Những Tấm Lòng Cao Cả - Edmondo De Amicis - Tháng hai
Chiếc huy chương xứng đáng
Thứ bảy, 4
Sáng hôm nay, ông tổng thanh tra đã đến trường để trao thưởng huy chương cho các học sinh. Ông mặc quần áo màu đen, râu ông đã bạc. Ông vào lớp cùng với thầy hiệu trưởng trước giờ tan học một ít, và ngồi vào cạnh thầy giáo. Ông gọi một vài học sinh lên hỏi, trao chiếc huy chương nhất lớp cho Derossi. Trước khi trao chiếc thứ nhì ông trao đổi ý kiến nho nhỏ với thầy hiệu trưởng và thầy giáo. Chúng tôi hỏi nhau: “Ai sẽ được chiếc huy chương thứ nhì nhỉ?”
Ông tổng thanh tra tuyên bố.
– Người xứng đáng được thưởng huy chương thứ nhì trong tuần này là học sinh Pietro Precossi, xứng đáng vì đã học tốt ở trường, và ở nhà, vì rất thuộc các bài học và viết chữ đẹp.
Tất cả học sinh đều tự nhiên ngoảnh nhìn Precossi, điều đó chứng tỏ các bạn đã vui lòng biết bao về cái phần thưởng này. Precossi đứng dậy, lúng túng, đến nỗi không biết nên làm gì nữa.
“Mời cậu lên đây” ông thanh tra nói.
Precossi ra khỏi ghế, bước lên đứng cạnh bàn thầy giáo.
Ông tổng thanh tra nhìn chăm chú khuôn mặt bé nhỏ vàng như sáp, cái thân hình bé nhỏ trong bộ quần áo bị thủng rách và bạc màu, đôi mắt hiền hậu và buồn rầu, biểu lộ chuỗi dài những đau khổ đã phải chịu đựng, rồị vừa gắn chiếc huy chương lên ngực cho cậu, vừa nói giọng rất dịu dàng.
– Precossi, tôi thưởng cậu chiếc huy chương này vì không ai xứng đáng được đeo hơn cậu. Tôi thưởng cho cậu không phải vì cậu thông minh và có thiện chí, tôi thưởng cho lòng tốt, cho sự can đảm của cậu, cho đức tính của người con quả cảm và trung hậu, – Rồi ông hỏi cả lớp – Có phải là bạn cũng đáng thưởng vì lòng hiếu thảo của một đứa con đối với cha mẹ nữa không?
– Vâng ạ, vâng ạ! – Học sinh đồng thanh đáp lại, bao nhiêu người nhưng chỉ có một tiếng.
Precossi quay nhìn chúng tôi, đôi mắt biểu lộ một lòng biết ơn vô hạn.
– Thôi, con về chỗ, chúc con sung sướng, – ông tổng thanh tra nói.
Đã đến giờ tan học. Lớp chúng tôi được ra trước các lớp khác. Vừa qua ngưỡng cửa, chúng tôi thấy bố cậu Precossi bác thợ rèn, ở gian phòng trước, mặt tái nhợt như mọi khi, đôi mắt hung tợn, tóc xõa xuống tận mắt, chiếc mũ lưỡi trai đội lệch, hai chân không đứng vững. Thầy giáo nhận ra bác ta ngay và ghé tai ông thanh tra nói mấy câu. Ông này liền tìm Precossi, nắm tay cậu và dẫn đến chỗ bố cậu. Cậu bé run lên. Thầy giáo và thầy hiệu trưởng đi theo cậu, nhiều học sinh đi quanh họ.
“Ông là bố của cậu này phải không ạ?” ông thanh tra hỏi bác thợ rèn giọng rất thân ái, rồi không chờ câu trả lời ông nói tiếp: “Tôi xin chia sẻ niềm vui với ông. Ông hãy nhìn xem, cậu vừa được huy chương thứ nhì trong lớp trên năm mươi bốn học sinh. Về văn, về toán, về mọi mặt cậu đều xứng đáng cả. Đây là một cậu bé rất thông minh và đầy nghị lực, sau này cậu sẽ thành tài, một cậu con trai tốt, mọi người đều quý mến, ông có thể hãnh diện vì cậu, tôi xin bảo đảm với ông như vậy!”.
Bác thợ rèn đứng nghe, mồm há hốc; bác nhìn chằm chằm ông thanh tra, thầy hiệu trưởng, rồi đưa mắt nhìn con mình đang đứng trước mặt, mắt nhìn xuống đất, run rẩy, dường như lần đầu tiên bác chợt hiểu ra tất cả những nỗi đau khổ mà bác đã đem đến cho đứa bé tội nghiệp này, và nó đã trung hậu kiên trì, anh dũng chịu đựng những nỗi đau khổ như thế nào, bác thợ rèn như biểu lộ nỗi kinh ngạc gần như sửng sốt, nỗi đau đớn quằn quại trong lòng, và cuối cùng một niềm thương yêu vừa mãnh liệt vừa buồn rầu. Vội vàng bác kéo con về phía mình và ôm chặt nó vào lòng.
Tất cả chúng tôi đi qua trước hai bố con. Tôi mời Precossi thứ năm tới nhà tôi chơi cùng với Garrone và Crossi. Các bạn khác chào cậu, có bạn vuốt ve cậu khi đi qua, bạn khác sờ, ngắm chiếc huy chương của cậu, tất cả ai cũng nói với cậu một lời gì đó. Và ông bố nhìn chúng tôi sửng sốt, càng siết chặt đầu đứa con đang thổn thức vào ngực mình.
Quyết tâm đúng đắn
Chủ nhật, 5
Chiếc huy chương của Precossi ám ảnh tâm trí tôi. Tôi chưa được thưởng một chiếc nào cả.
Ít lâu nay, tôi không chăm học và tự mình rất không bằng lòng mình. Thầy giáo, bố và mẹ cũng không bằng lòng tôi. Tôi chơi cũng chẳng thấy vui thú như trước kia, khi tôi còn học hành chuyên cần. Ngày ấy, làm bài xong là tôi vui vẻ lao ra, chạy đi tìm trò chơi say sưa. Ngồi vào bàn ăn với gia đình, tôi cũng không thấy vui lòng như trước nữa. Tâm hồn tôi như có một cái bóng tối trùm lên, và từ thâm tâm có một tiếng nói luôn luôn bảo tôi: “Thế này không được đâu”.
Buổi tối, tôi thấy những đứa bé đi làm về qua quảng trường, giữa những tốp thợ thuyền. Họ đều mệt mỏi nhưng vẫn vui vẻ, họ rảo bước mong chóng về tới nhà. Họ nói to, vừa cười vừa vẫy những bàn tay đen những than hay trắng vì thạch cao. Tôi nghĩ rằng họ đã lao động từ sáng tinh mơ cho đến tối như thế này: trong bọn họ có những đứa trẻ cùng lứa tuổi với tôi, suốt ngày ở trên những mái nhà, trước những lò lửa, giữa những máy móc, ngâm mình trong nước hoặc chui xuống dưới đất, và chỉ ăn có một tí bánh mì thôi. Tôi cảm thấy như hổ thẹn khi so sánh với họ: cũng trong thời gian ấy, tôi chỉ miễn cưỡng bôi đen được bốn trang giấy nhỏ! Tôi không bằng lòng, rất không bằng lòng! Tôi thấy rõ là bố đã bực mình và muốn báo cho tôi biết điều đó, là việc của tôi đã làm cho bố rất phiền lòng, nhưng bố vẫn nhẫn nhục. Bố yêu quý, bố đã làm việc quá nhiều! Mọi thứ đều do bố làm ra cả. Tất cả những thứ gì tôi thấy có trong nhà, những gì tôi mặc, những gì tôi ăn, những gì giúp tôi giải trí, những gì dạy dỗ tôi, và cả những gì đem lại danh dự cho tôi: tất cả những cái đó, đều là kết quả công lao của bố. Thế mà tôi, tôi lại chẳng học hành gì cả! Bố phải chịu những nỗi đau khổ, nhọc nhằn, thiếu thốn mà tôi thì lại lười biếng! Ôi, điều đó rất xấu và làm cho tôi khổ tâm.
Tôi muốn ngay từ hôm nay học tập say sưa như Stardi, tôi muốn làm việc với tất cả sức mạnh của nghị lực và của lòng can đảm. Tôi muốn thắng cơn buồn ngủ lúc đầu hôm, dậy sớm buổi sáng, chiến thắng không thương tiếc khuynh hướng lười biếng của mình.
Vâng, tôi đã quyết tâm chấm dứt cái lối sống nhu nhược và vô ích ấy, nó làm cho tôi thấy hèn hạ và làm cho bố mẹ tôi buồn phiền. Can đảm lên! Bắt tay vào làm việc, với tất cả tâm hồn và gân cốt của mình! Và công việc sẽ đem đến cho tôi những sự nghỉ ngơi vui vẻ, những trò tiêu khiển thích thú, những bữa ăn ngon lành; và công việc sẽ trả lại cho tôi nụ cười hiền hậu của thầy giáo và cái hôn âu yếm của bố.
Bộ đồ chơi xe lửa
Thứ sáu, 10
Hôm qua Precossi đến chơi nhà tôi cùng với Garrone. Các bạn đã được đón tiếp hết sức thân tình. Đây là lần đầu tiên Garrone đến. Cậu hơi ít giao thiệp, vì không muốn người ta biết rằng bằng tuổi cậu mà còn học lớp ba. Cả gia đình tôi ra đón khi nghe các bạn gõ cửa. Crossi không đến vì bố cậu mới ở bên Mỹ về, sau sáu năm xa cách. Mẹ ôm hôn Precossi; bố giới thiệu Garrone với mẹ rằng: “Đây không những chỉ là một cậu bé tất bụng, mà còn là một cậu bé hào hiệp”. Garrone cúi cái đầu to húi trọc và nhìn tôi, tủm tỉm cười.
