Ngàn Mặt Trời Rực Rỡ - Khaled Hosseini - Chương 2.1
KABUL, MÙA XUÂN 1987
Cô bé chín tuổi Laila trèo ra khỏi giường, và cũng giống như những buổi sáng khác, cô mong ngóng được gặp cậu bạn Tariq. Tuy nhiên, sáng nay cô bé biết rằng Tariq sẽ không xuất hiện.
“Cậu sẽ đi bao lâu?” cô bé đã hỏi như vậy khi Tariq nói với cô rằng bố mẹ cậu sẽ đưa cậu đến miền Nam, thành phố Ghazni, để thăm ông bác đằng nội.
“Mười ba ngày.”
“Mười ba ngày ư?”
“Không lâu đâu. Cậu đang nhăn mặt kìa, Laila.”
“Mình không có.”
“Cậu sẽ không khóc chứ?”
“Mình sẽ không khóc! Không khóc vì cậu. Không, cả nghìn năm nữa cũng không.”
Cô bé đá vào ống chân cậu bạn, không phải bên chân giả mà là chân thật và cậu bé cũng đánh đùa vào sau đầu cô.
Mười ba ngày. Gần hai tuần lễ. Và chỉ năm ngày trôi qua, Laila đã hiểu thế nào là thời gian: Giống như chiếc đàn accordion bố Tariq thỉnh thoảng vẫn dùng để chơi các bài hát Pashto cũ, thời gian có thể co giãn ngắn dài tùy thuộc vào sự hiện diện hay vắng mặt của Tariq.
Dưới cầu thang, bố mẹ cô bé đang cãi nhau. Lại cãi nhau. Laila thừa biết diễn biến cuộc cãi vã: Mammy, hung dữ, ngoan cố, vừa hùng hổ đi tới đi lui vừa nguyền rủa; Babi thì ngồi đó, trông ngượng ngùng và mụ mị, gật đầu một cách ngoan ngoãn, chờ cơn giông bão qua đi. Laila đóng cửa và thay đồ. Nhưng cô bé vẫn nghe thấy tiếng của họ. Cô bé vẫn nghe thấy tiếng của mẹ. Cuối cùng, có tiếng cánh cửa đóng sầm. Tiếng bước chân huỳnh huỵch. Tiếng giường của Mammy kẽo kẹt mạnh. Có vẻ như Babi sẽ sống sót đến ngày tiếp theo.
“Laila!” ông gọi. “Bố sắp trễ giờ làm rồi!”
“Một phút thôi ạ!”
Laila đi giày, vừa soi gương vừa chải vội những lọn tóc vàng dài đến ngang vai. Mammy luôn bảo rằng cô bé đã được thừa hưởng mái tóc vàng của bà – cùng với đôi mắt xanh ngọc và hàng mi dày, đôi má lúm đồng tiền, gò má cao và bờ môi dưới hơi trề ra mà bà được thừa hưởng từ cụ của cô bé, bà ngoại của Mammy. Mammy kể rằng, cụ ngoại là một pari, một phụ nữ quyến rũ. vẻ đẹp của bà được truyền tụng khắp thung lũng. Nó đã bỏ qua hai thế hệ phụ nữ trong gia đình ta, nhưng chắc chắn nó đã không bỏ qua con, Laila. Thung lũng mà Mammy nói đến chính là Panjshir, khu vực nói tiếng Farsi của người Tajik, cách Kabul một trăm cây số về phía Đông Bắc. Cả Mammy và Babi, vốn là anh em họ, đều được sinh ra và lớn lên ở Panjshir. Đôi vợ chồng trẻ với hy vọng tràn trề về một tương lai tươi sáng chuyển đến sinh sống ở Kabul cuối năm 1960, sau khi Babi được nhận vào học tại trường Đại học Kabul.
Laila lò dò xuống cầu thang, thầm mong Mammy sẽ không ra khỏi phòng để cãi nhau thêm một trận nữa. Cô bé thấy Babi đang quỳ bên rèm cửa.
“Laila, con đã thấy cái này chưa?”
Tấm rèm đó đã bị rách hằng tuần nay. Laila ngồi xuống bên bố. “Chưa ạ. Vết rách này hẳn là mới có.”
“Bố đã nói với Fariba như vậy đấy.” Ông trông thật nhỏ bé, run rẩy như mọi lần sau khi Mammy cãi nhau với ông. “Bà ấy nói rằng bọn ong đang chui vào qua lỗ này.”
Trái tim Laila luôn đứng về phía Babi. Babi là người nhỏ bé, đôi vai hẹp và bàn tay gầy gò, mềm mại như tay phụ nữ. Buổi tối, mỗi khi bước vào phòng Babi, cô bé luôn thấy ông đang cúi xuống tra cứu sách, cặp kính mắt trễ xuống mũi. Đôi khi ông thậm chí không nhận ra sự có mặt của cô bé. Và khi đã nhận ra thì ông đánh dấu trang sách lại, mím môi cười mỉm, nụ cười của một người bạn. Babi có thể đọc thuộc lòng gần hết các ghaza* của Rumi và Hafez. Ông có thể nói không ngừng về cuộc chiến tranh giữa người Anh và nước Nga Sa hoàng nhằm xâm chiếm Afghanistan. Ông còn phân biệt được sự khác nhau giữa nhũ đá và măng đá và có thể nói cho cô biết khoảng cách giữa trái đất và mặt trời gấp 1,5 triệu lần quãng đường từ Kabul tới Ghazni. Nhưng nếu Laila cần một bàn tay mạnh mẽ để mở nắp hộp kẹo, cô bé phải đến tìm Mammy, điều này làm cho cô cảm thấy mình như một kẻ phản bội. Những vật dụng thông thường lại biến Babi thành người ngớ ngẩn. Dưới sự chăm sóc của ông, những chiếc bản lề cửa kêu kẽo kẹt không bao giờ được tra dầu. Trần nhà liên tục bị dột sau khi ông bít lại. Kệ giá trong bếp thì mốc meo. Mẹ nói rằng trước khi ra đi cùng với Noor gia nhập lực lượng chiến đấu chống Xô Viết vào năm 1980 thì Ahmad là người có ý thức trách nhiệm và tháo vát trong những chuyện như thế.
“Nhưng nếu con có quyển sách cần phải đọc ngay,” bà nói, “thì Hakim là người thích hợp nhất để con lựa chọn.”
Tuy nhiên, Laila không thể giũ bỏ được cảm giác rằng một thời gian nào đó, trước khi Ahmad và Noor tham gia cuộc chiến chống lại quân Xô Viết – trước khi Babi để họ tham gia cuộc chiến – Mammy cũng thấy vẻ mọt sách của Babi thật đáng yêu, hay, từ ngày xửa ngày xưa, bà cũng từng bị quyến rũ bởi sự đãng trí và vụng về của ông.
“Thế hôm nay là ngày thứ mấy rồi?” ông hỏi và mỉm cười ý nhị. “Ngày thứ năm? Hay thứ sáu?”
“Con quan tâm làm gì? Con không đếm,” Laila nói dối, nhún vai và thấy thật yêu Babi vì ông đã nhớ. Còn Mammy thì không hay biết Tariq đã đi xa.
“À, ánh đèn pin của cậu ta sẽ lại tắt trước khi con kịp nhận ra đấy,” Babi nhắc đến trò gửi tín hiệu hằng đêm của Laila và Tariq. Hai đứa đã chơi trò đó từ rất lâu rồi, đến mức trở thành một thói quen trước giờ đi ngủ, giống như việc phải đánh răng vậy.
Babi luồn ngón tay qua vết rách. “Bố sẽ vá lại ngay khi có thể. Chúng ta nên đi thôi.” Ông cất cao giọng nói với lại đằng sau, “Bố con tôi đi đây, Fariba! Tôi sẽ đưa Laila đến trường. Đừng quên đón con bé nhé!”
Bên ngoài, khi trèo vào giá chở đồ trên xe đạp của bố, Laila nhìn thấy một chiếc ô tô đang đỗ bên đường, đối diện ngôi nhà của người thợ đóng giày Rasheed và người vợ ẩn dật. Đó là một chiếc xe Benz, loại xe rất ít gặp trong khu vực này, màu xanh với sọc trắng lớn cắt đôi mui xe, nóc xe và cả phần thân. Laila có thể nhìn rõ hai người đàn ông đang ngồi trong xe, một người ngồi sau tay lái và người kia ngồi ở ghế sau.
“Họ là ai thế ạ?” cô bé hỏi.
“Không phải việc của chúng ta,” Babi trả lời. “Trèo lên đi, không con sẽ muộn học đấy.”
Laila nhớ lại một lần cãi nhau, Mammy đã đe nạt Babi và chì chiết, Đó là việc của ông, đúng nhỉ, ông anh họ? Coi mọi thứ chẳng phải việc của mình ấy. Thậm chí ngay cả khi những đứa con trai của chính ông ra mặt trận. Tôi đã van nài ông ra sao hả. Nhưng ông chỉ chúi mũi vào đống sách đáng nguyền rủa đó mà để chúng ra đi như hai đứa harami vậy.
