. Đặc biệt, Phần Lan nhập khẩu dầu từ Liên Xô. Điều này là một ưu thế vì Phần Lan không bị lệ thuộc vào nguồn cung cấp dầu ở Trung Đông như những nước phương Tây còn lại. Nhưng đó là một phần của thỏa thuận, Phần Lan cũng phải nhập khẩu những mặt hàng sản xuất của Liên Xô, như đầu máy xe lửa, nhà máy điện hạt nhân và xe hơi, vốn có thể mua từ phương Tây với giá rẻ hơn và chất lượng cao hơn. Người Phần Lan đối mặt với nỗi thất vọng của mình bằng những mẩu chuyện bi hài như đã làm với những khẩu pháo cổ lỗ của Ý mà tôi đã đề cập trước đó. Chẳng hạn, lúc tôi đến đó năm 1959, nhiều người Phần Lan sử dụng kiểu xe hơi Moskvich của Liên Xô, vốn thường hay hỏng hóc. Hồi đó, nhiều loại xe hơi châu Âu và Mỹ đều có cửa trời: những ô cửa trượt dùng để mở trần xe cho ánh nắng rọi vào khi thời tiết tốt. Trong một chuyện đùa phổ biến ở Phần Lan, những mẫu xe Moskvich chẳng những sắp có cửa trời mà còn một sàn trời nữa: một ô cửa trượt khác, sẽ nằm trong sàn xe. Câu hỏi đặt ra: Vậy ưu thế của việc có một sàn trời không thể cho ánh nắng rọi vào là gì? Trả lời: bất cứ khi nào chiếc Moskvich của bạn chết máy, mà điều này lại thường xảy ra, bạn có thể đưa chân xuống phần mở ra của sàn trời, đứng trên mặt đất bên trong chiếc Moskvich, rồi đẩy nó đi!

Người Phần Lan xem giai đoạn 1945-1948 là “những năm hiểm nguy.” Hồi tưởng lại, chúng ta biết rằng Phần Lan đã sống sót, nhưng suốt những năm đó cái kết hạnh phúc có vẻ vẫn chưa chắc chắn. Vấn đề trước mắt chính là sự nắm quyền của phe được Liên Xô hỗ trợ. Đảng Cộng sản Phần Lan và liên minh chiếm 1/4 số ghế ở Quốc hội trong các cuộc bầu cử tự do vào tháng 3 năm 1945, và họ nỗ lực giành lấy lực lượng cảnh sát. Liên Xô đã tiếp quản Đông Đức, đang trong tiến trình thiết kế việc tiếp quản bốn nước Đông Âu (Ba Lan, Hungary, Bulgaria và Romania). Liệu Phần Lan có phải là quốc gia kế tiếp? Phí tổn bồi thường chiến tranh cho Liên Xô vẫn là một gánh nặng oằn vai đối với nền kinh tế phần lớn phụ thuộc vào nông nghiệp, chưa công nghiệp hóa của đất nước Phần Lan. Chiến tranh đã phá hủy cơ cấu hạ tầng đất nước này: nông trại bỏ hoang, cơ xưởng sản xuất rơi vào tình trạng cũ nát, 2/3 đội thương thuyền Phần Lan bị phá hủy, xe vận tải thì bệ rạc không có phụ tùng thay thế, và giảm việc đốt gỗ làm than thay bằng nguồn dầu. Hàng trăm ngàn người dân vùng Karelia phải di dời, những người Phần Lan què cụt, trẻ mồ côi, góa phụ cần nhà cửa, tiền bạc và trợ giúp tinh thần từ những gia đình còn nguyên vẹn và khỏe mạnh. Hàng chục nghìn trẻ em đi sơ tán ở Thụy Điển trở về, mang theo hội chứng sang chấn tâm lý, quên tiếng mẹ đẻ, và hầu như quên luôn cả cha mẹ trong thời gian biệt xứ.

Vào những năm hiểm nguy đó, Phần Lan đã vạch ra một chính sách hậu chiến mới để ngăn chặn sự tiếp quản của Liên Xô. Chính sách đó được biết dưới tên gọi đường lối Paasikivi-Kekkonen, theo tên của hai tổng thống Phần Lan đã đặt ra, diễn đạt và thực thi nghiêm túc đường lối này trong suốt 35 năm (Juho Paasikivi 1946-1956; Urho Kekkonen 1956-1981). Đường lối Paasikivi-Kekkonen ngược lại với chính sách đầy thảm họa của Phần Lan ở thập niên 1930 khi lờ đi nước Nga. Paasikivi và Kekkonen đã biết học hỏi từ những sai lầm này. Với họ, những sự thật đau thương thiết yếu của Phần Lan là đất nước này nhỏ bé và yếu ớt; họ không thể kỳ vọng sự giúp đỡ nào từ đồng minh phương Tây; họ phải hiểu điều đó và luôn luôn ghi khắc quan điểm của Liên Xô; họ phải đối thoại thường xuyên với các quan chức chính phủ nước này ở mọi cấp, từ cao xuống thấp; và họ phải chiếm được và duy trì lòng tin của Liên Xô bằng cách chứng minh Phần Lan sẽ giữ lời và hoàn thành các thỏa thuận. Việc duy trì được sự tin tưởng của Liên Xô đòi hỏi phải hạ mình bằng cách hi sinh một số độc lập về kinh tế và một số tự do biểu đạt mà các chế độ dân chủ được bảo vệ mạnh mẽ xem là những quyền bất khả xâm phạm.

