Thư viện Online
  • Trang chủ
  • Sách mới cập nhật
  • Trang chủ
  • Sách mới cập nhật

Ngàn Mặt Trời Rực Rỡ - Khaled Hosseini - Chương 2.2

  1. Home
  2. Ngàn Mặt Trời Rực Rỡ - Khaled Hosseini
  3. Chương 2.2
Prev
Next

Sự đau ốm rồi đây sẽ hành hạ Mammy trong những ngày còn lại của cuộc đời bà bắt đầu từ đó. Những cơn đau ngực, đau đầu, đau khớp và đổ mồ hôi ướt đẫm vào ban đêm, những cơn đau tai tê liệt, những cục u sưng lên mà không ai khác có thể cảm nhận được. Babi đưa mẹ đến khám bác sĩ, làm xét nghiệm máu và nước tiểu, chụp X quang khắp cơ thể nhưng không phát hiện ra căn bệnh nào.

Hầu như ngày nào Mammy cũng nằm liệt giường. Bà mặc đồ đen. Bà bứt tóc và giày vò cái nốt ruồi ở dưới môi. Khi Mammy tỉnh táo, Laila thấy bà đi loạng choạng khắp nhà. Bà luôn luôn dừng lại ở phòng Laila, như thể bà sẽ gặp lại các cậu con trai nếu bà cứ tiếp tục đi vào trong căn phòng nơi họ đã từng ngủ, đùa nghịch và dùng gối đánh nhau. Tuy nhiên tất cả những gì mà bà gặp phải chỉ là sự thiếu vắng họ. Và Laila. Cô bé tin rằng với Mammy thì việc cô có mặt hay không cũng như nhau cả thôi.

Công việc duy nhất mà Mammy không bao giờ sao lãng là năm bài cầu nguyện namaz hằng ngày. Bà két thúc mỗi bài namaz bằng cách cúi thấp đầu, tay đưa ra trước mặt, lòng bàn tay ngửa lên, lẩm nhẩm cầu nguyện Thượng đế mang chiến thắng đến cho lực lượng Chiến binh Hồi giáo. Laila phải đảm đương ngày càng nhiều việc nhà hơn. Nếu Laila mà không trông nom ngôi nhà thì cô bé sẽ phải chứng kiến quần áo, giày dép, bao gạo để mở, hộp đậu và bát đĩa bẩn vương vãi khắp nơi. Cô bé giặt đồ và thay ga trải giường cho Mammy. Cô bé dỗ dành bà ra khỏi giường để tắm và ăn uống. Cô bé cũng là người là áo sơ mi và gấp quần cho Babi. Chưa hết, cô bé còn là người nấu ăn cho gia đình.

Thỉnh thoảng sau khi đã làm xong hết việc nhà, Laila bò vào giường nằm cạnh Mammy. Cô bé vòng cánh tay ôm lấy bà, lồng những ngón tay bé nhỏ vào tay bà, vùi mặt vào tóc bà. Mammy sẽ cựa quậy, lẩm bẩm điều gì đó. Hiển nhiên, bà sẽ bắt đầu câu chuyện về những đứa con trai của mình.

Một ngày kia, khi hai mẹ con đang nằm như vậy, Mammy nói, “Ahmad đã sắp sửa trở thành chỉ huy. Trời phú cho nó cái uy tín để đảm nhiệm vị trí đó. Những người nhiều tuổi gấp ba lần nó cũng phải lắng nghe nó với sự kính trọng, Laila ạ. Một sự kiện đáng kể. Và Noor. Ôi, Noor của mẹ. Nó luôn luôn phác họa ra các tòa nhà và những cây cầu. Con biết đấy, nó sẽ trở thành một kiến trúc sư. Nó sẽ thay đổi cả Kabul bằng những thiết kế của mình. Và giờ đây cả hai đứa đều trở thành shaheed, những cậu bé của tôi, hai kẻ tử vì đạo.”

Laila nằm lắng nghe, ước gì Mammy sẽ nhận ra cô, Laila, người chưa phải là shaheed, người vẫn còn sống, đang ở đây, nằm trên giường với bà. Cô ước gì Mammy nhớ ra rằng cô cũng có những hy vọng và một tương lai phía trước. Nhưng Laila biết tương lai của cô bé không thể bù đắp được quá khứ của các anh trai mình. Họ đã phủ bóng lên cô bé khi họ còn sống. Họ có thể che mờ cô kể cả khi đã chết. Giờ đây, Mammy là người trông coi bảo tàng cuộc đời hai người con trai và cô, Laila, chỉ đơn thuần là một vị khách. Một cái hộp chứa đựng các truyền thuyết về họ. Một miếng giấy da để Mammy viết lên những huyền thoại về họ.

“Người đưa tin đã đến đây nói rằng khi người ta đưa các chàng trai về doanh trại, chính Ahmad Shah Massoud đã đứng ra chịu trách nhiệm chôn cất họ. Ông đã cầu nguyện cho họ tại mộ. Laila ạ, các anh trai con chính là những chàng trai dũng cảm đó, và chính Thủ lĩnh Massoud, Sư tử vùng Panjshir, Thượng đế phù hộ cho ông ấy, đã trông nom việc chôn cất chúng.”

Mammy xoay người ngả lưng xuống giường. Laila dịch người lại, gối đầu lên ngực bà.

“Có những ngày,” Mammy nói với giọng khàn khàn, “mẹ nghe thấy tiếng đồng hồ tích tắc ngoài hành lang. Rồi mẹ nghĩ về tất cả những giây, những phút, những giờ, những ngày, những tuần, những tháng và những năm đang chờ đợi mẹ. Tất cả thời gian đó mà không có chúng. Và khi đó mẹ không thở được, giống như ai đó đang giẫm chân lên trái tim mẹ, Laila ạ. Mẹ quá yếu rồi. Yếu đến nỗi chỉ muốn ngã xuống đâu đó.”