Babi đạp xe xuống phố, Laila ngồi đằng sau, vòng tay ôm bụng bố. Khi họ đi qua chiếc xe Benz màu xanh, Laila thoáng nhìn người đàn ông ngồi ghế sau: người gầy, tóc bạc trắng, diện bộ com lê nâu sẫm, trên túi áo ngực cài một chiếc khăn tay hình tam giác. Ngoài những cái đó thì điều duy nhất mà cô bé có thời gian để chú ý đến là chiếc xe mang biển số thành phố Herat.
Hai bố con im lặng trong suốt quãng đường còn lại, trừ lúc tới khúc ngoặt, Babi cẩn trọng phanh lại và nói, “Giữ chặt nhé, Laila. Đang dừng. Đang dừng. Đến nơi.”
—★—
Trong lớp học, suốt cả ngày hôm đó, Laila thấy thật khó tập trung, đầu óc cô bé chỉ lẩn quẩn nghĩ về sự vắng mặt của Tariq và cuộc cãi vã của bố mẹ. Do vậy, khi cô giáo yêu cầu cô bé đọc tên thủ đô của Romania và Cuba, Laila đã bị bất ngờ.
Cô giáo tên là Shanzai, nhưng sau lưng cô học sinh vẫn gọi cô là Khala Rangmaal, Bà dì Họa sĩ, ám chỉ điệu bộ cô thể hiện khi đánh vào lòng bàn tay học sinh, rồi mu bàn tay, mặt trước rồi mặt sau, giống như người họa sĩ đang quét chiếc bút lông. Khala Rangmaal là một phụ nữ trẻ có khuôn mặt sắc sảo với hàng lông mày rậm. Ngày đầu tiên lên lớp cô đã tự hào nói với cả lớp rằng cô là con gái của một người nông dân nghèo đến từ Khost. Dáng người cô thẳng, mái tóc đen nhánh được búi gọn đằng sau và khi Khala Rangmaal đứng quay lưng, Laila có thể nhìn thấy những sợi tóc đen lún phún trên cổ cô. Khala Rangmaal không trang điểm hay đeo đồ trang sức. Cô không đeo mạng che mặt và cũng cấm luôn các nữ sinh làm việc đó. Cô nói nam nữ bình đẳng trên mọi phương diện, vì thế người phụ nữ không việc gì phải che mặt nếu đàn ông không làm thế.
Cô còn nói Liên bang Xô Viết là quốc gia tốt đẹp nhất trên thế giới, cùng với Afghanistan. Thật tuyệt khi công nhân và tất cả người dân đều được bình đẳng. Mọi người dân Xô Viết đều vui vẻ và thân thiện, không giống như ở Hoa Kỳ, nơi tội ác khiến con người đến ra khỏi nhà cũng sợ. Và mọi người ở Afghanistan cũng đều hạnh phúc, cô nói tiếp, một khi những kẻ phản tiến bộ và những tên cướp nước bị đánh bại.
“Đó là lý do vì sao các đồng chí Xô Viết đã đến đây năm 1979. Để giúp đỡ đất nước anh em. Để giúp chúng ta đánh bại những kẻ hung tàn muốn biến nước ta thành thuộc địa và đưa chúng ta trở về thời nguyên thủy. Và các em cũng cần phải chung tay góp sức vào cuộc chiến đó. Các em cần báo lại bất kỳ ai có thể biết về những kẻ phiến loạn đó. Đó là nhiệm vụ của các em. Các em phải nghe ngóng, rồi báo lại. Thậm chí cho dù đó là cha mẹ hay cô dì, chú bác của các em. Bởi vì không ai trong số họ yêu các em bằng đất nước ta yêu các em. Hãy nhớ lấy, đất nước là trên hết! Tôi sẽ rất tự hào về các em, và đất nước cũng tự hào vì các em.”
Trên bức tường phía sau bàn của cô Khala Rangmaal có treo một tấm bản đồ Liên bang Xô Viết, một tấm bản đồ Afghanistan và bức ảnh đóng khung của vị Lãnh đạo Cộng sản mới đây nhất, Najibullah, người mà theo như Babi nói, đã từng là người đứng đầu của KHAD* khét tiếng, tổ chức cảnh sát mật của Afghanistan. Ở đó còn treo nhiều bức hình khác, chủ yếu là hình ảnh những người lính Xô Viết trẻ đang bắt tay nông dân, đang trồng các cây táo con, đang xây nhà với nụ cười thân ái thường trực.
“Chà,” Khala Rangmaal nói, “ta đã phá vỡ cơn mơ mộng của em hả, Cô gái Inquilab?”
Đó là biệt danh của Laila, Cô gái Cách mạng, bởi cô bé được sinh ra vào đêm diễn ra cuộc đảo chính tháng Tư năm 1978 – chỉ có điều Khala Rangmaal sẽ nổi giận nếu bất kỳ ai trong lớp nhắc đến từ đảo chính. Cô kiên quyết cho rằng những gì diễn ra đúng là một inquilab, một cuộc cách mạng, cuộc nổi dậy của giai cấp công nhân chống lại sự bất công. Thánh chiến Hồi giáo cũng là từ bị cấm. Theo cô, không hề có cuộc chiến tranh nào ở các tỉnh, chỉ là những cuộc giao tranh nhỏ lẻ chống lại bọn nổi loạn bị những kẻ chống phá nước ngoài xúi giục. Và tất nhiên, trước mặt cô, không ai, không một ai, lại dám nhắc đến những tin đồn đang rộ lên rằng sau tám năm chiến đấu, quân Xô Viết đang dần thua cuộc. Cụ thể là hiện nay Tổng thống Mỹ Reagan đã bắt đầu chuyển đến cho lực lượng Chiến binh Hồi giáo các tên lửa Stinger nhằm bắn hạ máy bay trực thăng Xô Viết, hiện nay tín đồ Hồi giáo từ khắp nơi trên thế giới đang đổ về tham gia mục tiêu này: người Ai Cập, Pakistan và cả người Ả rập Saudi giàu có đã bỏ lại tất cả tiền của để đến Afghanistan tham gia cuộc thánh chiến.
“Bucharest. Havana,” Laila trả lời.
“Các quốc gia đó có phải là bạn của chúng ta không?”
“Họ là bạn chúng ta, thưa moalim*. Đó là các nước bạn.”
Khala Rangmaal gật đầu cụt lủn.
—★—
Tan học, Mammy lại một lần nữa không đến đón như đã hẹn. Laila đành đi bộ về nhà cùng Giti và Hasina, hai bạn cùng lớp.
Giti là một cô gái nhỏ bé, xương xương, hai bím tóc buộc hai bên bằng dải ruy băng. Cô bé lúc nào cũng cau có và vừa đi vừa ôm quyển sách trước ngực như đeo khiên. Hasina mười hai tuổi, lớn hơn Laila và Giti ba tuổi nhưng một lần học đúp lớp ba và hai lần đúp lớp bốn. Mặc dù học hành không được sáng dạ nhưng bù lại Hasina rất láu lỉnh và mồm mép, đến nỗi Laila vẫn ví miệng Hasina hoạt động như một chiếc máy khâu. Chính Hasina đã đặt ra cái biệt danh của cô Khala Rangmaal.
Hôm nay, Hasina đang chia sẻ lời khuyên làm sao để cắt đuôi những anh chàng theo đuổi kém quyến rũ. “Cách thức cực kỳ đơn giản nhưng đảm bảo hiệu quả. Tớ hứa đấy.”
“Thật ngớ ngẩn. Tó còn nhỏ tuổi, không thể có một anh chàng theo đuổi được,” Giti nói.
“Đằng ấy không còn quá bé đâu.”
“Dù sao thì vẫn chưa có ai đến cầu hôn tớ hết.”
“Đó là bởi vì cậu có một bộ râu, bạn thân mến ạ.”
Giti bất chợt đưa tay lên cằm, rồi lườm Laila lúc này đang mỉm cười ái ngại và lắc đầu trấn an, Giti đúng là đứa kém hài hước nhất mà Laila từng gặp.
“Dù sao thì các quý cô cũng muốn biết việc gì cần và việc gì không cần làm chứ hả?”
“Nói đi nào,” Laila nói.
“Hạt đậu. Ít nhất là bốn hộp. Vào đúng buổi tối hôm con khủng long ấy đến cầu hôn các cậu. Nhưng các cậu ạ, thời điểm, thời điểm mới là tất cả. Các cậu phải kìm nén ‘pháo hoa’ lại cho tới lúc mời hắn ta uống trà.”
“Tó sẽ nhớ điều này,” Laila nói.
“Hắn ta cũng thế.”
Laila lẽ ra có thể nói rằng cô bé không cần đến lời khuyên đó bởi vì Babi không hề có ý định để cô bé lấy chồng sóm. Mặc dù làm việc tại Silo, một nhà máy làm bánh mì cực lớn ở Kabul, quần quật suốt ngày giữa hơi nóng và tiếng rền rĩ của máy nạp nhiên liệu cho lò nướng và máy nghiền ngũ cốc, Babi là người có trình độ đại học. Ông đã từng là giáo viên trung học trước khi bị những người cộng sản sa thải – chỉ một thời gian ngắn sau cuộc đảo chính năm 1978, khoảng một năm rưỡi trước khi quân Xô Viết đến xâm chiếm. Babi đã nói cho Laila rõ từ khi cô còn bé rằng sau sự an toàn của cô, điều quan trọng nhất trong cuộc đời ông chính là việc học hành của cô.
