Thư viện Online
  • Trang chủ
  • Sách mới cập nhật
  • Trang chủ
  • Sách mới cập nhật

Chó Sủa Nhầm Cây - Eric Barker - Chương 6.3

  1. Home
  2. Chó Sủa Nhầm Cây - Eric Barker
  3. Chương 6.3
Prev
Next

Peter Parker lại cảm thấy kiệt sức.

Gần đây, anh cảm thấy rất mệt. Dù việc chiến đấu với kẻ xấu mệt mỏi thật, nhưng siêu năng lực của anh luôn giúp anh chống lại dạng kiệt sức đó. Nhưng lần này mọi sự lại khác.

Trong cuộc phiêu lưu dưới hình hài Spider-Man, Parker đã tìm thấy một bộ phục trang mới. Thay vì bộ trang phục xanh đỏ cùi bắp, bộ đồ mới này có màu trắng và đen. Không chỉ nhìn ngầu hơn, nó còn tăng cường sức mạnh của anh. Bộ phục trang có thể bắt chước hoàn hảo bất kỳ dạng quần áo nào nên anh không phải mặc đồ che bên ngoài nữa. Một tính năng thật tốt khi bạn mang trong mình một danh tính bí mật. Nó đồng thời còn cung cấp cho anh nguồn lưới nhện cứng cáp hơn và gần như vô hạn. Một lần nữa, quả là hữu ích khi bạn là một chiến binh quăng tơ chống kẻ ác.

Nhưng kể từ khi có nó, anh luôn cảm thấy mệt mỏi. Mọi lúc. Dĩ nhiên, không thể do bộ trang phục được. Nó chỉ là vải mà. Cho đến một đêm nọ Peter Parker cởi bộ trang phục ra và ngã quỵ lên giường, nhanh chóng chìm vào giấc ngủ…

Và rồi bộ trang phục di chuyển. Nó trườn lại vào người, bao phủ cơ thể anh lần nữa. Nó dựng anh đứng dậy. Rồi họ phóng ra ngoài cửa sổ, cùng nhau bay lượn từ sợi tơ này sang sợi tơ khác, và Peter Parker vẫn ngủ bên trong bộ phục trang suốt thời gian đó.

Ngày tiếp theo, Peter Parker tỉnh dậy, lại cảm thấy mệt mỏi và không hiểu tại sao. Anh biết mình phải làm gì đó.

Peter tìm kiếm sự giúp đỡ từ Reed Richards, người đứng đầu Fantastic Four, đồng thời cũng là một nhà khoa học đại tài. Richards kiểm tra và thông báo một tin khó chịu. Bộ trang phục ấy không phải là một bộ trang phục. Và nó chắc chắn không phải được làm từ vải. Nó đang sống. Về mặt sinh học, nó là symbiote, một thực thể ký sinh. Nó đồng thời cũng khá thông minh, và còn có động cơ của riêng mình. Nó đang nuôi dưỡng siêu năng lực của Spider-Man và cố liên hợp với Peter vĩnh viễn. Anh sẽ trở thành một phần của nó. Nó không sống để phục vụ anh; anh sẽ sống để phục vụ nó.

Nhưng vẫn còn một vấn đề lớn hơn: Peter giờ đã biết sự thật, nhưng nó cũng biết rằng anh đã biết. Và anh không thể nào đuổi nó ra khỏi mình…

Chúng ta dừng ở đây một chút đã. Tôi biết một số trong các bạn đang nghĩ rằng: Tại sao cái ông tác giả này lại cứ huyên thuyên về trang phục siêu anh hùng? Xin lỗi. Tôi sẽ đi luôn vào mấu chốt cho những người không hâm mộ truyện tranh đây:

Khi mới nhận việc, có phải bạn cảm thấy đây là cơ hội tuyệt vời không? Có phải họ đề xuất cho bạn lương bổng và phúc lợi thật ấn tượng và hấp dẫn? Nhưng trên đường đi đến thành công, liệu bạn có cảm thấy nó đang vắt kiệt mình? Rằng bạn lúc nào cũng mệt mỏi? Liệu nó có khiến bạn phải làm việc ban đêm, nuôi dưỡng nó, trong khi lẽ ra bạn đang ngủ mới phải? Như thể bạn đang trở thành một phần của nó hơn là nó đang trở thành một phần của bạn? Bạn có đang chiến đấu để duy trì sự tự chủ của mình nhưng nhận ra vẫn không thể thoát ra được dù cho đã cố đến thế nào?

Vâng. Đúng rồi đó.

Tôi sẽ là Reed Richards của bạn đây: Bạn có thể không phải đang có một công việc đâu. Bạn đang bị một con symbiote đeo vào người đó.

Và giờ thì, thưa các bạn người nhện, chúng ta cần tìm cách chống trả.