“Con ước gì có thể làm gì đó cho mẹ,” Laila nói, thực tâm nghĩ như vậy. Nhưng điều đó lại có vẻ đại khái, hời hợt giống một lời an ủi chiếu lệ của một người lạ mặt tốt bụng.

“Con là một đứa con gái ngoan,” Mammy nói sau tiếng thở dài. “Và mẹ đã không hoàn thành trách nhiệm của người mẹ với con.”

“Mẹ đừng nói vậy.”

“Ồ, đúng thế đấy. Mẹ biết điều đó và mẹ rất lấy làm tiếc, con yêu.”

“Mammy?”

“Ừm.”

Laila ngồi nhổm dậy, nhìn xuống Mammy. Mái tóc bà giờ đã điểm nhiều sợi bạc. Và Laila chợt giật mình nhận ra Mammy, một người phụ nữ lúc nào cũng béo tốt, giờ đã sụt cân đến chừng nào. Hai gò má trông vàng vọt, buồn sầu. Chiếc áo cánh bà đang mặc trễ xuống vai, giữa cổ và cổ áo là một khoảng lõm sâu. Đã hơn một lần, Laila nhìn thấy chiếc nhẫn cưới trượt khỏi ngón tay Mammy.

“Có điều này con đã định hỏi mẹ.”

“Chuyện gì?”

“Mẹ sẽ không…” Laila bắt đầu.

Cô bé đã tâm sự với Hasina về điều này. Theo như lời khuyên của Hasina, hai đứa đã dốc hết cả lọ thuốc aspirin xuống cống, giấu dao làm bếp và những cái xiên thịt sắc nhọn xuống dưới thảm ở bên dưới đệm đi văng. Hasina đã tìm thấy một sợi dây thừng ở ngoài sân. Khi Babi không tìm thấy dao cạo râu của ông, Laila buộc phải kể với ông về nỗi lo sợ của mình. Ông thả người xuống mép đi văng, hai tay kẹp giữa hai đầu gối. Laila chờ đợi để nhận được một sự trấn an từ ông. Nhưng tất cả những gì cô bé có được chỉ là một cái nhìn trống rỗng, hoang mang.

“Mẹ sẽ không… Mammy, con lo lắng rằng…”

“Mẹ đã nghĩ đến điều đó vào chính cái đêm chúng ta nhân được tin,” Mammy nói. “Mẹ sẽ không nói dối con, mẹ cũng đã nghĩ đến điều đó sau lúc ấy. Nhưng không. Laila, con đừng lo. Mẹ muốn nhìn thấy giấc mơ của các con trai mẹ trở thành hiện thực. Mẹ muốn chứng kiến cái ngày quân Xô Viết phải cuốn xéo về nước trong nhục nhã, ngày những Chiến binh Hồi giáo trở về Kabul trong chiến thắng. Mẹ muốn được ở đó khi điều này xảy ra, khi người dân Afghanistan được tự do, vì như thế các con trai mẹ cũng sẽ trông thấy. Chúng sẽ nhìn thấy qua mắt mẹ.”

Mammy nhanh chóng chìm vào giấc ngủ, để lại Laila với những cảm xúc giằng xé: cảm giác yên lòng vì Mammy sẽ cố gắng để sống, nhưng đau xót vì cô bé không phải là nguyên nhân níu kéo bà lại. Cô bé sẽ không bao giờ có thể để lại vết tích nào trong trái tim Mammy như các anh trai cô đã làm, bởi lẽ trái tim Mammy giống như một bãi biển xanh, nơi những dấu chân của Laila sẽ mãi mãi bị cuốn trôi đi cùng với những cơn sóng khổ đau dâng lên và đổ ập xuống, dâng lên và đổ ập xuống.

—

Người lái xe tạt vào bên lề để nhường đường cho một đoàn dài xe jeep và xe bọc sắt nữa của quân Xô Viết. Tariq vươn người qua ghế trước, chồm lên trên người lái xe và hô to, “Pajalusta! Pajalusta!*”

Một chiếc xe jeep bấm còi và Tariq huýt sáo đáp lại, tươi cười vẫy tay một cách phấn khởi.

“Những khẩu súng đáng yêu lắm!” cậu hét lên. “Những chiếc xe jeep huyền thoại! Đội quân huyền thoại! Quá tồi khi bọn mày lại thua một đám nông dân bắn súng cao su!”

Đoàn xe đi qua. Người tài xế đánh xe ra đường.

“Còn bao xa nữa?” Laila hỏi.

“Cùng lắm là một giờ nữa,” người tài xế đáp. “Nếu không gặp phải một đoàn diễu hành hay trạm kiểm soát nào nữa.”

Laila, Babi và Tariq, ba người đang có chuyến đi kéo dài một ngày. Hasina cũng rất muốn đi cùng và đã năn nỉ bố nó nhưng bố nó không cho đi. Chuyến đi này là ý tưởng của Babi. Mặc dù khó có thể trang trải được hết các chi phí bằng đồng lương của mình, ông vẫn thuê một người tài xế lái trọn ngày. Ông còn không hé lộ cho Laila biết một chút gì về nơi đến, chỉ nói mỗi một điều là ông làm thế vì đang cố gắng cho sự nghiệp học hành của cô bé.

