Thư viện Online
  • Trang chủ
  • Sách mới cập nhật
  • Trang chủ
  • Sách mới cập nhật

Những Tấm Lòng Cao Cả - Edmondo De Amicis - Tháng giêng

  1. Home
  2. Những Tấm Lòng Cao Cả - Edmondo De Amicis
  3. Tháng giêng
Prev
Next

Thầy phụ giáo

Thứ tư, 4

Bố mình nói đúng. Thầy Perboni mà nóng nảy là vì thầy ốm. Quả vậy, từ ba hôm nay, thầy phụ giáo đến thay thầy (thầy phụ giáo này người bé nhỏ và không có râu, trông trẻ măng). Sáng hôm nay đã xảy ra một việc rất bậy đối với thầy phụ giáo này. Ngày thứ nhất và thứ hai học trò đã làm ồn trong lớp vì thầy phụ giáo quá hiền lành và chỉ biết nói: “Yên lặng, tôi yêu cầu các cậu!” mà không hề phạt. Nhưng sáng hôm nay người ta đã đi quá trớn. Học sinh làm ầm ĩ đến nỗi không còn ai nghe tiếng nói nữa. Thầy yêu cầu, thầy van vỉ; chỉ công toi. Hai lần thầy hiệu trưởng phải đến lớp; nhưng thầy vừa đi khuất là tiếng ồn ào lại nổi lên như ngoài chợ vậy. Garrone và Derossi quay lại ra hiệu, yêu cầu các bạn yên lặng, như muốn nói với họ là phải ngoan ngoãn, và hạnh kiểm của họ thật đáng hổ thẹn, nhưng đều vô hiệu. Chẳng ai thèm để ý cả. Chỉ mình Stardi là ngồi yên, hai khuỷu tay chống bàn, đôi nắm tay tì vào thái dương, có lẽ đang nghĩ đến cái tủ sách trứ danh của mình; và Garoffi, anh học trò chơi tem thì đang bận lập danh sách những người góp tiền mua vé xổ số, mỗi vé hai xu, mà cậu ta đứng ra tổ chức, ai trúng thì được một lọ mực nhỏ đút túi. Những kẻ khác thì hét và cười, lấy quản bút gõ xuống bàn, và vo giấy làm đạn, rồi gỡ những sợi dây chun buộc bít tất ra mà bắn nhau.

Thầy phụ giáo thì nắm cánh tay cậu này, cậu kia, lay họ, bắt một cậu đứng vào tường, mà vẫn không lấy lại được im lặng và trật tự. Thầy không còn biết cầu cứu ai được nữa.

– Nhưng tại sao các cậu lại làm như thế? – thầy nói, – các cậu muốn tôi bị khiển trách hay sao?

Thầy nắm tay đấm bàn, thét lên, giọng vừa đe dọa vừa cầu khẩn:

– Im lặng! Im lặng!

Nghe thật là não lòng. Nhưng tiếng ầm ĩ vẫn mỗi lúc một tăng.

Franti gấp một mũi tên bằng giấy ném vào thầy, kẻ thì nhại mèo kêu, kẻ tung mũ lưỡi trai lên không; cảnh rối loạn om sòm không tài nào tả xiết. Bỗng người gác cổng bước vào, nói:

– Mời thầy lên thầy hiệu trưởng hỏi.

Thầy phụ giáo đứng dậy vẻ tuyệt vọng và vội vàng bước ra. Thế là tiếng ầm ĩ lại tăng lên. Nhưng Garrone đứng dậy, mặt biến sắc, tay nắm chặt và hét, giọng run lên vì giận dữ.

“Thôi đi! Đồ ngốc tất cả! Các cậu lạm dụng lòng tốt của thầy phụ giáo; giá thầy ấy nghiến nát tay các cậu, và thầy đủ sức để nghiến, thì các cậu đã run sợ trước mặt thầy; nhưng thầy thương hại các cậu; việc làm của các cậu hèn nhát lắm, hiểu chưa? Thầy trở vào mà cậu nào trước tiên cất tiếng làm ồn hay méo mặt một tí, là sẽ biết tay tôi tức thời sau khi tan học. Dù có bố đến đấy tôi cũng làm đúng như tôi đã nói; và tôi tin chắc rằng ông bố sẽ cho là tôi làm đúng”.

Mọi người làm thinh: À! Garrone, bấy giờ trông cậu thật đẹp, đôi mắt nẩy lửa, chẳng khác nào một con sư tử con đang tức giận. Cậu ta nhìn vào mặt những anh chàng táo tợn nhất, hết anh này đến anh khác, và tất cả đều cúi đầu xuống.

Khi thầy phụ giáo vào, đôi mắt đỏ hoe, trong lớp không nghe một hơi thở. Trước thầy ngạc nhiên, rồi thấy Garrone còn run vì giận, thầy hiểu và nói với cậu, giọng xúc động như nói với một người anh em: “Cám ơn, Garrone!”

Thế là cả lớp vỗ tay. Và qua việc ấy tôi hiểu là một người con trai quả cảm có thể làm được những gì.

Tủ sách của Stardi

Tôi đến nhà Stardi, ở ngay trước mặt nhà trường, và trông thấy cái tủ sách của cậu ấy thật tôi thấy thèm quá.

Stardi không giàu, cậu ấy không thể mua được nhiều sách, nhưng cậu bảo quản, giữ gìn sách học rất cẩn thận; và tất cả những món tiền người ta cho cậu đều vào cửa hàng bán sách hết. Bằng cách ấy, Stardi đã có một tủ sách nhỏ. Khi bố cậu thấy cậu ham mê sách, thì liền mua cho cậu một cái giá nhiều tầng rất xinh, bằng gỗ hồ đào, có rèm xanh, và đem tất cả các quyển sách thuê đóng bìa theo màu mà cậu thích. Khi kéo rèm lên, người ta thấy ba hàng sách hiện ra đủ các màu sắc, rất có thứ tự, tên sách óng ánh chữ vàng in trên gáy; có truyện trẻ em, truyện du hành, có thơ, hầu hết đều có tranh ảnh. Stardi rất thạo về cách sắp xếp các quyển sách theo màu sắc, quyển trắng cạnh quyển đỏ, màu vàng cạnh màu đen, màu trắng cạnh màu xanh, đứng xa mà nhìn thật là hài hòa. Thỉnh thoảng cậu lại thay đổi cách hòa hợp với màu sắc. Cậu ghi tất cả tên sách vào một quyển danh mục, chẳng khác chút nào một nhà mê sách thực thụ. Cậu luôn luôn chăm nom sách, phủi sạch bụi bặm, giở ra xem xét kiểm tra lại các mối chỉ đóng sách. Phải thấy cậu cẩn thận như thế nào khi cậu giở các quyển sách ra, với những ngón tay thô và ngắn, vừa giở vừa thổi các trang giấy. Có thể nói là sách của cậu đều mới tinh, còn tôi thì làm hỏng tất cả các sách của mình. Đối với cậu mỗi quyển sách mua được đem đến cho niềm vui thích vuốt ve quyển sách, xếp sách vào với những quyển khác, rồi lại lấy ra để ngắm nghía đủ mọi mặt, và cất đi như một của báu. Trong suốt một tiếng đồng hồ, Stardi không cho tôi xem cái gì khác, ngoài sách ra.