Ai là người hiểu rõ áp lực mà thế giới này đặt lên mỗi người chúng ta nhất? Ai hiểu rõ tôi và bạn thiếu thốn thời gian đến thế nào nhất? Ai hiểu rõ sự mất kiên nhẫn của loài người chúng ta nhất? Chính là những nhà thiết kế thang máy.

Tác giả James Gleick ghi nhận rằng cứ mỗi 9 ngày, sản phẩm của công ty thang máy Otis lại nâng số người bằng với dân số cả Trái Đất. Và người sử dụng muốn mọi thứ phải nhanh hơn. Họ muốn thang máy đến nhanh hơn, đi nhanh hơn, cửa phải mở nhanh hơn. Những nhà thiết kế thang máy đã thử mọi giải pháp để đối phó với sự khó chịu không dứt do bất kỳ sự chậm trễ nào. Thuật toán cho phép thang máy ước tính nhu cầu và tối thiểu hóa thời gian chờ đợi. Hãng Mitsubishi đã tạo ra cả chiếc thang máy di chuyển nhanh tương đương máy bay — với tốc độ hơn 12 m/s. Nhưng chúng ta vẫn cứ dậm chân và trợn tròn mắt. vẫn không đủ nhanh.

Họ phát hiện ra rằng người ta chỉ có thể chờ đợi trung bình khoảng chừng 15 giây. Ở mức 40 giây, chúng ta bắt đầu nắm chặt tay. Khi khảo sát, những người phải chờ 2 phút kể rằng cảm giác như thể 10 phút đã trôi qua. Thế nên họ tìm cách đánh lừa chúng ta. Nhớ mấy tấm gương ở sảnh thang máy không? Không phải thiết kế tinh tế gì đâu. Những tấm gương ở đó bởi vì khi nhìn vào chính mình, chúng ta sẽ ít chú ý đến thời gian chờ đợi và bớt than phiền lại.

Nhưng tình hình cũng chẳng khá hơn khi ta đã bước vào bên trong. Nhà thiết kế gọi đó là “thời gian giữ cửa” (door dwell) — tức là thời gian trước khi cánh cửa đóng lại. Nó thường dưới 4 giây. Không quan trọng, vẫn không đủ nhanh. Đố bạn cái nút nào thường được bấm đến nỗi sờn cả sơn ở các buồng thang máy? Gleick xác nhận rằng đó là nút ĐÓNG CỬA.

Điều này dẫn ta đến cuộc thảo luận về sự cân bằng giữa công việc-cuộc sống. Liệu chúng ta có luôn cảm thấy thiếu thốn thời gian? Có phải cha mẹ và ông bà chúng ta cũng có cùng cảm giác đó? Trong vòng 10 năm, từ 1986 đến 1996, sự cân bằng giữa công việc-cuộc sống chỉ được đề cập 32 lần. Nhưng chỉ trong năm 2007, nó được đề cập đến 1.674 lần. Thời gian đã thay đổi tất cả.

Có một điều rõ ràng: Con người giờ đây làm việc nhiều hơn. Khi Harvard Business Review khảo sát trên 15.000 người có mức lương hàng đầu trong tốp 6% người Mỹ, họ nhận thấy 35% số người tham gia nói rằng họ làm việc hơn 60 giờ/tuần và 10% dành đến hơn 80 giờ/tuần làm việc. Trong số những người qua đào tạo đại học có công việc toàn thời gian ở Mỹ, chỉ 22,2% người làm việc 50 giờ/tuần vào năm 1980. Vào năm 2001, con số này đã là 30,5%. Điều này lý giải tại sao rất nhiều người cảm thấy mình “giàu tiền bạc, nghèo thời gian.” Mà dĩ nhiên, cũng có nhiều người còn nghèo cả về tiền bạc lẫn thời gian nữa.

Dĩ nhiên, những giờ làm việc đó có cái giá của nó. Khi HBR trò chuyện với tốp 6% người có lương khủng làm việc 60 giờ/tuần trở lên, họ nhận thấy “hơn 69% tin rằng mình sẽ khỏe hơn nếu giảm cường độ làm việc đi; 58% nghĩ rằng công việc ảnh hưởng đến mối quan hệ gắn bó của họ với con cái; 46% nghĩ rằng nó ngáng đường quan hệ giữa họ với bạn đời; và 50% cho rằng công việc làm cho họ không thể thỏa mãn trong đời sống tình dục.”