Họ khởi hành từ năm giờ sáng. Nhìn qua cửa sổ chỗ Laila ngồi, cảnh vật liên tục thay đổi từ những đỉnh núi phủ tuyết đến các sa mạc cát, rồi đến những hẻm núi và những núi đá cháy xém dưới ánh mặt trời. Dọc bên đường, họ đã đi qua những ngôi nhà trát bùn, mái tranh và những cánh đồng có nhiều bó lúa mì nằm ngổn ngang. Dốc xuống những cánh đồng nhiều bụi rậm, Laila nhận ra đây đó những túp lều đen của dân du cư Koochi. Và xuất hiện thường xuyên nhất là những xác ô tô nổ bình xăng cháy đen và những chiếc trực thăng bị bắn rơi của quân Xô Viết. Cô bé nghĩ đây chính là đất nước Afghanistan của Ahmad và Noor. Xét cho cùng thì chính tại các tỉnh này mới là nơi cuộc chiến đang diễn ra. Không phải ở Kabul. Phần lớn Kabul vẫn sống trong yên ổn. Nói về Kabul, nếu thỉnh thoảng không có tiếng súng nổ, nếu không có những người lính Xô Viết đứng hút thuốc bên vỉa hè và những chiếc xe jeep Xô Viết vọt đi trên đường phố thì chiến tranh có lẽ chỉ là một lời đồn thổi mà thôi.

Gần trưa, sau khi đi qua hai trạm kiểm soát khác nữa, họ đến một thung lũng. Babi và Laila vươn người qua ghế và chỉ về phía một dãy tường cổ đỏ rực dưới ánh mặt trời ở xa xa.

“Nơi đó được gọi là Shahr-e-Zohak. Thành phố Đỏ. Trước kia nó từng là một pháo đài. Nó được xây dựng cách đây khoảng chín trăm năm để chống lại quân xâm lược tấn công vào thung lũng này. Cháu nội của Genghis Khan* đã tấn công pháo đài vào thế kỷ mười ba và đã bị giết chết. Nhưng chính Genghis Khan sau đó đã phá hủy được pháo đài.”

“Và đó, các bạn trẻ ạ, chính là câu chuyện về đất nước của chúng ta, hết kẻ xâm lược này lại đến kẻ xâm lược khác,” người tài xế nói, vẩy nhẹ tàn thuốc lá ra ngoài cửa sổ. “Người Macedonia. Người Ba Tư. Người Ả rập. Người Mông Cổ. Giờ là người Liên Xô. Nhưng chúng ta giống như những bức tường thẳng kia. Bị bào mòn và trông chẳng đẹp chút nào, nhưng vẫn đứng vững. Đúng thế không hả badar?”

“Quả thực là như vậy,” Babi đáp lại.

—★—

Nửa giờ sau, người tài xế tạt xe vào lề đường.

“Đi nào, hai đứa,” Babi nói. “Đi ra ngoài nhìn quanh xem.”

Họ bước ra khỏi xe. Babi chỉ, “Chúng đấy. Nhìn kìa.”

Tariq há hốc miệng. Laila cũng thế. Và cô bé biết rằng dù có sống đến trăm tuổi chăng nữa thì cô bé cũng sẽ không bao giờ có thể thấy lại một cái gì kỳ vĩ đến vậy.

Hai bức tượng Phật khổng lồ, cao lớn hơn nhiều so với những gì cô bé có thể tưởng tượng khi xem tất cả các bức ảnh trước đây. Hai bức tượng, được tạc trên vách đá trắng lóa dưới ánh mặt trời, nhìn chằm chằm xuống hai đứa trẻ giống như gần hai nghìn năm trước chúng đã nhìn xuống, Laila hình dung, những đoàn lữ hành đi ngang qua thung lũng này trên Con đường Tơ lụa. Dọc hai bên các bức tượng, vách đá điểm lỗ chỗ với vô vàn hang động.

“Cháu thấy mình quá nhỏ bé,” Tariq nói.

“Cháu có muốn trèo lên không?” Babi hỏi.

“Trèo lên các bức tượng ư?” Laila hỏi. “Chúng ta có thể làm thế sao?”

Babi mỉm cười và giơ tay ra. “Đi nào.”

—★—

Việc leo trèo này đối với Tariq thật khó khăn, cậu phải bám lấy cả Laila và Babi khi họ lần từng bước lên bậc thang xoáy trôn ốc chật hẹp, tối lờ mờ. Họ nhìn thấy những hang động âm u dọc đường đi và những lối hầm lỗ chỗ như tổ ong trên vách đá ở mọi ngả đường.

“Cẩn thận chỗ các con đang bước đấy,” Babi nói. Giọng ông dội vang. “Đất chỗ đó rất nguy hiểm.”

Ở một số chỗ, cầu thang dẫn tới một khoang hổng lớn trong tượng Phật.

“Các con, đừng nhìn xuống. Hãy nhìn thẳng về phía trước.”

Trong khi trèo lên cao, Babi kể cho hai đứa nghe rằng Bamiyan từng là một trung tâm Phật giáo thịnh vượng cho tới khi nó sụp đổ dưới sự thống trị của người Ả rập theo đạo Hồi vào thế kỷ mười chín. Vách đá sa thạch là nơi trú ngụ của các tăng ni Phật tử, là nơi được họ khoét thành các hang đá để ở và lập điện thờ cho những người hành hương kiệt sức vì chuyến đi dài. Babi nói các thầy tu đã vẽ các bích họa rất đẹp dọc theo tường và mái che hang động của họ.

“Có thời điểm,” ông nói, “có năm nghìn thầy tu sống ẩn dật trong những hang đá này.”

Khi họ leo lên đến đỉnh, Tariq mệt đứt hơi. Babi cũng thở hổn hển. Nhưng ánh mắt ông sáng bừng với niềm phấn khích.

“Chúng ta đang đứng trên đỉnh đầu tượng,” ông vừa nói vừa dùng khăn tay lau trán. “Có một hốc đá ở trên đây và chúng ta có thể nhìn ra ngoài.”

Họ lần từng bước về phía mái che lởm chởm đá rồi đứng bên nhau, Babi đứng giữa, cùng nhìn xuống thung lũng.

“Nhìn kìa!” Laila nói.

Babi mỉm cười.