Precossi đeo huy chương. Cậu rất sung sướng. Bố cậu đã đi làm lại và từ năm hôm nay, không say rượu nữa, cứ giữ con luôn luôn ở cạnh mình trong xưởng, và thay đổi hẳn tính tình. Chúng tôi bắt đầu chơi, tôi đem tất cả đồ chơi ra. Precossi hết sức ngạc nhiên, thích thú khi thấy bộ đường sắt nhỏ của tôi với chiếc đầu máy xe lửa có lò xo, tự động chạy được. Cậu chưa bao giờ thấy một cái gì như vậy cả. Cậu trố mắt ngắm các toa tàu sơn màu đỏ và vàng. Tôi đưa cái chìa khóa cho cậu lên dây chiếc đầu máy; thế là cậu quỳ xuống chơi mải miết, không ngẩng đầu lên nữa. Tôi chưa hề thấy cậu vui thích như thế bao giờ. Cậu luôn mồm nói: “Xin lỗi, xin lỗi”, mỗi khi gạt chúng tôi ra cho chiếc tàu chạy khỏi bị cản đường; rồi cầm lên và để xuống các toa tàu, thận trọng vô cùng, tưởng chừng chúng đều làm bằng thủy tinh và cậu sợ cả hơi thở của cậu có thể làm chúng hoen mờ mất. Cậu lau chùi các toa, nhìn phía trên, phía dưới và cười một mình. Chúng tôi nhìn Precossi: cái cổ mềm mại của cậu, hai cái tai tội nghiệp mà một hôm tôi thấy be bét máu, cái áo dài quá rộng, tay xắn để thòi ra hai cánh tay gầy guộc, chắc là trước đây thường phải giơ lên để đỡ đòn… Ôi! Lúc ấy tôi những muốn đem biếu cậu tất cả đồ chơi và tất cả sách học của tôi. Tôi muốn nhịn miếng bánh mì cuối cùng đang ăn để nhường cậu ăn, tôi muốn lột hết áo quần để nhường cậu mặc, và tôi tự kìm mình để khỏi nhảy tới ôm chầm lấy cổ cậu, tội nghiệp cậu Precossi. Tôi sẽ tặng cậu bộ đồ xe lửa nhỏ của tôi, tôi nghĩ vậy, tôi muốn xin phép bố trước đã. Đúng lúc ấy thì tôi được dúi vào tay một mảnh giấy. Tôi đọc. Ở đấy bố đã viết bằng bút chì: “Bộ đồ chơi đường sắt của con làm Precossi rất thích, bạn ấy không có đồ chơi. Lòng con không bảo con điều gì hay sao?”
Tức thì, tôi cầm cả hai tay cái đầu máy và các toa xe đưa cho Precossi và nói: “Này, bạn cầm lấy, của bạn đấy!”
Cậu nhìn tôi, không hiểu.
“Của bạn đấy, – tôi nhắc lại, – tôi biếu bạn”. Precossi kinh ngạc nhìn bố, mẹ và hỏi tôi:
“Nhưng tại sao vậy?”
– Enrico biếu cháu đấy, – bố nói, – vì cháu là bạn nó và nó yêu cháu lắm… ấy là mừng cháu được huy chương…
Precossi rụt rè hỏi:
– Thế cháu có thể đem về… nhà chứ?
– Tất nhiên.
Lúc ra về, đứng trên ngưỡng cửa Precossi vẫn chưa dám mang theo của báu của cậu. Cậu sung sướng quá và nói khe khẽ: “Xin lỗi”, đôi môi run run và tươi cười.
Garrone giúp bạn bọc chiếc xe lửa trong cái khăn tay, và khi cúi xuống cậu làm kêu lạo xạo những chiếc bánh ngọt mà mẹ đã nhét đầy các túi cho cậu.
Precossi nói với tôi: “Thế một ngày nào bạn sẽ đến chơi ở xưởng của bố tôi chứ? Tôi sẽ biếu bạn những chiếc đinh!”
Mẹ lại cài vào khuyết áo dài của Garrone một bó hoa nhỏ để cậu đem về tặng hộ mẹ cậu. Garrone cám ơn, giọng ồm ồm, đầu không ngẩng lên, nhưng đôi mắt phản chiếu tâm hồn cao thượng và trung hậu của cậu.
Tính kiêu ngạo
Thứ bảy, 11
Ấy thế mà khi Precossi đi qua hơi chạm phải, là Carlo Nobis phủi phủi tay áo của mình, kiểu cách lắm. Thằng ấy là hiện thân của tính kiêu ngạo, vì bố nó là nhà giàu. Nhưng mà Derossi cũng có ông bố rất giàu cơ mà.
Cái thằng Nobis muốn ngồi riêng một mình một ghế, vì nó quá sợ các bạn ngồi cạnh làm bẩn nó! Nó nhìn tất cả chúng tôi từ đầu đến chân, chẳng từ ai, và lúc nào cũng với một nụ cười khinh khỉnh. Đừng có vấp vào chân nó mỗi khi xếp hàng đôi để đi ra. Vì một việc không đâu, nó cũng văng vào mặt anh một câu chửi rủa hay dọa về đưa bố nó đến. Tuy vậy, bố nó đã cho nó một bài học đích đáng cái hôm mà nó nhiếc cậu con bác bán than là “đồ khố rách áo ôm”.
Tôi không bao giờ thấy một học sinh nào tìm đến với nó. Không ai nói chuyện với nó, không ai chào nó khi chìa tay, không ai nhắc cho nó một câu khi nó không thuộc bài… Còn nó, thì nó không chịu ai hết, và làm bộ khinh Derossi vì cậu đứng đầu lớp và Garrone vì cậu được mọi người mến. Derossi không thèm để ý đến điều đó; và khi có người mách lại Garrone là Nobis chế giễu cậu, thì cậu chỉ nói: “Thằng bé ấy kiêu ngạo một cách ngu xuẩn quá nên không đáng để cho ai chú ý đến”.
Một hôm Nobis nhìn cái mũ nồi da mèo của Coretti một cách khinh bỉ, cậu này nói luôn: “Này xin quá bộ một chút đến nhà Derossi mà học cách làm ông chúa”.
Hôm qua, Nobis phàn nàn với thầy giáo là cậu bé người Calabria chạm bàn chân vào ống quần của nó. Thầy hỏi cậu bé Calabria:
– Cậu có cố ý không.
– Thưa thầy, không ạ, – cậu bé thành thật trả lời.
– Nobis! Cậu thật khó tính quá sức, – thầy bảo.
Nobis trả lời cách khinh khỉnh:
– Tôi sẽ mách bố tôi.
Thầy Perboni liền quát lên:
– Bố cậu sẽ cho là cậu có lỗi, cũng như lần trước thôi. Vả lại, ở đây, chỉ có tôi mới là người phán xử mọi việc.
Rồi giọng dịu dàng hơn, thầy nói tiếp: “Này, Nobis, hãy ăn ở nhã nhặn và trung hậu hơn với các bạn một chút đi. Tại sao cậu lại không làm được như những người khác? Làm thế cậu sẽ được vui lòng hơn nhiều, cậu có gì cần trả lời tôi không?”
Nobis nghe thầy giáo nói vẫn với nụ cười khinh khỉnh theo thói quen của nó, và trả lời lạnh nhạt:
– Thưa thầy, không.
– Ngồi xuống, – thầy Perboni bảo, – tôi rất phàn nàn cho cậu, cậu là một đứa bé không có quả tim!
Câu chuyện tưởng là kết thúc, thì cậu bé thợ nề ngồi ở bàn đầu, quay cái mặt tròn trĩnh về phía Nobis ngồi ở bàn cuối, và làm cái trò sứt môi, hài hước đến nỗi cả lớp phải phá lên cười. Thầy giáo mắng cậu, nhưng cũng phải lấy tay che mồm để giấu sự buồn cười của mình. Nobis cũng cười, nhưng cái cười bực bội và tức tối không đánh lừa được ai.
Những người bị thương tật vì tai nạn lao động
Thứ hai, 13
Nobis có thể sánh đôi với Franti được đấy. Chúng nó chẳng động lòng vì bất cứ cái gì, cả hai đứa; chúng nó dửng dưng trước cái cảnh khủng khiếp mà chúng tôi gặp lúc tan học.
Chúng tôi đang cùng với bố nhìn một số trẻ em học lớp hai nằm soài ra mặt băng, lấy áo tơi và mũ cát két cọ băng cho trơn để mà trượt cho dễ, thì bỗng thấy từ cuối phố kéo đến một đám đông người đi rất nhanh, vẻ nghiêm trọng và kinh hãi, và nói với nhau khe khẽ, giữa đám đông là ba người vệ binh thành phố, phía sau họ hai người khiêng một cái cáng. Học sinh từ tứ phía chạy lại. Đoàn người tiến về phía chúng tôi; người ta thấy một người đàn ông nằm trên cáng. Ông ta nhợt nhạt như một cái xác chết, đầu rủ xuống một bên tai, tóc rối bù, bê bết máu; và máu cũng chảy từ mồm, từ tai ông ta ra, thật là khủng khiếp. Một người đàn bà đi bên cạnh cáng, bế một đứa bé; bà ta như điên cuồng vì đau khổ và bỗng kêu lên: “Ông ấy chết rồi, chết rồi!”
Đi theo sau người đàn bà là một đứa bé con trai, tay cắp cặp học sinh; đứa bé khóc nấc lên.
“Cái gì thế?” bố tôi hỏi.
Một khách qua đường trả lời rằng đó là một người thợ nề bị ngã từ gác tư xuống trong khi đang làm việc. Những người khiêng cáng dừng lại một lát. Nhiều người trong số chúng tôi quay mặt đi vì khiếp sợ. Tôi thấy cô giáo đội mũ cắm chiếc lông đỏ phải đỡ cô giáo lớp một trên của tôi, gần ngất đi. Cùng lúc ấy tôi thấy có người chạm vào khuỷu tay. Đó là cậu bé thợ nề, mặt tái nhợt; cậu run như cầy sấy. Chắc là cậu nghĩ đến bố. Tôi cũng nghĩ đến bố tôi. Khi ở trường tôi rất yên tâm vì tôi biết là bố đang ở nhà, ngồi trước bàn giấy, xa mọi sự nguy hiểm. Nhưng biết bao nhiêu bạn tôi lại nghĩ rằng bố họ đang làm việc trên một chiếc cầu rất cao hay cạnh những bánh xe của một chiếc máy, mà một động tác, một bước hụt có thể làm cho thiệt mạng: họ khác nào con của những người lính, mà bố đang ra trận!
Cậu bé thợ nề càng nhìn càng run; bố trông thấy và bảo cậu: “Cháu về đi, cháu ạ; chạy nhanh về với bố cháu, cháu sẽ thấy bố cháu mạnh khỏe, yên lành”.
Cậu bé thợ nề đi về, nhưng cứ đi vài bước lại ngoái lại. Đám người lại đi, và người đàn bà đáng thương cứ kêu lên thảm thiết. “Ông ấy chết rồi, chết rồi!” Không ai cầm lòng cho được.
– Không, không, ông ấy không chết. – người ta nói với bà từ khắp mọi phía.
Nhưng bà không nghe và cứ kêu van mãi. Bỗng tiếng một ai hét lên, tức giận: “Cười à?”
Tôi quay lại và thấy một người râu đen đang nhìn Franti, thằng này vẫn còn cười. Người đó giật lấy mũ lưỡi trai của cái thằng bụng dạ độc ác ấy ném xuống đất và nghiêm khắc bảo nó rằng: “Đồ khốn khổ, ít nhất cũng phải bỏ mũ chào khi trông thấy một người bị tai nạn lao động đi qua”.
Người tù
Thứ sáu, 17
Sáng hôm qua tôi theo bố đi đến mạn Moncalieri xem một ngôi nhà mà bố muốn thuê để ở trong mùa hè. Người giữ chìa khóa ngôi nhà là một ông giáo, đồng thời là thư ký của chủ nhà. Ông ta đưa chúng tôi đi xem nhà, rồi đưa chúng tôi vào phòng ông, mời chúng tôi dùng các thứ giải khát.