Như bạn có thể tưởng tượng, nó ảnh hưởng rất lớn tới niềm hạnh phúc. Hầu hết nghiên cứu trong quá khứ đều cho thấy người lớn tuổi cảm thấy hạnh phúc hơn người trẻ tuổi. Nhưng kể từ năm 2010, nhóm người dưới 30 tuổi ở thế hệ hiện tại lại cảm thấy hạnh phúc hơn nhóm người này ở các thế hệ trước. Trong khi đó, nhóm người trên 30 tuổi hiện tại lại không hạnh phúc bằng nhóm người này ở các thế hệ trước. Lý do là gì? Nhà nghiên cứu Jean Twenge lý giải:

Văn hóa Mỹ ngày càng nhấn mạnh những kỳ vọng lớn lao và chuyện theo đuổi ước mơ — những thứ nghe thật hay khi ta còn trẻ. Mặc dù vậy, người trưởng thành bình thường dần nhận ra giấc mơ của họ có thể không thành sự thật, vì vậy cảm giác kém hạnh phúc là không thể tránh khỏi. Người trưởng thành trong thế hệ trước có lẽ không kỳ vọng nhiều đến như vậy, nhưng kỳ vọng ngày nay lại quá cao đến mức không thể đáp ứng được.

Một nghiên cứu khác cho thấy, trong khoảng thời gian từ năm 1976 đến năm 2000, tham vọng và kỳ vọng của học sinh năm cuối trung học đã tăng lên đến mức vô lý — và vẫn còn tiếp tục tăng theo thời gian. Chỉ cần tính toán một chút và ta sẽ thấy… đúng vậy, nhóm người kỳ vọng đến mức vô lý này hiện tại đang là những người trưởng thành thất vọng. Theo cách nói của triết gia Tyler Durden, “Chúng ta đều được nuôi lớn bởi chương trình ti vi và tin rằng một ngày nào đó mình sẽ là triệu phú, minh tinh màn ảnh, ngôi sao nhạc rock, nhưng thực tế là chúng ta không làm được. Dần dần, ta nhận ra sự thật phũ phàng đó. Và cảm giác ấy cực kỳ, cực kỳ khó chịu.”

Vậy chuyện gì đang diễn ra? Trong kỷ nguyên hiện đại, chuẩn mực thành công đã biến đổi đến mức vô lý. Chuẩn mực ấy không phải là khó đạt được nữa, mà là không thể đạt được. Ti vi cho bạn thấy hình ảnh của mấy anh tỷ phú chừng 20 tuổi ở Thung lũng Silicon. Bạn nghĩ rằng mình giỏi thứ gì hả? Ai đó trên mạng sẽ giỏi hơn, làm ít hơn, và hạnh phúc hơn. Họ còn có hàm răng đẹp nữa. Trong phần lớn thời gian tồn tại của loài người, khi nhìn quanh, chỉ có chừng vài trăm người trong bộ lạc, và ta có thể là người giỏi nhất trong chuyện gì đó. Ta nổi bật và trở thành người đáng giá với cộng đồng. Còn giờ đây, bối cảnh là bộ lạc toàn cầu với hơn 7 tỷ con người. Luôn có một ai đó tốt hơn ta, và truyền thông còn luôn đề cập đến những con người đó, luôn nâng tầm những chuẩn mực lên mỗi khi ta nghĩ rằng mình đã sắp với gần đến họ.

Chưa hết, thế giới hiện đại còn khiến cho mọi thứ cạnh tranh hơn. Thị trường nhân tài giờ đây là toàn cầu — đồng nghĩa với việc nếu bạn không nổi bật, các công ty sẽ chả hơi đâu năn nỉ bạn vào làm. Sẽ có người nào đó bên kia bờ đại dương thay bạn nhận việc ngay. Máy tính khiến cho mọi thứ hiệu quả hơn, đòi hỏi ít nhân lực hơn, và thị trường nhân tài toàn cầu cung cấp gấp 10 lần số ứng viên cho mọi vị trí.

Thế giới cứ nói “Nhiều hơn, nhiều hơn, nhiều hơn.” Và chúng ta cũng vậy. J. Walker Smith từ Yankelovich Partners chia sẻ với The Wall Street Journal, “Hiện tại, không ai muốn trở thành giới trung lưu cả. Ai cũng muốn trèo lên đỉnh.” Chúng ta có lẽ đang có nhiều hơn mọi thứ so với quá khứ, nhưng không hề hạnh phúc hơn. Và trong bản năng, ta vẫn nghĩ vấn đề có thể giải quyết bằng “nhiều hơn.” Nhiều tiền hơn. Nhiều thức ăn hơn. Nhiều mọi thứ hơn. Chỉ cần nhiều hơn. Chúng ta thậm chí không chắc rằng mình cần cái gì nhiều hơn, nhưng tất cả những gì ta đang có đều không giúp ta hạnh phúc, nên phải tăng mọi thứ lên. Đây không phải kiểu chống đối chủ nghĩa tư bản hay lời than vãn “Bọn trẻ ngày nay không biết quý trọng thứ gì hết” mà những người già hay nói đâu. Đó là một ví dụ cho thấy bản năng của chúng ta đang lạc lối. vấn đề nằm ở chỗ, sứ mệnh đi tìm “Thứ khiến cho tôi hạnh phúc” không hề có vạch đích. Đó là một cuộc thi ăn bánh và phần thưởng cho giải nhất vẫn lại là bánh, rất nhiều bánh.