Phía dưới, những cánh đồng màu mỡ tựa như tấm thảm phủ lên khắp thung lũng Bamiyan. Babi nói đó là lúa mì xanh vụ đông và cỏ linh lăng, cả khoai tây nữa. Các cánh đồng được viền quanh bằng những cây dương và có những con suối, con mương tưới nước chảy ngang qua, bên bờ suối có bóng dáng nhỏ tí xíu của những người phụ nữ đang ngồi giặt quần áo. Babi chỉ về phía những cánh đồng lúa gạo và lúa mạch đang gối lên nhau trên triền dốc. Bây giờ là mùa thu và Laila có thể nhận ra mọi người trong bộ áo chùng sáng màu đang rải lúa ra phơi trên nóc những ngôi nhà xây bằng gạch bùn. Dọc con đường chính xuyên suốt thị trấn cũng là hai hàng dương. Hai bên đường có những cửa hàng nhỏ, quán trà và hiệu cắt tóc. Bên trên làng mạc, sông suối, Laila còn nhìn thấy những chân đồi trọc màu nâu đất, và, vượt lên trên tất cả những thứ đó, cũng như vượt lên trên mọi thứ khác ở Afghanistan, là ngọn núi Hindu Kush đỉnh phủ tuyết trắng.

Phía trên tất cả là bầu trời xanh trong vắt, không một gợn mây.

“Tĩnh lặng quá,” Laila thì thào. Cô bé có thể nhìn thấy những chú cừu và ngựa nhỏ xíu nhưng không thể nghe thấy tiếng kêu của chúng.

“Đó chính là điều khiến bố nhớ mãi mỗi khi đứng ở trên đây,” Babi nói. “Sự tĩnh lặng. Sự yên bình. Bố hằng muốn các con cảm nhận được nó. Nhưng các con ạ, bố cũng muốn cho các con nhìn thấy di sản của đất nước chúng ta để hiểu được quá khứ đẹp đẽ của nó. Các con biết đấy, một số thứ bố có thể dạy các con. Một số thứ các con có thể học từ sách vở. Nhưng có những thứ, sao nhỉ, các con chỉ có thể nhìn và cảm nhận.”

“Nhìn kìa,” Tariq nói.

Họ nhìn thấy một con diều hâu đang bay lượn vòng trên ngôi làng.

“Babi đã bao giờ đưa Mammy lên đây chưa?” Laila hỏi.

“À, nhiều lần rồi. Trước khi mẹ sinh các anh con. Cả sau khi sinh nữa. Mẹ con đã từng rất thích phiêu lưu, và… tràn đầy nhiệt huyết. Bà ấy là người phụ nữ sôi nổi và vui vẻ nhất mà bố từng gặp.” Ông mỉm cười khi nhớ về những kỷ niệm. “Bà ấy đã có tiếng cười. Bố thề rằng chính vì nó mà bố cưới mẹ con, Laila à, vì tiếng cười đó. Nó hạ gục ta. Ta không thể nào chống đỡ lại được.”

Một làn sóng yêu thương trào dâng trong Laila. Kể từ giây phút đó, cô bé luôn nhớ về hình ảnh Babi như vậy: đang hồi tưởng về Mammy, khuỷu tay chống lên đá, bàn tay khum lại đỡ cằm, mái tóc bồng bềnh theo gió, đôi mắt nheo dưới ánh mặt trời.

“Mình sẽ đi xem một vài hang đá,” Tariq nói.

“Cẩn thận đấy,” Babi dặn.

“Vâng, thưa Kaka jan*,” tiếng Tariq vang vọng lại.

Laila nhìn theo nhóm ba người đàn ông xa xa ở phía dưới đang nói chuyện cạnh một con bò cột vào hàng rào. Cây cối xung quanh họ bắt đầu chuyển màu, màu nâu vàng, màu cam, màu đỏ tươi.

Babi nói, “Bố cũng nhớ các anh con, con biết không?” Mắt ông rơm rớm. Cằm ông rung lên. “Bố có lẽ không… Với mẹ con, cả niềm vui và nỗi đau của bà ấy đều tột cùng. Bà ấy không thể kiềm chế được. Không bao giờ. Còn bố, bố nghĩ mình thì khác. Bố muốn… Nhưng điều đó cũng làm cho bố suy sụp, những đứa con trai đã chết. Bố cũng nhớ các anh con. Không một ngày nào qua đi mà bố… Laila à, rất khó khăn. Khó vô cùng.” Ông đưa ngón cái và ngón trỏ chùi mạnh khóe mắt. Khi ông cố gắng tiếp tục câu chuyện, giọng ông như vỡ vụn. Ông uốn lưỡi và chờ đợi. Ông hít một hơi dài và sâu rồi nhìn cô bé. “Nhưng bố hạnh phúc vì có con. Ngày nào bố cũng cám ơn Thượng đế vì đã có con. Tất cả mọi ngày. Có những lúc, khi mẹ con có một ngày thực sự đau buồn, bố cảm thấy con là tất cả những gì bố có, Laila ạ.”

Laila xích lại gần hơn và áp má lên ngực ông. Dường như ông khẽ giật mình – không giống như Mammy, ông hiếm khi bộc lộ cảm xúc bằng sự âu yếm. Ông hôn nhẹ lên đầu cô bé và vụng về vòng tay ôm cô. Họ cứ đứng như thế một lúc nhìn xuống thung lũng Bamiyan.

“Mặc dù bố rất yêu mảnh đất này, nhưng bố nghĩ một ngày nào đó chúng ta sẽ phải ra đi,” Babi nói.

“Đi đến đâu ạ?”

“Bất cứ nơi nào để lãng quên. Bố nghĩ Pakistan là sự lựa chọn đầu tiên. Trong một năm, hoặc có thể là hai năm. Chờ cho các thủ tục giấy tờ được hoàn tất.”