Trên mặt bàn, gần các cốc nước của chúng tôi, có một lọ mực bằng gỗ, hình chóp nón, chạm trổ một cách rất lạ. Thấy bố tôi nhìn lọ mực ấy, ông giáo nói:
– Vật này rất quý đối với chúng tôi, và chắc ông cũng sẽ nghĩ vậy nếu ông biết sự tích của nó.
– Xin ông kể cho chúng tôi nghe, – bố nói. Thế là ông giáo kể.
Mấy năm trước đây, ông giáo ấy ở Torino, được cử đến dạy học cho những người tù trong một nhà giam, suốt cả một mùa đông.
Để giảng bài, ông đứng trong một cái phòng hình tròn, chung quanh là tường cao, trơ trụi, và vô số cửa sổ con hình vuông có chấn song sắt hình chữ thập.
Mỗi cửa sổ ấy soi sáng một xà lim nhỏ. Thầy giáo giảng bài, đi đi lại lại trong phòng, người học đều ở phía sau các cửa sổ tí ti ấy, vở áp vào các song sắt, chỉ để lộ trong bóng tối lờ mờ những bộ mặt gầy gò và lo âu, những bộ râu rối bù và lốm đốm hoa râm, những đôi mắt trừng trừng của bọn cướp của giết người.
Trong đám tù có một người mang số 78 là chăm chú hơn đồng bọn, anh ta chăm và nhìn thầy giáo với đôi mắt rất cung kính và biết ơn. Đó là một người còn trẻ, râu đen, một kẻ khốn khổ hơn là hung đồ, một người thợ làm đồ gỗ, trong một cơn tức giận đã ném một cái bào vào đầu chủ xưởng, làm người này tử thương. Anh ta bị kết án nhiều năm cấm cố.
Trong ba tháng, người tù ấy đã biết đọc, biết viết. Một hôm, buổi học sắp xong, anh ta ra hiệu cho thầy giáo lại gần cửa sổ và buồn rầu báo tin là hôm sau anh sẽ phải chuyển từ nhà giam Torino đến nhà giam ở Venezia. Sau khi ngỏ lời từ biệt thầy giáo, người tù giọng cung kính và xúc động khẩn khoản xin được sờ bàn tay của thầy. Thầy giáo đưa tay ra, anh ta hôn và nói: “Xin cám ơn, cám ơn”, rồi biến mất.
Khi thầy giáo rút tay lại thì tay ướt đẫm nước mắt.
Từ đấy không thấy người tù đâu nữa. Sáu năm đã trôi qua.
“Tôi không còn nhớ đến con người khổ sở ấy nữa, – ông giáo kể tiếp, – thì sáng hôm qua tôi thấy một người lạ đến đây, quần áo xấu xí, râu đen đã điểm hoa râm.
– Có phải thầy là thầy giáo…? – người ấy hỏi tôi.
– Ông là ai? – tôi hỏi lại.
– Tôi là người tù số 78 mà thầy đã dạy cho đọc và viết cách đây sáu năm, – người ấy nói tiếp, – và trong buổi học cuối cùng, thầy đã vui lòng cho tôi được hôn tay… Giờ tôi đã mãn hạn và tôi đến đây xin thầy nhận cho một vật nhỏ tôi đã lao động để làm ra ở trong tù… Chẳng hay thầy có vui lòng nhận cho cái vật chứng tỏ lòng biết ơn của tôi không, thưa thầy?
Tôi lặng thinh, và con người đáng thương ấy tưởng là tôi không muốn nhận món quà của anh ta; anh ta nhìn tôi với một vẻ đau xót hết sức. Động lòng thương người tù học trò cũ của tôi, tôi cầm lấy vật này đây”.
Bố và tôi nhìn kỹ lọ mực mà thầy giáo đưa cho xem. Hình như nó được chạm trổ bằng mũi nhọn của một cái đanh và phải có một lòng kiên nhẫn ghê gớm mới hoàn thành nổi. Lọ mực ấy có khắc hình một quyển vở trên có một ngòi bút với dòng chữ: “Kính tặng thầy giáo của tôi, kỷ niệm của số 78 – sáu năm!” Và ở dưới hàng chữ nhỏ: “Học tập và hy vọng”…
Ông giáo không giữ chúng tôi ở lại lâu, và chúng tôi ra về. Nhưng trên đường từ Moncalieri về Torino, tôi không thể nghĩ đến gì khác ngoài người tù ở đằng sau cái cửa sổ con, đến những lời người ấy từ biệt thầy giáo đến cái lọ mực tội nghiệp chạm trổ ở trong tù đã nói lên biết bao nhiêu điều.
Đêm đó tôi nằm chiêm bao thấy những việc ấy, và đến sáng hôm sau tôi vẫn còn nghĩ tới… Nhưng thật không thể tưởng tượng nổi việc ngạc nhiên sắp đến với tôi ở nhà trường.
Vừa mới vào chỗ ngồi mới bên cạnh Derossi và sau khi đã làm xong bài thi toán hàng tháng, tôi kể cho bạn nghe câu chuyện người tù, tả cái lọ mực và những dòng chữ khắc trên đó.
Tức thì, Derossi giật nảy mình, nhìn Crossi rồi lại nhìn tôi, Crossi con bác bán rau quả ngoài trời ấy, ngồi ở bàn trước mặt chúng tôi, đang tập trung hết sức suy nghĩ để giải bài tính đố. “Này – Derossi nói khẽ và nắm chặt cánh tay tôi, – Crossi có nói với mình hôm kia là bố cậu ấy đi Mỹ về, có một lọ mực bằng gỗ hình chóp nón, có khắc một quyển vở và một ngòi bút; chắc là người ấy đấy… Sáu năm! Cũng đúng là thời gian mà bố cậu ấy ở bên Mỹ, như cậu nói. Vậy ra ông ta bị tù. Khi vụ án đem ra xử thì Crossi còn bé, nên cậu ấy không nhớ ra; và bà mẹ lại cố tình giấu con. Cậu ấy không biết gì hết. Chúng ta không được nói hở một chút gì hết về chuyện này. Tội nghiệp cậu bé! Phải để cho cậu ta không hay biết gì hết…” Tôi sững sờ, chăm chú nhìn Crossi. Trong lúc ấy Derossi giải xong bài tính, chuyển sang cho Crossi, rồi giành từ tay cậu tập bản thảo truyện đọc hàng tháng “Người y tá của ta-ta” mà thầy giáo đã giao cho Crossi chép. Derossi sẽ chép hộ để cho Crossi đỡ khó nhọc. Cậu lại cho bạn những ngòi bút, đưa tay âu yếm vỗ về đôi vai của cậu bé tội nghiệp. Derossi còn bắt tôi phải lấy danh dự mà hứa là không nói với bất cứ ai một lời về những điều tôi đã biết.
Lúc tan học ra về Derossi sốt sắng nói với tôi: “Bố Crossi hôm qua có đến đón cậu ấy, sáng hôm nay thế nào cũng đến. Bạn cứ làm theo mình nhé”.
Thật vậy, ra đến đường chúng tôi thấy bố Crossi, râu đen, da rám, vẻ mặt tư lự và xanh nhợt, đứng riêng ra, cách biệt mọi người.
Derossi siết chặt tay Crossi, cố ý cho ông bố trông thấy và nói: “Tạm biệt, Crossi”, vừa nói vừa vuốt cằm Crossi. Tôi cũng làm như vậy. Derossi và tôi, mặc dầu cố nén, vẫn đỏ nhừ mặt; và bố Crossi nhìn chúng tôi chăm chú với đôi mắt hiền hậu, nhưng lộ vẻ lo lắng và nghi ngờ làm cho chúng tôi lạnh cả tim.
Người y tá của tata[ Tiếng con gọi bố, theo phương ngôn vùng Napoli]
(Truyện đọc hàng tháng)
Sáng sớm một ngày tháng ba, trời mưa, có một cậu bé ăn mặc kiểu nông thôn, áo quần sũng nước và lấm bùn, tay cắp một cái gói, đến gặp người gác cổng bệnh viện lớn ở Napoli và đưa một cái thư, xin vào thăm bố.
Cậu bé có gương mặt trái xoan đẹp, nước da nâu nhạt, đôi mắt trầm tư và đôi môi hé mở để lộ hàm răng trắng ngần.
Cậu đến từ một cái làng ở ven Napoli. Bố cậu năm trước sang Pháp để kiếm việc làm, vừa trở về Ý. Vừa lên bến Napoli, thình lình ông bị bệnh nặng, chỉ kịp viết mấy chữ gửi cho gia đình báo tin đã về và phải vào bệnh viện. Người vợ nghe tin hoảng hốt nhưng không thể bỏ nhà, vì còn một mẹ già tàn tật và một đứa con dại, liền đưa cho đứa con đầu lòng mấy đồng xu, bảo tới Napoli trông nom bố, tata của nó theo tiếng nói của người vùng này. Cậu phải đi bộ mười cây số.
Người gác cổng sau khi liếc mắt xem bức thư, gọi một người y tá, bảo dẫn cậu bé vào gặp bố.
“Bố nó là ai?” – người y tá hỏi.
Cậu bé nói tên bố, hồi hộp nghe một tin chẳng lành.
Người y tá không nhớ ra cái tên ấy.
– Có phải một người thợ già mới ở nước ngoài về không? – ông y tá hỏi.
– Thợ à, vâng, – cậu bé trả lời, mỗi lúc một thêm lo, – còn già thì không già, nhưng đúng là ở nước ngoài về.
– Vào viện từ bao giờ?
Cậu bé nhìn cái thư và nói: “Khoảng năm hôm nay”.
Người y tá nghĩ một lát, rồi như chợt nhớ ra:
– À, biết rồi! Phòng thứ tư, giường trong cùng…
– Bố cháu ốm có nặng lắm không? Hiện giờ ra sao? – Cậu bé lo lắng hỏi.
Người y tá nhìn cậu không trả lời, chỉ nói: “Đi theo tôi”.
Hai người leo lên hai tầng nhà, đi suốt một hành lang rộng, đến một cái cửa mở vào một phòng có kê hai dãy giường. Người y tá vào phòng và nhắc lại: “Theo tôi”. Cậu bước đi sau, đôi mắt sợ hãi, hết nhìn bên phải lại bên trái, những bộ mặt xanh xao và tiều tụy của các người bệnh. Có những người mắt nhắm nghiền trông như đã chết; những người khác nhìn lên không với đôi mắt tròn xoe, bất động, khiếp sợ. Những người khác rên hừ hừ như trẻ con. Gian phòng tối mờ mờ, không khí nồng nặc mùi thuốc. Hai bà phước đi đi lại lại, tay cầm những chai thuốc nước.
Đến cuối phòng, người y tá dừng lại đầu một chiếc giường, vén màn lên và nói: “Bố cậu đây”.
Cậu bé khóc òa lên, để rơi cái gói và tựa đầu lên vai người bệnh. Cậu nắm lấy tay bố đang duỗi ra ngoài chăn. Người bệnh nằm yên không nhúc nhích.