Cả Paasikivi và Kekkonen đều biết rõ Liên Xô và người dân ở đất nước này – Paasikivi thì từ những thương thảo với Liên Xô vào tháng 10 năm 1939, tháng 3 năm 1940 và tháng 9 năm 1944, đồng thời là đại sứ Phần Lan ở Moscow. Ông kết luận rằng động cơ thúc đẩy Stalin về mối quan hệ của ông ta đối với Phần Lan không phải là ý thức hệ mà chỉ là chiến lược và địa chính trị: đó là vấn đề quân sự trong việc bảo vệ thành phố lớn thứ hai Liên Xô (Leningrad/St. Petersburg) ngăn chặn những cuộc tấn công xa hơn qua ngả Phần Lan hay Vịnh Phần Lan từng xảy ra trong quá khứ. Và Phần Lan sẽ không bao giờ được an toàn nếu Liên Xô cảm thấy không an toàn. Rõ ràng hơn, mâu thuẫn ở bất kỳ nơi nào trên thế giới cũng đều khiến Liên Xô khó chịu và dễ gây hấn với Phần Lan, do đó Phần Lan phải năng động trong việc gìn giữ hòa bình thế giới. Paasikivi, rồi đến Kekkonen, đều rất thành công trong việc phát triển một mối quan hệ tin cậy với Stalin, rồi với Khrushchev và Brezhnev đến nỗi khi Stalin có lần được hỏi tại sao ông ta lại không thử đưa đảng Cộng sản lên nắm quyền lực ở Phần Lan như đã làm ở các nước Đông Âu khác, ông ta trả lời: “Khi tôi đã có Paasikivi thì có còn cần đến đảng Cộng sản Phần Lan nữa không?”

Dưới đây là giải thích của Tổng thống Kekkonen về chính sách của ông và của Paasikivi trong cuốn tự truyện về sự nghiệp chính trị của mình: “Nhiệm vụ cơ bản của chính sách đối ngoại Phần Lan là hòa hợp sự tồn tại của dân tộc với những mối quan tâm thống trị môi trường địa chính trị của Phần Lan… [chính sách đối ngoại của Phần Lan là] ngoại giao ngăn ngừa. Nhiệm vụ của nền ngoại giao này là cảm nhận được mối nguy đang đến trước khi nó quá gần và đưa ra những giải pháp để tránh được mối nguy này – tốt hơn là theo cách thức càng ít báo trước rằng nó đã được thực hiện càng tốt… Đặc biệt đối với một nước nhỏ không nuôi dưỡng những ảo tưởng rằng lập trường mà họ chọn lựa có thể làm thay đổi cục diện theo hướng này hay hướng khác, để có thể chọn được đúng thời điểm hình thành một khái niệm chính xác về sức mạnh của những yếu tố mà thành phần quân sự và chính trị dựa vào… Một quốc gia chỉ nên dựa vào chính bản thân mình. Những năm chiến tranh đã dạy chúng ta một bài học đắt giá trong lĩnh vực này… Kinh nghiệm cũng dạy chúng ta rằng một quốc gia nhỏ bé hoàn toàn và đơn giản không thể nuôi dưỡng những cảm xúc – dù là thiện cảm hay ác cảm – lấn át trong các giải pháp về chính sách đối ngoại. Một chính sách đối ngoại thực tiễn phải dựa vào nhận thức những yếu tố thiết yếu trong trường chính trị quốc tế, đó là những lợi ích quốc gia và sức mạnh của những mối quan hệ giữa các nước.”

Những kết quả cụ thể của việc trung thành với đường lối Paasikivi- Kekkonen bao gồm những gì Liên Xô (và nước Nga ngày nay) đã và chưa từng làm đối với Phần Lan trong suốt 70 năm qua. Họ không xâm chiếm Phần Lan cũng như đạo diễn một cuộc lật đổ chính quyền của đất nước này thông qua đảng Cộng sản Phần Lan khi đảng này còn tồn tại. Họ cũng giảm khoản tổn phí và tăng niên hạn thanh toán đền bù chiến phí mà Phần Lan mắc nợ và phải thanh toán cho Liên Xô. Năm 1955, Liên Xô còn rút khỏi căn cứ hải quân ở Phần Lan và triệt thoái lực lượng pháo binh ở Porkkala nằm trên bờ biển Phần Lan, cách thủ đô Helsinki chỉ 10 dặm, đồng thời chấp nhận để Phần Lan gia tăng giao thương với phương Tây đồng thời giảm mậu dịch với Liên Xô, để nước này liên kết với khối Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EEC) và gia nhập Khối Thương mại Tự do châu Âu (EFTA), trong khi Liên Xô hoàn toàn có đầy đủ sức mạnh để buộc nước này phải làm gì hay cấm đoán hầu hết mọi điều trên. Liên Xô sẽ không bao giờ ứng xử như thế nếu họ không tin tưởng và cảm thấy an toàn với Phần Lan và với các nhà lãnh đạo nước này.

Trong quan hệ đối ngoại, Phần Lan liên tục đi trên dây giữa việc phát triển mối quan hệ với phương Tây đồng thời duy trì sự tin cậy của Liên Xô. Để thiết lập sự tin cậy này ngay sau Cuộc chiến Tiếp diễn năm 1944, Phần Lan đáp ứng đúng lúc mọi điều kiện trong hiệp ước đình chiến và hiệp định hòa bình tiếp đó với Liên Xô. Điều này có nghĩa là thúc đẩy quân đội Đức rời khỏi Phần Lan, lập phiên tòa riêng về tội ác chiến tranh để xử những nhà lãnh đạo thời chiến, hợp thức hóa đảng Cộng sản Phần Lan và đưa những người cộng sản vào chính quyền đồng thời ngăn ngừa việc đảng này nắm quyền kiểm soát đất nước, và thanh toán khoản bồi thường chiến phí cho Liên Xô đúng hạn ngay cả việc phải nhờ đến sự đóng góp nữ trang và cả nhẫn cưới bằng vàng của người dân.