Có một lúc, ông bố của Stardi đi qua gian phòng chúng tôi đang chơi, đưa tay xoa gáy con hai ba lần và nói với cái giọng ồm ồm:

– Cái đầu đồng đen này như thế nào? Cái đầu to này có thể làm nên được một cái gì đấy, tôi cam đoan như vậy!

Và Stardi thì lim dim đôi mắt dưới sự vuốt ve của bàn tay ram ráp của bố.

Tôi không hiểu tại sao tôi không dám đùa cợt với Stardi; tôi không thể tin được rằng cậu ta chỉ hơn tôi có một tuổi thôi. Khi cậu tiễn tôi ra cửa và chào tạm biệt với vẻ mặt cứng cỏi, tôi suýt nữa nói: “Kính chào ngài”, như tôi phải nói với một người lớn. Về nhà, tôi kể lại chuyện ấy với bố. Tôi nói:

– Con chẳng hiểu ra sao cả bố ạ, Stardi không phải là thông minh, cũng chẳng phải là được giáo dục tốt, mặt mũi thì kỳ cục nom buồn cười, ấy thế mà lại làm cho con phải nể vì!

Bố trả lời:

– Chính vì cậu ấy quả cảm, cương nghị.

Tôi nói tiếp:

– Suốt một tiếng đồng hồ ở cạnh cậu ấy, cậu ấy không nói đến năm mươi tiếng, không hề cho con xem một thứ đồ chơi nào, cũng không cười một lần nào cả, ấy thế mà con lại rất thích được chơi với cậu ấy.

Bố lại nói thêm:

– Là bởi vì con mến phục cậu ta.

Con trai bác thợ rèn

Tôi cũng mến phục cả Precossi, và nói như thế còn là ít. Precossi con bác thợ rèn, một cậu bé nước da tai tái, đôi mắt hiền và buồn, dáng điệu sợ sệt, rụt rè đến nỗi đối với bất cứ ai cậu cũng nói: “Tôi xin lỗi”, và dù luôn luôn đau khổ, vẫn học rất chăm và rất kiên quyết. Theo người ta nói thì bố cậu lúc nào về nhà cũng ngà ngà say, không có việc gì cũng lôi con ra đánh, vung tay là hất tung hết sách vở của con, Cậu bé đáng thương đến trường mặt mày bầm tím, có khi đôi mắt đỏ ngầu và sưng húp vì đã khóc nhiều.

Nhưng không bao giờ, tuyệt không bao giờ người ta có thể làm cậu hé môi nói thật là bố cậu đã đánh cậu.

– Nhưng chẳng phải là con đã làm cháy trang vở này hay sao? – Thầy giáo vừa hỏi vừa chỉ bài làm của cậu đã bị đốt cháy.

“Xin thầy hãy tha lỗi, chính con đã làm cháy”, Precossi trả lời, giọng run run.

Tất cả chúng tôi đều biết đó là bố cậu. Lúc chếnh choáng hơi men, bố cậu đã va phải cái bàn mà cậu đang ngồi học, làm cho cây đèn đổ nhào, đốt cháy quyển vở của cậu bé tội nghiệp. Precossi ở trong một căn nhà dưới cái mái nát của ngôi nhà chúng tôi về phía cuối sân, và bà gác cổng đã kể lại tất cả chuyện này cho u già chúng tôi, và u nói lại với mẹ.

Một hôm, em Silvia của tôi nghe Precossi thét lên và lăn xuống thang gác, bị bố đá ngã nhào chỉ vì cậu xin mấy xu để mua một quyển ngữ pháp. Bố Precossi nghiện rượu, không làm việc gì cả, và cả nhà bị đói. Biết bao nhiêu lần cậu bé phải đến trường học, bụng trống không, và đứng ở một góc nhai một mẩu bánh của Garrone mời, hay một quả táo mà cô giáo đội cái mũ cắm chiếc lông đỏ, cô giáo cũ của cậu ở lớp một sơ đẳng dúi cho.

Không bao giờ Precossi lại nói: “Tôi đói, bố tôi không cho tôi ăn”.

Một đôi khi ông bố cũng ghé đón con, nhân khi đi qua trước cổng trường; mặt ông tái mét, chân đi lảo đảo, đôi mắt ngơ ngác, đầu tóc rối bù, chiếc mũ lưỡi trai đội lệch một bên. Cậu bé tội nghiệp hốt hoảng mỗi khi thấy bố ở ngoài phố, tuy vậy cậu vẫn tươi cười chạy lại với bố, nhưng bố thì như tuồng chẳng trông thấy con và đang nghĩ đến chuyện gì khác.

Tội nghiệp Precossi! Cậu phải đóng lại những quyển vở bị xé rách, nhờ các bạn ngồi cùng bàn cho mượn những sách không có để đọc. Áo sơ-mi cậu cài bằng đanh ghim và thật là đáng thương. Khi tập thể dục cậu phải mang đôi giày to quá khổ, đôi bàn chân cứ nhảy nhót ở bên trong, cái quần thì rách tả tơi và cái áo ngoài quá dài, tay xắn lên đến khuỷu. Thế mà cậu vẫn học, cố gắng học! Cậu sẽ là một trong những người đứng đầu lớp, nếu được học hành yên ổn, ở nhà…

Sáng hôm nay, cậu đến trường, má bị một vết cào khá sâu. Các bạn bảo cậu:

“Rõ ràng là bố cậu đã cào mặt cậu đấy. Lần này cậu không thể chối được đâu. Cậu phải thưa với thầy hiệu trưởng để người ta gọi ông ấy đến đồn cảnh sát”.

Nhưng Precossi đỏ mặt kêu lên, giọng run vì bất bình: “Không đúng! Không đúng! Bố tôi không bao giờ đánh tôi cả!”

Nhưng trong lúc nghe giảng bài, nước mắt cậu rơi xuống mặt bàn, và có ai nhìn là cậu cố gượng cười để giấu nỗi đau đớn. Tội nghiệp Precossi!

Ngày mai Derossi, Coretti và Nelli sẽ đến chơi nhà tôi. Tôi mời Precossi cùng đến, cùng ăn chiều với chúng tôi; tôi sẽ cho cậu ấy sách, sẽ làm đảo lộn hết đồ đạc trong nhà để cho cậu ấy vui, và tôi sẽ nhét đầy trái cây vào các túi áo của cậu. Tôi muốn nhìn thấy cậu bé tốt bụng ấy được vui vẻ, thích thú một lần, cậu bé hiền hậu và can đảm biết bao!