Bố biết con vẫn còn nhỏ, nhưng bố muốn con hiểu và học được điều này ngay từ bây giờ. Cưới xin có thể chờ đợi nhưng việc học thì không. Con là cô gái rất rất thông minh. Thực sự là như vậy. Con có thể đạt được những gì con muốn, Laila à. Bố biết con mà. Và bố cũng biết rằng khi chiến tranh kết thúc, Afghanistan sẽ cần đến con như cần những người đàn ông, thậm chí có thể còn hơn ấy chứ. Bởi lẽ xã hội sẽ không thể phát triển nếu người phụ nữ không được đi học. Không thể phát triển, Laila ạ.
Nhưng Laila không nói cho Hasina biết những gì Babi đã dạy, hay chuyện cô bé hạnh phúc thế nào khi có được người bố như ông, hoặc chuyện cô bé tự hào đến thế nào vì những lời nhận xét ông dành cho mình, hoặc chuyện cô bé rất quyết tâm theo đuổi sự nghiệp học hành như ông đã từng làm. Hai năm vừa rồi, Laila đều nhận được giấy khen awal numra trao hằng năm cho các học sinh xếp loại cao nhất mỗi khối lớp. Tất cả những điều này cô bé đều không nói với Hasina, vốn có ông bố lái taxi hay gắt gỏng, có thể trong hai hoặc ba năm nữa ông sẽ tìm chồng cho Hasina. Trong một giây phút nghiêm túc hiếm hoi, Hasina đã nói với Laila rằng mọi người đã xếp đặt cho nó kết hôn với người anh họ hơn nó hai mươi tuổi và làm chủ một cửa hàng ô tô ở Lahore. Hasina kể, Tớ đã gặp anh ta hai lần. Cả hai lần anh ta đều đang phùng mang trợn má mà ăn.
“Hạt đậu, các cậu ạ,” Hasina nói. “Các cậu nhớ nhé. Tất nhiên trừ khi” – tới đây nó nở nụ cười tinh quái và huých khuỷu tay vào Laila – “đó là chàng hoàng tử một chân đẹp trai trẻ trung của cậu gõ cửa. Và rồi…”
Laila hất khuỷu tay cô bạn. Cô bé sẽ cảm thấy bị xúc phạm nếu bất kỳ ai khác nói như thế về Tariq. Nhưng cô bé biết Hasina không hề có ác ý gì. Hasina vẫn hay xỏ xiên – đó chính là trò của nó – và con bé xỏ xiên không chừa một ai hết, ngay cả chính mình.
“Cậu không nên nói như thế về người ta!” Giti nói.
“Người nào cơ?”
“Những người bị thương bởi chiến tranh,” Giti nghiêm nghị nói, không nhận ra Hasina đang đùa.
“Tớ nghĩ Giáo sĩ Giti đây đã phải lòng Tariq. Tớ biết mà! Ha! Nhưng cậu ta đã có người nhận rồi, cậu không biết sao? Đúng không, Laila?”
“Tớ không phải lòng. Với bất kỳ ai!”
Hai đứa tách khỏi Laila, rẽ sang đường khác về nhà và tiếp tục tranh cãi theo kiểu đó.
Laila đi bộ một mình qua ba dãy nhà cuối cùng. Khi đang đi trên đường, cô nhận ra chiếc xe Benz màu xanh vẫn còn đỗ ở đó, bên ngoài nhà Rasheed và Mariam. Ông già diện bộ com lê nâu đang đứng cạnh mui xe, chống gậy, ngước nhìn ngôi nhà.
Đúng lúc đó, Laila nghe thấy một giọng nói phía sau, “Này, Tóc Vàng. Hãy nhìn đây.”
Laila quay người lại và thấy một nòng súng đang chĩa vào mình.
Khẩu súng màu đỏ, có vòng cò súng màu xanh sáng. Lờ mờ hiện ra đằng sau khẩu súng là khuôn mặt toe toét của Khadim. Khadim mười một tuổi, bằng Tariq. Nó to cao và thường hay chơi xấu ngầm. Bố nó là tay đồ tể ở Deh-Mazang, thế nên đôi khi người ta bắt gặp Khadim ném nội tạng của bê vào người qua đường. Khadim thỉnh thoảng đi theo Laila ở sân trường vào giờ giải lao, liếc mắt nhìn đểu và phát ra những tiếng rên rỉ nhỏ khi cô bé không có Tariq ở bên. Một lần, thằng bé đó vỗ vai Laila và nói, Mày thật xinh đẹp, Tóc Vàng ạ. Tao muốn cưới mày.
Lúc này đây, nó đang vung vẩy khẩu súng. “Đừng lo,” nó nói. “Thứ này không nhìn thấy được đâu. Không nhìn thấy được trên tóc mày.”
“Mày không được làm thế! Tao cảnh cáo mày đấy.”
“Mày sẽ làm gì nào?” thằng bé nói. “Mách với thằng què à? ‘Ôi, Tariq thân yêu. Ôi sao anh không về nhà để cứu em khỏi gã badmash* này!’”
Laila bắt đầu lùi lại nhưng Khadim đã bóp cò súng. Nhưng tia nước ấm liên tục bắn ra dính vào tóc Laila và cả bàn tay khi cô bé đưa tay lên che mặt.
Đến lúc ấy, những thằng bé khác mới ra khỏi chỗ nấp, cười sằng sặc.
Một câu chửi Laila đã nghe được trên đường phố giờ đây bật ra khỏi miệng cô bé. Cô bé không thực sự hiểu câu chửi đó – không thể hình dung được sự logic của nó – nhưng những từ ngữ trong đó chất chứa sự giận dữ sục sôi và bây giờ cô tuôn chúng ra.
“Mẹ mày ăn b…!”
“Ít nhất thì mẹ tao không phải là con điên như mẹ mày,” Khadim không mảy may bận tâm, tiếp tục bắn. “Bố tao ít nhất cũng không ẻo lả! Mà này, sao mày không thử ngửi tay mày xem?”
Mấy đứa con trai khác cùng đồng thanh hô. “Ngửi tay đi! Ngửi tay đi!”
Laila làm theo, nhưng thậm chí trước khi làm vậy cô bé đã biết thằng nhóc đó có ý gì khi nói rằng thứ này sẽ không thấy ở tóc cô bé. Cô bé kêu lên the thé. Thấy vậy, bọn con trai la hét càng dữ hơn.
Laila quay lưng, khóc thét và chạy về nhà.
—★—
Laila múc nước từ giếng lên, đổ đầy vào chậu tắm và cởi phăng quần áo ra. Cô bé xoa xà phòng lên tóc, vừa dùng ngón tay cào điên cuồng lên da đầu vừa thút thít khóc trong sự căm phẫn. Cô bé xả lại tóc bằng một gáo nước và xoa tiếp xà phòng thêm lần nữa. Mấy lần cô bé đã suýt nôn ra. Cô không ngừng thút thít và run rẩy khi chà đi chà lại chiếc khăn mặt thấm nước xà phòng lên mặt và cổ cho đến khi da đỏ ửng lên.
Nếu có Tariq ở bên cạnh thì chuyện này sẽ không bao giờ xảy ra, cô bé vừa nghĩ vừa mặc quần áo sạch vào. Khadim sẽ không dám làm gì. Và tất nhiên, chuyện cũng không xảy ra nếu như Mammy đến đón cô như đã hẹn. Đôi lúc Laila băn khoăn tự hỏi không biết Mammy có cảm thấy phiền phức vì đã sinh ra cô không. Giờ thì cô bé tin rằng người ta không nên sinh thêm một đứa con nào nếu như họ đã dành hết tình yêu thương của mình cho những đứa con trước đấy. Thật không công bằng. Một cơn tức giận trào lên trong cô bé. Laila đi vào phòng mình và nằm sập xuống giường.
Khi cảm thấy mọi thứ tồi tệ nhất đã qua, cô bé đi ngang hành lang đến cửa phòng Mammy và gõ cửa. Hồi còn bé, Laila thường ngồi hằng giờ ngoài cánh cửa này. Cô bé sẽ gõ cửa và thì thầm lặp đi lặp lại từ Mammy, giống như một câu thần chú nhằm phá giải bùa mê: Mammy, Mammy, Mammy, Mammy… Nhưng Mammy không bao giờ mở cửa. Bây giờ đây, bà cũng không mở cửa. Laila xoay nắm cửa và bước vào.
—★—
Thỉnh thoảng Mammy cũng có những ngày dễ chịu. Bà ra khỏi giường, mắt sáng ngời và vui vẻ. Làn môi dưới hơi trễ căng ra nở một nụ cười. Bà tắm. Bà mặc quần áo mới và chuốt lông mi. Bà để Laila chải tóc cho mình, công việc mà cô bé rất yêu thích, và đeo khuyên tai. Hai người cùng nhau đi mua sắm ở Mandaii Bazaar. Laila rủ bà cùng chơi trò Con rắn và cái thang, cùng ăn sô cô la bào từ những thanh sô cô la đen lớn, một trong những sở thích chung hiếm hoi của hai mẹ con. Điều Laila thích nhất vào những ngày vui vẻ của Mammy là khi Babi trở về nhà, hai mẹ con ngước lên từ bàn ăn và toét miệng cười khoe hàm răng nâu với bố. Một không khí ấm áp, hạnh phúc bao trùm cả căn phòng, và sau đó, Laila bắt gặp những cái nhìn thoáng qua đầy dịu dàng, lãng mạn đã từng nối kết bố mẹ khi ngôi nhà còn đông vui và ồn ã.