Trong việc mở rộng mối quan hệ với phương Tây, Phần Lan cũng phải cố gắng giảm trừ sự nghi ngờ kinh niên của Liên Xô về việc họ có thể hợp nhất vào phương Tây về mặt kinh tế. Chẳng hạn, Phần Lan khôn ngoan từ chối sự giúp đỡ của Mỹ dù rất cần Kế hoạch viện trợ Marshall. Trong khi đạt đến những thỏa thuận hay gia nhập các Hiệp hội Tây Âu (EEC và EFTA), Phần Lan đồng thời cũng ký kết những thỏa ước với các nước cộng sản Đông Âu, đảm bảo tình trạng tối huệ quốc dành cho Liên Xô và hứa hẹn với nước này về các nhượng bộ kinh tế như với các đối tác trong EEC.

Cùng lúc với việc các nước phương Tây là đối tác thương mại chính yếu của Phần Lan, đất nước này cũng trở thành đối tác mậu dịch phương Tây đứng thứ nhì của Liên Xô (sau Tây Đức). Vận tải container bằng đường biển qua ngả Phần Lan là tuyến đường chính để hàng hóa phương Tây nhập vào Liên Xô. Riêng Phần Lan xuất khẩu sang Liên Xô tàu thuyền, tàu phá băng, hàng tiêu dùng và vật liệu xây dựng cho toàn bộ bệnh viện, khách sạn và cả thành phố công nghiệp. Đối với Liên Xô, Phần Lan là nguồn cung cấp công nghệ chính yếu và là cửa ngõ chính vào phương Tây. Kết quả là Phần Lan có quá nhiều giá trị đối với Liên Xô khi được độc lập và kết đồng minh với phương Tây so với việc bị chinh phục hay trở thành một quốc gia cộng sản.

Do các nhà lãnh đạo Xô Viết tin tưởng cả hai Tổng thống Paasikivi và Kekkonen, nên Phần Lan không chọn thay đổi các đời tổng thống như trong một chế độ dân chủ bình thường mà vẫn giữ họ ở lại chức vụ trong tổng cộng 35 năm. Paasikivi phục vụ ở cương vị tổng thống trong 10 năm đến tận trước khi ông qua đời ở tuổi 86, trong khi người thay thế ông, Kekkonen phục vụ 25 năm đến khi sức khỏe sa sút buộc ông phải từ chức ở tuổi 81. Khi Kekkonen đến thăm Brezhnev vào năm 1973 ở thời điểm đang diễn ra những thương thảo giữa Phần Lan với EEC, Kekkonen tìm cách xoa dịu những mối bận tâm của Brezhnev khi hứa riêng với ông ta rằng quan hệ của Phần Lan với EEC không ảnh hưởng gì đến mối quan hệ giữa nước này với Nga. Sau đó, Quốc hội Phần Lan chấp thuận cho Kekkonen thực hiện lời hứa đó bằng cách thông qua một đạo luật khẩn cấp để gia hạn nhiệm kỳ tổng thống của ông thêm 4 năm nữa, do đó cuộc bầu cử thổng thống dự trù vào năm 1974 được hoãn lại.

Chính phủ và giới báo chí Phần Lan cũng tránh phê phán Liên Xô và thực hiện việc tự kiểm duyệt vốn không bình thường trong các chế độ dân chủ. Chẳng hạn, khi các nước khác lên án những cuộc đàn áp ở Hungary và Tiệp Khắc cùng cuộc chiến tranh ở Afghanistan của Liên Xô, thì chính phủ và báo chí Phần Lan vẫn giữ im lặng. Một nhà xuất bản Phần Lan cũng hủy bỏ kế hoạch xuất bản cuốn tiểu thuyết Gulag Archipelago (Quần đảo Gulag) của Solzhenitsyn vì sợ đụng chạm đến những vấn đề nhạy cảm của Liên Xô. Khi một tờ báo Phần Lan vào năm 1971 đụng chạm đến Liên Xô bằng việc phát ngôn (đúng sự thực) rằng các nước Cộng hòa vùng Baltic bị Liên Xô chiếm đóng vào năm 1939, thì một tờ báo Liên Xô lập tức lên án rằng phát ngôn đó là một nỗ lực của giới tư sản nhằm phá vỡ mối quan hệ láng giềng giữa Phần Lan và Liên Xô, và bộ trưởng ngoại giao Liên Xô cảnh báo Phần Lan rằng nước này mong muốn chính phủ Phần Lan ngăn chặn những sự cố như thế trong tương lai. Chính phủ Phần Lan buộc phải yêu cầu báo chí nên thể hiện “trách nhiệm” hơn nữa, đó là tự kiểm duyệt những tuyên bố tiềm tàng tính đối kháng.

Hành động đu dây của Phần Lan nhằm gìn giữ sự độc lập với Liên Xô kết hợp cùng sự phát triển kinh tế. Cũng trên bình diện này, Phần Lan, với thân phận một nước nhỏ, phải đối mặt với những thực tế: sáu triệu người Phần Lan hiện nay sẽ không bao giờ phát triển những ưu thế kinh tế ở quy mô mà 90 triệu người Đức và 320 triệu người Mỹ thụ hưởng. Phần Lan cũng sẽ không bao giờ thành công ở những ngành kinh tế dựa dẫm vào mức sống thấp và khả năng trả lương công nhân thấp vẫn tràn lan rộng khắp bên ngoài châu Âu và Bắc Mỹ. Theo tiêu chuẩn thế giới, Phần Lan sẽ luôn có ít công nhân, và họ luôn mong đợi có được tiền công cao. Do đó, đất nước này phải tận dụng hết mức lực lượng lao động của mình và phát triển những nền công nghiệp có lợi nhuận cao.