Những kỳ vọng đó khiến ta khó đạt những mục tiêu vốn phải xuất phát từ môi trường xung quanh. Thế nhưng, đó chưa phải điều tệ nhất. Trong thế giới ngày nay, tất cả là do lỗi của chúng ta. Hay ít nhất cảm giác là thế.

Chúng ta yêu thích sự lựa chọn, và Thế kỷ XXI đã cho ta gần như vô hạn lựa chọn. Nhờ công nghệ, ngày nay ta luôn có thể lựa chọn công việc. Cửa văn phòng không đóng lúc 5 giờ chiều nữa. Mọi giây phút ở bên bạn bè hay chơi đùa với con cái đều là một phút giây có thể làm việc. Thế nên mỗi khoảnh khắc đều là một quyết định. Thứ quyết định không hề tồn tại trong quá khứ. Cái quyết định ấy cứ lởn vởn trong đầu ta mọi lúc, khiến ta căng thẳng khủng khiếp.

Giáo sư Barry Schwartz tại Đại học Swarthmore, chuyên gia nghiên cứu các vấn đề về sự lựa chọn và niềm hạnh phúc, chia sẻ với tôi:

Ngày nay, khi bạn về nhà, công việc cũng đi theo. Thực ra, dù cho bạn đi đến bất kỳ đâu, công việc vẫn đi theo. Bạn đến xem một trận bóng đá, công việc vẫn trong túi bạn, đúng không? Điều đó không hẳn có nghĩa là bạn muốn làm việc mọi lúc, mà là bạn phải quyết định sẽ không làm việc. Không có ràng buộc gì cả. “Tôi nên chơi với bọn trẻ hay nên trả lời email?” 30 năm trước vấn đề này không tồn tại. Bạn về nhà; dĩ nhiên là bạn chơi với bọn trẻ. Không cần quyết định gì hết. Giờ thì ai cũng phải ra quyết định những lúc như thế này.

Công nghệ đã gia tăng sự lựa chọn mạnh mẽ theo cả hai hướng tốt và xấu. Còn nhớ nghiên cứu về tốp 6% thu nhập không? “72% người cho rằng công nghệ giúp họ làm việc tốt hơn, 59% nói rằng nó kéo dài ngày làm việc của họ, và 64% ghi nhận nó chiếm mất thời gian của gia đình.” Trong nghiên cứu của Leslie Perlow, một nhà điều hành đã nhìn vào điện thoại của mình và nói. “Tôi yêu thứ này và cũng đồng thời ghét nó. Tôi yêu nó bởi vì nó trao cho tôi quá nhiều quyền lực. Và tôi ghét nó là bởi nó có quá nhiều quyền lực đối với tôi.”

Barry Schwartz lý giải, khi thế giới không cho bạn nhiều sự lựa chọn và mọi thứ không diễn ra theo cách bạn mong muốn, đó là lỗi của thế giới. Chứ bạn còn làm được gì nữa? Nhưng khi bạn có 100 lựa chọn và không lựa chọn tốt, tội lỗi giờ là của bạn, bởi vì lẽ ra bạn đã có thể chọn lựa tốt hơn.

Đây chính là vấn đề: Chúng ta thích có sự lựa chọn. Nhưng chúng ta lại ghét quyết định. Lựa chọn đồng nghĩa với cơ hội. Quyết định thì lại triệt tiêu cơ hội. Và có quá nhiều lựa chọn sẽ gia tăng xác suất hối hận. Khi công việc luôn là một sự lựa chọn, mọi thứ đều là đánh đổi. Nhiều thời gian làm việc hơn đồng nghĩa với ít thời gian với bạn bè, bạn đời, và con cái hơn. Và nếu như bạn chọn sai, đó là lỗi của bạn, khiến cho việc quyết định càng căng thẳng hơn. Chúng ta làm việc chăm chỉ hơn, nhưng cảm thấy tệ hơn bởi vì mọi thứ luôn bị đánh giá liên tục.

Trong quyển OverSuccess, Jim Rubens mô tả một nghiên cứu cho thấy ảnh hưởng của điều này lên chúng ta:

[Một] nghiên cứu về 2.300 đối tượng có thu nhập từ 50.000 đô la trở lên nhận thấy họ “có khát vọng và căng thẳng cao độ, cảm thấy cô lập và lo lắng.” Chưa đến 4/10 số người tham gia trả lời rằng họ “cảm thấy mình là một phần của cộng đồng xung quanh,” “cảm thấy cân bằng trong cuộc sống,” hay “có rất nhiều bạn thân.” Chỉ có 3/10 cảm thấy hài lòng với ngoại hình và chỉ 18% cảm thấy hạnh phúc trong các mối quan hệ tình cảm.