Đôi lúc, vào những ngày tươi đẹp đó, Mammy nướng bánh và mời các bà hàng xóm sang dùng trà và bánh ngọt. Laila phải lau sạch bát đĩa trong khi Mammy xếp ra bàn tách trà, khăn ăn và bát đĩa sạch. Tiếp đến, Laila sẽ chiếm một chỗ tại bàn phòng khách, cố gắng hóng hớt và tham gia cuộc trò chuyện khi các bà hàng xóm vừa nói chuyện hăng say vừa uống trà và khen ngợi tài nướng bánh của Mammy. Mặc dù Laila chẳng có gì mấy để nói, cô bé vẫn thích ngồi đó lắng nghe, bởi vì hiếm khi cô bé cảm thấy dễ chịu như trong những buổi tụ tập này: Cô bé được nghe Mammy nói về Babi đầy âu yếm.
“Anh ấy đã từng là giáo viên hạng nhất,” Mammy kể. “Học sinh rất quý trọng anh ấy. Không chỉ vì anh ấy không bao giờ dùng thước kẻ đánh học sinh như những giáo viên khác. Các bà thấy đấy, bọn chúng quý trọng anh nhà tôi vì anh ấy tôn trọng chúng. Anh ấy thật tuyệt vời.”
Mammy rất thích kể về chuyện mẹ đã cầu hôn bố ra sao.
“Khi đó tôi mười sáu tuổi, còn anh ấy mười chín. Hai gia đình chúng tôi sống sát nhà nhau ở Panjshir. Ôi, tôi đã phải lòng anh ấy, các hamshira ạ! Tôi thường trèo qua bờ tường ngăn cách giữa hai nhà và chúng tôi cùng chơi đùa trong khu vườn của bố anh ấy. Hakim lúc nào cũng lo sợ chúng tôi sẽ bị bắt quả tang và anh ấy sẽ bị bố tôi cho ăn đòn. ‘Bố em sẽ đánh đòn anh mất,’ anh ấy luôn nói thế. Anh ấy rất cẩn thận, rất nghiêm túc, thậm chí ngay từ hồi đó. Và rồi một ngày nọ, tôi đã nói với anh ấy, nói rằng, ‘Anh à, rồi chuyện gì sẽ đến đây? Anh có định cầu hôn em không hay anh để em phải khasiegari anh đây?’ Tôi đã nói như thế đấy. Giá mà các bà nhìn thấy bộ mặt anh ấy lúc đó!”
Rồi Mammy cũng vỗ tay rộn ràng như mấy bà kia còn Laila thì phá lên cười.
Nghe Mammy kể những cầu chuyện đó, Laila biết rằng đã từng có thời Mammy luôn nói về Babi như vậy. Khoảng thời gian mà bố mẹ cô bé không ngủ riêng phòng. Laila ước ao giá mình được chứng kiến quãng thời gian đó.
Theo lẽ tất nhiên, câu chuyện tỏ tình của Mammy lại được lái sang chuyện mai mối. Khi đất nước Afghanistan được giải phóng khỏi quân Xô Viết và các chàng trai trở về nhà, họ sẽ đi tìm vợ, vậy nên, lần lượt từng người, các bà hàng xóm thay nhau giới thiệu tất cả các cô gái, có cả người thích hợp lẫn không thích hợp cho Ahmad và Noor. Laila luôn có cảm giác mình bị ra rìa khi các cuộc nói chuyện quay sang chủ đề về các anh trai cô bé, cũng giống như khi các bà bàn tán về một bộ phim yêu thích mà chỉ có cô bé là chưa xem. Laila được hai tuổi khi Ahmad và Noor rời Kabul đi lên vùng Panjshir phía Bắc để gia nhập quân đội của Tổng chỉ huy Ahmad Shad Massoud và chiến đấu vì cuộc thánh chiến. Laila hầu như không nhớ gì về họ. Một sợi dây chuyền có mặt là chữ ALLAH sáng lấp lánh trên cổ của Ahmad. Một khóm lông đen ở một bên tai của Noor. Tất cả chỉ có thế.
“Azita thì sao?”
“Con gái của ông thợ làm thảm đó à?” Mammy vừa nói vừa vỗ má với vẻ coi thường. “Con bé còn nhiều ria mép hơn cả Hakim!”
“Còn Anahita. Chúng tôi nghe nói nó học giỏi nhất lớp ở Zarghoona đấy.”
“Thế các bà đã nhìn thấy bộ răng của nó chưa? Những tấm bia mộ thì đúng hơn. Con bé che đậy cả một bãi tha ma đằng sau đôi môi.”
“Vậy thì chị em nhà Wahidi?”
“Hai đứa lùn đó à? Không, không, không. Ôi không. Không phải dành cho con trai tôi. Không dành cho những ông hoàng của tôi được. Chúng xứng đáng hưởng những điều tốt đẹp hơn.”
Cuộc nói chuyện cứ tiếp diễn, còn Laila thì để tâm trí vẩn vơ đi chỗ khác, hầu như lúc nào cũng vậy, nó lại trôi về với hình bóng Tariq.
—★—
Mammy đã kéo những chiếc rèm màu vàng nhạt lại. Trong bóng tối, căn phòng sực lên bao thứ mùi quyện vào nhau: mùi ga trải giường chưa giặt, mùi mồ hôi, mùi của bít tất bẩn, mùi nước hoa, mùi qurma ăn thừa tối hôm trước. Laila đợi cho mắt quen với bóng tối rồi mới đi ngang qua phòng. Mặc dù vậy, chân cô bé vẫn vướng vào đống quần áo bày la liệt dưới sàn.
Laila kéo rèm ra. Ở cuối chân giường có một chiếc ghế gấp bằng kim loại đã cũ. Laila ngồi xuống đó nhìn đống chăn không nhúc nhích, chỗ mẹ cô bé đang nằm.
Các bức tường trong phòng Mammy treo kín ảnh của Ahmad và Noor. Laila nhìn vào đâu cũng thấy hình ảnh hai người lạ mặt đang mỉm cười với cô. Chỗ này là hình Noor đang cưỡi trên xe đạp. Chỗ này lại là Ahmad đang cầu nguyện bên cạnh chiếc đồng hồ mặt trời do Babi và anh ấy làm khi anh mới mười hai tuổi. Và chỗ kia, hai anh trai cô, họ đang ngồi tựa lưng vào nhau dưới gốc lê già ngoài sân.
Dưới gầm giường của Mammy, Laila có thể thấy một góc chiếc hộp giày của Ahmad thò ra ngoài. Thỉnh thoảng, Mammy lấy cho cô xem những mẩu báo cũ cắt rời, nhàu nát từ trong hộp ra, cả những quyển sách nhỏ mà Ahmad đã sưu tầm được từ những nhóm nổi dậy và các tổ chức kháng chiến có trụ sở đóng tại Pakistan. Laila nhớ lại một bức ảnh có hình một người đàn ông mặc áo khoác dài màu trắng đang đưa chiếc kẹo que cho một cậu bé bị cụt chân. Dưới bức hình có đề chú thích: Trẻ em là những nạn nhân chính của chiến dịch mìn của quân Xô Viết. Bài báo còn nói thêm rằng người Xô Viết cũng hay giấu chất nổ vào bên trong các đồ chơi màu sắc sặc sỡ. Nếu bọn trẻ nhặt chúng lên, đồ chơi sẽ phát nổ và cướp đi những ngón tay, thậm chí là cả một bàn tay. Làm như thế để các ông bố không thể tham gia cuộc thánh chiến được, họ phải ở nhà chăm sóc con cái. Ở một bài báo khác trong chiếc hộp của Ahmad, một chiến binh Hồi giáo trẻ nói rằng quân Xô Viết đã phun xăng vào làng anh và đốt cháy da, làm mù mắt người dân. Anh ta kể đã nhìn thấy mẹ và em gái chạy ra dòng suối và ho khạc ra đầy máu.
“Mammy.”
Đống chăn khẽ cựa quậy. Từ đó phát ra tiếng rên khe khẽ.
“Dậy thôi, Mammy. Đã ba giờ chiều rồi.”
Thêm một tiếng rên nữa. Một bàn tay giơ lên, như một chiếc kính tiềm vọng tàu ngầm đang trồi lên khỏi mặt nước, rồi lại thụt xuống. Lần này, đống chăn chuyển động rõ rệt hơn. Lớp chăn đệm kêu sột soạt. Mammy dần dần hiện ra: ban đầu là mái tóc rối bời, tiếp đến là khuôn mặt nhăn nhó, trắng nhợt, đôi mắt nheo lại vì ánh sáng, một bàn tay đang lần tìm thành giường, tấm chăn trượt xuống khi bà càu nhàu vươn dậy. Mammy cố gắng ngước nhìn, chưa quen với ánh sáng, rồi gục đầu xuống ngực.
