Thư viện Online
  • Trang chủ
  • Sách mới cập nhật
  • Trang chủ
  • Sách mới cập nhật

Những Tấm Lòng Cao Cả - Edmondo De Amicis - Tháng ba

  1. Home
  2. Những Tấm Lòng Cao Cả - Edmondo De Amicis
  3. Tháng ba
Prev
Next

Những lớp học buổi tối

Thứ bảy, 4

Hôm qua, bố dắt tôi đến khu Baretti để xem các lớp học buổi tối. Chúng tôi đến nơi thì các lớp đã thắp đèn sáng và người học đã bắt đầu đến.

Thầy hiệu trưởng đang tức giận vì có ai vừa ném đá làm vỡ một miếng kính; người gác cổng liền chạy ra và bắt luôn một đứa bé. Cậu này vừa khóc vừa kêu oan.

Stardi ở trước mặt nhà trường, vội chạy sang chỉ đứa bé đang khóc và nói:

“Không phải cậu này đâu! Chính Franti ném đấy. Tôi trông thấy, chính mắt tôi trông thấy nó ném rõ ràng. Nó còn dọa đánh tôi nếu tôi nói ra. Nhưng tôi sợ gì Franti”.

Tức thì người ta buông cậu bé ra, và tôi nghe thấy thầy hiệu trưởng nói với bố là ngày mai nhất định Franti sẽ phải bị đuổi ra khỏi trường.

Tất nhiên là tôi chẳng ưa gì Franti, nó là một đứa bạn xấu; nhưng lời đe dọa của thầy hiệu trưởng cũng làm cho lòng tôi se lại.

Tôi chưa bao giờ thấy lớp học buổi tối. Thật là lý thú và nhất là bổ ích.

Ở đây có đến gần trăm người công nhân đủ mọi lứa tuổi, những trẻ em mười hai, mười ba tuổi, và những người râu dài, sau ngày lao động đến để học; những người thợ mộc, những người thợ máy mặt đen sì, những người thợ nề tay trắng như vôi, những cậu bé làm bánh mì, tóc còn dính bột. Một tốp pháo binh bước vào, mặc đồng phục, do một trung sĩ dẫn đến.

Phải thấy rằng những người học trò ấy khẩn trương vào chỗ ngồi trên chiếc ghế băng của chúng tôi như thế nào, và họ làm bài chăm chỉ như thế nào! Vài người mang vở lên xin thầy giảng thêm cho; và tôi thấy thầy giáo trẻ măng mà chúng tôi gọi là “ông luật sư nhỏ” chấm bài cho ba, bốn người thợ xúm xít chung quanh, thầy vừa cười vừa chỉ cho một em bé thợ nhuộm những vết đỏ xanh loang lổ trên vở cậu ta.

Tôi cũng thấy thầy giáo thân yêu của tôi, thầy Perboni đã khỏi bệnh và sáng mai sẽ tiếp tục dạy tại lớp tôi. Tôi lấy làm sung sướng vô cùng.

Cửa các lớp vẫn để ngỏ. Các bài học bắt đầu.

Tôi ngạc nhiên và khâm phục thái độ tập trung chú ý của những người ấy… những học trò ấy, khi họ nghe thầy giảng bài.

Hình như có nhiều người không kịp về nhà tối, chắc là họ phải đói lắm sau suốt một ngày lao động.

Những cậu bé thì sau khi nghe giảng chừng nửa tiếng đồng hồ, đã ríu mắt và gục đầu xuống bàn nằm ngủ. Thầy giáo dịu dàng khẽ vuốt ve họ với cái đầu cây bút lông ngỗng để đánh thức họ dậy. Nhưng những người lớn rất chăm chú, mắt nhìn thầy giáo không chớp, khi thầy giảng bài thì một con ruồi bay qua cũng nghe tiếng.

Tôi lấy làm hãnh diện thấy những chỗ ngồi của bọn trẻ chúng tôi lại được những người lớn ấy ngồi vào. Đối với chúng tôi, điều đó đã nâng cao tôi lên. Ôi! Giá chúng tôi có thể bắt chước các học sinh buổi tối và ngồi học nghiêm chỉnh như họ.