“Còn sau đó?”

“Sau đó, chà, thế giới quả là rộng lớn. Có thể là nước Mỹ. Một nơi nào đó gần biển. California chẳng hạn.”

Bố nói rằng người Mỹ rất hào hiệp. Những người đó sẽ giúp đỡ họ kiếm tiền và thức ăn trong một thời gian cho tới khi họ có thể đứng vững trên đôi chân của mình.

“Bố sẽ đi tìm việc, và, trong một vài năm, khi chúng ta có đủ tiền tiết kiệm, chúng ta sẽ mở một cửa hàng đồ ăn Afghanistan nhỏ. Con hãy nhớ rằng, không có gì là viển vông hết, chỉ là một quán ăn hết sức bình dị với dăm cái bàn, mấy tấm thảm trải sàn. Có thể treo thêm vài bức ảnh Kabul. Chúng ta sẽ cho người Mỹ thưởng thức món ăn Afghanistan. Và với tài nghệ nấu nướng của mẹ con, họ sẽ phải xếp hàng dài trên phố.

“Còn con, tất nhiên con sẽ tiếp tục đi học. Con biết bố coi trọng vấn đề đó như thế nào rồi đấy. Ưu tiên hàng đầu của chúng ta là cho con được hưởng một nền giáo dục tốt, học cấp ba rồi đến đại học. Nhưng nếu con muốn, khi rảnh rỗi con có thể đỡ đần bố mẹ, làm theo sự chỉ bảo của chúng ta, rót đầy các bình nước, và những việc đại loại như thế.”

Babi nói rằng họ sẽ tổ chức các bữa tiệc sinh nhật tại quán, lễ kỷ niệm ngày cưới, những buổi sum họp đón năm mới. Nơi đó sẽ trở thành điểm tụ họp của những người Afghanistan, những người như họ, những người đã phải trốn chạy cuộc chiến tranh. Và vào đêm khuya, sau khi tất cả mọi người ra về, quán ăn được quét dọn sạch sẽ, họ sẽ ngồi uống trà giữa các bàn trống không, Babi, Mammy và Laila, mệt mỏi nhưng biết ơn vì số phận đã mỉm cười với họ.

Khi Babi nói xong, ông trở nên im lặng. Cả hai bố con đều không nói gì. Họ biết rằng Mammy sẽ không đi đâu hết. Đối với bà thì việc rời khỏi Afghanistan vốn là điều không thể nghĩ đến khi Ahmad và Noor vẫn còn sống. Giờ đây khi họ đã là những shaheed thì việc cuốn gói và chạy trốn thậm chí còn là một sự xúc phạm ghê gớm, một sự phản bội, một sự chối bỏ sự hy sinh của các con bà.

Sao ông có thể nghĩ đến điều đó được chứ? Laila có thể nghe thấy những gì bà sẽ nói. Cái chết của chúng không có ý nghĩa gì với ông sao, thưa ông? Niềm an ủi duy nhất của tôi bây giờ là biết rằng mình đang bước đi trên mảnh đất thấm đẫm máu của các con tôi. Không. Không bao giờ.

Và Laila biết Babi sẽ không bao giờ đi mà không có bà, mặc dù giờ đây Mammy đã không còn coi mình là vợ của ông và là mẹ của Laila nữa. Vì Mammy, ông sẽ gạt bỏ giấc mơ hão huyền của mình sang một bên, giống như phủi các hạt bột mì ra khỏi áo khoác khi ông trở về nhà từ chỗ làm việc. Do đó, họ sẽ ở lại. Họ sẽ ở lại cho đến khi chiến tranh kết thúc. Và họ sẽ ở lại cho dù bất kỳ chuyện gì xảy đến sau cuộc chiến.

Laila nhớ một lần Mammy đã nói với Babi rằng bà đã kết hôn với một người đàn ông chưa bao giờ bị ai kết tội. Mammy không hiểu. Bà không hiểu rằng nếu nhìn vào gương, bà sẽ thấy một bản án không bao giờ chấm dứt của cuộc đời người đàn ông ấy đang nhìn lại vào chính bà.

—★—

Sau bữa trưa với trứng luộc, khoai tây và bánh mì, Tariq nằm chợp mắt dưới một gốc cây, bên bờ suối chảy róc rách. Cậu gấp gọn áo khoác làm gối ngủ, hai tay khoanh lại trên ngực. Người tài xế vào làng mua quả hạnh. Babi ngồi dưới gốc một cây keo thân to đọc sách. Laila biết cuốn sách đó; ông đã đọc cho cô bé nghe một lần. Câu chuyện kể về một người đánh cá già tên là Santiago bắt được một con cá khổng lồ. Nhưng đến khi ông chèo được thuyền về an toàn thì chẳng còn dấu vết gì của con cá đó; bọn cá mập đã xé xác nó thành từng mảnh.

Laila ngồi bên bờ suối, ngâm chân xuống dòng nước mát lạnh. Đàn muỗi kêu vo ve và những bông hoa nhỏ rung rinh trên đầu cô bé. Một chú chuồn chuồn bay lượn ở gần đó. Laila nhìn theo đôi cánh chuồn chuồn lấp lánh dưới ánh mặt trời khi nó chao liệng từ ngọn cỏ này đến ngọn khác. Đôi cánh lóe lên màu tía, rồi màu xanh, màu cam. Bên kia con suối, đám con trai dân bản địa Hazara đang nhặt phân bò khô bỏ vào chiếc bị buộc sau lưng. Đâu đó có tiếng một chú lừa kêu be be. Một chiếc máy phát điện chạy được khởi động.

Laila lại nghĩ về giấc mơ nhỏ bé của Babi. Nơi nào đó gần biển.