“Buổi học thế nào?” bà thì thầm.
Lại bắt đầu. Những câu hỏi và câu trả lời hời hợt chiếu lệ. Cả hai đều đang giả vờ. Hai mẹ con là cặp đôi trong điệu nhảy cũ rích và mệt mỏi.
“Buổi học tốt ạ,” Laila trả lời.
“Con học được gì không?”
“Như thường lệ.”
“Con ăn chưa?”
“Rồi ạ.”
“Tốt rồi.”
Mammy lại ngẩng đầu lên, hướng về phía cửa sổ. Bà nhăn mặt lại và chớp chớp mi mắt. Má phải của bà ửng đỏ, tóc bên đó cũng xẹp xuống. “Mẹ bị đau đầu.”
“Con mang cho mẹ mấy viên thuốc aspirin nhé.”
Mammy xoa bóp hai bên thái dương. “Thôi để lát nữa. Bố con có nhà không?”
“Mới ba giờ mà mẹ.”
“Ờ. Phải. Con đã nói rồi.” Mammy ngáp. “Mẹ vừa nằm mơ,” bà nói, giọng bà chỉ to hơn một chút xíu so với tiếng quần áo cọ vào chăn mền sột soạt. “Vừa xong, ngay trước khi con bước vào. Nhưng mẹ không tài nào nhớ lại được. Con có gặp chuyện đó không?”
“Ai cũng có lúc như vậy mà Mammy.”
“Quả là điều lạ lùng nhất.”
“Con phải nói cho mẹ biết rằng trong khi mẹ đang nằm mơ thì một thằng bé đã bắn nước tiểu vào tóc con.”
“Bắn gì? Cái gì cơ? Nói lại mẹ nghe.”
“Nước tiểu. Nước đái.”
“Thật là… thật là kinh khủng. Thượng đế ơi, mẹ xin lỗi. Tội nghiệp con. Mẹ sẽ nói chuyện với thằng bé đó ngay sáng ngày mai. Hoặc mẹ của nó. Đúng rồi, mẹ nghĩ như thế thì tốt hơn.”
“Con còn chưa nói cho mẹ biết nó là ai mà.”
“À. Ừ, nó là đứa nào?”
“Thôi bỏ đi.”
“Con đang tức giận.”
“Lẽ ra mẹ phải đến đón con.”
“Mẹ phải đến,” Mammy rên rỉ. Laila không biết đó có phải là một câu hỏi hay không. Mẹ bắt đầu bứt tóc. Với Laila, việc tại sao thói quen bứt tóc của Mammy không làm cho đầu bà bị trọc lốc như một quả trứng vẫn luôn là một trong những điều bí hiểm lớn của cuộc sống. “Gì nhỉ… Tên cậu ta là gì, bạn con đó, Tariq phải không? Đúng rồi, thế lúc đó cậu ta ở đâu?”
“Cậu ấy đã đi xa được một tuần rồi.”
“Chà,” Mammy thở dài bằng mũi. “Con đã gội đầu chưa?”
“Rồi ạ.”
“Vậy là giờ con đã sạch sẽ.” Mammy hướng cái nhìn chăm chú đầy mệt mỏi ra ngoài cửa sổ. “Con đã sạch sẽ và mọi chuyện đều ổn.”
Laila đứng dậy. “Con phải làm bài tập bây giờ.”
“Tất nhiên rồi. Khép rèm cửa lại trước khi đi ra ngoài nhé, con yêu,” Mammy nói, giọng chìm dần. Bà đã nằm gọn dưới tấm chăn.
Khi Laila với rèm cửa, cô bé nhìn thấy một chiếc ô tô đi qua phố, nhả lại đằng sau một đám khói bụi. Đó chính là chiếc xe Benz màu xanh lục mang biển số Herat đến giờ mới dời đi. Cô bé đưa mắt dõi theo cho đến khi chiếc ô tô biến mất ở khúc ngoặt, cửa sổ sau xe lấp lánh dưới ánh mặt trời.
“Ngày mai mẹ sẽ không quên nữa,” tiếng Mammy vang lên đằng sau lưng cô bé. “Mẹ hứa đấy.”
“Hôm qua mẹ cũng nói thế.”
“Con không biết đâu, Laila.”
“Biết gì cơ ạ?” Laila xoay người lại đối diện với mẹ. “Con không biết gì?”
Mammy đặt tay lên ngực và vỗ. “Ở đây. Thứ ở đây này.” Rồi tay Mammy trở nên mềm nhũn. “Con không biết được đâu.”
—
Một tuần trôi qua nhung vẫn không có tin tức gì về Tariq. Rồi một tuần nữa lại đến và qua đi.
Để lấp đầy thời gian trống, Laila sửa chỗ rèm cửa rách mà Babi vẫn chưa đụng đến. Cô bé lôi sách của Babi xuống, phủi bụi và sắp xếp theo thứ tự chữ cái. Cô bé đi đến phố Gà cùng Hasina, Giti và bà Nila, mẹ của Giti, vốn là thợ may và thỉnh thoảng làm bạn may vá với Mammy. Trong tuần đó, Laila tin rằng trong các thử thách mà con người ta phải chịu đựng thì không có gì kinh khủng bằng việc chỉ đơn giản là chờ đợi.
Một tuần nữa trôi qua.
Laila cảm thấy mình đang mắc kẹt trong một mớ bòng bong những ý nghĩ khủng khiếp.
Cậu ấy sẽ không bao giờ trở lại. Bố mẹ cậu ấy đã chuyển nhà đi xa mãi mãi; chuyến đi đến Ghazni chỉ là một trò lừa gạt. Người lớn đã sắp xếp mọi thứ để hai đứa không phải buồn khi chia tay.
Cậu ấy lại dính một quả mìn nữa. Đúng như những gì đã xảy ra năm 1981, khi cậu ấy mới năm tuổi, cũng là lần gần đây nhất bố mẹ cậu đưa cậu ấy về miền Nam tới Ghazni. Không lâu sau sinh nhật lần thứ ba của Laila. Lần đó cậu ấy đã may mắn vì chỉ mất một chân; may mắn vì rốt cuộc cậu vẫn còn sống.
Trong đầu cô bé chỉ lùng bùng với những ý nghĩ ấy.
Đến một tối, Laila nhìn thấy ánh đèn pin nhỏ từ dưới phố. Một âm thanh vừa the thé vừa hổn hển phát ra từ môi cô bé. Cô bé vội moi chiếc đèn pin dưới gầm giường lên, nhưng nó bị hỏng. Laila đập đèn pin vào lòng bàn tay, nguyền rủa những cục pin chết. Nhưng không vấn đề gì. Cậu ấy đã trở về. Laila ngồi lên thành giường, ngây ngất vì gánh nặng được trút bỏ, và ngắm nhìn con mắt màu vàng, đẹp đẽ đó đang chớp nháy, lúc tắt lúc sáng.
—★—
Hôm sau, trên đường đến nhà Tariq, Laila nhìn thấy Khadim và lũ bạn của nó trên phố. Khadim đang ngồi xổm, dùng que vẽ vời lên đất bẩn. Khi nhìn thấy cô bé, nó vứt que xuống và ve vẩy ngón tay. Nó nói gì đó và cả lũ cười khục khặc. Laila cúi đầu bước qua thật nhanh.
“Cậu đã làm gì thế?” cô bé la lên khi Tariq ra mở cửa. Ngay sau đó, cô bé chợt nhớ ra bác cậu là một thợ cắt tóc.
Tariq đưa tay vuốt cái đầu mới được cạo trọc và mỉm cười, khoe hàm răng trắng hơi khấp khểnh.
“Cậu thích nó chứ?”
“Có vẻ như cậu đang định nhập ngũ.”
“Cậu muốn sờ không?” Cậu cúi đầu xuống thấp.
Những sợi tóc cứng nhỏ li ti cọ vào lòng bàn tay Laila thật dễ chịu. Tariq không giống như một vài cậu con trai khác, phải nhờ tóc che bớt cái đầu hình nón với những u bướu xấu xí. Đầu của Tariq cong một cách hoàn hảo và không hề có u.
Khi cậu nhìn lên, Laila thấy má và trán cậu rám nắng.
“Sao cậu đi lâu vậy?” cô bé hỏi.
“Bác mình bị ốm. Đi nào. Vào nhà đi.”
Tariq dẫn Laila đi dọc hành lang vào phòng khách. Laila yêu mọi thứ trong ngôi nhà này. Tấm thảm cũ sờn rách trong phòng khách, miếng mền khâu từ nhiều mảnh vải trên đi văng, sự bừa bộn trong cuộc sống thường nhật của Tariq: những mẩu vải của mẹ cậu, những chiếc kim khâu cài vào cuộn chỉ, những tờ tạp chí cũ, hộp đàn accordion ở trong góc phòng chỉ chực nứt vỡ ra.
“Ai thế?”
Tiếng mẹ cậu vọng từ bếp ra.
“Laila,” cậu bé trả lời.
Cậu kéo ghế cho cô bé ngồi. Phòng khách tràn ngập ánh sáng và có cửa sổ đôi mở ra ngoài sân. Trên cửa bày các lọ rỗng mà mẹ Tariq dùng để muối cà và làm mứt cà rốt.