Để tận dụng sức sản xuất của toàn bộ dân cư, hệ thống trường học Phần Lan nhắm đến giáo dục tốt mọi con người, không giống như hệ thống trường học ở Mỹ, giờ đây chỉ giáo dục tốt một số người nhưng với nhiều người thì còn thụ hưởng một nền giáo dục nghèo nàn. Phần Lan có các trường công lập chất lượng cao theo chủ nghĩa bình quân và chỉ một ít trường tư. Điều gây ngạc nhiên cho những người Mỹ giàu có là ngay những trường tư ít ỏi này cũng nhận được mức độ tài trợ từ chính phủ ngang với các trường công lập và không được phép gây quỹ thêm bằng cách thu tiền học, thu phí hay nhận quyên góp! Trong khi giáo viên ở Mỹ có mức sống xã hội thấp và được tuyển dụng chủ yếu từ những sinh viên đại học ra trường có thứ hạng thấp, thì giáo viên Phần Lan phải qua một quá trình chọn lọc cực kỳ ganh đua, tuyển chọn từ sinh viên học sinh ở các trường trung học và đại học sáng danh nhất, có mức sống cao (còn cao hơn giáo sư đại học), được trả lương hậu hĩnh, tất cả đều có bằng cấp nâng cao và có nhiều quyền tự quyết trong phương cách giảng dạy. Kết quả là học sinh Phần Lan đạt điểm ở hoặc gần tốp đầu trong bảng xếp hạng quốc gia trên thế giới về kỹ năng đọc viết, môn toán và các kỹ năng giải quyết vấn đề. Phần Lan cũng khuyến khích phụ nữ bộc lộ hết khả năng của mình cũng như nam giới: đất nước này là quốc gia thứ hai trên thế giới (sau New Zealand) mở rộng quyền bầu cử và ứng cử cho nữ giới, và ở thời điểm trong một cuộc viếng thăm của tôi tại đất nước này thì tình cờ tổng thống Phần Lan lúc đó là một phụ nữ. Phần Lan cũng khuyến khích giới cảnh sát: lại một điều ngạc nhiên cho người Mỹ, cảnh sát Phần Lan phải có một bằng cử nhân đại học, được 96% người Phần Lan tín nhiệm và hầu như không bao giờ sử dụng súng. Năm ngoái, cảnh sát Phần Lan chỉ nổ sáu phát súng khi đang thực thi nhiệm vụ, năm phát chỉ để cảnh báo: nó còn ít hơn số phát súng của cảnh sát trong bình quân một tuần ở thành phố Los Angeles của tôi.

Việc tập trung mạnh mẽ vào lĩnh vực giáo dục tạo ra một lực lượng lao động hiệu quả. Phần Lan có tỉ lệ kỹ sư tính trên đầu người cao nhất thế giới và là một nước dẫn đầu về công nghệ. Xuất khẩu chiếm gần một nửa tổng sản phẩm quốc nội (GDP), và xuất khẩu chính hiện tại là sản phẩm công nghệ cao – máy móc cơ giới và các mặt hàng chế tạo – thay vì gỗ và các sản phẩm lâm nghiệp truyền thống như trong thời kỳ trước Thế chiến II. Phần Lan đã và đang trở thành một nước dẫn đầu thế giới trong phát triển các sản phẩm công nghệ cao mới từ rừng, như sản xuất điện năng, phân bón, sợi vải để thay thế cho sợi len và đồng, và cả đàn guitar. Đầu tư kết hợp giữa chính phủ và tư nhân trong nghiên cứu và phát triển bằng 3,5% GDP của Phần Lan, gần gấp đôi so với các nước trong Liên minh Châu Âu, và (cùng với tỉ lệ phần trăm GDP chi tiêu giáo dục) gần như cao nhất thế giới. Kết quả của hệ thống giáo dục tuyệt hảo và đầu tư cao trong nghiên cứu và phát triển là chỉ trong nửa thế kỷ, Phần Lan từ một nước nghèo đã trở thành một trong những quốc gia giàu nhất trên thế giới. Thu nhập bình quân đầu người giờ đây ngang bằng với Pháp, Đức và Anh, trong khi các nước này có dân số gấp 10 lần và vốn đã giàu có từ rất lâu về trước.

Khi đến Phần Lan năm 1959, tôi hầu như không biết gì về lịch sử hai cuộc chiến tranh giữa nước này với Liên Xô nên đã hỏi những người chủ nhà tại sao Phần Lan lại phải chiều lòng Liên Xô ở nhiều mặt như vậy, nhập cảng xe hơi Moskvich chẳng hạn, và quá sợ khả năng về một cuộc tấn công của Liên Xô vào Phần Lan. Tôi còn bảo những người này rằng chắc chắn Mỹ sẽ bảo vệ đất nước này nếu quả Liên Xô tấn công thật. Giờ hồi tưởng lại, tôi thấy những gì mình nói với một người Phần Lan như thế là quá tàn nhẫn, khờ khạo và sống sượng. Phần Lan đã có những hồi ức cay đắng khi bị Liên Xô tấn công vào năm 1939, các nước Mỹ, Thụy Điển, Đức, Anh hay Pháp đều không dang tay giúp đỡ. Đất nước này phải học từ lịch sử rằng sự tồn vong và nền độc lập chỉ dựa vào chính mình, và Phần Lan chỉ được an toàn một khi Liên Xô cũng cảm thấy an toàn và tin tưởng họ.