Cậu bé đứng dậy, nhìn bố rồi lại khóc. Bấy giờ người bệnh mới đăm đăm nhìn cậu và hình như nhận ra. Nhưng đôi môi ông ta không cử động. Tội nghiệp, tata thay đổi nhiều quá. Con trai không tài nào nhận ra được. Tóc ông đã bạc và râu mọc rậm rì, mặt sưng phù, đỏ mọng, da căng và bóng. Cậu bé chỉ còn nhận ra cái trán và đôi lông mày cong và đen của bố thôi. Người bệnh thở hổn hển khó nhọc.
– Tata, tata của con, – cậu bé nói, – con đây, Tata không nhận ra con sao? Con là Cicillo, Cicillo của tata, từ nhà quê lên, mẹ bảo con lên. Bố nhìn con này, không nhận ra con sao? Nói với con một câu đi nào! – Nhưng người bệnh, sau khi đã nhìn cậu chăm chú, lại nhắm mắt lại.
– Tata, tata làm sao thế? Con đây mà, Cicillo của tata đây mà !
Người bệnh cũng không nhúc nhích thêm tí nào và tiếp tục thở một cách khó nhọc.
Cậu bé lấy một cái ghế ngồi, vừa khóc vừa chờ, mắt không rời khỏi bố. Cậu nghĩ: “Thầy thuốc tất nhiên phải đến thăm và sẽ nói cho mình biết một chút gì”.
Thế rồi cậu triền miên trong những ý nghĩ buồn bã, nhớ lại bao nhiêu chuyện về người bố hiền hậu của mình. Ngày ông ra đi, cảnh từ biệt trên tàu, những hy vọng mà gia đình xây đắp trên chuyến đi ấy, nỗi thất vọng của mẹ khi nhận được lá thư. Cậu nghĩ đến việc bố chết, đến gia đình trong cơn khốn khổ… Cậu ngồi như vậy một lúc.
Bỗng một bàn tay đặt nhẹ lên vai làm cậu giật mình. Đó là một bà phước.
– Bố cháu bị bệnh gì vậy? – cậu hỏi.
– Bố cháu đấy à? – bà hỏi lại.
– Vâng, bố cháu đấy, cháu đến để chăm sóc bố cháu. Bố cháu ốm thế nào?
– Can đảm lên, con ạ; bác sĩ sắp đến, – bà phước trả lời rồi đi nơi khác, không nói thêm một lời.
Nửa giờ sau, một tiếng chuông giật và thấy bác sĩ vào, có một sinh viên nội trú phụ tá, bà phước và người y tá đi theo. Họ bắt đầu thăm bệnh nhân, dừng lại ở từng giường một. Sự chờ đợi đối với cậu bé tội nghiệp tưởng như vô tận, và mỗi bước của bác sĩ đi tới càng làm nỗi lo sợ của cậu tăng lên.
Cuối cùng bác sĩ đến giường bên cạnh. Bác sĩ là một cụ già cao lớn, lưng còng, mặt nghiêm nghị. Trước khi bác sĩ từ bên giường kia sang, cậu bé đã đứng dậy; và khi bác sĩ đến gần, Cicillo liền òa lên khóc.
“Đây là con người bệnh, – bà phước nói với bác sĩ, – cậu từ quê nhà ra sáng hôm nay”.
Bác sĩ đặt một tay lên vai Cicillo, rồi cúi xuống người bệnh, bắt mạch, sờ trán và hỏi bà phước một vài câu; bà này trả lời: “Không có gì mới”.
Bác sĩ suy nghĩ một lát rồi nói: “Cứ tiếp tục như trước”.
– Thưa bác sĩ, bố cháu bị bệnh gì vậy? – cậu bé hỏi.
– Phải can đảm, cháu ạ, – bác sĩ trả lời và lại để tay lên vai cậu bé. – Bố cháu bị chứng đan độc ở mặt. Nặng đấy, nhưng tôi không thất vọng. Cháu hãy giúp đỡ bố, sự có mặt của cháu có lợi cho bố lắm đấy.
– Nhưng bố cháu không nhận ra cháu! – Cậu bé thốt lên, giọng ảo não.
– Bố sẽ nhận ra cháu… Ngày mai có thể. Ta hãy hy vọng, và cháu phải can đảm.
Cậu bé còn muốn hỏi thêm, nhưng không dám; bác sĩ đi ra nơi khác.
Thế là đối với Cicillo bắt đầu cuộc đời của người y tá. Không thể làm được gì nhiều, cậu sửa lại cho ngay ngắn cái chăn, thỉnh thoảng sờ tay người bệnh, xua ruồi, cúi xuống nghe ngóng khi thấy có tiếng rên; và khi bà phước đưa thuốc uống đến thì đón lấy cái tách và chiếc cùi dìa đưa cho người bệnh. Một đôi khi người bệnh cũng nhìn cậu bé nhưng không tỏ ra là biết cậu chút nào cả, chẳng qua là nhìn cậu có lâu hơn trước, nhất là khi cậu đưa khăn tay lên lau nước mắt.
Ngày đầu tiên đã qua đi như vậy.
Đêm đến, cậu ngủ trên hai cái ghế ghép lại, và sáng dậy lại tiếp tục công việc của người con có hiếu.
Trong buổi sáng, cái nhìn của người bệnh như lộ ra một chút tỉnh táo. Nghe tiếng nói âu yếm của cậu bé, trên đôi tròng mắt mở trừng trừng của người bệnh ánh lên một vẻ biết ơn mơ hồ; và có một lần, ông ta mấp máy đôi môi như muốn nói điều gì. Và sau mỗi cơn mê, khi mở mắt ra, hình như người bệnh muốn tìm người y tá bé nhỏ của mình. Hai lần đi qua, bác sĩ nhận thấy bệnh có đỡ chút ít. Vào buổi tối, khi đưa cốc thuốc cho người bệnh uống, cậu thấy hình như có nụ cười thoáng qua trên đôi môi sưng phù. Thế là cậu bắt đầu vững lòng và hy vọng một tí. Nghĩ rằng bố có thể nghe được, dù chỉ là nghe mơ hồ, cậu nói chuyện rất lâu với bố. Cậu nói nho nhỏ, giọng rất âu yếm, nói về mẹ, về các em gái, về việc bố trở lại nhà và khuyến khích bố hãy can đảm: và lắm lúc cũng sợ bố không hiểu, Cicillo vẫn cứ nói, vì thấy hình như người bệnh cũng ít nhiều thích nghe giọng nói của mình. Người bệnh qua ngày thứ hai và ngày thứ ba như vậy; sang ngày thứ tư thì bệnh có giảm một ít, rồi lại nặng lên. Cậu bé dồn hết tâm trí vào việc chăm sóc người bệnh đến nỗi mỗi ngày chỉ ăn có hai lần, mỗi lần một chút bánh mì với pho-mat. Cậu không còn thấy gì xảy ra xung quanh nữa: những người bệnh đang hấp hối, các bà phước đang đêm phải chạy đến cấp cứu, tiếng khóc của những người đến thăm phải ra về không chút hy vọng gì nữa, tóm lại là tất cả những cảnh sầu thảm và đau đớn của cuộc đời bệnh viện, mà trong hoàn cảnh nào khác có thể làm cho cậu phải sửng sốt, rụng rời. Ngày giờ trôi qua và cậu bé vẫn luôn luôn ở đó, cạnh tata, chăm chú, lo ngại, hồi hộp theo dõi từng hơi thở và từng cái nhìn của người ốm.
Bất ngờ, đến ngày thứ năm, bệnh trở nặng. Hỏi bác sĩ thì ông chỉ cúi đầu như để nói rằng thế là hết; cậu bé liền gục xuống ghế, òa lên khóc. Tuy nhiên có một điều làm cho cậu hơi được an ủi. Hình như riêng cậu nhận thấy là mặc dù tình trạng đã tuyệt vọng, người bệnh như tỉnh lại dần dần. Người sắp chết mỗi lúc một nhìn Cicillo chăm chú hơn, với cái vẻ mỗi lúc một dịu dàng và thông cảm hơn. Ông ta chỉ muốn uống nước và uống thuốc từ tay cậu bé y tá của ông đưa cho thôi, và mỗi lúc một thấy người bất hạnh mấp máy đôi môi nhiều hơn, như muốn nói một điều gì. Có lúc cử động ấy rõ đến nỗi cậu bé siết mạnh tay ông và nói với ông, giọng gần như vui vẻ: “Can đảm, can đảm lên, tata ạ. Tata sẽ khỏi, chúng ta sẽ ra viện, chúng ta sẽ về gặp mẹ và các em…” Bấy giờ là bốn giờ chiều, đúng lúc cậu bé vừa mới say sưa bộc lộ lòng âu yếm và niềm hy vọng, thì ở phía ngoài cánh cửa đang mở, cậu nghe tiếng chân người đi, rồi một giọng nói to: “Tạm biệt, dì phước ạ!”.
Nghe giọng nói ấy, cậu bỗng run lẩy bẩy từ đầu đến chân và đứng phắt dậy như lò xo bật lên.
Một người đàn ông, có một bà phước đi theo, bước vào phòng, tay cắp cái gói lớn. Vừa trông thấy người ấy, cậu bé thét lên một tiếng chói óc, và sững sờ như bị đóng đinh tại chỗ.
Người đàn ông quay lại, định thần nhìn cậu một lát, rồi chính mình cũng thét lên: “Cicillo!”
Ông ta lao tới, cậu bé nghẹn ngào, ngả vào hai cánh tay của bố.
Bà phước, y tá, sinh viên nội trú đều chạy lại, ai nấy đều sửng sốt.
Cậu bé vẫn chưa nói được nên lời.
“Ôi! Cicillo của bố!” ông bố nói sau khi nhìn chăm chú người bệnh và ôm hôn con mình mấy lần.
“Làm sao người ta lại đưa con đến giường của người khác như thế này? Còn bố thì tuyệt vọng vì ngóng mãi chẳng thấy con; mẹ có viết thư cho bố nói là đã cho con ra đây với bố. Tội nghiệp Cicillo, con ở đây đã mấy hôm rồi? Làm sao lại có thể xảy ra sự nhầm lẫn như thế này? Ơn Chúa, bệnh của bố chẳng có gì nguy hiểm. Con thấy đấy, bố khỏi rồi và hôm nay bố ra viện, nào bố con ta về đi… Thật ai mà có thể tưởng tượng ra được một sự nhầm lẫn như thế này!”
Cậu bé cố gắng trả lời vài câu, cho bố biết tin tức gia đình.
“Ôi! Sung sướng quá! – cậu lẩm bẩm, – sung sướng quá! Những ngày vừa qua thật là khổ sở…”
Cậu nhìn bố không chán, hôn bố không ngớt, nhưng lại có vẻ như không muốn đi theo bố.
“Đi đi con, chỉ chiều nay chúng ta sẽ về đến nhà thôi”.
Ông bố nói và kéo con đi.
Cậu bé quay lại nhìn người bệnh của cậu.
“Kìa, con đi chứ?” – ông bố ngạc nhiên hỏi. Cicillo nhìn người bệnh, lúc đó cũng đang mở to mắt chăm chăm nhìn cậu.