“Con nói là aroos của chúng ta, cô con dâu của chúng ta à,” bố cậu bé bước vào phòng và nói. Ông vốn là thợ mộc, một người đàn ông gầy còm, có mái tóc bạc trắng của cái tuổi ngoài sáu mươi. Ông có hai răng cửa cách thưa nhau và đôi mắt lé của một người dành gần cả cuộc đời bôn ba khắp đất trời. Ông dang rộng cánh tay và Laila lọt thỏm trong vòng tay đó, nhận sự chào đón nồng hậu của ông cùng với mùi hương quen thuộc của mùn cưa. Hai người hôn má nhau ba lần.
“Ông mà cứ gọi nó như thế thì con bé sẽ không thèm tới đây nữa đâu,” mẹ Tariq nói khi đi ngang qua họ. Bà bê ra một cái mâm, ở trên có một bát to, một cái thìa và bốn bát nhỏ hơn. Bà đặt mâm xuống bàn. “Cháu đừng để ý đến ông già đó.” Bà khum tay ôm lấy khuôn mặt Laila. “Rất vui được gặp cháu, cháu yêu của ta. Đến đây, ngồi xuống nào. Bác sẽ quay lại với món hoa quả dầm.”
Chiếc bàn rất lớn, được làm từ gỗ thô sáng màu – bố Tariq đã đóng nó, cùng với cả mấy cái ghế nữa. Chiếc bàn được phủ lên một tấm khăn trải bàn nhựa vinyl xanh rêu in hình trăng lưỡi liềm với các vì sao màu hồng đậm. Ảnh chụp Tariq ở mọi lứa tuổi được treo khắp tường xung quanh phòng khách. Trong một vài bức ảnh lúc bé, cậu còn đủ hai chân.
“Cháu nghe nói anh trai bác bị ốm,” Laila vừa nói với bố Tariq vừa xúc thìa vào bát hoa quả dầm có nho khô, hồ trăn và mơ.
Ông châm điếu thuốc, “Ừ, nhưng bác ấy giờ khỏe rồi, shokr e Khoda, tạ ơn Thượng đế.”
“Một cơn đau tim. Đây là lần thứ hai rồi,” mẹ Tariq nói và trao cho chồng một cái nhìn động viên.
Bố Tariq nhả khói thuốc và nháy mắt với Laila. Lúc này cô bé lại có cảm giác rằng bố mẹ Tariq có thể dễ bị nhầm lẫn là ông bà của cậu. Mẹ cậu sinh ra cậu khi đã bước sang tuổi bốn mươi.
“Bố cháu khỏe không, cháu yêu?” mẹ Tariq ngước mắt nhìn qua bát, hỏi.
Từ khi gặp mẹ Tariq lần đầu, Laila đã thấy bà đội bộ tóc giả. Bộ tóc đang ngả sang màu tía đục theo năm tháng. Hôm nay bà kéo bộ tóc giả thấp xuống tận chân mày và Laila nhìn thấy những sợi tóc hoa râm ở hai bên mai. Cũng có hôm bộ tóc giả đó được đặt cao trên trán. Nhưng trong mắt Laila, mẹ Tariq chưa bao giờ trông lố bịch với bộ tóc đó. Những gì Laila nhìn thấy dưới bộ tóc giả là một khuôn mặt điềm tĩnh, đáng tin cậy, đôi mắt lanh lợi, cử chỉ dịu dàng, khoan thai.
“Bố cháu khỏe,” Laila trả lời. “Tất nhiên vẫn làm việc ở Silo. Bố cháu khỏe ạ.”
“Mẹ cháu thì sao?”
“Có ngày tốt. Cũng có ngày xấu. Vẫn cứ như thế ạ.”
“Ừ,” mẹ Tariq hạ thìa xuống bát, tư lự. “Thật khó khăn, vô cùng khó khăn đối với một bà mẹ phải xa những đứa con trai.”
“Cậu ở lại đây ăn trưa nhé?” Tariq hỏi.
“Cháu phải ở lại đấy,” mẹ cậu bé nói. “Bác đang làm shorwa*.”
“Cháu không muốn là mozahem* đâu.”
“Ngạc nhiên chưa?” mẹ Tariq nói. “Chúng ta mói đi được hai tuần mà cháu đã trở nên khách sáo thế ư?”
“Được rồi ạ, cháu sẽ ở lại,” Laila bẽn lẽn nói và mỉm cười.
“Cứ như thế nhé.”
Sự thật thì Laila thích dùng bữa ở nhà Tariq cũng ngang với việc cô bé chán ghét những bữa ăn ở nhà mình. Ở gia đình Tariq, không có ai một mình; họ luôn ăn cùng cả nhà. Laila thích những chiếc cốc nhựa màu tím mà họ dùng và thích bình nước luôn có một phần tư quả chanh nổi bên trên. Cô bé thích cách họ bắt đầu bữa ăn với một bát sữa chua tươi, cách họ vắt cam chua vào tất cả mọi thứ, kể cả vào món sữa chua, và cách họ pha trò, trêu chọc nhau bằng những câu bông đùa nhẹ nhàng, vô hại.
Sau bữa ăn, họ trò chuyện cùng nhau. Mặc dù Tariq và cha mẹ là người dân tộc Pashtun, họ vẫn nói tiếng Farsi khi có mặt Laila ở đó để cô bé được thoải mái, ngay cả khi Laila ít hay nhiều cũng có thể hiểu được tiếng Pashto gốc của họ vì cô bé đã được học ngôn ngữ đó ở trường. Babi nói rằng có những mâu thuẫn giữa hai dân tộc của họ, những người Tajik thiểu số và dân tộc Pashtun của Tariq, nhóm người chiếm đại đa số tại Afghanistan. Người Tajik luôn cảm thấy bị xem thường, Babi nói. Các đời vua người Pashtun đã cai trị đất nước này gần hai trăm năm mươi năm, Laila à, trong khi người Tajik chỉ có được vị trí đó trong vòng chỉn tháng hồi 1929.
Còn Babi, Laila hỏi, Babi có cảm thấy bị coi thường không?
Babi lấy vạt áo lau mắt kính. Theo bố, chuyện đó thật ngu ngốc – một chuyện ngu ngốc nguy hiểm – vì tất cả các câu chuyện đó chỉ là kiểu Tôi là người Tajik còn ông là người Pashtun còn anh ta là người Hazara còn cô ta là người Uzbek. Tất cả chúng ta đều là người Afghanistan, và đó mới là vấn đề chính. Nhưng khi một nhóm người cai trị những nhóm người khác trong một thời gian quá lâu… Sẽ có sự khinh thường. Sự thù địch. Như thế đấy. Luôn như thế.
Có thể thế. Nhưng Laila không bao giờ cảm thấy điều đó trong gia đình Tariq, nơi mà những vấn đề đó thậm chí chưa bao giờ xuất hiện. Mỗi lần đến thăm gia đình Tariq, Laila luôn cảm thấy tự nhiên, không gượng ép, không chút phiền phức bởi sự khác biệt về dân tộc hay ngôn ngữ, hay bởi sự thù hận, đố kỵ cá nhân vốn đã làm vẩn đục không khí trong chính gia đình cô bé.
“Mình chơi bài nhé?” Tariq hỏi.
“Phải đấy, các con lên lầu đi,” mẹ cậu bé nói, phẩy đám khói thuốc của chồng với vẻ không hài lòng. “Mẹ sẽ làm món shorwa.”
Hai đứa trẻ nằm sấp giữa phòng Tariq và thay phiên nhau chia bài panjpar. Vừa quơ quơ bàn chân trong không khí, Tariq vừa kể cho cô bé nghe về chuyến đi của mình, về những cây đào non cậu đã giúp bác mình trồng trong vườn, về một con rắn vườn mà cậu đã bắt được.
Tại căn phòng này, Laila và Tariq đã cùng làm bài tập về nhà, cùng xây những tòa tháp bằng quân bài và cùng vẽ những bức chân dung ngộ nghĩnh cho nhau. Nếu trời mưa, chúng sẽ dựa vào cửa sổ, uống nước cam Fanta có ga ấm và nhìn ngắm những hạt mưa căng mọng chảy thành dòng trên mặt kính.
“Được rồi, thêm một câu nữa nhé,” Laila vừa nói vừa trộn bài. “Cái gì ngồi một góc mà đi khắp thế giới?”
“Chờ đã.” Tariq đẩy người nhổm dậy và quay tròn chiếc chân giả. Cậu cau mày, chống khuỷu tay nằm nghiêng sang một bên. “Đưa cho mình cái gối kia.” Cậu đặt gối xuống chân. “Đó. Thế này dễ chịu hơn.”
Laila nhớ lại lần đầu Tariq cho cô bé xem phần chân bị cụt. Lúc đó cô bé sáu tuổi. Cô bé dùng một ngón tay ấn vào phần da căng bóng dưới đầu gối trái của cậu. Ngón tay cô bé chạm phải những cục u cứng ở đó, Tariq bảo rằng đó là những đầu xương đôi lúc phình lên sau khi phẫu thuật. Cô bé hỏi chỗ cụt có đau không và cậu trả lời là có đau vào cuối ngày, khi nó sưng lên và không vừa với phần chân giả như bình thường, giống như một ngón tay đút vào cái đê khâu vậy. Và thỉnh thoảng nó trở nên sần sùi. Nhất là lúc trời nóng. Khi đó mình sẽ bị phát ban và phồng rộp, nhưng mẹ có kem xoa dịu bớt. Củng không tệ lắm đâu.