Năm 2008, 52% số người cho biết họ thường thức dậy vào ban đêm do căng thẳng; 40% cho biết mức độ căng thẳng khiến họ muốn khóc. Có 1 trên 3 phụ nữ cho rằng, trên thang điểm 10, họ xếp mức độ căng thẳng của mình đạt điểm 8, 9, hay thậm chí là 10.

Và nó cũng ảnh hưởng mạnh đến thời gian dành cho gia đình. Từ 1980 đến 1997, số lượng cuộc chuyện trò gia đình đã giảm xuống 100%. Vâng 100%. Tác giả của nghiên cứu nói rằng nó có nghĩa “năm 1997, một gia đình người Mỹ bình thường dành 0 giờ/tuần để trò chuyện với nhau như hoạt động chính của gia đình.” Ông tiếp tục: “Trong một khảo sát toàn quốc của YMCA năm 2000 về thanh thiếu niên ở Mỹ, 21% đánh giá ‘không có đủ thời gian với cha mẹ’ là nỗi lo lớn nhất.” (Được rồi, khi nỗi lo của một thanh niên Mỹ thông thường ương bướng là không được gặp cha mẹ đầy đủ, thì đó chắc chắn là vấn đề.)

Khi cảm thấy áp lực dữ dội phải thành công cả ở công việc lẫn gia đình, khi luôn có sự lựa chọn và cảm giác như thể tội lỗi là của mình, chúng ta tuyệt vọng tìm kiếm giải pháp. Một số người gạt các khía cạnh cuộc sống sang một bên để phát triển những mặt còn lại. Laura Nash và Howard Stevenson, tác giả của quyển Just Enough, và giáo sư Clay Christensen tại Harvard gọi chiến lược này là chiến lược “trình tự.” Quan điểm đại loại là Đầu tiên tôi sẽ làm công việc mình ghét để Kiếm nhiều tiền, sau đó Tôi sẽ có gia đình, sau đó Tôi sẽ làm bất cứ thứ gì mình muốn và hạnh phúc.

Tuy vậy, cách này không hiệu quả trong các mối quan hệ. Christensen thẳng thắn chỉ ra rằng “vào thời điểm những vấn đề nghiêm trọng nổi lên trong các mối quan hệ, thường là đã quá trễ để cứu vãn. Điều này có nghĩa là, nghịch lý thay, thời điểm quan trọng nhất cần đầu tư vào việc xây dựng gia đình và tình bạn gắn kết chính là khi vấn đề mới manh mún, trông như thể không có gì quan trọng.”

Các tác giả của Just Enough xác nhận rằng điều này cũng đúng trong nghiên cứu của họ với những nhà điều hành hàng đầu. Vâng, nhóm này khá là thành đạt về sự nghiệp, nhưng phía sau bức màn mọi thứ nghe rất giống Ted Williams và Albert Einstein: “Khi thăm dò thêm, chúng tôi nhận ra rằng rất nhiều người không nghĩ cần phải làm tốt những mục tiêu khác của họ: gia đình, sức khỏe doanh nghiệp trong dài hạn, xây dựng một nơi làm việc mọi người thật sự trân trọng, xây dựng một tính cách vững vàng khi họ xuất hiện trước công chúng.” Chúng ta không thể cứ theo trình tự trong các mối quan hệ được. Các mối quan hệ cần có sự chú tâm thường xuyên, ổn định. Như Ralph Waldo Emerson từng nói, “Chúng ta luôn chuẩn bị sẵn sàng để sống, nhưng chẳng bao giờ thực sự sống cả.”

Được rồi, đã đủ u ám và đen tối rồi: Vậy ta có thể làm gì đây?

Ta cần một định nghĩa cá nhân về thành công. Nhìn xung quanh để xem mình có đang thành công không không phải là một lựa chọn thực tế nữa. Cố trở nên thành công khi so sánh với người khác rất nguy hiểm. Nó đồng nghĩa với việc mức độ nỗ lực và đầu tư của ta là do họ quyết định, khiến ta phải chạy theo với tốc độ cao nhất để đuổi kịp. Nói rằng mình muốn “là số 1” một cách mơ hồ là chuyện không hề thực tế chút nào trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu, nơi người khác sẵn sàng chạy đua 24/7. Chúng ta muốn có lựa chọn và sự linh hoạt. Chúng ta đã có được những thứ ấy rồi. Giờ thì không còn giới hạn nữa. Ta không thể cứ nhìn xung quanh để quyết định xem khi nào thì nên dừng lại. Thế giới sẽ luôn bảo ta tiếp tục tiến lên.