Một buổi thăm nhau lý thú

Thứ năm, 12

Thứ năm hôm nay đối với tôi là một trong những ngày đẹp nhất của cả năm.

Đúng hai giờ, Derossi, Coretti và Nelli, cậu bé gù lưng ấy, cùng đến nhà tôi. Còn Precossi thì bố cậu không cho đến.

Derossi và Coretti đều vui cười hể hả vì đã gặp ngoài phố cậu Crossi, con bác bán rau quả, cậu bé có cánh tay bị liệt và cái đầu tóc đỏ ấy, Crossi đang cắp một chiếc bắp cải to tướng ra phố bán; rồi với hai xu bán bắp cải cậu sẽ mua một ngòi bút. Cậu ta rất vui vẻ hài lòng, cậu bé Crossi tội nghiệp, vì bố cậu ở bên Mỹ mới viết thư báo tin là sắp trở về.

Ôi! Sung sướng làm sao những giờ vui chung với các bạn thân Derossi và Coretti là hai cậu vui tính nhất lớp, bố cũng phải mến. Coretti với cái áo dài bằng da rái cá, cái mũ chụp da mèo, nghịch ngợm ồn ào như quỷ sứ. Sáng sớm tinh mơ, cậu đã dỡ một nửa xe gỗ đầy, thế mà đến nhà tôi, cậu vẫn chạy khắp nơi, vừa quan sát mọi vật, vừa nói năng luôn mồm, nhanh nhẹn, nhẹ nhàng như một con sóc. Đi qua nhà bếp, cậu hỏi chị bếp mua củi và than bao nhiêu, để xem có đắt hơn giá của bố mình bán không. Rõ ràng là dù ra đời và lớn lên trong một cửa hàng bán củi, Coretti vẫn có tấm lòng cao quý.

Derossi cũng làm cho chúng tôi rất vui. Cậu ta thuộc địa lý như một thầy giáo. Nhắm mắt lại, cậu nói: “Đây này, tôi thấy toàn thể nước Ý: mạch núi Appennini chạy dài đến tận biển Ionio; những con sông chảy về bên này, bên kia; những thành phố trắng toát, những vịnh, những vũng xanh lam, những hòn đảo màu lục”; và cậu kể tên núi tên sông theo thứ tự không sót một tên như cậu đang đọc trên bản đồ vậy. Cậu Derossi này có duyên thật, mái đầu ngẩng cao, tóc vàng tươi, xoắn tít, đôi mắt đẹp thông minh; tất cả chúng tôi đều ngưỡng mộ cậu. Chỉ không đầy một tiếng đồng hồ, cậu đã thuộc lòng một bài thơ dài hai trang để ngày kia sẽ ngâm trong một buổi lễ. Nelli cũng nhìn cậu mà thán phục; các ngón tay vân vê đường viền của chiếc tạp dề màu đen, miệng mỉm cười, đôi mắt trong và đượm buồn như sáng lên vì nụ cười đó.

Còn tôi, các bạn đến chơi hôm nay làm cho tôi vui sướng vô cùng, như để lại những tia sáng trong tâm trí tôi. Tôi lại rất thích thú ngắm cậu bé Nelli ra về, đi giữa hai bạn khoác hai tay mình, hai bạn cao khỏe, còn cậu thì bé nhỏ mảnh khảnh nhưng vui cười hể hả, tôi chưa hề thấy bao giờ.

Tiễn các bạn về rồi, tôi trở vào phòng ăn, thì chợt nhận ra là bức tranh vẽ Rigoletto, anh hề gù lưng, đã biến đâu mất. Thì ra bố đã cất đi từ trước khi các cậu đến, để cho Nelli khỏi phải trông thấy.

Franti bị đuổi học

Thứ bảy, 21

Trong lớp chúng tôi, có một đứa rất khó chịu, đó là Franti. Tôi ghét thằng này vì nó là một đứa xấu bụng. Khi thấy một ông bố nào đấy đến nhờ thầy giáo khiển trách con mình, là nó mừng rỡ. Khi có người khóc là nó cười. Nó run sợ trước mặt Garrone, nhưng lại đánh cậu bé thợ nề không đủ sức tự vệ. Nó hành hạ Crossi, cậu bé bị liệt một cánh tay, chế giễu Precossi mà mọi người đều nể, và nhạo báng cả Robetti, cậu học lớp hai đi phải chống nạng vì đã cứu một em bé. Nó khiêu khích những người yếu nhất, và khi đánh nhau thì nó hăng máu, trở nên hung tợn, và cố chơi những miếng rất hiểm độc.

Có một cái gì làm cho người ta ghê tởm ở cái trán thấp ấy, trong cái nhìn vẩn đục ấy, mà nó che giấu dưới cái mũ có lưỡi trai bằng vải dầu của nó. Franti không kiêng sợ gì cả, nó chế nhạo cả thầy giáo, ai sơ hở cái gì là ăn cắp ngay, chối lỗi một cách trắng trợn không thể tưởng tượng được, và không lúc nào là không gây gổ với người nào đấy. Nó mang vào lớp học những cái kim to tướng để chích các bạn ngồi cạnh, rứt khuy áo của nó và rứt cả khuy áo của người khác. Sách, vở, sổ tay của nó đều dây mực bê bết và rách nát, bẩn thỉu; thước kẻ thì như có răng cưa, ngòi bút thì tòe ra, móng tay thì cắn bằng mồm, áo quần thì bị móc rách tứ tung trong những lúc đánh nhau.

Người ta nói mẹ nó vì nó mà buồn phiền đến phát ốm, và bố nó đã ba lần đuổi nó ra khỏi nhà. Thỉnh thoảng mẹ nó lại đến trường hỏi thầy giáo về hạnh kiểm của con; và lần nào trở về cũng vừa đi vừa khóc. Franti ghét thầy giáo, ghét bạn học, ghét nhà trường. Đôi lúc thầy giáo làm ngơ như không nghe những lời tục tĩu của nó, thì nó lại càng làm già. Thầy Perboni muốn dịu dàng mà cảm hóa nó, nhưng nó chẳng đếm xỉa gì đến. Thế là thầy phải đe dọa nghiêm khắc. Franti lấy hai tay che mặt làm như nó khóc, trái lại là nó đang cười! Nó bị tạm đuổi ba ngày, xong nó lại đến trường, càng láo xược hơn bao giờ hết.

Một hôm Derossi bảo nó: “Thôi, hãy chấm dứt đi chứ! Cậu lạm dụng quá đáng lòng tốt của thầy giáo”.

Tất cả câu trả lời của Franti là dọa đâm một cái đinh vào bụng Derossi. Cuối cùng, sáng nay nó bị tống ra khỏi trường như một con chó.