“Tata này, hãy hượm, – cậu bé nói nhanh thoăn thoắt, – thế này nhá… con không thể. Có bác này, con đã chăm sóc bác ấy năm hôm nay rồi. Bác ấy nhìn con không ngớt. Con cứ yên trí là bố đấy, con thương bác ấy lắm. Bác ấy cứ muốn con ở bên cạnh, chỉ có con ngày đêm cho bác uống nước; giờ, bệnh của bác đang nguy… Tata tha lỗi cho con, thật con không đủ can đảm bỏ mặc bác được… việc đó sẽ làm con rất khổ tâm… Bỏ mặc bác ấy thì thật là nhẫn tâm; kìa tata nhìn kìa, bác ấy như đang đưa mắt gọi con đấy. Con không biết bác ấy là ai, nhưng biết sao được bây giờ, xin cứ để cho con ở lại đây, tata thân yêu nhé!”
“Cậu bé trung hậu làm sao!” – người sinh viên nói.
Ông bố lưỡng lự, hết nhìn con lại nhìn người bệnh.
– Người này là ai vậy? – ông hỏi.
– Một người thợ như ông, – người sinh viên nội trú trả lời, – cũng từ nước ngoài về, vào viện cùng một ngày với ông. Người ta đưa ông ấy đến đây trong lúc đang ngất đi và không nói năng gì được. Chắc là ông ta có một gia đình ở xa, có con cái… Có thể ông ấy tưởng cậu này là con mình.
Người bệnh vẫn nhìn Cicillo không thôi.
– Con ở lại đi, – ông bố nói.
– Ở lại cũng chẳng lâu lắm nữa đâu, – người sinh viên nói.
– Ở lại, – ông bố nhắc. – Con có lòng tốt đấy. Bố về nhà ngay để cho mẹ yên tâm. Con trung hậu của bố nhé, tạm biệt, tạm biệt.
Ông ta hôn lên trán con rồi đi ra.
Cậu bé trở lại giường người bệnh, và ông này hình như đỡ lo. Cicillo tiếp tục công việc y tá của mình; cậu không khóc nữa, nhưng vẫn ân cần, nhẫn nại chăm sóc như trước con người tội nghiệp chưa từng quen biết ấy. Cậu trông nom ông ta ngày hôm ấy, suốt cả đêm và ngày hôm sau. Nhưng bệnh tình mỗi lúc một trầm trọng, hơi thở càng hổn hển, sự co giật càng tăng lên. Mồm ông ta kêu lên những tiếng ú ớ, mặt sưng phù lên kinh khủng; đến khám bệnh buổi chiều, bác sĩ nói là ông ta không thể qua khỏi đêm nay.
Nghe lời nói khẳng định ấy, Cicillo càng chăm sóc hết lòng và không rời người đáng thương ra nữa. Người bệnh nhìn cậu, thỉnh thoảng cố gắng lắm để mấp máy đôi môi hình như muốn nói điều gì. Một vẻ dịu dàng vô hạn thoáng qua trong mắt ông ta. Đôi mắt bắt đầu khép lại, mỗi lúc một mờ dần. Đêm ấy, cậu bé thức cho đến khi ánh bình minh đầu tiên chiếu sáng cửa sổ. Bà phước đi vào, đến gần giường ghé nhìn người bệnh và vội vã đi ra.
Lát sau, bà trở lại với người sinh viên nội trú và một y tá.
“Ông ta sắp chết” – người sinh viên nói.
Cậu bé nắm tay người bệnh. Ông ta mở mắt, nhìn Cicillo chằm chằm, rồi nhắm mắt lại. Đối với cậu bé thì hình như trong phút lâm chung ấy, người bệnh đã siết chặt tay cậu.
“Bác ấy siết tay tôi”, – cậu kêu lên.
Bác sĩ cúi nhìn người hấp hối một lát, rồi ngẩng lên.
“Bác ấy chết rồi sao?” – cậu bé hỏi.
“Thôi, về đi con, – bác sĩ nói, – sự nghiệp nhân từ, cao thượng của con đã hoàn thành rồi, con hãy về đi và chúc con hạnh phúc, vì con xứng đáng được hưởng hạnh phúc, con ạ”.
Bà phước đi ra một lúc, rồi trở vào, tay cầm một bó hoa đồng thảo lấy từ một cái lọ đặt trên cửa sổ; bà đưa tặng cậu bé và nói: “Dì chẳng có gì tặng cháu; hãy nhận những bông hoa này làm vật kỷ niệm bệnh viện”.
– Cám ơn dì, – Cicillo nói, một tay cầm lấy bó hoa, và một tay gạt nước mắt; – nhưng cháu còn phải đi xa lắm, hoa sẽ héo mất… – Rồi lấy từng đóa hoa, cậu rải lên giường và nói:
– Cháu xin gửi những hoa này kỷ niệm người bất hạnh… Xin cám ơn dì, xin cảm ơn bác sĩ… – và sau đó quay về phía người chết: “Vĩnh biệt…” và thế là cái tiếng âu yếm mà cậu vẫn dùng để gọi người bất hạnh năm hôm nay tự nhiên trở lại trên môi, cậu nói: “Vĩnh biệt tata đáng thương!”
Nói xong, Cicillo ôm bọc quần áo cũ của mình, chầm chậm bước ra, người mệt lả, cậu lên đường…
Rạng đông vừa hửng sáng…
Xưởng thợ
Thứ bảy 18
Tối hôm qua Precossi đến nhắc tôi lời hứa đến thăm xưởng thợ của cậu ấy, và sáng nay lúc ra phố, bố cũng muốn đưa tôi đến đó một lúc.
Đến ngưỡng cửa, chúng tôi thấy Precossi ngồi trên một đống gạch, đang học bài, sách kê lên đầu gối.
Thấy chúng tôi đến, cậu đứng dậy và đưa chúng tôi vào một gian nhà rộng đầy bụi than, trên tường treo lủng liểng những búa, kìm, chốt và đồ sắt đủ thứ. Ở một góc là cái lò đang đỏ, một cậu bé kéo bễ cho lò cháy liên tục. Bố Precossi ngồi cạnh một cái đe, và một người phụ việc cầm một thanh sắt nung trong lò than.
“À, cậu bé tốt bụng đã cho con tôi bộ đồ chơi đường sắt, – bố Precossi kêu lên khi thấy chúng tôi; – ông và cậu đến xem chúng tôi làm việc đấy ạ? Xin sẵn sàng phục vụ…”
Bác vừa nói vừa mỉm cười, bộ mặt không hung tợn và đôi mắt không đục ngầu như trước nữa! Người phụ việc đưa thanh sắt dài đỏ rực một đầu, bác thợ rèn đặt nó lên đe. Bác ta rèn một thanh sắt cuốn, làm tay vịn lan can. Giơ một cái búa to tướng lên, bác bắt đầu đập đầu sắt nung đỏ, khi sang bên này, khi sang bên kia, ở quãng giữa lòng đe và mép đe, lại lật mặt này, mặt nọ đủ cách. Nhìn thật là thích thú. Dưới những nhát búa nện nhanh và chính xác, thanh sắt cong lại, uốn lên như gợn sóng, rồi dần dần biến thành hình dạng duyên dáng của một ngọn lá, một hình xoáy trôn ốc, mềm mại tưởng như nắn bằng tay vậy. Trong lúc ấy Precossi nhìn chúng tôi, vẻ hãnh diện, như muốn nói: “Đấy, bố mình làm việc như thế đấy”.
“Giờ cậu đã thấy người ta rèn như thế nào rồi chứ?” Bác thợ rèn hỏi tôi khi đã làm xong, tay cầm thanh sắt đầu uốn cong như cây pháp trượng của một vị giám mục.
Rồi, để nó sang một bên, bác đặt một thanh khác vào lò.
Bố nói với bác: “Thế này thật là tốt, giờ thì bác làm việc chứ? Quyết tâm trở lại rồi chứ?”
– Vâng, đã trở lại rồi, – bác trả lời, mặt hơi đỏ và đưa tay quệt mồ hôi trán. – Và ông có biết ai đã đem quyết tâm trở lại cho tôi không?
Bố làm như không hiểu.
– Chính thằng bé can đảm này, – bác nói tiếp, tay chỉ Precossi, – chính thằng bé can đảm này, nó chăm lo học hành và đem lại vinh dự cho bố, còn bố nó thì lại quên mình trong cảnh lười biếng và đối xử với nó như với con chó… Khi tôi trông thấy cái huy chương này… Ôi, thằng con đáng thương của tôi, người chưa cao hơn một đôi ủng, đến gần đây cho bố nhìn thẳng vào mặt con một tí nào…
Precossi liền chạy đến, bác thợ rèn hai tay nhấc cậu lên, đặt đứng trên cái đe, hai tay giữ hai bên sườn cậu.
“Này, hãy chùi sạch ngay cái trán đần độn của bố đi…” – bác bảo con như vậy.
Precossi hôn khắp mặt bố, cho đến khi chính mặt cậu cũng đen thủi đen thui.
“Tốt lắm!” bác nói rồi nhấc con đặt xuống đất. “Hết sức tốt, cậu Precossi ạ” – bố tôi kêu lên. Rồi chào bác thợ rèn và Precossi, bố dẫn tôi về.
Chúng tôi đi ra thì cậu Precossi nói với tôi: “Xin lỗi…!” và đút vào túi tôi một gói đinh. Tôi cám ơn và mời cậu đến nhà tôi, nhìn qua cửa sổ xem những người đeo mặt nạ đi diễu trong Hội hóa trang.
Dọc đường bố bảo tôi: “Con đã cho bạn ấy bộ đồ chơi đường sắt của con, nhưng giá nó bằng vàng có đính đầy hạt ngọc chăng nữa, thì cũng vẫn là một món quà hèn mọn đối với đứa con tuyệt vời đã hồi sinh lại được trái tim của bố mình”.
Cậu bé làm xiếc
Thứ hai, 20
Cả thành phố tưng bừng rộn rịp, Hội hóa trang sắp kết thúc. Ở khắp các quảng trường đã được dựng lên những lều của người làm xiếc ở và những rạp xiếc. Ngay trước các cửa sổ nhà ta cũng có một rạp, mái bằng vải, do một gánh xiếc nhỏ người Venezia diễn. Họ có năm con ngựa. Rạp ở giữa quảng trường, và trong một góc là ba chiếc xe lớn để những người làm xiếc ngủ và hóa trang, ba chiếc nhà nhỏ có bánh, có cửa sổ, mỗi chiếc có ống khói bé tí tỏa khói suốt ngày, từ cửa sổ này sang cửa sổ kia người ta căng dây phơi tã lót trẻ con. Có một người đàn bà vừa nuôi con bú vừa nấu ăn cho cả gánh xiếc, lại vừa múa trên dây. Họ thật tội nghiệp. Thiên hạ gọi họ là saltare in banco[Tiếng Ý, nghĩa là nhảy trên ván, chỉ người làm xiếc.] như một lời chửi rủa, nhưng họ kiếm ăn một cách lương thiện, để mua vui cho người khác, mà họ thì phải khó nhọc đến thế nào, có Chúa mới biết rõ được! Suốt ngày, họ chạy từ rạp xiếc đến các xe, trời rét thế mà mình chỉ phong phanh có chiếc áo sợi đan màu hồng. Họ ăn vội ăn vàng, đứng mà ăn một miếng bốc bằng tay giữa hai buổi diễn. Không bao giờ những người bất hạnh ấy được ai dọn bàn ăn cho mà ngồi vào đàng hoàng. Và đôi khi rạp đã đông nghịt khách xem rồi, trời lại nổi gió, xé rách trần màn, tắt hết đèn đóm, thế là đi đời buổi diễn.