Chuẩn bị tinh thần đi. Tôi sẽ nói một điều không hề vui vẻ chút nào: Ta phải quyết định. Thế giới không phân định rõ ràng đâu. Ta phải tự làm chuyện đó. Ta cần phải tự hỏi Tôi đang muốn gì? Bằng không, ta chỉ đang cố đạt lấy những thứ họ muốn. Xin lỗi khi phải nói thẳng, nhưng trong thế giới hiện đại, “có tất cả” không hề khả thi khi những người khác mới là người xác định giới hạn trong mỗi lĩnh vực. Chúng ta từng trông chờ thế giới nói cho mình biết khi nào thì mình đã xong việc, nhưng giờ sự cân bằng phải đến từ phía chính bản thân ta. Bằng không, ta sẽ có nguy cơ kết cục với sự hối hận lớn nhất trước khi chết: không có đủ dũng khí sống cuộc đời mình muốn, thay vì vậy lại sống cuộc đời mà người khác đã định ra.

Doanh nhân Ken Hakuta đã nói, “Thành công là thứ bạn sẽ đối mặt liên tục trong kinh doanh. Bạn sẽ luôn phải diễn giải nó thông qua thứ gì đó, và thứ đó nên là mục tiêu và mục đích của chính bạn.”

Barry Schwartz cho rằng chúng ta phải “chọn” thay vì “lựa.” Lựa nghĩa là quyết định trong những phương án sẵn có, khiến ta rơi vào trạng thái đối lập giả tạo do những phương án ta thấy trước mắt tạo ra. Ngược lại, khi chọn, ta “đủ cẩn trọng để nhận định rằng có lẽ không có một phương án sẵn có nào đủ thỏa mãn, và nếu muốn giải pháp thay thế đúng đắn, ta có lẽ phải tự tạo ra nó.”

Vậy những hỗn hợp nào khiến bạn cảm thấy mình đã có đủ? Những thứ nào sẽ triệt tiêu nhu cầu muốn có thêm nhiều hơn nữa? Điều gì, trong thế giới vô hạn cứ mãi kêu gào lựa chọn này, khiến cho bạn vẫn có thể tựa lưng vào bàn và bình tĩnh nói “Tôi ổn, cảm ơn”? Tác giả Just Enough đã thực hiện hơn 60 cuộc phỏng vấn với những người nhiều thành tựu nghề nghiệp và khảo sát 90 nhà điều hành cấp cao. Hóa ra hầu hết cũng không biết câu trả lời cho những câu hỏi trên. Điều thú vị chính là họ liên tục phạm phải sai lầm, và từ việc quan sát những sai lầm đó, nhà nghiên cứu đã có thể rút ra được điều chúng ta cần trong cuộc sống và cách tốt nhất để đạt được nó.

Chúng ta đều biết cuộc sống tốt đẹp có ý nghĩa hơn tiền bạc… Nhưng không ai biết rõ cuộc sống tốt đẹp có những gì và làm thế nào để có được những thứ ấy. Hãy đối diện với sự thật: Tiền bạc thì khá là dễ đếm và thường mang lại niềm hạnh phúc, ít nhất là trong thời gian ngắn. Chúng ta cũng đều biết tình yêu, bạn bè và nhiều thứ khác cũng rất quan trọng… Nhưng những thứ ấy thì phức tạp hơn rất nhiều và chúng ta không thể đặt giao nhanh tình yêu và bè bạn trên Amazon được.

Đánh giá cuộc sống bằng 1 thang đo chính là mấu chốt vấn đề. Chúng ta không thể chỉ sử dụng 1 cây thước để đo lường cả cuộc đời thành công.

Trong Just Enough, các tác giả gọi đó là “chiến lược trộn đều” — trộn đều mọi thứ vào một máy đo duy nhất để xem cuộc đời mình có đang đi đúng hướng hay không. Hầu hết chúng ta cảm thấy dễ dàng khi chỉ tập trung vào tiền bạc và tự nhủ “Làm cho con số nó tăng lên.” Tiện lợi, đơn giản… và sai lầm chết người. Như đã thấy, những con người thành công điên cuồng mà các tác giả đã trò chuyện thường cảm thấy mình đang thiếu sót một khía cạnh nào đó trong cuộc sống, chẳng hạn như các mối quan hệ. Khi cố trộn đều mọi thứ vào một thang đo, ta chắc chắn sẽ thất vọng.