Laila đã bật khóc.
Cậu khóc gì chứ? Tariq đeo phần chân giả lại. Cậu đòi xem nó cơ mà, cậu đúng là girvanok, con bé mít ướt! Nếu mình mà biết cậu rống lên như thế thì mình sẽ không cho cậu xem đâu.
“Con tem,” lúc này cậu bé nói.
“Gì cơ?”
“Câu đố. Đáp án là con tem. Bọn mình đi ra vườn thú sau bữa trưa nhé.”
“Cậu biết câu đố đó rồi. Đúng không?”
“Không hề.”
“Cậu là đồ nói dối.”
“Còn cậu là đồ ghen tị.”
“Vì cái gì chứ?”
“Trí thông minh của thằng con trai như mình.”
“Trí thông minh con trai của cậu á? Thế ư? Nói cho mình xem ai luôn thắng khi chơi cờ?”
“Mình nhường cho cậu thắng đấy chứ.” Cậu phá lên cười. Cả hai đứa đều biết điều đó là không đúng.
“Còn ai không giải được toán? Cậu đã phải đến nhờ ai giải bài tập cho mặc dù cậu học trên một lớp?”
“Mình sẽ học trên hai lớp nếu như môn toán không ngăn cản mình.”
“Theo mình môn địa lý cũng ngăn cản cậu đấy.”
“Cậu làm sao mà biết được chứ? Mà thôi đi. Nào bọn mình có đi chơi vườn thú hay không?”
Laila mỉm cười. “Đi chứ!”
“Tốt.”
“Mình nhớ cậu.”
Cả hai im lặng. Rồi Tariq quay về phía cô bé với khuôn mặt vừa nhăn nhó vừa cười cười với vẻ khó chịu. “Có chuyện gì thế?”
Laila tự hỏi đã không biết bao lần cô bé, Hasina và Giti không ngần ngại nói với nhau ba từ đó chỉ sau hai hay ba ngày không gặp nhau? Mình nhớ cậu, Hasina. Ôi, mình cũng nhớ cậu. Trước vẻ nhăn nhó của Tariq, Laila đã hiểu rằng con trai khác với con gái trong việc thể hiện tình cảm. Bọn chúng không thể hiện sự thân mật ra ngoài. Chúng không cảm thấy bị thúc giục, không thấy cần thiết phải nói như thế. Laila hình dung hai anh trai mình cũng như vậy. Laila kết luận rằng bọn con trai coi tình bạn giống như mặt trời: sự tồn tại của nó là không phải bàn cãi, có thể hưởng thụ ánh nắng rực rỡ nhưng không cần phải nhìn thẳng vào nó.
“Mình đang thử chọc cậu,” cô bé nói.
Cậu liếc mắt nhìn cô bé. “Có tác dụng rồi đấy.”
Nhưng cô bé nghĩ vẻ nhăn nhó của cậu bạn đã dịu xuống. Và hình như vết rám nắng trên má cậu đã ửng lên trong giây lát.
—★—
Laila không định kể cho Tariq biết. Thật ra, cô bé cho rằng hẳn sẽ không hay ho chút nào nếu kể chuyện đó cho cậu nghe. Sẽ có người bị thương vì cậu sẽ không bỏ qua mọi chuyện. Nhưng rồi sau đó khi cả hai đang trên đường xuống bến xe bus, cô bé lại gặp Khadim đang đứng dựa vào tường. Nó đứng giữa một lũ bạn, hai ngón cái móc vào dây lưng. Nó toét miệng cười Laila với vẻ ngang ngược.
Và vì thế cô bé đã kể lại cho Tariq. Toàn bộ câu chuyện ào ra khỏi miệng trước khi cô bé có thể dừng lại.
“Nó đã làm gì cơ?”
Cô bé nói lại một lần nữa.
Cậu chỉ về phía Khadim. “Thằng ấy? Là nó hả? Cậu chắc chứ?”
“Chắc chắn.”
Tariq nghiến răng và lầm bầm câu gì đó bằng tiếng Pashto mà Laila không hiểu được. “Cậu chờ ở đây,” Tariq nói bằng tiếng Farsi.
“Đừng, Tariq…”
Nhưng cậu đã băng qua đường.
Khadim là đứa đầu tiên nhìn thấy Tariq. Nụ cười của nó tắt dần và nó lùi lại, áp sát vào tường. Nó buông hai ngón tay cái ra khỏi dây lưng và đúng thẳng dậy, hít một hơi dè chừng trước mối đe dọa. Những đứa còn lại nhìn theo ánh mắt của nó.
Laila ước chi mình đã không hé răng điều gì. Chuyện gì sẽ xảy ra nếu bọn chúng tụm lại? Bọn chúng có bao nhiêu đứa – mười? mười một? mười hai? Sẽ ra sao nếu chúng đánh cậu ấy bị thương?
Rồi Tariq dừng lại cách Khadim và đồng bọn vài bước chân. Laila nghĩ có lẽ là một giây suy tính, có lẽ cậu sẽ thay đổi ý định, và khi cậu cúi xuống, cô bé tưởng cậu sẽ giả vờ là dây giày bị tuột và quay trở lại phía mình. Nhưng rồi tay cậu bắt đầu hoạt động và cô bé hiểu ra.
Những đứa kia cũng hiểu ra khi Tariq bật thẳng dậy, đứng trên một chân. Khi cậu bắt đầu nhảy lò cò về phía Khadim, rồi đuổi theo nó, chiếc chân giả tháo rời được giơ cao trên đầu như một thanh kiếm.
Bọn con trai vội vàng dạt sang hai bên. Chúng mở ra một lối thông thẳng về Khadim.
Sau đó tất cả chỉ còn là bụi, đấm, đá và tiếng kêu la.
Khadim không bao giờ dám trêu ghẹo Laila thêm một lần nào nữa.
—★—
Tối hôm ấy, như mọi khi, Laila dọn bữa tối chỉ dành cho hai người. Mammy bảo không đói. Vào những buổi tối bà cảm thấy đói, bà sẽ mang một đĩa thức ăn về phòng mình trước cả khi Babi về đến nhà. Cho đến khi Laila và Babi ngồi vào bàn ăn thì thường bà đã ngủ rồi hoặc đang nằm thao thức trên giường.
Babi bước ra khỏi phòng tắm, mái tóc muối tiêu bám đầy bột mì lúc mới về đến nhà đã được gội sạch và chải gọn gàng ra phía sau.
“Chúng ta có gì cho bữa tối thế Laila?”
“Xúp aush còn thừa ạ.”
“Nghe hấp dẫn đấy,” ông vừa nói vừa gấp chiếc khăn tắm lau tóc lại.
“Thế chúng ta sẽ học gì tối nay nhỉ? Cộng phân số à?”
“Đúng ra là đổi phân số sang hỗn số ạ.”
“À. Phải.”
Hằng tối, sau bữa ăn, Babi lại giúp Laila làm bài tập và giao cho cô bé thêm vài bài do ông tự soạn ra. Babi làm vậy chỉ để Laila luôn học trước cả lớp một hoặc hai bước, không phải vì ông không tán thành các bài tập trường giao về nhà – bất kể lối giảng dạy mang tính tuyên truyền sai lệch. Thật ra, Babi nghĩ điều duy nhất mà những người cộng sản đã làm đúng – hay ít nhất là đang dự định làm – thật trớ trêu thay, chính là trong lĩnh vực giáo dục, cái nghề mà họ đã loại ông ra. Cụ thể hơn nữa là sự nghiệp giáo dục dành cho nữ giới. Chính phủ đã tài trợ các lớp học xóa mù cho tất cả phụ nữ. Babi nói rằng hiện nay, gần hai phần ba số sinh viên tại trường Đại học Kabul là nữ giới, họ đang theo học ngành luật, y, kỹ sư.
Ở quốc gia này nữ giới luôn luôn gặp khó khăn, Laila ạ, nhưng có lẽ giờ đây dưới chế độ cộng sản, họ được tự do hơn và có nhiều quyền lợi hơn bao giờ hết, Babi nói, lúc nào cũng hạ thấp giọng vì biết rằng Mammy rất dị ứng với những lời lẽ khen ngợi người cộng sản, thậm chí dù chỉ là bóng gió xa xôi. Nhưng đúng là như vậy, Babi tiếp tục, đây là thời điểm có lợi cho người phụ nữ ở Afghanistan. Và con có thể tận dụng cơ hội đó, Laila. Tất nhiên, quyền tự do nữ giới – tới đây, ông lắc đầu buồn bã – cũng là một trong những lý do đầu tiên khiến người ngoài đó cầm vũ khí.