Trong lúc thầy giáo đưa cho Garrone bản thảo truyện đọc hàng tháng Cậu bé đánh trống người Sardegna để chép, thì Franti ném xuống sàn một chiếc pháo nổ đùng, dội vang cả bốn bức tường của lớp học như một phát súng. Tất cả học sinh đều giật nẩy mình. Thầy giáo đứng dậy và quát: “Franti, ra khỏi đây lập tức!”

Nó vừa trả lời vừa cười:

– Không phải tôi.

– Ra ngay, – thầy Perboni nhắc lại.

– Tôi sẽ không nhích một bước nào đâu.

Nghe câu trả lời mất dạy ấy, thầy Perboni không bình tĩnh được nữa, thầy chạy lại xốc nách Franti, nhấc bổng nó ra khỏi ghế, thằng vô lại vừa vùng vẫy, vừa la hét và nghiến răng, thầy phải dùng sức lôi nó ra khỏi lớp lên đến phòng thầy hiệu trưởng. Khi trở về lớp một mình, thầy Perboni ngồi vào bàn, hai tay ôm đầu, mệt hết hơi và buồn rầu, nét mặt ngao ngán trông thật đau lòng.

“Từ ba mươi năm dạy học, chưa bao giờ xảy ra cho thầy một việc như thế này” thầy vừa nói vừa thở dài.

Cả lớp không một ai động đậy. Hai bàn tay thầy còn run lên, và vết nhăn chạy dài trên trán thầy trông sâu hoắm, giống như một vết thương. Ái ngại thay cho thầy! Tất cả học sinh đều ái ngại cho thầy. Derossi đứng dậy và nói với thầy:

“Thưa thầy, xin thầy đừng buồn phiền nữa, tất cả chúng con ở đây đều rất kính yêu thầy”.

Nghe những lời dịu dàng ấy, hình như thầy bình tĩnh trở lại và nói khẽ: “Các con, chúng ta lại học tiếp”.

Cậu bé đánh trống người Sardegna[*]

[*]Đất Ý ngày ấy bị chia làm bảy nước mà nhiều nước thuộc quyền thống trị của triều đình Áo. Vương quốc Sardegna là nước đầu tiên nổi lên, năm 1848, chống lại Áo: triều đình Sardegna lãnh đạo cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc giành độc lập và thống nhất cho toàn thể nhân dân Ý.

(Truyện đọc hàng tháng)

Ngày đầu tiên của trận Custoza[Trong lịch sử đấu tranh giành độc lập của nhân dân Ý có hai trận nổi tiếng, đã diễn ra ở Custoza, một ngôi làng trong xứ Venezia. Đây là trận thứ nhất năm 1848, còn trận thứ hai diễn ra ngày 24 tháng sáu năm 1866, tác giả De Amicis có tham dự.] nghĩa là ngày 21 tháng bảy năm 1848, có khoảng sáu mươi người lính thuộc một trung đoàn bộ binh được điều đến một gò cao để chiếm một ngôi nhà trơ trọi trên ấy. Bất ngờ họ bị hai đại đội quân Áo bao vây. Quân Áo bắn rát đến nỗi những người bộ binh chỉ còn vừa đủ thì giờ rút vào nấp trong ngôi nhà, và vội vàng dựng chướng ngại vật chắn các cửa ra vào, để lại mấy người chết và bị thương ngoài đồng.

Các cánh cửa đã đóng chặt, lính mới từ các cửa sổ ở trên gác và ở tầng dưới bắt đầu bắn vào đám quân đang bao vây. Bọn này tiến dần theo hình bán nguyệt, bắn trả dữ dội.

Sáu mươi bộ binh Ý do hai sĩ quan sơ cấp và một đại úy chỉ huy; ông đại úy đã già, cao lớn, khô khan, tóc râu bạc hết. Cùng chiến đấu với họ có một người lính đánh trống người Sardegna, một cậu bé mười bốn tuổi là cùng, nhưng trông chỉ bằng mười hai tuổi, nhỏ nhắn, nước da xanh, đôi mắt đen và sâu. Viên đại úy chỉ huy cuộc chống giữ từ một căn phòng ở trên gác, ra những lệnh cương quyết như những phát súng; và trên khuôn mặt sắt không hề thấy một chút xúc động nào. Cậu bé đánh trống người hơi xanh, nhưng đôi chân khỏe, đã leo lên một cái bàn, nhìn qua cửa sổ, thấy sau làn khói những hàng lính Áo mặc áo trắng đang tiến lên từ từ trên các cánh đồng.

Ngôi nhà ở trên đỉnh một cái dốc thẳng đứng, bên phía này chẳng có cửa sổ nào ngoài một cửa nho nhỏ trổ trên mái nhà. Vì vậy mà quân Áo chỉ nhằm bắn vào mặt trước và hai đầu nhà.

Nhưng chúng bắn dữ dội ghê gớm, một trận mưa đạn làm thủng lỗ chỗ các bức tường và nát vụn ngói trên mái; bên trong nhà, đạn bắn vỡ đồ đạc, các mái hiên bụng rắn, trần nhà, cửa ra vào, làm tung tóe lên những mảnh gỗ, những làn bụi thạch cao, những mảnh bát đĩa và những mảnh cửa kính.

Chốc chốc lại một người lính đang bắn qua cửa sổ ngã quỵ xuống sàn; người ta phải kéo vào một góc nhà. Vài người lính khác đi lảo đảo từ buồng này sang buồng khác, bàn tay co quắp ấn chặt vào các vết thương của mình. Trong nhà bếp đã có một người chết, trán bị thủng toang hoác.

Vòng vây của quân địch xiết chặt một cách trông thấy.

Viên đại úy từ trước vẫn không chút nao núng, thì bấy giờ cũng có một cử chỉ lo ngại, vội vã ra khỏi buồng, có một viên trung sĩ đi theo. Ba phút sau, viên trung sĩ chạy đi gọi cậu bé đánh trống. Cậu theo viên trung sĩ chạy lên thang gác và cùng vào một cái gác xép trống không; viên đại úy ở đó, đang viết bằng bút chì lên một tờ giấy để áp vào kính của cái cửa sổ nhỏ. Dưới chân ông, có một sợi dây gàu múc nước.

Viên đại úy gấp tờ giấy lại và nói, vừa nói vừa nhìn thẳng vào mắt cậu bé với cái nhìn lạnh lùng của ông đã từng làm cho tất cả quân lính đều phải run sợ:

“Lính đánh trống!”

Người lính đánh trống đứng nghiêm, đặt tay lên mũ.

“Cậu có can đảm không?”

Đôi mắt cậu bé sáng lên như một tia chớp:

– Có, thưa đại úy, – cậu trả lời.