Có một điều cô bé đã không nói với Babi khi còn ở trên đỉnh tượng Phật: đó là cô bé thực sự rất vui vì họ không thể ra đi. Cô sẽ nhớ Giti và sự nghiêm nghị ra mặt của con bé, đúng thế, và Hasina nữa, với nụ cười tinh quái và tất cả những trò đùa vô tâm. Nhưng cô bé nhớ nhất là quãng thời gian khổ sở của bốn tuần thiếu vắng Tariq vừa qua, khi cậu đi Ghazni. Cô bé nhớ rõ thời gian đã chậm chạp trôi đi ra sao khi không có cậu, cô đã bị xáo trộn như thế nào vì cảm giác chờ đợi mòn mỏi, mất thăng bằng. Cô bé sẽ xoay xở ra sao đây nếu mãi mãi không còn được gặp lại cậu nữa?

Có thể thật điên rồ khi Laila khao khát ở gần một ai đó ở chính cái mảnh đất mà bom đạn đã xé nát thân xác hai người anh trai của cô. Thế nhưng, tất cả những gì Laila phải làm là hình dung lại cảnh Tariq cầm chiếc chân giả xông lại phía Khadim, và rồi dường như không có gì trên thế giới này có ý nghĩa hơn thế với cô bé nữa.

—★—

Sáu tháng sau, tháng Tư năm 1988, Babi về nhà và mang theo một tin đặc biệt.

“Họ đã ký một hiệp ước!” ông nói. “Tại Geneva. Một hiệp ước chính thức! Họ sẽ rút quần. Trong vòng chín tháng, sẽ không còn một lính Xô Viết nào ở Afghanistan!”

Mammy đang ngồi ở trên giường. Bà nhún vai.

“Nhưng chế độ cộng sản thì vẫn còn tồn tại,” bà nói. “Najibullah là tổng thống bù nhìn của quân Xô Viết. Ông ta sẽ không đi đâu hết. Không, chiến tranh sẽ tiếp tục. Đó chưa phải là kết thúc.”

“Najibullah sẽ không còn là tổng thống nữa,” Babi nói.

“Mẹ à, bọn họ sẽ rút đi! Bọn họ sẽ rút đi thật đấy!”

“Hai người cứ việc ăn mừng nếu muốn. Nhưng tôi sẽ không yên tâm cho đến khi những chiến binh Hồi giáo tổ chức buổi diễu hành chiến thắng ngay tại đây, tại Kabul này.”

Và với niềm tin đó, bà lại nằm xuống và kéo chăn lên.

—

THÁNG MỘT, 1989

Một ngày u ám, lạnh lẽo tháng Một năm 1989, ba tháng trước khi Laila bước sang tuổi mười một, cô bé cùng bố mẹ và Hasina đi xem một trong những đoàn quân Liên Xô cuối cùng rút khỏi thành phố. Người dân đến xem đứng kín hai bên đường lớn, ở ngoài Câu lạc bộ Quân đội gần Wazir Akbar Khan. Họ đứng trong đống tuyết vấy bùn đất và quan sát một hàng xe tăng, xe bọc thép và xe jeep khi những bông tuyết nhẹ bay ngang qua trong ánh đèn pha ô tô loang loáng. Họ buông ra những lời chất vấn và chế nhạo. Quân lính Afghanistan ngăn họ tràn xuống đường. Thỉnh thoảng lại có một phát súng cảnh cáo được bắn lên.

Mammy giơ cao bức ảnh của Ahmad và Noor qua đầu. Đó là bức hình hai cậu bé đang ngồi dựa lưng vào nhau ở dưới cây lê. Có một số người đàn bà khác cũng làm như Mammy, họ giơ cao bức ảnh của những shaheed là chồng, con, anh em của họ.

Ai đó vỗ vào vai Laila và Hasina. Đó là Tariq.

“Cậu lôi thứ đó từ đâu ra vậy?” Hasina thốt lên.

“Tó nghĩ tớ sẽ ăn mặc thật bảnh cho dịp này.” Tariq nói. Cậu đang đội một chiếc mũ lông lớn kiểu Nga, hai miếng che tai rủ xuống. “Trông tó thế nào?”

“Lố bịch,” Laila phá lên cười.

“Ý tưởng chính là như thế.”

“Bố mẹ cậu cũng đến đây mà để cậu ăn mặc kiểu này à?”

“Thực ra, họ ở nhà,” cậu nói.

Ông bác của Tariq ở Ghazni đã mất do đau tim và ít tuần sau đó, bố cậu cũng trải qua một cơn đau tim, khiến ông yếu hẳn đi, mệt mỏi, dễ lo lắng và liên tục rơi vào trạng thái trầm cảm, mỗi lần kéo dài hằng tuần. Laila rất vui khi nhìn thấy Tariq trở lại như trước kia. Sau khi bố Tariq bị ốm, Laila thấy cậu cứ quét dọn khắp nhà, dáng vẻ buồn bã và nét mặt nặng trĩu lo âu.

Ba đứa trẻ lỉnh ra xa trong khi Mammy và Babi đứng xem toán quân Xô Viết. Tariq mua cho mỗi đứa một đĩa đậu luộc rưới tương ớt tại một hàng rong ven đường. Chúng ngồi ăn dưới mái hiên của một cửa hàng thảm đã đóng cửa, sau đó Hasina đi tìm gia đình mình.

Trên chuyến xe bus về nhà, Tariq và Laila ngồi sau bố mẹ cô bé. Mammy ngồi bên cửa sổ, nhìn ra ngoài, ôm chặt bức ảnh trước ngực. Bên cạnh bà, Babi bình thản nghe một người đàn ông đang tranh luận rằng quân Xô Viết có thể rời đi nhưng họ sẽ gửi vũ khí về cho Najibullah ở Kabul.

“Ông ta là con rối của chúng. Chúng sẽ duy trì cuộc chiến thông qua ông ta, hãy tin điều đó.”