Các nhà nghiên cứu nhận ra rằng cần có nhiều thước đo cho các khía cạnh của cuộc sống. Chẳng hạn, để có một mối quan hệ tốt đẹp với gia đình, bạn cần phải dành thời gian với họ. Vậy thời gian dành cho nhau chính là một cách để đo lường. Nhưng nếu như thời gian đó chủ yếu là hét vào mặt nhau, kết quả cũng không hề tốt. Thế nên cần phải đo lường cả số lượng lẫn chất lượng.

Nghiên cứu đã rút ra 4 thang đo quan trọng nhất:

1.HẠNH PHÚC: cảm thấy vui vẻ hoặc mãn nguyện trong (và về) cuộc đời mình

2.THÀNH TỰU: đạt được những thành tựu tương đối tốt so với những mục tiêu phấn đấu tương tự của người khác

3.Ý NGHĨA: có tác động tích cực lên những người bạn quan tâm

4.DI SẢN: kiến tạo những giá trị hay thành tựu giúp những người khác đạt được thành công trong tương lai

Họ cũng đúc kết ra một cách đơn giản để diễn giải những cảm giác mà 4 yếu tố này mang lại:

1.HẠNH PHÚC = TẬN HƯỞNG

2.THÀNH TỰU = CHIẾN THẮNG

3.Ý NGHĨA = ĐÁNG TRÔNG CẬY (ĐỐI VỚI NGƯỜI KHÁC)

4.DI SẢN = LỚN LAO

Ở mỗi thang đo, bạn cần đạt được mức nào để cảm thấy thành công? Có thể sẽ khá đáng sợ nếu phải quyết định ngay là mình cần cân bằng 4 yếu tố này như thế nào trong phân còn lại của cuộc đời. Bạn không cần phải quyết xa vậy đâu. Những gì thỏa mãn chúng ta khi 10 tuổi không còn đúng khi ta 20 và cũng không hề đúng khi ta 80. Mọi chuyện sẽ thay đổi và điều đó cũng ổn thôi. Những chi tiết cụ thể sẽ thay đổi, nhưng những giá trị của bạn có lẽ sẽ không thay đổi nhiều đến vậy.

Bạn cần đóng góp cho cả 4 nhu cầu này thường xuyên. Nếu bỏ lơ bất kỳ cái nào, bạn sẽ sa vào chiến lược trộn đều. Đo lường cuộc sống bằng 1 thước đo duy nhất là cách không hề chính xác. Trì hoãn bất cứ nhu cầu nào quá lâu cũng đều mang lại hậu quả. Có một câu nói của Warren Buffett mà tôi rất thích: “Tôi luôn lo lắng cho những người nói rằng, ‘Tôi sẽ làm việc này trong 10 năm; dù tôi cũng không thích nó lắm. Và rồi sau đó tôi sẽ làm cái này…’ Nói vậy kiểu như để dành chuyện tình dục cho tới khi già mới đụng tới vậy. Không phải là một ý tưởng tốt.”

Tất cả những điều trên đã rõ, nhưng chúng ta vẫn phải đi đến mấu chốt của vấn đề cân bằng công việc-cuộc sống: Bạn muốn vẽ đường ranh giới ở đâu? Làm thế nào biết được khi nào mình đã có đủ “chiến thắng” và cần bỏ nhiều công sức hơn vào khoản “đáng trông cậy” hay “lớn lao”?

Một điểm khởi đầu lý tưởng là tự hỏi: Như thế nào là “tốt vừa đủ”?

Cách nghĩ này không hiệu quả cho lắm đối với rất nhiều người — và đó cũng là lý do tại sao chúng ta gặp vấn đề cân bằng công việc-cuộc sống. Tư tưởng “chỉ trở thành kẻ tốt nhất” không hề hiệu quả trong một thế giới nơi sự lựa chọn và cạnh tranh không hề có giới hạn. Từng có đến 26 loại dầu gội Head & Shoulders khác nhau. Hãng Procter & Gamble sau đó nói rằng “Đủ rồi” và cắt xuống còn 15 loại, một động thái đã làm gia tăng 10% lợi nhuận.

Barry Schwartz nói rằng ta thường không nhận ra là những hạn chế lại rất được đón nhận. Hạn chế khiến việc ra quyết định dễ dàng hơn. Hạn chế khiến cuộc sống đơn giản hơn. Hạn chế khiến “quyết định sai không phải lỗi của bạn.” Thế nên hạn chế giúp ta hạnh phúc hơn. Ta tin rằng những hạn chế đó rất đáng đánh đổi. Tự do không giới hạn chỉ làm ta tê liệt và bị ngợp trước những lựa chọn. Và cách duy nhất để có được những giới hạn phù hợp chính là tự xác định giới hạn dựa trên hệ giá trị của chính mình.