– Nhìn ra phía kia kìa, – viên đại úy vừa nói, vừa đẩy cậu ra phía cửa sổ mái nhà, – phía đồng bằng ấy, bên cạnh những ngôi nhà ở Villafranca, nơi có lưỡi lê lấp lánh, có trung đoàn của chúng ta đóng ở đấy. Cầm giấy này, lấy dây thừng này mà tụt xuống qua cửa sổ, lăn xuống dốc, băng qua các cánh đồng, chạy nhanh đến trung đoàn và trao giấy này cho viên sĩ quan nào gặp đầu tiên. Bỏ thắt lưng và túi đạn ra.

Cậu bé đánh trống cởi thắt lưng và túi đạn bỏ lại, luồn mảnh giấy vào túi áo; viên trung sĩ ném sợi thừng qua cửa sổ và hai tay nắm lấy một đầu dây, trong khi viên đại úy giúp cậu bé chui ra cửa, lưng quay về phía cánh đồng.

– Nghe đây, lính đánh trống, – viên đại úy dặn, – vận mệnh phân đội chúng ta đều nhờ vào lòng can đảm và đôi chân của cậu đấy!

– Xin đại úy tin tôi, – cậu bé vừa trả lời, vừa đánh đu vào sợi thừng dòng ra ngoài cửa sổ.

– Gặp người lại mà tụt xuống, – viên đại úy lại dặn thêm, vừa nói vừa giúp viên trung sĩ giữ đầu dây dòng cậu bé xuống.

– Đừng sợ gì hết.

Chỉ mấy giây là cậu bé đánh trống đã chạm đất. Viên trung sĩ thu sợi dây lại và đi nơi khác. Viên đại úy cúi mình nhìn qua cửa sổ và thấy cậu bé đang chạy xuống dốc. Ông đang hy vọng cậu bé đi thoát không ai thấy, thì năm sáu đám bụi mù từ đất tung lên trước mặt và sau lưng cậu cho ông ta biết là cậu đã bị quân Áo trông thấy. Từ trên đỉnh đồi chúng bắn vào cậu. Những đám bụi mù ấy do đạn bắn tung đất lên. Cậu bé đánh trống cứ tiếp tục chạy nhanh như một con thỏ rừng. Thình lình cậu quỵ xuống. “Chết rồi!” viên đại úy gầm lên và cắn vào nắm tay mình. Nhưng vừa dứt lời thì đã thấy cậu bé đứng dậy.

“À, chỉ ngã thôi!” ông ta nói một mình và thở phào. Cậu bé đánh trống lại tiếp tục chạy, nhưng chạy khập khiễng.

“Nó bị sái chân”, viên đại úy nghĩ như vậy. Vài đám bụi nhỏ tung lên đây đó, quanh cậu bé, nhưng mỗi lúc một cách xa. “Cậu thoát rồi đấy”. Viên đại úy kêu lên một tiếng thắng lợi, nhưng vẫn tiếp tục nhìn theo cậu, lòng hồi hộp vì thời gian chỉ còn tính từng phút một. Nếu cậu bé đánh trống không tới trung đoàn được trong thời gian ngắn nhất với mảnh giấy xin viện binh đến ngay, thì tất cả phân đội sẽ bị tiêu diệt, hoặc là ông sẽ phải cùng với họ để cho địch bắt làm tù binh. Cậu bé chạy nhanh như một mũi tên, rồi chậm lại và khập khiễng, rồi lại chạy nữa, nhưng mỗi lúc một khó nhọc hơn, và chốc chốc lại loạng choạng mất thăng bằng và dừng lại.

“Có thể một mảnh đạn đã bắn trúng nó chăng?” viên đại úy tự bảo như vậy; rồi lại theo dõi từng cử chỉ của cậu, ông ta hổn hển vừa khích lệ cậu, nói với cậu làm như cậu có thể nghe được lời ông, đội mắt nảy lửa cứ chằm chằm đo mãi khoảng cách giữa cậu bé liên lạc của ông ta với ánh lưỡi lê trông thấy giữa những cánh đồng hương mạch vàng óng dưới ánh mặt trời. Cũng trong lúc ấy viên đại úy nghe tiếng đạn rít và đập rào rào trong các buồng ở những tầng dưới, những mệnh lệnh dõng dạc, những tiếng thét điên dại của các sĩ quan và trưng sĩ, những tiếng rên rỉ của người bị thương, tiếng đồ đạc bị đập vỡ và màn trướng bị xé rách. “Cố lên, can đảm lên, – viên đại úy vừa nói vừa nhìn theo eậu bé đánh trống, chạy dấn lên, con!… Ồ, nó đứng lại rồi! Bỏ mẹ!… không, nó lại chạy”.

Một sĩ quan chạy đến, vẻ mặt lo âu, nói với viên đại úy rằng quân địch vẫn không ngừng bắn, nhưng lại giương lên một lá cờ trắng, lệnh cho chúng ta ra hàng.

“Đừng trả lời chúng nó” viên đại úy nói, mắt không rời khỏi cậu bé khi đó đã ra tới ngoài cánh đồng; nhưng giờ cậu không chạy nữa, chỉ cố sức lê mình đi thôi.

“Kìa, đi đi chứ, chạy đi chứ! – viên đại úy nói, hai hàm răng nghiến chặt và đôi bàn tay nắm chặt, – chết cũng được nếu cần, nhưng phải đến nơi, phải đến nơi!”

Đúng lúc ấy viên đại úy thét lên một lời nguyền rủa dữ dội: “À, thằng hèn nhát! Nó ngồi xuống rồi!”

Quả thật, cậu bé mà ông ta vẫn thấy cái đầu nhấp nhô trên các ngọn lúa, bỗng biến đâu mất, như bị ngã xuống. Một lát sau cái đầu cậu bé lại hiện ra, rồi lại mất hút sau những hàng giậu; viên đại úy không nhìn thấy cậu bé đánh trống nữa.

Ông ta lao xuống thang gác; đạn bắn như điên cuồng, các buồng đều ngổn ngang những người bị thương; vài người lăn mình vật vã trên sàn nhà, quằn quại trong cơn đau đớn, bám vào đồ đạc một cách tuyệt vọng. Màn thảm, sàn nhà đẫm những máu; những xác chết nằm sóng sượt giữa các ngưỡng cửa; viên trung úy bị một viên đạn bắn gãy cánh tay phải; bụi và khói bao trùm cả cái cảnh buồn thảm này.

“Can đảm lên! – viên đại úy hô to, – giữ vững vị trí! Viện binh sẽ đến, can đảm thêm chút nữa!”

Quân Áo lại đến gần thêm; qua làn khói người ta trông thấy những bộ mặt biến dạng của chúng, giữa những loạt súng, người ta nghe tiếng thét man rợ của chúng, tiếng chúng chửi rủa những người bị vây, ra lệnh cho họ đầu hàng, đe dọa giết chết họ.