Với từ “ngoài đó”, ông không nói đến Kabul, một nơi tương đối tự do và cấp tiến. Chính ở Kabul này, phụ nữ được giảng dạy tại trường đại học, điều hành trường học và giữ các chức vụ trong chính phủ. Không, Babi muốn nói đến các vùng bộ lạc, đặc biệt là các khu vực của người Pashtun ở miền Nam và miền Đông, gần biên giới Pakistan, nơi người ta hiếm khi nhìn thấy phụ nữ trên đường phố, mà nếu có thì cũng phải che mạng kín mít và có đàn ông đi cùng. Ông muốn nói đến những vùng nơi con người sống tuân theo các luật lệ bộ lạc cổ xưa và họ đã nổi dậy chống lại những người cộng sản, chống lại các điều luật nhằm giải phóng người phụ nữ, xóa bỏ tục ép cưới, tăng tuổi được phép kết hôn đối với nữ giới lên mười sáu tuổi. Babi còn nói, những người đàn ông ở đó coi điều này là một sự xúc phạm nghiêm trọng của chính phủ đến truyền thống lâu đời hàng thế kỷ của họ, biến những vùng đất của họ thành nơi vô đạo, nơi lũ con gái của họ phải ra khỏi nhà, đi học và làm việc cùng với bọn đàn ông.
Thượng đế ngăn cấm điều đó xảy ra! Babi mỉa mai. Rồi ông thở dài và nói, Laila, con yêu, kẻ thù duy nhất mà một người Afghanistan không thể đánh bại chính là bản thân anh ta.
Babi ngồi xuống bàn, chấm bánh mì vào bát xúp aush.
Laila quyết định rằng cô bé sẽ kể cho bố nghe về chuyện Tariq đã xử lý Khadim như thế nào, sau bữa ăn và trước khi hai bố con bắt đầu với những phân số. Nhưng cô bé không bao giờ còn cơ hội đó. Bởi vì ngay sau đó, có tiếng gõ cửa và ngoài cửa là một người lạ mang tin đến.
“Ta cần nói chuyện với bố mẹ cháu, dokhtar jan,” ông ta nói khi Laila ra mở cửa. Đó là một người đàn ông rắn chắc, khuôn mặt xương xương, dạn dày sương gió. Ông ta khoác chiếc áo màu khoai tây và đội mũ pakol len nâu.
“Cháu có thể nói với bố mẹ là ai đang ở đây ạ?”
Rồi Laila nhận thấy bàn tay Babi đặt lên vai mình và ông nhẹ nhàng kéo cô bé ra khỏi cửa.
“Con lên gác đi Laila. Đi đi.”
Khi đi về phía cầu thang, cô bé nghe thấy vị khách nói với Babi rằng ông ta mang tin từ Panjshir đến. Bây giờ thì Mammy cũng đang có mặt ở trong phòng. Bà đưa một tay lên bụm miệng, đôi mắt hết nhìn Babi lại đưa sang người đàn ông đội mũ pakol.
Laila lén nhìn xuống từ trên đầu cầu thang. Cô bé quan sát người lạ mặt đang ngồi cùng bố mẹ. Ông ta ngả người về phía họ. Nói nhỏ vài từ. Sau đó khuôn mặt Babi biến sắc, trắng bệch và ông nhìn chăm chằm xuống bàn tay, còn Mammy thì thét lên, la hét, vò đầu bứt tóc.
—★—
Sáng hôm sau, ngày fatiha*, đám đàn bà hàng xóm tập trung tại nhà Laila và chịu trách nhiệm chuẩn bị bữa tối khatm, một nghi lễ sau đám tang. Mammy ngồi trên đi văng cả buổi sáng, các ngón tay vần vò chiếc khăn, mặt bà sưng lên. Bà được hai người phụ nữ đang sụt sùi ở bên chăm sóc, được họ thay nhau vỗ nhè nhẹ vào bàn tay, như thể bà là con búp bê mỏng manh nhất, hiếm có nhất trên thế giới này. Mammy dường như không hề để ý đến sự hiện diện của họ.
Laila quỳ gối trước mặt mẹ và cầm tay bà. “Mammy.”
Mắt bà hướng xuống. Bà chớp mắt.
“Chúng ta sẽ chăm sóc bà ấy, Laila à,” một người đàn bà ra vẻ trịch thượng nói. Trước kia, Laila đã từng dự nhiều lễ tang nơi mà cô bé đã nhìn thấy những người đàn bà giống như vậy, những người đàn bà ưa thích các thủ tục cần làm với người đã chết, những kẻ an ủi chính thức và không cho phép ai xâm phạm đến nhiệm vụ tự giao của họ.
“Mọi thứ vẫn ổn. Giờ cháu làm gì cứ làm đi, cô bé, làm một việc gì đó. Để mẹ cháu được yên.”
Bị xua đuổi, Laila cảm thấy mình thật vô dụng. Cô bé chạy từ phòng này sang phòng khác. Cô bé lăng xăng quanh bếp một lát. Một Hasina dịu dàng khác thường và bà mẹ đến thăm. Rồi cả Giti và mẹ cũng đến. Khi nhìn thấy Laila, Giti lao đến, quàng cánh tay xương gầy quanh người Laila và cứ thế ôm rất lâu và chặt đến không ngờ. Khi cô bé lùi lại, nước mắt đã lưng tròng. Cô bé nói, “Laila à, mình rất lấy làm tiếc.” Laila cám ơn nó. Ba đứa ngồi với nhau ngoài sân cho đến khi một người đàn bà đến giao cho chúng nhiệm vụ rửa cốc và chồng đĩa trên bàn.
Babi cũng quanh quẩn đi ra đi vào căn nhà một cách vô định, nhìn quanh, như thể đang tìm kiếm việc gì đó để làm.
“Bảo ông ta tránh xa tôi ra.” Đó là lần duy nhất Mammy nói trong suốt buổi sáng.
Cuối cùng Babi ngồi xuống một mình trên chiếc ghế gấp ở hành lang, trông ông thật cô độc và nhỏ bé. Sau đó, một người trong đám đàn bà nhắc nhở ông rằng ông đang ngồi giữa lối đi của mọi người. Ông xin lỗi và đi ngay vào phòng làm việc.
—★—
Chiều hôm đó, đàn ông đi đến hội trường mà Babi thuê ở Karteh-Seh để làm lễ fatiha. Phụ nữ thì đến nhà. Laila ngồi cạnh Mammy, gần lối vào phòng khách, theo tục lệ là chỗ ngồi dành cho gia đình người mới mất. Những người đến viếng tháo giày ở cửa, gật đầu chào người quen khi đi qua phòng và ngồi lên những chiếc ghế gấp xếp dọc theo tường. Laila nhìn thấy Wajma, bà đỡ già đã đỡ cô bé chào đời. Cô bé còn nhìn thấy cả mẹ của Tariq, bà phủ chiếc khăn choàng đen qua bộ tóc giả. Bà gật đầu với Laila, mím môi chậm rãi nở nụ cười buồn bã.
Từ đài phát ra giọng âm mũi của đàn ông đang ngâm các câu xướng trong kinh Koran. Giữa chừng các câu xướng, những người đàn bà thở dài, thay nhau ra vào và khóc sụt sịt. Xung quanh có tiếng ho nhẹ, tiếng thì thầm và cứ từng lúc ai đó lại gào lên nức nở đau khổ một cách thái quá.
Mariam, vợ của Rasheed, bước vào. Cô quấn một cái hijab đen. Vài sợi tóc tuột ra ngoài xòa xuống trán. Cô ngồi xuống cạnh tường, đối diện với Laila.
Bên cạnh Laila, Mammy liên tục lắc người từ trước ra sau. Laila kéo tay mẹ vào lòng mình và ấp ủ bằng cả hai tay nhưng Mammy dường như chẳng để ý.
“Mammy, mẹ có muốn uống nước không?” Laila nói vào tai bà. “Mẹ có khát không?”
Nhưng Mammy không nói gì. Bà không làm gì ngoài việc đu đưa người từ trước ra sau và nhìn chằm chằm xuống thảm một cách thờ ơ, lãnh đạm.
Lúc này, ngồi bên cạnh Mammy, chứng kiến những ánh mắt ủ rũ, sầu não khắp căn phòng, Laila dần cầm nhận tầm nghiêm trọng của tai họa đã giáng xuống gia đình mình. Những khả năng đã bị phủ nhận. Những hy vọng đã bị dập tắt.
Nhưng cảm giác đó không tồn tại lâu. Thật khó để cảm nhận, thực sự cảm nhận những mất mát của Mammy. Thật khó để gợi lên nỗi buồn, để đau thương trước cái chết của những người mà Laila không bao giờ nghĩ đến trước tiên ngay cả họ khi còn sống. Đối với cô bé, Ahmad và Noor chỉ giống như câu chuyện. Giống như những nhân vật trong truyền thuyết. Những ông vua trong sách lịch sử.
Chính Tariq mới là người thực, con người bằng xương bằng thịt. Tariq, người đã dạy cô bé những lời thề bằng tiếng Pashto, người thích ăn món cỏ ba lá ướp muối, người lúc nào cũng nhăn mặt và rên lên khe khẽ khi nhai, người có một vết bớt hồng nhạt ngay dưới xương đòn trái hình một cây đàn mandolin lộn ngược.
Vì thế Laila ngồi cạnh Mammy và than khóc Ahmad và Noor theo bổn phận, nhưng từ sâu thẳm trái tim cô bé, người anh trai thực sự vẫn còn sống và khỏe mạnh.