Ai đó ở dãy ghế kế bên lên tiếng đồng tình.

Mammy đang lầm bầm một mình, những lời cầu nguyện dài lê thê thay nhau tuôn ra cho tới khi bà không còn hơi nữa và những từ cuối cùng được phát ra bằng một âm the thé nhỏ xíu.

—★—

Chiều muộn ngày hôm đó, Laila và Tariq tới rạp Công viên, hai đứa phải ngồi xem một bộ phim Xô Viết được lồng tiếng Farsi, vô tình tạo ra những hiệu ứng rất buồn cười. Có một chiếc tàu buôn, thuyền phó đem lòng yêu con gái của ông thuyền trưởng. Tên của cô là Alyona. Rồi một trận bão dữ dội tràn tới, sấm sét, mưa, mặt biển dậy sóng, vùi dập con tàu. Một trong số các thủy thủ bị kích động mạnh đang gào thét gì đó. Trong khi đó, một giọng Afghanistan điềm tĩnh một cách lố bịch lại dịch ra: “Ngài kính mến, xin ngài làm ơn chuyển cho tôi cái dây chão được không ạ?”

Lúc đó Tariq bật cười khúc khích. Và ngay sau đó, cả hai đứa đều cười như điên. Ngay khi một đứa thấy mệt, đứa kia lại sẽ cười phá lên và chúng lại phải tiếp tục thêm một lượt nữa. Một người đàn ông ngồi ở hai hàng ghế phía trước quay lại và suỵt cho chúng giữ yên lặng.

Có một cảnh đám cưới ở gần cuối phim. Thuyền trưởng động lòng thương và đã cho phép Alyona được cưới viên thuyền phó. Đôi vợ chồng mới cưới nhìn nhau mỉm cười. Tất cả mọi người đều uống rượu vodka chúc mừng.

“Tớ sẽ không bao giờ làm đám cưới,” Tariq thì thầm.

“Tớ cũng thế,” Laila nói, nhưng sau một chút hồi hộp, lưỡng lự. Cô bé lo rằng giọng nói của mình đã để lộ ra nỗi thất vọng trước những gì mà cậu bạn mới nói. Tim đập dồn trong ngực, cô bé thêm vào, lần này cương quyết hơn, “Không bao giờ.”

“Đám cưới là điều ngu xuẩn.”

“Cứ nhặng xị cả lên.”

“Tốn bao nhiêu tiền bạc.”

“Để làm gì chứ?”

“Cho những thứ quần áo sẽ không bao giờ mặc lại lần nữa.”

“Ha!”

“Nếu như có bao giờ tớ phải làm đám cưới,” Tariq nói, “thì họ sẽ phải để đủ chỗ cho ba người đứng trên bục kết hôn. Tớ, cô dâu và một người cầm súng chĩa vào đầu tớ.”

Người đàn ông ngồi ở hàng ghế trước lại ném cho chúng một cái nhìn cảnh cáo.

Trên màn ảnh, Alyona và người chồng mới của cô đang hôn nhau.

Nhìn nụ hôn đó, Laila tức thì nhận thấy những cảm giác khác lạ. Cô bé trở nên chú ý cao độ vào nhịp tim của mình, tiếng mạch máu thịch thịch ở hai tai và hình dáng Tariq đang ngồi cạnh, lúc này cũng đang căng thẳng, bất động. Nụ hôn vẫn tiếp tục. Laila đột ngột cảm thấy một sự thúc ép khẩn cấp, khiến cho cô bé không thể cử động hoặc gây nên một tiếng động nào. Cô bé cảm thấy Tariq đang quan sát mình – một mắt thì nhìn nụ hôn, còn mắt kia nhìn vào cô – cũng như cô đang quan sát cậu. Laila băn khoăn tự hỏi liệu cậu có nghe thấy tiếng thở gấp gáp của cô không, liệu cậu có chờ đợi một cử chỉ ngập ngừng, một thái độ bất thường nào đó để lộ ra những suy nghĩ của cô không?

Hôn Tariq thì sẽ như thế nào nhỉ, cái cảm giác khi hàng ria mỏng trên môi cậu ấy cọ vào đôi môi của cô sẽ ra sao?

Rồi Tariq cử động một cách không thoải mái trên ghế. Bằng một giọng không tự nhiên, cậu nói, “Cậu có biết rằng nếu cậu xì nước mũi ở Siberia thì nó sẽ biến thành một cột băng trước khi chạm đất không?”

Cả hai cùng cười, nhưng lần này có phần ngắn ngủi và hồi hộp. Khi bộ phim kết thúc và hai đứa bước ra ngoài, Laila cảm thấy thật nhẹ nhõm bởi vì trời đã tối và cô bé sẽ không phải chạm ánh mắt Tariq dưới ánh sáng ban ngày.

—

THÁNG TƯ, 1992

Ba năm đã trôi qua.

Trong khoảng thời gian đó, bố của Tariq đã trải qua rất nhiều cơn đau tim. Chúng khiến cánh tay trái của ông trở nên lóng ngóng và giọng nói thì có phần líu nhíu. Khi ông bị xúc động, điều vốn xảy ra khá thường xuyên, thì tật nói nhịu đó càng trở nên tệ hơn.

Tariq lớn lên và một lần nữa chiếc chân giả lại không vừa với cậu và rồi cậu được tổ chức Chữ Thập Đồ thay cho một cái chân mới, mặc dù phải chờ sáu tháng mới được nhận.