Vài người lính khiếp sợ, rút khỏi các cửa sổ; các viên trung sĩ đẩy họ trở lại đằng trước. Nhưng hỏa lực của bọn bao vây tăng lên gấp bội, vẻ thất vọng hiện lên trên tất cả các khuôn mặt, chẳng còn cách nào chống cự được nữa. Một lúc nào đấy tiếng súng của quân Áo thưa đi, và một giọng chói tai thét lên, lúc đầu bằng tiếng Đức, sau bằng tiếng Ý: “Hàng đi!”

– Không! – Viên đại úy thét lên từ một cửa sổ. Thế là tiếng súng lại nổi dậy dữ dội, từ cả hai phía. Lại những người lính nữa ngã xuống. Một số cửa sổ đã không còn người chống giữ. Giờ phút bị tiêu diệt đang tới trước mắt. Viên đại úy giọng rít lên, gầm trong kẽ răng: “Họ không đến, không đến!” và đi đi lại lại, dữ dội, bàn tay giần giật nắm chặt chuôi kiếm, quyết chết không hàng, thì bỗng một viên trung sĩ từ trên gác xép chạy xuống, thét ầm lên:

“Họ đến, họ đến!”

– Họ đến! – Viên đại úy đáp lại trong một tiếng kêu vui mừng.

Tức thì, tất cả mọi người: quân lính, thương binh, trung sĩ, sĩ quan lao ùa đến các cửa sổ; và cuộc chiến đấu lại tiếp tục kịch liệt hơn.

Một lát sau, người ta thấy phía quân địch như có ngập ngừng, rồi bắt đầu rối loạn. Tức khắc viên đại úy tập hợp vài người trong một phòng ở tầng dưới để tung ra đánh giáp lá cà bằng lưỡi lê.

Rồi ông ta chạy lên gác. Vừa đến nơi đã nghe tiếng súng nổ gấp, kèm theo những tiếng hô “xung phong” dữ dội, và từ các cửa sổ, người ta trông thấy qua khói mù những chóp mũ hai sừng của lính pháo kỵ Ý; một đại đội lao tới như bay và những lưỡi gươm sáng loáng bổ xuống đầu, xuống vai, xuống lưng quân địch như chớp giật, sấm đổ. Thế là đội xung kích lao ra cửa, lưỡi lê chĩa thẳng ra phía trước.

Quân địch lao đao, tan tác và chạy trốn: trận địa bị quét quang, ngôi nhà được giải phóng. Lát sau hai tiểu đoàn bộ binh Ý với hai khẩu đại bác đến chiếm đóng quả đồi.

Viên đại úy và những người lính không bị thương còn lại nhập vào trung đoàn của họ và tiếp tục chiến đấu. Ông ta bị thương nhẹ ở bàn tay trái do một viên đạn lạc trong đợt xung kích sau cùng.

Ngày hôm ấy kết thúc bằng chiến thắng của quân Ý.

Nhưng hôm sau, trận đánh lại tiếp tục, quân ta bị đánh tan dù kháng cự rất anh dũng, vì quân Áo đông hơn nhiều, và sáng 23 phải buồn rầu lên đường rút về sông Mincio.

Viên đại úy, tuy bị thương, vẫn đi bộ với những người lính của mình, phờ phạc và im lặng; đến xế chiều thì tới Goito, trên bờ sông Mincio; đến đấy ông liền tìm viên trung úy của mình bị gãy một cánh tay và đã được đưa về trạm quân y.

Viên trung úy phải đến Goito trước ông đại úy và người ta chỉ cho ông này một ngôi nhà thờ. Một bệnh viện đã được lập vội ở đấy, chứa đầy thương binh, nằm trên những giường và đệm xếp thành hai dãý. Hai y sĩ và mấy y tá chạy đi chạy lại, mệt hết hơi. Những tiếng kêu cố nén lại, những tiếng rên buột ra từ miệng những người đau đớn. Vừa vào, ông đại úy dừng lại, đưa mắt tìm viên trung úy của mình, thì nghe một tiếng yếu ớt gọi mình ngay bên cạnh.

“Đại úy!”

Ông ta quay lại. Đó là cậu bé đánh trống. Cậu nằm trên một chiếc giường dã chiến, một bức màn cũ kẻ ô đỏ và trắng đắp đến ngực, hai cánh tay duỗi ra ngoài, mặt tái xanh, dài hẳn ra, nhưng đôi mắt thì vẫn sáng như hai viên kim cương đen nhánh.

– Cậu ở đây à? – Ông đại úy ngạc nhiên hỏi – Hoan hô! Cậu đã làm tròn nhiệm vụ!

– Cháu đã cố gắng hết sức, – cậu bé trả lời.

– Cậu bị thương à? – ông đại úy hỏi tiếp, vừa đưa mắt tìm viên trung úy của mình ở các giường gần đấy.

Cậu bé đánh trống, tự hào vì bị thương lần đầu, đã có can đảm nói chuyện với ông đại úy, là một việc mà không bị thương thì cậu không bao giờ dám làm, cậu nói:

“Làm thế nào được? Cháu đã cố gắng chạy nhanh hết sức, nhưng quân Áo vẫn trông thấy. Cháu có thể tới nơi sớm hơn hai mươi phút nếu không bị trúng đạn; may mà cháu tìm được ngay một sĩ quan tham mưu và trao giấy cho ông ta. Nhưng vất vả lắm, vì phải cố chạy sau khi đã nhận được sự “vuốt ve” của quân Áo! Cháu khát nước muốn chết, cháu sợ không đến nơi được, cháu khóc như điên vì nghĩ rằng cứ chậm mỗi phút là một người nào đấy của chúng ta ở trên đồi sẽ phải đi đứt. Nhưng thế là đủ, cháu đã cố làm hết sức mình. Cháu rất vui lòng. Xin phép đại úy, kia, đại úy đang chảy máu kìa”.

Thật vậy, từ lòng bàn tay ông đại úy băng không kỹ, những giọt máu đỏ tươi chảy xuống theo các ngón tay.

“Đại úy có muốn cháu băng lại cho không?” Ông đại úy chìa bàn tay trái ra và dang tay phải ra giúp cậu bé cởi cái nút băng; nhưng cậu vừa mới cất đầu dậy khỏi gối thì đã tái mét và phải nằm vật xuống lại.

“Thôi được, thôi được, – ông đại úy vừa nhìn cậu vừa rụt bàn tay mà cậu muốn giữ lại, – hãy nghĩ đến việc của cậu hơn là việc của người khác, vì những vết thương nhỏ có thể thành ra nặng đấy”.

Cậu bé lắc đầu.

– Còn cậu, – ông đại úy vừa nói vừa nhìn cậu chăm chú, chắc cậu cũng bị mất nhiều máu lắm mới đến nỗi yếu như vậy?

– Vâng, mất nhiều máu, – cậu vừa trả lời vừa mỉm cười, – và không những mất máu mà còn mất cái khác nữa, đại úy xem đây!

Và nhanh tay cậu giở cái chăn ra.