Ngồi ngay trên chiếc ghế của tôi, trước mặt cái bàn của tôi, là một người trẻ tuổi, để ria mép và râu cằm, có lẽ là một người thợ máy, anh ta có một ngón tay ở bàn tay phải bị thương, phải quấn băng, thế mà anh ta vẫn chăm chú viết, viết từ từ, như những người khác vậy.

Thật là một tấm gương tốt cho tôi!

Điều làm tôi thú vị nhất là thấy chỗ ngồi của cậu bé thợ nề lại do chính bố cậu ngồi vào. Cái ông khổng lồ này thật lúng túng trong cái góc nhỏ xíu ấy, nên cứ phải khép mãi đôi khuỷu tay lại. Hình như chính bác ấy xin với thầy hiệu trưởng cho bác được đặc ân ngồi vào chỗ cậu bé “sứt môi” của bác (bác vẫn gọi con trai như thế) và người ta liền tán thành ý muốn của bác ngay.

Tôi ở đó với bố cho đến khi tan buổi học. Thật ra đó cũng là một bài học đối với tôi. Bài học về thái độ chăm chỉ, về tư thế nghiêm minh, tôi sẽ tiếp thu để bổ ích cho mình. Lúc tan học đã có nhiều bà vợ bế con trên tay đứng ngoài đón chồng. Khi một người vừa ra khỏi cổng trường là em bé giơ đôi tay bé nhỏ ra đòi bố, ông bố liền bế và hôn con, còn bà vợ thì mang sách vở cho chồng. Tôi nghe một bà nói: “Đi nhanh lên một chút, xúp sắp nguội mất”.

Và họ đi từng tốp về nhà. Đường phố trong chốc lát đầy những người và tiếng ồn; rồi mỗi người về một ngả, phố xá trở nên yên lặng, và tôi chỉ còn thấy bóng dáng thầy hiệu trưởng bước đi chầm chậm, lộ rõ nỗi mệt nhọc. Người đến trường trước tiên, người ra về sau cùng, đó là thầy hiệu trưởng thương yêu ấy!

Ôi! Sáng hôm nay tôi sẽ học thật tốt, để cho giống các học sinh tối qua!

Đánh nhau

Chủ nhật, 5

Việc ấy tất nhiên phải xảy ra thôi. Franti bị thầy hiệu trương đuổi, muốn báo thù. Nó chờ Stardi ở một góc phố, đúng lúc cậu này đi học về cùng với em gái mà cậu đến đón ở trường nữ học phố Dora Grossa. Em Silvia của tôi cũng tan học từ trường nữ học ra, đã chứng kiến vụ ấy và về đến nhà còn sợ khiếp. Việc xảy ra như thế này: Franti, cái mũ lưỡi trai bằng vải sơn đội lệch trên đầu, rón rén chạy đến sau lưng Stardi, và để khiêu khích cậu ta, nó túm cái đuôi sam của cô em cậu mà giật, giật mạnh đến nỗi cô bé gần như ngã ngửa người ra. Cô bé kêu lên một tiếng, Stardi quay lại. Franti cao lớn hơn, khỏe mạnh hơn Stardi nhiều, có lẽ nó nghĩ rằng “hoặc là nó chẳng dám hé răng, hoặc là mình sẽ dần cho nó gãy xương sườn”.

Nhưng Stardi chẳng suy nghĩ một giây; vốn bé nhỏ và chậm chạp nó cứ lao vào thằng vô lại cao lớn kia và bắt đầu đấm nó tới tấp. Tuy vậy, cậu phải ăn đòn nhiều hơn là trả đòn. Ngoài phố chỉ có học trò con gái nhỏ, chẳng có ai để can đôi bên ra cả. Stardi bị quật ngã, nhưng vùng dậy tức khắc và lại lao vào thằng kia. Franti thì cứ nện. Chỉ một lát nó đã cắn chảy máu một nửa cái tai và làm sưng vù một mắt Stardi; cậu này chảy máu mũi, nhưng cứ lăn xả vào mà gầm:

“Mày giết tao, nhưng tao sẽ cho mày ăn đòn”.

Một người đàn bà từ trong cửa sổ kêu lên “Hoan hô! Thằng bé!”

Mấy người khác nói: “Nó bênh em nó; can đảm lên, đánh khỏe vào”.