Thái độ ngây thơ của tôi cũng được chia sẻ bởi nhiều người không phải người dân Phần Lan đáng ra phải hiểu biết nhiều hơn, nhưng thay vào đó lại gán cho chính sách của Phần Lan một thuật ngữ đầy xúc phạm “Phần Lan hóa.” Theo một định nghĩa của thuật ngữ này trong tờ New York Times năm 1979: “Một tình trạng tồi tệ mà một một nước láng giềng nhỏ yếu, do nể phục sức mạnh và sự tàn bạo của một siêu cường toàn trị mà đưa ra những nhượng bộ đáng hổ thẹn và ngượng ngùng đối với những tự do về chủ quyền.” Những người đánh giá thấp giá trị của từ Phần Lan hóa xem chính sách của nước này là hèn nhát.

Nhiều hành động của nước này đúng là cũng khiến các nhà quan sát Tây Âu và Mỹ phải sửng sốt. Chưa bao giờ ở Mỹ hay ở Đức lại có chuyện hoãn một kỳ bầu cử tổng thống, một ứng viên tổng thống lại rút khỏi danh sách, một nhà xuất bản đình bản một ấn phẩm, hay báo chí lại tự kiểm duyệt chỉ để tránh kích động những vấn đề nhạy cảm của Liên Xô. Những hành động như thế có vẻ xâm phạm thô bạo quyền tự do hoạt động của một nền dân chủ.

Nhưng những vấn đề nhạy cảm của nước khác cũng là vấn đề của mọi quốc gia. Xin trích lại lời Tổng thống Kekkonen một lần nữa, “Nền độc lập của một nước thường không phải tuyệt đối… không một quốc gia đơn lẻ nào còn tồn tại mà không phải chịu khuất phục trước những điều bất khả kháng trong lịch sử.” Có những lý do hiển nhiên tại sao Phần Lan phải chịu nhiều điều bất khả kháng trong lịch sử hơn so với Mỹ hay Đức: Phần Lan là một đất nước nhỏ bé nằm sát sườn Nga, trong khi Mỹ và Đức thì không. Những nhà phê phán chuyên miệt thị sự Phần Lan hóa nghĩ rằng Phần Lan nên làm gì đây? – mạo hiểm chờ đến khi xảy ra một cuộc xâm chiếm khác của Liên Xô bằng cách không lưu tâm đến những phản ứng của họ hay sao?

Một phần của nỗi sợ đằng sau những phản ứng của các nhà phê phán không-phải-người-Phần-Lan đối với việc Phần Lan hóa bắt nguồn từ nỗi e ngại rằng nước Liên Xô cộng sản có thể đang biến đất nước của họ trở thành chiều theo Liên Xô. Nhưng các nước Tây Âu khác và Mỹ tồn tại ở một tình huống địa chính trị hoàn toàn khác và không phải đối mặt với những vấn đề địa chính trị như Phần Lan. Việc Kekkonen bảo vệ cho chính sách của Phần Lan gói gọn trong mệnh đề “Thuật ngữ Phần Lan hóa không phải để xuất khẩu.”

Thực vậy, chính sách đối ngoại của Phần Lan với Liên Xô nhất thiết không đáng phải làm cho phức tạp theo kiểu như đế chế Byzantine. Kết cục là, trong 70 năm sau khi kết thúc Thế chiến II, Phần Lan vẫn không trở thành đàn em của Liên Xô hay nước Nga (hiện giờ). Thay vào đó, nước này đã thành công trong việc ngày càng gia tăng mối ràng buộc bền vững với phương Tây trong khi vẫn duy trì mối quan hệ tốt đẹp với nước Nga. Đồng thời, người Phần Lan biết rằng cuộc đời vốn dĩ bất định, do đó chính sách nghĩa vụ quân sự ở Phần Lan vẫn áp dụng bắt buộc cho nam giới và tình nguyện cho nữ giới. Việc huấn luyện kéo dài lên đến một năm và rất khắt khe, vì đất nước này kỳ vọng những binh sĩ của họ phải giỏi chiến đấu thực sự. Sau một năm huấn luyện, cứ mỗi vài năm người Phần Lan lại được trưng tập cho nhiệm vụ trừ bị cho đến tuổi 30-35 hay hơn nữa. Lực lượng quân đội trừ bị chiếm khoảng 15% dân số Phần Lan – tương đương với việc nước Mỹ duy trì một lực lượng trừ bị 50 triệu người.

Dưới sự soi rọi lịch sử gần đây của Phần Lan, giờ chúng ta hãy đánh giá 12 nhân tố mặc nhiên được công nhận là gắn liền với giải pháp xử lý các biến cố quốc gia (Bảng 1.2), bằng việc so sánh với các nhân tố tương quan của biến cố cá nhân (Bảng 1.1). Trong số các nhân tố này, có bảy là ưu thế, một gây trở ngại bước đầu và sau đó được ưa chuộng và thiếu ba nhân tố gây trở ngại cho giải pháp xử lý vấn đề cơ bản: mối đe dọa từ đất nước láng giềng hùng mạnh.