Ông đại úy kinh hoàng, lùi lại một bước.

Cậu bé đánh trống chỉ còn có một chân. Chân trái đã bị cắt cụt quá đầu gối; khúc chân còn lại băng bằng những mảnh vải đẫm máu.

Vừa lúc ấy một y sĩ quân y đi qua, mặc sơ mi, người thấp và béo.

“Ồ đại úy ạ – viên quân y nói nhanh và chỉ cậu bé bị thương, – đây là một trường hợp thương tâm: một cái chân có thể chữa khỏi như bỡn, nếu không bắt buộc phải cố sức một cách điên cuồng; vì cố chạy mà chân viêm tấy lên do nhiễm trùng, nên phải cắt ngay lập tức. Ồ! Nhưng thật là một cậu bé dũng cảm, xin bảo đảm như vậy. Cậu không hề khóc, không hề kêu một tiếng… Trong khi giải phẫu cho cậu, tôi rất kiêu hãnh vì cậu là một đứa con của nước Ý… Lạy Chúa, thật là dòng giống anh hùng”.

Rồi viên quân y chạy đi nơi khác, lúc nào cũng vội vàng.

Ông đại úy nhíu đôi lông mày rậm và bạc lại, nhìn cậu bé đánh trống không chớp mắt, và đắp chăn lại cho cậu. Rồi bất giác, mắt vẫn nhìn cậu chằm chằm, ông từ từ đưa tay lên chiếc kê-pi và bỏ mũ ra chào cậu bé thương binh.

“Đại úy! Cậu bé ngạc nhiên kêu lên, – đại úy làm gì vậy? Đại úy chào cháu sao?…”

Thế là người chiến sĩ già chưa từng bao giờ nói một lời nhẹ nhàng với một ai dưới quyền mình, trả lời cậu bé giọng đầy thương yêu và dịu dàng:

“Tôi chỉ là một đại úy, còn cậu, cậu là một anh hùng!”

Rồi đại úy dang rộng tay, ôm chầm lấy cậu bé đánh trống, siết chặt cậu vào lòng và hôn cậu ba lần.

Tình yêu nước

(thư của bố)

Thứ ba, 24

“Truyện Cậu bé đánh trống người Sardegna đã làm cho con cảm động sâu sắc, thế thì sáng hôm nay chắc là con phải làm dễ dàng bài văn đầu đề:

“Tại sao cậu yêu đất nước của cậu?”

“Tại sao tôi yêu đất nước của tôi?” Câu hỏi ấy chẳng đã gợi lên ngay trong ý nghĩ của con vô số câu trả lời hay sao? Tôi yêu đất nước của tôi là vì mẹ tôi sinh ra ở đó; vì dòng máu chảy trong huyết quản của tôi là hoàn toàn thuộc về đất nước tôi; vì dưới mảnh đất thiêng liêng ấy đã chôn những người mà mẹ tôi thương xót và cha tôi tôn kính; vì thành phố mà tôi đã sinh ra, cái tiếng mà tôi nói, những quyển sách dạy tôi học; vì em trai tôi, em gái tôi, bạn bè tôi và cả dân tộc vĩ đại mà tôi đang sống trong đó, thiên nhiên tươi đẹp bao quanh tôi; tóm lại, tất cả những gì tôi thấy, tất cả những gì tôi yêu mến, tôi kính phục, tất cả đều là những bộ phận hợp thành đất nước tôi. Ôi! Giờ thì con chưa thể hiểu hết tình yêu nước ấy được. Sau này, khi khôn lớn, con sẽ cảm thấy rõ hơn; sau một cuộc đi xa trở về, một buổi sáng nọ, tựa vào bao lơn của con tàu, con trông thấy ở chân trời những dãy núi xanh biếc của đất nước con; bấy giờ con sẽ không tài nào cầm nổi những giọt lệ cảm kích và một tiếng kêu vui mừng.

Con sẽ cảm thấy tình yêu nước, khi ở nơi xa lạ, giữa đám đông người dửng dưng với con, con chợt nghe tâm hồn con đẩy con lại phía một người công nhân không quen biết, khi đi qua đã nói một vài tiếng bằng ngôn ngữ của con. Con sẽ cảm thấy qua cơn phẫn nộ đau đớn làm con đỏ mặt tía tai, khi con nghe một người nước ngoài thóa mạ đất nước của con. Con sẽ cảm thấy lòng yêu nước mãnh liệt hơn, và tự hào hơn, khi sự đe dọa của một nước thù địch làm nổi lên một cơn bão lửa trên Tổ quốc, và con thấy khắp nơi những thanh niên giương cao vũ khí, những người cha ôm hôn con và nói: “Dũng cảm lên”, và những bà mẹ vui vẻ tiễn đưa quân đội lên đường với lời chúc: “Hãy chiến thắng!”. Con sẽ cảm thấy lòng yêu nước như một niềm vui thiêng liêng nếu con được hạnh phúc trông thấy những trung đoàn trở về thành’phố, quân số tiêu hao, quân sĩ kiệt lực, nhưng khóe mắt chói lọi vẻ rực rỡ của chiến thắng; con sẽ cảm thấy lòng yêu nước khi trông thấy lá cờ ba màu lỗ chỗ vết đạn; theo sau là một đoàn dài những dũng sĩ ngẩng cao đầu quấn băng, cánh tay buộc chéo vì thương tật; họ đi giữa một rừng người nhiệt liệt tung hoa như mưa vào họ, gửi đến họ nào lời cầu chúc, nào những cái hôn. Enrico ạ, lúc đó con sẽ hiểu thế nào là tình yêu nước. Đó là một tình cảm vĩ đại và thiêng liêng đến mức như thế này, con ạ. Giá một ngày nào đó, bố thấy con từ một trận chiến đấu vì Tổ quốc mà trở về, bình yên vô sự, nhưng lại biết rằng con, dòng máu và là đứa con thân yêu của bố, để bảo toàn tính mạng, đã trốn tránh nguy hiểm thì bố của con, ngày nay mỗi lần con đi học về bố đón con với một tiếng reo vui, lúc ấy bố sẽ đón con với một tiếng nấc đau đớn; bố sẽ không còn có thể yêu con được nữa, và bố sẽ chết với nhát dao găm ấy đâm vào tim.