Trong gánh xiếc có hai đứa bé làm việc.
Bố nhận ra đứa bé nhất, trong khi cậu ta đi ngang qua quảng trường; đó là con trai ông chủ gánh xiếc, mà năm ngoái chúng tôi thấy làm trò trên lưng ngựa, trong một rạp xiếc ở quảng trường Vittorio Emanuele. Từ dạo ấy cậu ta lớn lên nhiều, chắc nay cũng đã tám tuổi; thật là một cậu bé đẹp, mặt tròn trặn, da nâu nâu, tóc đen xoăn tít tỏa ra quanh chiếc mũ nhọn như những đợt sóng.
Cậu ăn mặc theo vai hề, bó người trong chiếc áo chật như cái ống, có hai tay màu lam thêu chỉ đen, và đi giày vải. Cậu bé làm xiếc ấy khác nào một con quỷ con. Cậu làm vui lòng tất cả mọi người. Sáng ra từ tinh mơ đã thấy cậu quấn mình trong một chiếc khăn quàng, mang sữa về chỗ chiếc nhà có bánh xe của mình, xong đến tàu ngựa săn sóc mấy con ngựa. Cậu bế đứa bé con đi dạo chơi, chuyển những cái vòng, cái ghế, cái ngáng, sợi dây, sợi thừng, chùi rửa xe cộ, nhen lửa, đun bếp; và những lúc rảnh rỗi rất hiếm thì ngồi bên mẹ không rời nửa bước. Bố lúc nào cũng nhìn cậu ta qua cửa sổ, chỉ nói đến cậu và những người thân thích của cậu; họ là những người trung hậu và thương yêu con cái.
Một buổi tối chúng tôi đi xem xiếc, trời rét và gần như chẳng có ai đến xem, thế mà cậu bé tội nghiệp phải dốc hết sức ra làm trò để cho một nhúm người xem kia phải hồi hộp. Cậu nhào lộn trên không, buộc mình vào đuôi ngựa phi, đi hai tay, chân chổng lên trời, hát, cười, và khuôn mặt xinh xắn làm cho ai ai cũng mến.
Bố cậu mặc áo đỏ, quần trắng, đi bốt kỵ mã cao, tay cầm roi ngựa, nhìn cậu vẻ buồn buồn.
Bố tôi động lòng thương hại những con người tội nghiệp ấy. Hôm sau, họa sĩ Delis đến thăm, bố đem chuyện ấy ra nói với ông ta.
“Những kẻ đáng thương ấy làm việc đến chết được, – bố nói, – thế mà có kiếm được bao lăm đâu. Nhất là đứa bé kháu quá sức. Ta có thể giúp gì cho họ được không nhỉ?”
Họa sĩ có một ý hay, ông nói:
“Anh là nhà báo, anh viết ngay một bài cho hay đăng lên tờ Gazzetta. Anh nói đến đức tốt và tài ba của cậu bé, còn tôi thì vẽ chân dung của cậu. Mọi người sẽ đọc báo Gazzetta, và ít nhất là ta cũng lôi cuốn khách đến xem được một lần”.
Nói là làm ngay. Bố viết một bài báo rất dí dỏm, kể lại những điều chúng tôi trông thấy qua cửa sổ nhà mình, làm cho người đọc cứ muốn nhìn, muốn vuốt ve nhà nghệ sĩ tí hon. Họa sĩ thì phác họa một bức chân dung nhỏ, giống như hệt và duyên dáng làm sao, chiều thứ bảy thì in lên báo. Thế là đến buổi diễn hôm Chủ nhật, người xem đổ xô nhau đến rạp xiếc. Người ta đã báo tin là buổi diễn thu tiền ủng hộ cậu bé làm xiếc.
Bố đưa tôi đến xem, ngồi ghế hạng nhất. Ngay cổng vào những người làm xiếc đã dán tờ báo Gazzetta. Rạp chật ních, nhiều người xem tay còn cầm tờ báo và chỉ cho nhau cậu bé làm xiếc; còn cậu thì lăng xăng chạy đến người này, người nọ, hớn hở quá chừng. Cả ông chủ nữa, tất nhiên xem ra cũng hài lòng! Chưa bao giờ có một tờ báo nào đã đem cho ông ta niềm vinh dự đến như thế, và chiếc quỹ hôm nay thật đầy những đồng xu và hào bạc.
Bố ngồi cạnh tôi. Trong đám khán giả, chúng tôi gặp bao nhiêu người quen. Đứng ở chỗ ra vào là thầy giáo dạy thể dục, và trước mặt chúng tôi, ở ghế hạng nhì là cậu bé thợ nề ngồi cạnh ông bố khổng lồ. Vừa thấy tôi, cậu ấy làm luôn cái trò sứt môi với tôi. Xa xa một tí, tôi thấy Garoffi đang mải đếm số khách xem và tính trên ngón tay số tiền mà gánh xiếc phải thu được đêm nay. Gần chỗ chúng tôi, ở dãy ghế hạng nhất, còn có cậu Robetti đáng thương (cái cậu đã cứu sống em bé bị chẹt xe ngựa) đôi nạng để giữa hai chân. Bố cậu, ông đại úy pháo binh, ngồi cạnh cậu, bàn tay đặt lên vai con.
Buổi diễn bắt đầu. Cậu bé làm xiếc diễn, tài nghệ tuyệt vời trên lưng ngựa, trên đu bay, trên dây. Mỗi tiết mục đều được vỗ tay nhiệt liệt kéo dài ra mãi.
Lại còn các trò khác của những người đi trên đây, những người tung hứng, áo quần lấp lánh những mảnh giấy bạc. Tuy nhiên cứ hễ thiếu mặt cậu bé là có thể nói rằng khán giả đã buồn rồi.
Có một lúc tôi thấy thầy giáo thể dục đứng ở chỗ ra vào, nói nhỏ vào tai ông chủ xiếc. Ông này liền đảo mắt, nhìn khán giả như tìm một người nào. Mắt ông bỗng dừng lại phía chúng tôi. Bố trông thấy, hiểu rằng thầy giáo vừa cho ông ta biết tác giả của bài báo là ai; và để tránh không cho ông ta cám ơn, bố đi ra và dặn tôi: “Con ngồi lại xem cho hết, Enrico ạ, bố đợi con ngoài cổng”.
Cậu bé làm xiếc trao đổi mấy câu với bố, rồi lại diễn một mục nữa. Đứng trên lưng ngựa đang phi, cậu thay quần áo bốn bận, lần lượt hiện ra như khách hành hương, như người thủy thủ, như kẻ quân nhân, rồi như tay mãi võ. Mỗi lần lướt qua cạnh tôi, cậu đưa mắt nhìn tôi.
Tiết mục chấm dứt, cậu xuống ngựa, đi vòng quanh sân, tay cầm mũ. Tất cả mọi người đều đua nhau ném cho cậu nào xu, nào kẹo. Tôi cầm hai xu để đưa cho cậu; nhưng khi đến gần tôi thì đáng lẽ đưa mũ ra, cậu lại rụt mũ về và bước qua rất nhanh. Tôi lấy làm tủi nhục về hành động ấy. Tại sao cậu lại tỏ ra thiếu lễ độ với tôi như vậy?
Hết buổi diễn, ông chủ cám ơn khán giả, và mọi người đứng dậy ra về. Tôi đi lẫn vào đám đông, và gần ra đến cổng thì thấy ai nắm lấy tay mình. Tôi quay lại và thấy cậu bé làm xiếc, khuôn mặt hiền lành rất tươi cười hai tay nắm đầy kẹo! Bây giờ tôi mới hiểu.
“Anh vui lòng nhận cho thằng bé làm xiếc mấy chiếc kẹo này chứ?” – cậu ta nói.
Tôi bằng lòng và cầm lấy ba bốn chiếc.
– Vậy nhận thêm cho em chiếc hôn này nữa, – cậu lại nói.
– Hôn tôi hai cái đi – tôi đáp lại và chìa má ra.
Cậu đưa tay áo quệt trái lớp phấn trên mặt, vòng tay ôm lấy cổ tôi và hôn tôi hai cái đánh chụt trên hai má, rồi nói: “Này, một cái gửi về cho bố anh”.
Những trẻ em mù
Thứ năm, 23
Thầy giáo của chúng tôi đang ốm nặng, nhà trường đã cử thầy giáo lớp bốn đến thay. Trước đây thầy đã từng dạy ở Học viện những thiếu niên mù. Là thầy giáo già nhất trong trường, tóc thầy bạc trắng đến nỗi người ta ngỡ thầy đội tóc giả bằng bông. Thầy có một cách nói rất đặc biệt, nhưng thầy nói rất hay và thầy biết rất rộng. Vừa bước vào lớp, thấy một học sinh có một mắt quấn băng, thầy liền đến gần và hỏi cậu làm sao vậy.
“Con phải cẩn thận giữ gìn đôi mắt”, thầy nói. Derossi liền hỏi:
– Thưa thầy, có phải trước đây thầy đã dạy những trẻ mù không ạ?
– Đúng đấy, thầy đã dạy đấy nhiều năm – thầy đáp.
Derossi hạ thấp giọng, lại nói:
– Thế thầy sẽ kể cho chúng con nghe ít nhiều chuyện ở bên ấy, được không ạ?
Thầy giáo bước lên bục, ngồi vào ghế của mình. Coretti nói to:
“Học viện người mù ở phố Nizza”
“Con vừa nói người mù, – thầy giáo nhắc lại, – nghe đơn giản như nói người ốm hay người nghèo vậy. Các con có thật hiểu thế nào là nghĩa chữ “mù” chưa? Hãy nghĩ xem nào. Này nhé: Không bao giờ nhìn thấy cái gì cả. Không phân biệt được thế nào là đêm, thế nào là ngày; không trông thấy bầu trời, cũng như bố mẹ họ hàng. Không trông thấy bất cứ cái gì ở quanh ta, bất cứ cái gì mà ta sờ mó. Chìm đắm trong một bóng tối vĩnh viễn, và như là bị chôn vùi trong lòng đất vậy! Các con thử nhắm mắt lại, và thử nghĩ đến nỗi khốn khổ sẽ đến với mình giá mình cứ phải ở mãi trong tình trạng ấy. Chắc chắn là các con sẽ bị nén dưới một sự đè ép đau đớn, một niềm khủng khiếp như không thể nào chịu đựng nổi. Và lập tức các con sẽ gào thét lên một cách tuyệt vọng…
“Ấy thế mà khi đến thăm học viện người mù lần đầu tiên, vào giữa giờ ra chơi, nghe các bạn ấy kéo đàn vĩ cầm, thổi sáo khắp nơi, nói to cười lớn, chạy lên chạy xuống các thang gác, đi qua các hành lang và các phòng ngủ một cách tự nhiên, thật người ta không bao giờ có thể ngờ rằng những người khốn khổ kia không hề nhìn thấy ánh sáng. Phải quan sát kỹ thì mới hiểu được họ. Có những thanh niên từ mười sáu đến mười tám tuổi, vạm vỡ và nhanh nhẹn, chịu đựng cảnh mù lòa với một vẻ dửng dưng nào đấy, nhưng khi thấy vẻ buồn trên mặt họ thì người ta cũng hiểu là họ đã từng đau khổ ghê gớm trước khi đành nhẫn nhục chịu đựng nỗi bất hạnh vậy.