Bảy nhân tố gắn kết với giải pháp xử lý biến cố mà Phần Lan thể hiện rõ nhất là việc thừa nhận trách nhiệm (nhân tố số 2), dựng một hàng rào (nhân tố số 3), căn tính quốc gia mạnh mẽ (nhân tố số 6), đánh giá trung thực (nhân tố số 7), ứng phó với thất bại (nhân tố số 9), tính linh hoạt (nhân tố số 10) và giá trị cốt lõi quốc gia (nhân tố số 11). Đầu tiên, trong số các quốc gia được đưa ra thảo luận trong cuốn sách này, Phần Lan là một điển hình nổi bật về việc thừa nhận trách nhiệm và tự đánh giá cực kỳ thực tế và trung thực. Việc đánh giá lại đặc biệt chua xót vì chiến tranh đã giết chóc, biến phụ nữ thành quả phụ, trẻ thơ bị mồ côi và một bộ phận lớn người dân Phần Lan thành vô gia cư. Phần Lan phải tránh rơi vào cái bẫy để cho sự tự thương thân và oán giận làm tê liệt những mối quan hệ của họ với Liên Xô. Nhưng cuối cùng họ đã nhận ra những thực tế: rằng Phần Lan chỉ là một nước nhỏ; rằng đất nước cùng chung một biên giới dài với Liên Xô; rằng đất nước không thể trong cậy vào sự hỗ trợ hiệu quả của các nước đồng minh; rằng trách nhiệm cho sự sống còn của đất nước nằm toàn bộ trong tay mình; và rằng đất nước này đủ mạnh để chiến đấu với Liên Xô chỉ trong một thời gian ngắn, và khiến cuộc xâm lược phải chậm lại, trả giá đắt và chịu nhiều đau thương về phía Liên Xô, nhưng họ không thể chống cự mãi mãi được. Người Phần Lan đã học được từ những sai lầm trong chính sách đối ngoại thời trước chiến tranh. Cuối cùng, họ đối mặt với thực tế rằng phương cách duy nhất để họ có thể giữ được sự độc lập về mặt chính trị là chiếm được lòng tin của Liên Xô, và hi sinh một số độc lập về mặt kinh tế và tự do biểu đạt.

Phần Lan là một minh họa rõ ràng cho chủ đề của chúng ta về thay đổi có chọn lọc và dựng lên một hàng rào (nhân tố số 3). Trong đáp trả cuối cùng của Phần Lan (sau tháng 9 năm 1944) với cuộc tấn công của Liên Xô, đất nước này đã đảo ngược chính sách lâu dài trước đây là cố lờ đi và không giao thiệp với Liên Xô. Họ áp dụng một chính sách mới là quan hệ về kinh tế và thường xuyên thương thảo về mặt chính trị với Liên Xô. Nhưng các thay đổi đó có tính chọn lọc cao vì Phần Lan vẫn không bị chiếm đóng, tự quản trị đất nước về mặt chính trị và là một chế độ dân chủ tự do chung cho xã hội. Sự cộng sinh của hai căn tính có vẻ đối nghịch nhau, một thay đổi và một không thay đổi đã làm nhiều người không-phải-người-Phần-Lan bối rối và giận dữ, họ đặt ra thuật ngữ đầy miệt thị “Phần Lan hóa” và hàm ý rằng Phần Lan có thể và đáng ra phải làm khác đi.

Phần Lan cũng biểu lộ căn tính quốc gia mạnh mẽ nổi bật (nhân tố số 6) – nhiều hơn những gì mà những người không quen thuộc với nó mong đợi ở một đất nước nhỏ bé đến thế lại khác với người Bắc Âu điển hình. Căn tính quốc gia và đức tin vào tính độc đáo của Phần Lan đặc biệt nảy sinh từ ngôn ngữ đẹp đẽ nhưng độc đáo và khó học của đất nước này, vốn chỉ có một ít người ngoài cố gắng để học; từ tập sử thi truyền khẩu gắn kết với ngôn ngữ này (trường ca Kalevala); và từ lịch sử dài hàng thế kỷ tự trị dưới sự cai trị của chế độ Sa hoàng nước Nga, khi Phần Lan đã có nền hành chính, đồng tiền và Quốc hội riêng. Đóng góp thêm vào căn tính quốc gia của Phần Lan là sự công nhận trên toàn thế giới đối với những nhạc sĩ, vận động viên điền kinh, kiến trúc sư và nhà thiết kế của đất nước này trên toàn thế giới. Ngày nay, căn tính quốc gia của Phần Lan còn nằm trong sự tự hào về thành quả quân sự của mình trong suốt Cuộc chiến Mùa đông. Người Phần Lan nhìn lại Thế chiến II với một niềm kiêu hãnh, nhiều hơn những công dân ở bất kỳ quốc gia nào ngoại trừ nước Anh. Những ngày lễ kỷ niệm 100 năm ngày độc lập của Phần Lan vào năm 2017 tập trung vào những thành quả của nước này trong Thế chiến II ít nhất cũng bằng với thành quả giành độc lập năm 1917: điều này cũng như lễ kỷ niệm Ngày Độc lập của nước Mỹ (ngày 4 tháng 7) lại tập trung vào chiến thắng trong Thế chiến II thay vì vào ngày ra đời của Tuyên ngôn Độc lập năm 1776.

Phần Lan còn minh họa cho sự bằng lòng chịu đựng thất bại ban đầu và kiên trì thử nghiệm những giải pháp đối với một biến cố cho đến khi tìm ra một giải pháp hữu hiệu (nhân tố số 9). Khi Liên Xô đưa ra những yêu sách cho Phần Lan vào tháng 10 năm 1939, Phần Lan không đáp lại bằng đề xuất mối quan hệ kinh tế và chính trị mà nó cuối cùng cũng đáp ứng. Dẫu khi đó Phần Lan có đưa ra đề xuất thì có thể Stalin vẫn khước từ; Phần Lan cần một cuộc kháng cự khốc liệt ở Cuộc chiến Mùa đông mới thuyết phục được Stalin để cho đất nước này được độc lập. Nhưng thay vào đó, từ năm 1944 trở đi, khi Phần Lan đã nhận ra sự thất bại của chính sách phớt lờ Liên Xô thời trước chiến tranh và chính sách tìm kiếm một giải pháp quân sự thời chiến, Phần Lan đã trải qua một thời kỳ thử nghiệm lâu dài và hầu như không ngưng nghỉ để thấy rằng họ có thể giữ độc lập về kinh tế và chính trị được bao nhiêu, và đổi lại họ phải làm gì để làm hài lòng Liên Xô.