Và họ nhiếc Franti: “Đồ độc ác! Đồ hèn nhát!”

Nhưng Franti điên lên, khoèo chân làm Stardi ngã xuống và nằm đè lên người cậu.

Nó cứ cẳng tay, cẳng chân mà nện xuống. Stardi nằm dưới cứ lấy đầu húc, lấy gót chân đá móc lên mà tự vệ.

Bỗng Stardi vọt dậy, đứng lên; ôm chặt lấy người Franti, cậu cố hết sức quật ngã nó xuống lòng đường, lấy đầu gối chẹn lên ngực nó.

“Ôi! Thằng khốn nạn, nó rút dao!” một người đàn ông kêu lên và chạy lại để giật con dao của Franti; quả thật thằng này đã rút con dao trong túi ra và sắp dùng để đâm Stardi.

Nhưng Stardi đã không trấn tĩnh được nữa, hai tay cậu nắm lấy cánh tay của Franti và cắn mạnh vào cổ tay nó, làm cho con dao phải rơi ra.

Những người khác chạy đến, vây kín hai đứa bé, người ta đỡ chúng dậy. Franti bị đánh đau, bỏ chạy trốn. Stardi đứng lại trên trận địa, mặt bê bết máu, mắt sưng vù, nhưng đắc thắng. Cô em đứng khóc bên cạnh, các nữ sinh thì nhặt các sách vở rơi vãi lung tung cả ra trên đường phố.

Chung quanh Stardi người ta khen: “Dũng cảm thật, cậu bé biết bênh vực em”.

Stardi lại nghĩ đến cái cặp của cậu hơn là cuộc chiến thắng, liền bắt đầu xem xét lại sách vở của mình từng quyển một coi có thiếu gì không, có hỏng gì không. Cậu lấy tay áo lau sạch tất cả mọi thứ, nhìn kỹ quản bút của mình, xếp lại mọi vật đâu vào đấy; rồi lẳng lặng và đứng đắn như thường lệ, bảo em gái rằng: “Thôi, về nhanh lên, anh còn phải làm bài tính đố đến những bốn phép tính”.

Các bố mẹ học sinh

Thứ hai, 6

Sáng hôm nay, ông Stardi to lớn đến đón con trai, sợ lại chạm trán với Franti một lần nữa. Nhưng người ta nói rằng chúng tôi sẽ không còn gặp lại cái thằng ranh ấy nữa và nó sẽ bị đưa vào một nhà trừng giới[Nhà giam để giáo dục và cải tạo những trẻ phạm pháp.].

Sáng nay, trong phòng chờ, bố mẹ học sinh rất đông; trong số ấy có ông bán củi, bố Coretti giống hệt con trai ông ta; người mảnh dẻ, nhanh nhẹn, ria mép đã hoa râm và khuyết áo đeo cái cuống huy chương. Ngày nào cũng trông thấy các bố mẹ học sinh ở đấy, nên tôi quen họ hết, Có một bà cụ lưng còng, đầu đội chiếc mũ trắng, mưa rơi cũng như tuyết xuống, bao giờ cũng đi theo đứa cháu học lớp một trên. Bà cụ lấy áo tơi ra, mặc cho cháu, buộc lại cái khăn quàng, phủi bụi chải tóc cho cháu, ôm sách vở cho cháu. Người ta thấy là bà cụ không còn có ý nghĩ nào khác nữa, không thấy ở đời còn có việc gì tốt đẹp hơn thế nữa.

Chúng tôi lại thường thấy ông đại úy pháo binh bố cậu Robetti đã cứu sống một em bé. Tất cả chúng bạn khi đến gần cậu, đều vuốt ve cậu bé thương tật anh hùng ấy, và ông bố chào lại, bắt tay tất cả các bạn của con, không sót một ai. Bạn con mà càng bé hay ăn mặc càng xấu, thì ông lại càng lấy làm hài lòng và càng cám ơn họ.

Thỉnh thoảng người ta cũng phải chứng kiến những cảnh đau lòng, chẳng hạn có một bà từ hơn một tháng nay không đến nữa, vì bà bị chết mất một đứa con; còn đứa thứ hai bà chỉ để người vú đi đón. Hôm qua bà lại đến, nhưng thấy lại lớp học và bạn bè của đứa con đã chết của mình, bà bật ra khóc nức nở; thầy hiệu trưởng phải cầm tay dìu bà vào văn phòng của thầy.