“Có những người trên sắc mặt tái nhợt và hiền hậu thấy rõ sự chịu đựng ghê gớm xen với nỗi buồn rầu ghê gớm, và người ta có thể đoán biết rằng đôi khi không có ai họ đã phải khóc rất nhiều. Ôi, các con thử nghĩ xem trong những kẻ bất hạnh ấy có những người mù chỉ sau vài ngày ốm thôi, cũng có những người sau nhiều năm bị cơn bệnh hành hạ và sau những phen mổ xẻ đau đớn vô cùng. Cuối cùng, có những người sinh ra đã như vậy, chào đời trong một đêm tối không bao giờ có rạng đông; họ vào đời như vào một nhà mồ mênh mông trong đó họ không thể phân biệt được một hình dạng nào, một màu sắc nào.
Các con hãy tưởng tượng họ phải đau khổ như thế nào khi so sánh cuộc đời của họ với cuộc đời của những người sáng mắt.
Tại sao lại có sự khác nhau nhường ấy? Chắc họ phải tự hỏi, vả lại, đối với lương tâm, chúng ta nào có tội lỗi gì?
“Thầy đã sống nhiều năm giữa những người mù, – thầy giáo nói tiếp, – thầy không thể nghĩ đến cái lớp mà mọi đôi mắt đều đã nhắm lại mãi mãi, đồng tử đều không biết nhìn và không còn sinh khí nữa, và sau đấy lại thấy các con đây đôi mắt đều sáng ngời mà lại không nói với thầy rằng các con không thể nào không sung sướng được. Hãy nghĩ rằng chỉ ở nước Ý ta thôi, đã có hai vạn sáu nghìn người mù rồi. Hai vạn sáu nghìn[Vào đầu những năm 60 thế kỷ XIX, khi tác giả viết trang sách này thì dân số nước Ý độ trên hai mươi sáu triệu người, thế là trung bình trong một nghìn người ở nước Ý đã có một người mù.] các con nghe rõ chưa”. Thầy giáo dừng lại. Lớp học im lặng lạ thường. Derossi hỏi có thật là những người mù có xúc giác tế nhị hơn chúng ta không?
“Thật thế, – thầy giáo lại nói. – Tất cả các giác quan khác của họ đều thành tế nhị cả, bởi vì đã được sử dụng để bổ sung cho thị giác và được tập luyện nhiều hơn là ở những người sáng. Buổi sáng trong phòng ngủ, một học sinh mù hỏi một người bạn: “Hôm nay trời nắng không nhỉ?” Người bạn nhanh nhẹn nhất, mặc quần áo, xuống sân, đưa hai tay lên cao và khua để xem không khi có ấm lên do mặt trời sưởi không; rồi chạy lên báo tin vui: “Hôm nay trời nắng!”
“Nghe giọng một người nói, họ có thể suy ra được người đó cao hay thấp. Chúng ta đoán biết tính tình của một người qua cái nhìn của người ấy, nhưng họ thì lại đoán qua giọng nói. Họ nhớ giọng nói của người ta rất lâu. Trong một căn phòng có nhiều người mà chỉ một người nói, còn những người khác làm thinh, họ cũng nhận ra được. Nhờ xúc giác, người mù có thể biết được một cái cùi dìa thật sạch hay không lấy gì làm sạch lắm.
“Những cô bé có thể phân biệt được len nhuộm màu với len không nhuộm. Khi đi từng đôi một ngoài đường phố, những trẻ em mù có thể nhận ra gần hết các cửa hiệu bằng cách ngửi mùi. Chơi con quay, chỉ cần nghe tiếng vù vù là họ đi thẳng đến, cầm lấy không nhầm. Họ nhảy dây cũng khéo chẳng thua gì những trẻ nhìn rõ. Hơn nữa, họ hái hoa đồng thảo như thể họ trông thấy thật; họ lấy cuội để trang trí những chiếc hòm nhỏ, họ dệt chiếu và đan rổ, tết những sợi rơm khác màu nhau, nhanh chóng lạ thường vì xúc giác họ quả thật là tế nhị. Xúc giác là thị giác thứ hai của họ và một trong những thú vui lớn nhất của họ là được sờ mó, nắn bóp để đoán hình dáng của đồ vật.
“Thật là cảnh tượng cảm động khi nhìn những người mù được đến xem bảo tàng công nghiệp, mà người ta cho phép họ được sờ mó tất cả những gì họ thích. Với một nỗi vui mừng không thể tả hết, họ lao tới các mô hình nhà cửa, các dụng cụ sản xuất để xem các thứ ấy được làm ra như thế nào. Đúng là xem, vì cũng như ta, họ có thói quen nói xem như vậy”.
Garoffi ngắt lời thầy giáo để hỏi thầy có phải là những người mù học tính giỏi hơn những người khác không?
“Rất đúng đấy, – thầy trả lời. – Họ học tính và học đọc. Họ dùng những cuốn sách riêng, khắc chữ nổi. Cứ đưa các ngón tay sờ lên, họ nhận ra ngay các chữ và đọc thạo. Và thương quá, các em bé tội nghiệp ấy, mỗi khi đọc nhầm, lại thẹn đỏ cả mặt lên. Họ cũng viết, nhưng không dùng mực. Họ viết trên một loại giấy dày và cứng với một cái dùi nhọn bằng kim khí, bằng cách chấm những lỗ nhỏ và xếp theo một hệ chữ cái đặc biệt. Những lỗ nhỏ ấy hằn rõ trên mặt nổi của giấy, để cho người học sinh lật trang giấy và dùng tay sờ những điểm nổi lên, có thể đọc lại những gì mình đã viết. Người mù cũng nhận ra được nét chữ của người khác; họ làm những bài văn và viết thư cho nhau. Họ viết chữ số và làm các phép tính cũng bằng cách ấy; nhưng ngoài ra, họ lại làm tính nhẩm dễ dàng một cách không thể tưởng tượng được, vì họ không đãng trí như ta do mải nhìn các vật chung quanh mình, và giá các con biết họ thích nghe đọc sách như thế nào, họ chăm chú làm sao, họ nhớ tất cả và họ tranh luận với nhau, kể cả những cậu rất bé, về mọi vấn đề. Ngồi với nhau bốn hay năm người trên một chiếc băng không phải ngoảnh mặt lại với nhau, họ chuyện trò, có khi người thứ nhất nói với người thứ ba, người thứ hai nói với người thứ tư, mà nói to và tất cả cùng nói một lúc, thế mà họ nghe không sót một lời, vì tai họ thính quá chừng.
“Họ coi trọng các kỳ thi hơn các con ở đây, đúng thế, và thương yêu các thầy giáo hơn nhiều. Họ nhận ra thầy giáo bằng cách nghe bước đi, hoặc đánh hơi. Họ đoán biết thầy đang bực hoặc đang vui, đang khỏe hay đang mệt, chỉ bằng cách nghe tiếng thầy nói một lời thôi. Họ muốn được thầy giáo sờ vào họ khi thầy khuyến khích hoặc khen ngợi họ; và họ siết chặt lấy bàn tay và cánh tay thầy để bày tỏ lòng biết ơn.
“Các học sinh mù rất thương yêu nhau và thường thường đối xử với nhau rất tốt. Trong giờ ra chơi, gần như lúc nào, những người thường chơi với nhau lại họp nhau thành nhóm. Chẳng hạn các nữ sinh thì họp nhau lại theo nhạc cụ mà họ đang học; những người học vĩ cầm, những người học dương cầm, học sáo, không bao giờ rời nhau ra. Những người mù rất chung thủy trong tình bạn: họ tìm ở đấy tất cả niềm an ủi. Họ đánh giá lẫn nhau với trí phán đoán rất cao; về cái tốt và cái xấu họ có ý niệm rất rõ ràng và sâu sắc. Họ phấn khởi hơn ai hết khi nghe kể lại một hành động hào hiệp hoặc một sự tích cao cả”.
Votini hỏi họ có giỏi âm nhạc không?
“Họ rất say mê âm nhạc, – thầy giáo đáp. – âm nhạc là đời sống và niềm vui của họ. Những cậu mù bé tí, vừa vào học viện đã mải mê nghe người ta chơi một nhạc cụ nào đấy không biết chán. Họ học nhạc rất dễ và chơi nhạc với tất cả tâm hồn. Nếu có thầy giáo bảo một người mù là không có khiếu về nhạc, thì người đó khổ vô cùng, và lập tức học hết sức như một người tuyệt vọng. À, giá các con được nghe người mù chơi nhạc, giá các con trông thấy họ ngẩng cao vầng trán, nụ cười trên môi, vẻ mặt rạng rỡ, bồi hồi, xúc động, say sưa, lắng nghe một người chơi đàn đang làm rực lên một tia sáng trong bóng tối vô tận mà họ phải chìm đắm, thì các con mới hiểu rằng âm nhạc quả là một niềm an ủi thiêng liêng!
“Khi một thầy giáo nói với một người trong bọn họ: “Con sẽ thành một nghệ sĩ” thì không thể nào tả được nỗi sung sướng của người ấy. Đối với họ, người đứng đầu về môn nhạc, người được toàn thể khâm phục về dương cầm hoặc vĩ cầm chẳng khác nào một ông vua, họ yêu mến và kính trọng. Nếu một cuộc cãi lộn xảy ra giữa hai người bạn thì họ nhờ người ấy hòa giải. Những cậu bé nhất được người ấy dạy nhạc thì xem người ấy như cha. Trước khi đi ngủ, họ đến tất cả chúc người ấy ngon giấc. Người mù luôn luôn nói chuyện về nhạc; dù là khi đã nằm trên giường, mệt mỏi vì học hành và lao động, trong cơn nửa tỉnh nửa thức, họ vẫn nói chuyện thì thầm về nhạc kịch, về các bậc thầy, về nhạc cụ, về dàn nhạc. Bỏ của họ một bài tập đọc hoặc một bài nhạc là họ coi như một hình phạt rất nặng, họ đau đớn vô cùng đến nỗi gần như chẳng bao giờ có đủ can đảm để phạt họ kiểu ấy. Vả lại âm nhạc đối với trái tim của họ như ánh sáng đối với đôi mắt của chúng ta vậy”.