Mọi người thường xử lý vụ có quá nhiều lựa chọn theo 2 cách: “tối đa hóa” hoặc “hy sinh.” Tối đa hóa là khám phá tất cả các phương án, cân đo đong đếm, và cố chọn lấy cái tốt nhất. Hy sinh chính là suy nghĩ về những gì mình cần và chọn ra thứ đầu tiên thỏa mãn hết các nhu cầu đó. Hy sinh chính là sống “tốt vừa đủ.”

Trong thế giới hiện đại, tối đa hóa là chuyện gần như không thể đạt được. Thử tưởng tượng bạn đang truy cập vào Amazon.com để chọn “quyển sách tốt nhất dành cho bạn.” Chúc may mắn nếu bạn muốn đánh giá được hết từng quyển một. Bạn sẽ cần mấy năm trời. Nhưng vẫn còn một vấn đề sâu xa, ít rõ ràng hơn. Bạn có thể nghĩ rằng việc đánh giá được nhiều phương án sẽ dẫn đến kết quả khách quan tốt hơn. Bạn đã đúng. Nhưng nó kết cục cũng làm suy giảm hạnh phúc chủ quan.

Đó chính xác là kết quả rút ra được từ nghiên cứu của Barry Schwartz và Sheila Iyengar. Sinh viên thuộc nhóm tối đa hóa cố tìm công việc tốt nhất sau khi ra trường cuối cùng cũng được đền đáp — họ có được mức lương cao hơn 20%. Nhưng họ lại kém hạnh phúc hơn với công việc của mình so với những người theo phương án hy sinh. Những người tối đa hóa như đang phải chạy trên cỗ máy kỳ vọng hoạt động liên hồi; họ cũng hối hận nhiều hơn vì luôn cảm thấy mình lẽ ra đã có thể làm tốt hơn. Chắc chắn nếu đang chọn bác sĩ phẫu thuật não, tối đa hóa là ý hay, nhưng trong hầu hết khía cạnh của đời sống, nó chỉ khiến ta không hạnh phúc. Nhà khoa học đoạt giải Nobel, Herbert Simon — người sáng tạo ra ý tưởng về tối đa hóa và hy sinh — cho biết, cuối cùng thì, khi tính toán mọi yếu tố, từ căng thẳng, kết quả, đến công sức bỏ ra, phương án hy sinh mới thực sự mang lại hiệu quả tối đa.

Như Nash và Stevenson đã chỉ ra, “Bạn không thể tối đa hóa 2 thứ đối lập nhau.” Một lần nữa, đó lại là quy luật của Spencer. Bạn chỉ có 24 giờ/ngày với nguồn năng lượng có hạn. Với rất nhiều khoản mục, bạn cần phải vẽ ra được giới hạn. Bạn không thể làm tất cả mọi thứ và thành công trong mọi khía cạnh.

Tất cả đều dẫn đến câu hỏi Tôi muốn cái gì? Nếu bạn không xác định được, thế giới sẽ xác định giùm bạn. Và như đã thấy, đó là một cô máy chạy bộ, thúc ta luôn săn đuổi, không bao giờ đến đích. Ellen Galinsky đã tiến hành một nghiên cứu và hỏi những đứa trẻ rằng, “Nếu em có một điều ước và chỉ một điều ước có thể thay đổi cách công việc của cha mẹ tác động đến cuộc sống của mình, đó sẽ là gì?” Câu trả lời phổ biến? Bọn trẻ ước rằng cha mẹ “ít căng thẳng và mệt mỏi hơn.”

Muốn cân bằng công việc-cuộc sống ư? Vậy hãy nhớ điều Barry Schwartz đã nói với tôi: “Tốt vừa đủ hầu như luôn vừa đủ tốt.”

Được rồi, vậy bạn cần nghĩ về 4 yếu tố lớn trên và hướng đến mức “tốt vừa đủ” trong mỗi yếu tố. Bạn muốn chọn, chứ không muốn lựa. Bạn muốn “chinh phục thế giới.” Nhưng bạn cũng muốn về nhà lúc 6 giờ tối và không làm việc vào cuối tuần. Thật là không tưởng. Vậy bạn có biết ai đã làm được điều không tưởng không? Bạn biết ai thực sự đã chinh phục được thế giới không?

Thành Cát Tư Hãn. Ông đã làm điều đó thế nào? Ông có một kế hoạch…

—

Prev
Next

Có thể bạn muốn đọc thêm

gian-thich-nhat-hanh
Giận – Thích Nhất Hạnh
February 8, 2023
deep-work-lam-ra-lam-choi-ra-choi
Deep Work: Làm Ra Làm Chơi Ra Chơi – Cal Newport
August 26, 2022
di-tim-le-song-viktor
Đi Tìm Lẽ Sống – Viktor Emil Frankl
December 18, 2021
sang-chan-tam-ly-bessel-van-der-kolk
Sang Chấn Tâm Lý – Bessel Van Der Kolk
May 11, 2022

ThuVienOnline © 2026