Phần Lan là minh họa cho tính linh hoạt nảy sinh từ nhu cầu sống còn (nhân tố số 10). Để đáp lại những nỗi sợ và các vấn đề nhạy cảm của Liên Xô, Phần Lan đã làm những điều mà ở chế độ dân chủ không nghĩ ra được: nước này đưa ra tòa và bỏ tù những lãnh đạo thời chiến của mình theo luật hồi tố có hiệu lực; Quốc hội thì thông qua một nghị định khẩn cấp để đình hoãn một cuộc bầu cử tổng thống theo lịch trình; một ứng viên tổng thống hàng đầu được xui khiến rút lui, không tranh cử; và giới báo chí tự kiểm duyệt những phát ngôn có khả năng xúc phạm đến Liên Xô. Những chế độ dân chủ khác hẳn nhiên sẽ xem những hành động đó là đáng hổ thẹn. Nhưng ở Phần Lan, những hành động đó lại phản ánh tính linh hoạt: hi sinh các nguyên tắc dân chủ thiêng liêng để giữ được độc lập về mặt chính trị, nguyên tắc này giữ vị trí thiêng liêng nhất. Lại trích dẫn từ cuốn tiểu sử về Thống chế Mannerheim của Zaloga, người Phần Lan nổi trội trong việc thương thảo “kết quả ít kinh khủng nhất giữa một vài phương án chọn lựa rất tồi tệ.”

Lịch sử Phần Lan minh họa niềm tin vào một giá trị cốt lõi không bàn cãi (nhân tố số 11): nền độc lập, và không để thế lực nào chiếm đóng. Người Phần Lan sẵn sàng chiến đấu cho giá trị cốt lõi đó ngay cả khi chịu rủi ro về tổn thất nhân mạng ở quy mô lớn. May mắn cho người Phần Lan, họ đã sống sót và vẫn giữ được nền độc lập. Không có câu trả lời chính xác và phổ quát nào cho tình thế khó xử đầy đau đớn đó. Người Ba Lan vào năm 1939, người Nam Tư vào năm 1941 và người Hungary năm 1956 cũng lần lượt khước từ người Đức, những yêu sách của Đức và Liên Xô để chiến đấu cho nền độc lập, nhưng không có được kết cục may mắn như Phần Lan: cả ba quốc gia này đều thất trận, đã hay đang còn bị chiếm đóng, và phải gánh chịu sự chiếm đóng hà khắc. Ngược lại, Tiệp Khắc năm 1938, Estonia và Latvia rồi Lithuania năm 1939 và Nhật Bản năm 1945 lần lượt chấp thuận tối hậu thư của Đức, Liên Xô hay Mỹ, vì các nước này nhận định được tình trạng vô vọng về mặt quân sự. Hồi tưởng lại, tình trạng của Tiệp Khắc và Estonia có thể chưa chắc đã vô vọng: nhưng chúng ta sẽ không bao giờ biết được.

Nhân tố gây trở ngại bước đầu và sau đó tạo thuận lợi để xử lý biến cố của Phần Lan là sự thiếu đồng thuận quốc gia, rồi đạt thành quả đồng thuận (nhân tố số 1). Trong suốt thập niên 1930 Phần Lan hầu như lờ đi biến cố sắp xảy ra với Liên Xô, và rồi năm 1939 lại tính toán sai rằng những yêu sách của Stalin phần nào chỉ là bịp bợm. Từ 1944 trở về sau, thay vào đó là một sự đồng thuận, thể hiện rõ ràng qua học thuyết Paasikivi-Kekkonen, cho rằng chính phủ Phần Lan phải đối thoại thường xuyên với các lãnh tụ chính trị Liên Xô và học cách nhìn theo quan điểm của nước này

Ba nhân tố thuận lợi để xử lý biến cố mà Phần Lan rõ ràng bị thiếu, và do đó phải bù đắp bằng những phương thức khác, là sự hỗ trợ của đồng minh (nhân tố 4), những hình mẫu thích hợp có sẵn (nhân tố 5) và không bị những ràng buộc về địa chính trị (nhân tố 12). Trong các quốc gia đưa ra thảo luận trong cuốn sách này, không một quốc gia nào nhận được hỗ trợ ít ỏi từ đồng minh như Phần Lan: mọi đồng minh truyền thống và tiềm năng của Phần Lan đều từ chối cung cấp sự giúp đỡ thiết yếu mà Phần Lan kỳ vọng trong suốt Cuộc chiến Mùa đông. (Thụy Điển có cung cấp sự trợ giúp phi chính phủ nhỏ nhoi với khoảng 8.000 lính tình nguyện và tiếp nhận trẻ em tị nạn, trong khi Đức cũng có cung cấp sự giúp đỡ quân sự và kinh tế cần thiết trong Cuộc chiến Tiếp diễn.) Phần Lan không thể mong đợi một hình mẫu nào về một đất nước yếu ớt lại thành công trong việc đề kháng với những yêu sách của Liên Xô hay Đức Quốc xã: hầu hết các nước châu Âu khác hoặc chấp nhận những yêu sách đó rồi mất đi nền độc lập (như Ba Lan và Nam Tư), hoặc khước từ thắng lợi nhờ sức mạnh quân sự của mình, vốn vượt xa tiềm lực quân sự của Phần Lan (chỉ duy nhất nước Anh), hoặc giữ được nền độc lập bằng những nhượng bộ dễ chịu hơn so với những yêu sách của Liên Xô đối với Phần Lan (những dàn xếp giữa Thụy Sĩ và Thụy Điển với Đức Quốc xã). Ngược lại, hành động đi trên dây với Liên Xô thành công của Phần Lan lại là một hình mẫu (“Thuật ngữ Phần Lan hóa không phải để xuất khẩu”). Tự do chọn lựa của Phần Lan bị giới hạn một cách khắc nghiệt bởi ràng buộc về địa chính trị của một đường biên giới dài với người láng giềng Liên Xô hùng mạnh; chỉ duy nước Đức trước Thế chiến II tiếp cận Phần Lan ở mức độ hạn chế tự do hành động mà các nước có quyền lực hơn áp dụng.