Bố của con”

Tính đố kỵ

Thứ tư, 25

Lại vẫn Derossi là người làm bài thi giỏi nhất lớp. Nhưng Votini thì cứ chắc rằng mình sẽ được huy chương đầu lớp. Có thể tôi cũng yêu Votini lắm, mặc dù cậu ta hơi tự phụ, và quá chú trọng đến việc ăn mặc; nhưng giờ cậu đến ngồi cạnh tôi và tôi không ưa. Cậu ghen tị quá đáng với Derossi. Cậu học là để ganh đua với Derossi, nhưng bạn Derossi lại vượt cậu về mọi mặt. Carlo Nobis cũng ghen với Derossi đấy nhưng lại rất tự kiêu nên không hề để lộ cho ai biết. Còn Votini thì trái lại, không tự kiềm chế được; bị điểm thấp hơn thì về nhà phàn nàn rằng thầy giáo không công bằng, cho nó ít điểm hơn Derossi. Khi Derossi trả lời nhanh và đúng những câu hỏi của thầy như thường lệ, thì Votini vờ như không nghe, hoặc cố cười. Nhưng mà cười gằn. Và như mọi người thường để ý thấy, khi thầy giáo khen Derossi thì người ta đều quay lại nhìn vẻ mặt tức giận của Votini, còn cậu bé thợ nề thì hướng về nó mà làm trò sứt môi.

Chẳng hạn như sáng hôm nay, thầy giáo vào lớp và công bố kết quả kỳ thi.

“Derossi 10 điểm, được thưởng huy chương đầu lớp”.

Votini nghe thấy liền hắt hơi rất mạnh. Thầy giáo nhìn cậu và hiểu ngay.

“Votini, thầy nói với cậu ta, – đừng để cho con rắn ghen tị lụồn vào trong tim. Đó là một con rắn độc, nó gặm mòn khối óc và làm đồi bại trái tim”. Tất cả học sinh, trừ Derossi, đều nhìn Votini. Cậu ta muốn trả lời, nhưng không nói được, cứ ngồi sững sờ, mặt tái mét. Thế rồi, trong khi thầy Perboni giảng bài, cậu ta viết chữ rất to lên một tờ giấy: “Tôi không ghen tị với những kẻ nào được huy chương nhờ che chở và bất công”.

Votini định chuyển tờ giấy ấy cho Derossi. Cũng cùng lúc ấy tôi thấy mấy bạn ngồi cạnh Derossi ghé tai nhau thì thầm, và một bạn lấy dao cắt một chiếc huy chương giấy to, vẽ lên đó một con rắn đen. Votini trông thấy. Thầy giáo đi ra ngoài một chốc, các bạn ấy liền đứng dậy, trịnh trọng đem chiếc huy chương giấy đến tặng con người ghen tị. Cả lớp đang chờ xem một màn kịch thú vị, Votini thì đã run lẩy bẩy. Derossi kêu to: “Đưa đây cho tôi!”

– Càng tốt, – các bạn trả lời, – chính cậu phải mang tặng mới đúng.

Derossi cầm cái huy chương và xé vụn ra. Vừa lúc ấy, thầy giáo trở vào và giảng tiếp bài. Tôi không rời mắt khỏi Votini, thấy cậu thẹn đỏ mặt; cậu từ từ cầm lấy mảnh giấy đã viết và như lơ đãng, vo vo trong bàn tay, bỏ vào mồm nhai mấy phút, rồi nhổ xuống dưới ghế…

Lúc tan học, đi qua trước mặt Derossi, Votini hơi lúng túng, đánh rơi tờ giấy thấm. Derossi rất dễ thương nhặt lên, đút vào cặp cho Votini và giúp bạn cài cặp lại. Cậu kia thì chẳng dám nhìn Derossi.

Bà mẹ Franti

Thứ bảy, 28

Sáng hôm sau bà mẹ Franti thình lình bước vào lớp, mái tóc hoa râm rối bù, tuyết bám đầy người, ấy con mình đi trước. Tám hôm nay, Franti không trở lại lớp học. Chúng tôi được chứng kiến một cảnh thật buồn. Bà mẹ tội nghiệp, gần như quỳ xuống, chắp tay khẩn khoản van xin thầy hiệu trưởng:

“Ôi! Thưa thầy hiệu trưởng, thầy làm phúc cho con tôi được vào học lại. Từ ba hôm nay, tôi phải giấu cháu trong nhà, vì bố cháu mà biết chuyện thì bố cháu giết chết nó mất. Xin thầy rủ lòng thương chúng tôi, tôi chẳng còn biết làm gì được nữa, tôi van thầy…”

Thầy hiệu trưởng tìm cách đưa bà ra, nhưng bà cứ nằn nì, khóc lóc và van xin:

“Ôi, giá thầy biết thằng bé này đã làm khổ tôi đến thế nào, thì thầy sẽ thương hại tôi… Xin thầy làm phúc cho tôi. Tôi mong rằng nó sẽ thay đổi. Tôi không còn sống được lâu nữa, thầy hiệu trưởng ạ, tôi đã chết cả cõi lòng rồi. Tôi mong biết bao nhiêu khi thấy con trai tôi thay đổi tâm tính trước khi tôi chết, bởi vì… – thế là bà mẹ khổ sở khóc òa lên – nó là con tôi, tôi yêu nó, tôi sẽ chết vì tuyệt vọng thôi. Xin thầy hiệu trưởng nhận nó lại, để cho khỏi xảy ra một tai họa. Xin thầy rủ lòng thương một người mẹ khốn khổ…”

Bà lấy tay úp vào mặt mà khóc. Franti đứng cúi đầu, thản nhiên. Thầy hiệu trưởng nhìn nó, suy nghĩ một hồi rồi bảo: “Franti, về chỗ ngồi”.

Bà mẹ thôi khóc ngay và cảm ơn thầy hiệu trưởng, rồi sắp ra về, vừa lau nước mắt vừa nói thêm:

“Cám ơn thầy hiệu trưởng, thầy đã làm phúc cho tôi… Này con, phải sửa mình cho tốt; và các con, xin các con nhẫn nại một chút… Chào các con, một lần nữa xin cám ơn, và xin thầy hiệu trưởng bỏ lỗi cho một người mẹ đau khổ”.

Trên ngưỡng cửa, bà còn ngoái nhìn con, đôi mắt van lơn; rồi bà đi ra, lom khom, bải hoải, mặt mày tái nhợt; và chúng tôi còn nghe bà ho ở dưới chân cầu thang.

Thầy hiệu trưởng nhìn chằm chằm Franti, và giữa cảnh im lặng như tờ, thầy nói, giọng thầy làm cho tất cả chúng tôi đều xúc động: “Franti, cậu đã giết chết mẹ cậu!”

Tất cả chúng tôi đều quay nhìn Franti, cái thằng ô nhục ấy vẫn mỉm cười…

Prev
Next

Có thể bạn muốn đọc thêm

tra-hoa-nu-alexandre-dumas
Trà Hoa Nữ – Alexandre Dumas
November 20, 2023
suoi-nguon-ayn-rand
Suối Nguồn – Ayn Rand
November 23, 2022
that-lac-coi-nguoi-dazai-osamu
Thất Lạc Cõi Người – Dazai Osamu
June 3, 2023
den-khong-hat-bong-watanabe-dzunichi
Đèn Không Hắt Bóng – Watanabe Dzunichi
June 10, 2023

ThuVienOnline © 2026