Có những người bố, người mẹ thuộc lòng tất cả tên họ các bạn của con trai mình. Có những cô bé gái học phân hiệu bên cạnh, những học sinh các trường trung học gần đấy cũng đến đợi anh em họ về. Có một ông đại tá già về hưu cứ mỗi lúc thấy cậu bé đánh rơi một ngòi bút hay một cuốn vở, là cúi xuống nhặt lên cho cậu. Người ta lại thấy những bà ăn mặc rất sang nói chuyện học hành với những bà trùm khăn và tay cắp rổ; họ nói: “Ô! bài tính đố lần này khó ghê gớm!” “Sáng nay có một bài ngữ pháp dài quá sức tưởng tượng”.

Và có ai ốm ở một lớp nào đó thì các bà đều biết hết, và khi người ốm đã đỡ các bà đều mừng. Đúng sáng hôm nay, tám chín bác nữ công nhân và các bà vây lấy mẹ Coretti, bà hàng rong rau quả ấy, để hỏi tin một cậu bé tội nghiệp học cùng lớp với em trai tôi; cậu ở cùng sân với bà và đang ốm thập tử nhất sinh. Có thể nói là nhà trường san bằng các địa vị và làm cho mọi người thành bạn bè với nhau cả.

Người số 78

Thứ tư, 8

Hôm qua, tôi đã chứng kiến một cảnh cảm động. Từ mấy hôm nay, mỗi khi bác bán rau quả gặp Derossi thì bác lại nhìn bạn ấy với một vẻ yêu mến vô cùng. Phải nói là từ khi Derossi phát hiện ra lọ mực và người tù số 78, thì cậu ta càng thân thiết với Crossi, con của người tù ấy, cái cậu bé tóc đỏ, có một cánh tay bị liệt. Derossi giúp bạn làm bài, ở trường nhắc cho bạn các câu trả lời, cho bạn giấy, ngòi bút, bút chì, tóm lại là đối xử với bạn như với anh em ruột để bù lại cho bạn nỗi bất hạnh đã đến với bố bạn, mà chính đứa con trai không biết đến. Vậy là đã mấy hôm nay rồi, bác bán rau quả không lúc nào rời Derossi khỏi mắt mà đứa con yêu dấu ấy được giúp đỡ trong việc học hành, được điểm tốt là nhờ Derossi người đầu lớp. Đối với bà, Derossi quả là một nhân vật đặc biệt.

Bà cứ nhìn Derossi mãi, như muốn nói điều gì với cậu nhưng lại không dám.

Tuy vậy, sáng hôm qua, bà đón Derossi ở dưới cổng và nói:

“Thưa cậu, xin cậu bỏ lỗi, cậu tốt với con tôi quá, vậy xin cậu làm ơn nhận cho vật kỷ niệm nhỏ này của một người mẹ đáng thương”. Và bà lấy trong rổ rau ra một cái hộp bằng bìa cứng sơn kim nhũ.

Derossi đỏ mặt và từ chối ngay.

“Xin bác hãy đem về cho bạn ấy, cháu không lấy gì đâu”.

Bà hàng rau quả sượng sùng, và ấp úng xin lỗi:

“Tôi không định làm phật ý cậu, có gì đâu, chỉ mấy chiếc kẹo đường”.

Nhưng Derossi lắc đầu từ chối, thế là bà rụt rè rút trong rổ ra một bó củ cải đỏ và nói khẽ:

“Ít ra cũng xin cậu nhận cho cái này, rất tươi đấy; cậu đem về biếu bà nhà”.

Derossi mỉm cười và trả lời:

– Không, xin cám ơn bác, cháu không muốn lấy gì cả, lúc nào cháu cũng sẽ làm hết sức để giúp Crossi, nhưng cháu không thể nhận một cái gì hết. Dù sao cũng xin cảm ơn bác.

– Tôi không làm phật ý cậu chứ? – Bà hàng rau lo lắng hỏi.