Giống như Hasina đã lo sợ, gia đình đã đưa nó đến Lahore, ở đó nó phải cưới người anh họ có một cửa hàng bán ô tô. Buổi sáng ngày họ đưa Hasina đi, Laila và Giti tới nhà nó để nói lời tạm biệt. Hasina nói với hai đứa rằng, người anh họ đó, người chồng sắp cưới của nó, đã bắt đầu chuẩn bị thủ tục để hai người chuyển tới nước Đúc, nơi những người anh em trai của anh ta đang sinh sống. Nó nghĩ trong vòng năm nay là hai người sẽ ở Frankfurt rồi. Ba đứa đã khóc khi ôm nhau tạm biệt. Giti buồn vô cùng. Lần cuối Laila nhìn thấy Hasina là khi nó được bố nó giúp chui vào hàng ghế sau chật cứng người của một chiếc taxi.

Liên bang Xô Viết sụp đổ một cách nhanh chóng đến kinh ngạc. Laila thấy dường như cứ khoảng một vài tuần, Babi lại trở về nhà mang theo tin một nước cộng hòa tuyên bố ly khai. Lithuania. Estonia. Ukraina. Lá cờ Xô Viết đã được hạ xuống ở điện Kremlin. Cộng hòa Liên bang Nga ra đời.

Ở Kabul, Najibullah thay đổi chiến thuật và cố thể hiện bản thân mình như là một người Hồi giáo mộ đạo. “Quá nhỏ nhoi, chẳng đáng kể gì và đã quá muộn rồi,” Babi nói. “Một người không thể là đầu sỏ của KHAD trong ngày này rồi ngày hôm sau lại đến cầu nguyện ở một thánh đường cùng với họ hàng thân thích của những người đã bị ông ta tra tấn và giết chết.” Cảm thấy chiếc dây thòng lọng đang ngày càng siết chặt xung quanh Kabul, Najibullah cố gắng để đạt được một hòa ước với lực lượng Chiến binh Hồi giáo, nhưng lực lượng Chiến binh Hồi giáo đã lờ đi.

Từ trên giường, Mammy nói, “Đấng tối cao phù hộ cho họ.” Bà thức đêm để trông ngóng Chiến binh Hồi giáo và chờ đợi cuộc diễu hành của bà. Chờ đợi thời khắc mà những kẻ thù của các con trai bà sụp đổ.

—★—

Và cuối cùng, họ đã sụp đổ. Vào tháng Tư năm 1992, năm Laila mười bốn tuổi.

Najibullah cuối cùng đã đầu hàng và được cấp chỗ ở trong một căn cứ của Liên Hợp Quốc, gần cung điện Darulaman, phía Nam thành phố.

Cuộc thánh chiến đã kết thúc. Các chính quyền cộng sản lên nắm quyền kể từ cái đêm Laila được sinh ra đã bị đánh bại. Những người anh hùng của Mammy, những đồng đội của Ahmad và Noor đã giành chiến thắng. Và bây giờ, sau hơn một thập kỷ phải hy sinh mọi thứ, rời bỏ gia đình để lên sống trên những vùng núi cao, chiến đấu cho quyền tự chủ của Afghanistan, những chiến binh Hồi giáo đang trở lại Kabul trong thân hình rã rời vì chiến trận.

Mammy biết tên tất cả bọn họ.

Đó là Dostum, vị chỉ huy ăn mặc lòe loẹt người Uzbek, thủ lĩnh của nhóm Junbish-i-Milli, người nổi tiếng với việc khơi dậy lòng trung thành. Là Gulbuddin Hekmatyar nóng nảy và hay cáu kỉnh, thủ lĩnh của nhóm Hezb-e-Islami, một người Pashtun theo học chuyên ngành kỹ thuật, đã từng giết chết một sinh viên theo tư tưởng Mao Trạch Đông. Rồi Rabbani, một thủ lĩnh người Tajik của nhóm Jamiat-e-Islami, người từng giảng dạy đạo Hồi ở trường Đại học Kabul thời còn dưới chế độ quân chủ. Sayyaf, một người Pashtun từ Paghman có liên hệ với người Ả rập, một người Hồi giáo dũng cảm và là thủ lĩnh của nhóm Ittehad-i-Islami. Abdul Ali Mazari, thủ lĩnh của cánh quân Hizb-e-Wahdat, người được những chiến binh người Hazara của mình gọi là Baba Mazari, có mối liên hệ mật thiết của những người dòng Shi’a với Iran.

Và, tất nhiên, còn có một người anh hùng của Mammy, đồng minh của Rabbani, thủ lĩnh người Tajik rất có uy tín, Ahmad Shah Massoud, Sư tử vùng Panjshir. Mammy đã treo một bức áp phích hình của ông ở trong phòng mình. Khuôn mặt điển trai, suy tư của Massoud với hàng lông mày nhướng lên và chiếc pakol đội nghiêng đặc trưng đã trở thành hình ảnh thường gặp khắp Kabul. Đôi mắt sâu lắng màu đen của ông nhìn chăm chú từ những tấm áp phích, từ những bức tường, từ cửa kính cửa hàng, từ những lá cờ gắn trên ăng ten của xe taxi.

Mammy đã mong ngóng cái ngày này biết bao lâu. Sau tất cả những năm tháng chờ đợi, giờ đây bà cũng đã được thỏa nguyện.

Cuối cùng thì bà đã có thể chấm dứt những đêm thức trắng chờ đợi, và những đứa con trai của bà giờ đây đã có thể yên nghỉ.

—★—

Prev
Next

Có thể bạn muốn đọc thêm

loi-error-404-plaaastic
Lỗi Error 404 – Plaaastic
August 20, 2023
noi-buon-chien-tranh-bao-ninh
Nỗi Buồn Chiến Tranh – Bảo Ninh
May 10, 2023
khi-loi-thuoc-ve-nhung-vi-sao-john-green
Khi Lỗi Thuộc Về Những Vì Sao – John Green
April 3, 2023
khi-tach-cafe-con-chua-nguoi-toshikazu-kawaguchi
Khi Tách Cà Phê Còn Chưa Nguội – Toshikazu Kawaguchi
June 16, 2023

ThuVienOnline © 2026