Trong số những vấn đề đặc thù đưa ra cho các biến cố quốc gia nhưng không phát sinh trong biến cố cá nhân, có hai thảo luận được bảo chứng đối với Phần Lan: vai trò lãnh đạo và tái hòa giải sau đối kháng. Phần Lan được ưu thế về lực lượng quân sự và lãnh đạo chính trị có kỹ năng trong và sau Thế chiến II. Với tư cách một nhà lãnh đạo quân sự, tướng Mannerheim là bậc thầy trong việc phân bổ nguồn lực vốn dĩ khan hiếm, phán đoán những hiểm họa liên quan từ những mối đe dọa do Liên Xô đề ra ở các mặt trận chiến đấu khác nhau, giữ tỉnh táo và tư duy sáng suốt trong những tình huống cực kỳ khốn đốn và vẫn tin tưởng vào binh sĩ và các cấp sĩ quan dưới quyền. Thủ tướng Juho Paasikivi, sau này là tổng thống, và người kế nhiệm Urho Kekkonen, ngoài kỹ năng nói tiếng Nga lưu loát, còn chứng tỏ kỹ năng đàm phán với Stalin khi ở thế yếu, đạt thắng lợi và gây được niềm tin nơi một con người cực đoan như ông ta, và còn thuyết phục ông ta rằng việc duy trì nền độc lập của Phần Lan sẽ là một chính sách có lợi cho Liên Xô. (Hãy hình dung bạn ở tình huống khó khăn và tồi tệ của Paasikivi vào tháng 9 năm 1944 khi ông bay đến Moscow gặp Stalin thương thảo hòa bình để kết thúc Cuộc chiến Tiếp diễn sau khi đã bay đến đó thương thảo hòa bình vào tháng 3 năm 1940 để chấm dứt Cuộc chiến Mùa đông, và sau khi Phần Lan phá vỡ thỏa hiệp tháng 3 năm 1940 với việc về phe Đức và chiếm lại vùng Karelia vào mùa hè năm 1941. Bạn sẽ nói gì với Stalin vào năm 1944 đó? – “Xin hãy tin tôi, ngài cứ tin tôi lần này đi” chăng?) Dù kỹ năng của họ là hiếm có, những tác động của Mannerheim, Paasikivi và Kekkonen với tư cách những nhà lãnh đạo cũng không đến nỗi quá mức, nhưng vì mục đích và chiến lược của họ cũng giống như của các tướng lĩnh và chính trị gia hàng đầu.

Một vấn đề đặc thù khác về các biến cố quốc gia liên quan đến việc hòa giải sau cuộc xung đột nội bộ khốc liệt hay nội chiến. Cuộc hòa giải ở Phần Lan sau nội chiến năm 1918 nhanh hơn và toàn triệt hơn cuộc hòa giải ở Chile sau chế độ độc tài quân sự của tướng Pinochet (Chương 4), trong khi người Indonesia vẫn thể hiện rất ít để đạt đến sự kết thúc sau vụ diệt chủng năm 1965 do quân đội chủ mưu (Chương 5). Một phần câu giải thích là sự liên quan đến những khác biệt dân tộc đến mức quân đội vẫn nắm quyền lực và tiếp tục đe dọa những đối thủ. Quân đội vẫn giữ quyền lực ở Indonesia sau năm 1965 hoặc vẫn hiện hữu và là mối đe dọa ở Chile ngay cả sau khi Pinochet rời khỏi cương vị tổng thống, trong khi đó quân đội Phần Lan ít thấy xuất hiện sau cuộc nội chiến. Phần khác là ý thức về tính đặc thù được mọi người Phần Lan chia sẻ: đó là cả kẻ thắng lẫn người bại trong cuộc Nội chiến Phần Lan đều có chung truyền thống dân chủ, có sự độc đáo giữa mọi dân tộc trên thế giới là nói tiếng Phần Lan, đọc thuộc lòng trường ca Kalevala và là những đồng bào của Jean Sibelius và Paavo Nurmi.

Vì vậy, Phần Lan là điển hình đầu tiên trong hai quốc gia điển hình trải qua một biến cố do cú sốc đột ngột từ bên ngoài. Ở chương kế tiếp, đề cập tới Nhật Bản thời Minh Trị, chúng ta sẽ bàn luận về một quốc gia khác có căn tính quốc gia mạnh mẽ và một ngôn ngữ khác biệt, còn khác biệt về mặt văn hóa hơn cả Phần Lan, với nhiều thay đổi có chọn lọc còn quyết liệt hơn và với tính thực tế nổi tiếng như của Phần Lan, nhưng với một tình trạng địa chính trị khác biệt cho phép Nhật Bản theo đuổi một chiến lược dài hạn độc lập hơn Phần Lan.

Prev
Next

Có thể bạn muốn đọc thêm

sapiens-yuval-noah-harari
Sapiens: Lược Sử Loài Người – Yuval Noah Harari
February 22, 2023
sung-vi-trung-va-thep-jared-diamond
Súng, Vi Trùng Và Thép – Jared Diamond
April 25, 2023
nhung-tu-nha-cua-dia-ly-tim-marshall
Những Tù Nhân Của Địa Lý – Tim Marshall
April 15, 2022
21-bai-hoc-cho-the-ky-21-Yuval-Noah-Harari
21 Bài Học Cho Thế Kỷ 21 – Yuval Noah Harari
February 23, 2021

ThuVienOnline © 2026