Derossi hỏi là học sinh có thể được đi thăm những người mù không?
“Có thể, – thầy giáo trả lời, – nhưng đối với các con, vì còn nhỏ, thầy khuyên chưa nên đến đấy. Sau này hãy đi, lúc đủ tuổi để hiểu hết được nỗi bất hạnh của họ và cảm thấy hết nỗi thương xót đối với họ.
“Đó là một cảnh tượng thương tâm, các con ạ. Đôi khi các con thấy những em bé ngồi sau cửa sổ hé mở, thở không khí trong sạch, vẻ mặt bất động, tưởng như đang ngắm cánh đồng rộng rãi, xanh rờn hay những dãy núi đẹp xanh lam mà các con, chỉ các con trông thấy thôi!… Nhưng khi ta nghĩ rằng các em đó chẳng thấy cái gì hết, rằng sẽ chẳng bao giờ thấy được chút gì những cảnh đẹp huy hoàng đó, thì tim chúng ta thắt lại, đúng như lúc ấy chính chúng ta đang bị mù vậy.
“Những người vốn đã mù từ lúc mới sinh ra, chưa hề bao giờ trông thấy thế giới chung quanh, thì ít đáng phàn nàn hơn một chút, vì họ không biết những gì mà họ không được hưởng. Nhưng có những em bé chỉ mới mù độ vài tháng thôi, họ biết và họ nhớ tất cả những gì họ mất. Các em ấy lại còn thêm một nỗi đau khổ nữa là thấy cứ tối lại đần dần trong ký ức mình những hình ảnh thân yêu nhất. Có hôm, một trong số những kẻ khốn khổ đó đã nói với thầy, vẻ buồn không tài nào tả được, rằng: “Con mong ước được nhìn thấy lại chỉ một lần thôi, chỉ một phút thôi, để được thấy lại khuôn mặt của mẹ mà con không còn nhớ ra nữa!”
“Khi mẹ các em đến thăm, các em lấy tay sờ khắp mặt mẹ, ngón tay không bỏ sót một đường nét nào, để xem mẹ mình hiện ra sao; và các em chỉ hơi làm cho mình tin rằng mình không còn trông thấy lại mẹ nữa, các em gọi tên mẹ nhiều lần như tha thiết xin mẹ cho các em được nhìn thấy mặt mẹ một lần nữa!
“Biết bao nhiêu người đến thăm họ, khi ra về, vừa đi vừa khóc.
“Khi từ giã họ, người ta tưởng như mình là một ngoại lệ, và mình được cái đặc quyền nhìn thấy thế gian, nhà cửa, bầu trời. Hãy thương xót, các con ạ, hãy thương xót mãnh liệt những người mà đối với họ mặt trời không có chút ánh sáng và người mẹ không có cả cái nhìn”.
Thầy giáo ốm
Thứ bảy, 25
Chiều qua, tan học, tôi đi thăm thầy giáo tôi ốm, thầy ốm vì làm việc quá sức. Thầy dạy mỗi ngày năm giờ, thêm một giờ thể dục, và hai giờ dạy lớp ban đêm nữa, tóm lại thầy ngủ ít, ăn vội ăn vàng, nói vỡ phổi từ sáng đến tối: tất cả những việc chỉ có thể làm đổ nát sức khỏe của thầy, mẹ bảo thế. Mẹ vui lòng đứng chờ tôi trong gian phòng chung ở nhà dưới, trong lúc tôi lên gác thăm thầy Perboni.
Trên cầu thang tôi gặp thầy Coatti, thầy giáo có bộ râu đen, làm cho tất cả mọi người đều khiếp sợ, nhưng lại không hề phạt ai cả. Thầy nhìn tôi với đôi mắt to; và để đùa, thầy bắt chước tiếng sư tử, gầm lên nhưng không cười. Tôi thì cười ngặt nghẽo mãi cho lên đến gác tư, khi tôi gọi chuông ở buồng thầy giáo tôi.
Một người đàn bà giúp việc đưa tôi vào một cái buồng tối tăm nơi thầy tôi nghỉ. Thầy nằm trên một chiếc giường sắt nhỏ. Thầy đưa tay lên che trán để nhìn cho rõ, và nhận ra tôi, thầy kêu lên vui vẻ: “Kìa, Enrico”. Tôi bước lại gần giường. Thầy Perboni đặt tay lên vai tôi và nói:
“Cám ơn con, con đến thăm thầy giáo đáng thương của con là một việc rất tốt. Thầy đang ốm thảm hại, con thấy đấy, Enrico. À, lớp ta ra sao? Và học sinh thì thế nào? Tốt lắm phải không? Các cậu không cần có thầy cũng vẫn được đấy nhỉ?”
Tôi muốn nói là không phải thế, nhưng thầy Perboni không để tôi kịp nói.
“Tốt, tốt lắm! Thầy biết rằng dù sao các con cũng thương thầy”.
Thấy tôi nhìn mấy bức ảnh treo trên tường, thầy nói:
– Con thấy, ảnh các học trò cũ của thầy đấy. Các anh ấy đã tặng thầy ngoài hai mươi năm rồi. Thật là những cậu bé trung hậu. Đó là vật kỷ niệm của thầy. Khi sắp chết, cái nhìn cuối cùng của thầy sẽ quay về họ. Con cũng sẽ tặng thầy một chiếc ảnh của con, Enrico à, khi nào con học xong bậc sơ đẳng.
Thầy lấy một quả cam trên chiếc bàn nhỏ đầu giường, đặt vào tay tôi và nói:
– Thầy chẳng có gì khác để cho con, đây là món quà của một người ốm.
Tôi nhìn thầy lòng thắt lại, rồi thầy nói tiếp:
“Con phải chú ý điều này… Thầy hy vọng sẽ khỏi, nhưng nếu thầy không qua được… thì con phải chú ý đến môn toán đấy, đó là chỗ yếu của con… cố gắng một tí, chỉ cần cái gắng sức ban đầu thôi, vì nhiều khi không phải là không có năng khiếu đâu, mà chỉ vì ta cứ có một thành kiến như vậy, rồi thành kiến ấy dễ dàng xui ta lười biếng”.
Vừa nói thầy vừa hổn hển, rõ ràng là thầy đang đau lắm.
“Thầy bị một cơn sốt nặng, – thầy vừa thở dài vừa nói tiếp – con đã nghe rõ rồi phải không Enrico? Phải gạo môn toán và làm nhiều bài tính đố vào. Không thành công ngay bước đầu thì nghỉ ít lâu, rồi lại tiếp tục. Nếu thất bại nữa thì lại tạm nghỉ, rồi lại tiếp tục nữa. Cố tiến lên, nhưng bình tĩnh, không vội vàng, không nóng nảy. Thôi, con chuyển hộ lời thầy chào mẹ của con; và từ nay đừng leo lên bốn tầng gác của thầy nữa nhá; ta sẽ gặp nhau lại ở trường. Ví bằng chúng ta không còn trông thấy nhau nữa… thì thỉnh thoảng con nên nhớ đến thầy giáo lớp ba của con, đã rất yêu mến con”.
Nghe lời thầy nói, nước mắt tôi cứ trào ra. Thầy bắt tay tôi, kéo tôi vào lòng mà hôn, rồi lại nhắc: “Con về đi”, xong thầy quay mình vào phía tường.
Tôi chạy xuống thang gác, nhảy hai bậc một; tôi thấy cần phải ôm hôn mẹ tôi ngay.
Ngoài đường phố
(Thư của bố)
Thứ bảy, 25
“Chiều nay bố quan sát con qua cửa sổ, khi con ở nhà thầy giáo về. Con đã va phải một bà đi đường. Hãy cẩn thận hơn nữa khi con đi ngoài đường phố. Ở đấy cũng có những bổn phận phải làm. Ở trong nhà, con cân nhắc, từng việc làm, từng cử chỉ, cớ sao con lại không làm như vậy ở ngoài đường, là nơi đi lại của tất cả mọi người? Enrico, hãy nhớ điều này: mỗi khi con gặp một cụ già, một kẻ khó, một người đàn bà đang bế con, một người què chống nạng, một người đang phải còng lưng gánh nặng, một gia đình đang tang tóc, con đều phải nhường bước cung kính. Chúng ta phải kính trọng: tuổi già, nỗi khổ, tình mẹ con, kẻ tật nguyền, sự vất vả và cái chết. Mỗi khi con thấy một kẻ sắp bị xe húc phải, nếu là một người lớn thì con phải thét lên báo cho người ta tránh, nếu là một em bé thì con hãy chạy đến cứu ngay. Thấy một đứa bé đứng khóc một mình, hãy hỏi tại sao nó khóc và an ủi nó, nếu con có thể làm được. Người già rơi cái gậy, con hãy nhặt lên cho người ta. Nếu hai đứa trẻ đánh nhau, con phải can ngay chúng ra. Nhưng nếu là hai người lớn thì con hãy tránh xa ra, để khỏi phải chứng kiến cảnh hung dữ thô bạo, làm cho tấm lòng thành ra sắt đá. Gặp một người đi qua, tay bị xích, hai cảnh binh đi kèm hai bên, con sẽ không hùa vào đám đông để tò mò độc ác với họ. Đó có thể là một người vô tội.
Hãy thôi nói, thôi cười với bạn bè khi có một cái cáng người bệnh hay một đám tang đi qua, biết đâu ngày mai ở nhà con lại không có người chết.
Hãy lễ độ khi trông thấy tất cả các trẻ em ở các viện từ thiện đi qua từng đôi một: những em mù, những em câm điếc, những em còi cọc, những em mồ côi, những em vô thừa nhận; thấy họ con hãy nghĩ rằng đó là nỗi bất hạnh và lòng từ thiện của con người đang đi qua. Trước một vẻ dị dạng buồn cười hay đáng ghê, con hãy làm ngơ đi như tuồng không trông thấy.
Người đi qua hỏi thăm đường, con phải trả lời có lễ phép. Con không được nhạo báng ai hết, đừng chạy nhảy, đừng chen lấn ai hết, đừng la hét, phải tôn trọng trật tự của đường phố. Trình độ giáo dục của một dân tộc có thể đánh giá qua thái độ của con người trên đường phố. Ở đâu mà con thấy cảnh thô lỗ diễn ra ngoài đường phố thì con có thể chắc chắn là sẽ thấy cảnh thô lỗ diễn ra trong các gia đình vậy. Mai đây, nếu con phải đi xa, con sẽ lấy làm dễ chịu thấy luôn luôn hiện ra trong trí nhớ cái thành phố quê hương của con, Tổ quốc của thời thơ ấu của con, cái thế giới duy nhất mà con đã được biết trong những năm đầu tiên của đời con.
Trong thành phố ấy, con đã đi những bước đầu tiên do bàn tay thận trọng của mẹ con dìu dắt; con đã học ở đấy những năm tháng đầu tiên, ở đấy con đã có được những người bạn đầu tiên của con. Hãy yêu thành phố của con, yêu các phố phường và nhân dân trong thành phố, và nếu chẳng may con nghe ai nói xấu thành phố của con thì con phải bênh vực ngay.
Bố của con”.