– Ồ, không đâu bác ạ! Derossi nói và mỉm cười, rồi bước đi, còn bà mẹ Crossi thì vui mừng kêu lên: “Ôi! Cậu bé ngoan quá sức. Tôi chưa hề bao giờ thấy một cậu bé trung hậu và xinh trai như cậu này”.

Tưởng rằng câu chuyện đến thế là xong; nhưng chiều đến lúc bốn giờ đáng lẽ là bà mẹ thì lại là ông bố của Crossi đến đón, vẻ mặt buồn bã. Ông ta đón Derossi lại, và theo cách ông nhìn cậu ấy, tôi thấy ông đoán ra rằng Derossi đã biết điều bí mật của ông.

Ông ta nói với một giọng buồn bã và âu yếm:

“Cậu thương con tôi. Tại sao cậu thương nó lắm thế?”

Derossi đỏ bừng mặt; cậu những muốn trả lời rằng: “Tôi thương bạn ấy vì bạn ấy khổ sở, và vì ông bố của bạn cũng khổ sở, hơn là tội lỗi, vì ông là người rất trung hậu”. Nhưng mà cậu không đủ can đảm để nói ra.

Trong thâm tâm, cậu còn cảm thấy như sờ sợ, như ghê ghê khi nói chuyện với một người đã làm đổ máu người khác và đã ngồi tù sáu năm.

Nhưng bố Crossi đoán biết hết, và thấp giọng, ông run run nói thầm vào tai Derossi rằng:

“Cậu thương nó, nhưng cậu không ghét, cậu không khinh bố nó chứ?”

“Ồ, không, không, trái lại!” Derossi kêu lên thành tâm, nhiệt tình.

Thế là ông bố Crossi có một động tác rất tự giác như muốn ôm Derossi vào lòng, nhưng không dám, và chỉ sờ lên một vòng tóc xoăn vàng của cậu, rồi thả tay ra và đưa các ngón tay lên mồm và hôn, vừa hôn vừa nhìn Derossi với đôi mắt đẫm lệ như muốn nói là ông gửi cái hôn ấy tới Derossi. Rồi dắt tay con, ông bước đi một cách vội vã.

Cậu bé chết

Thứ hai, 13

Cậu bé ở cùng sân với bà bán rau quả, bạn của em tôi ở lớp sơ đẳng vừa mới chết.

Hôm thứ bảy cô giáo Delcati hết sức đau xót đến báo tin cho thầy Perboni biết, và lúc đó, tức thì Garrone với Coretti – tự mình xin đến khiêng quan tài. Cậu bé tội nghiệp ấy thật là một đứa trẻ trung hậu, tuần trước cậu vừa được huy chương. Cậu yêu em trai tôi lắm và đã cho nó một chiếc ống đựng tiền vỡ. Lần nào gặp, mẹ tôi cũng vuốt má cậu. Cậu đội chiếc mũ lưỡi trai có hai cái sọc bằng dạ đỏ. Bố cậu là công nhân khuân vác ngành đường sắt. Chiều qua, Chủ nhật, hồi bốn giờ rưỡi, chúng tôi đã đến nhà người chết để đi theo đám tang. Trong sân đã đầy những cậu bé học lớp một trên cùng đi với mẹ họ, năm sáu cô giáo đã đến. Cô giáo lớp một và cô Delcati đã vào trong nhà và qua cửa sổ mở rộng chúng tôi thấy các cô khóc.

Người ta còn nghe tiếng bà mẹ tội nghiệp khóc thảm thiết. Hai bà mẹ của hai học sinh trong trường đã đem đến những vòng hoa. Năm giờ đúng chúng tôi bắt đầu đi. Quan tài phủ dạ đen, trên đặt các vòng hoa. Trên tấm dạ đen người ta lại đính chiếc huy chương và ba giấy khen danh dự mà cậu bé đã được thưởng trong năm nay. Garrone, Coretti và hai cậu bé trong khu phố khiêng quan tài. Cô Delcati đi theo, khóc như thể đứa trẻ đó chính là con cô, phía sau cô là các cô giáo khác, rồi học sinh của họ mà các cậu bé nhất cầm những bó hoa đồng thảo một tay và tay kia thì đưa mẹ họ nắm.

Các cậu nhìn quan tài mà rất ngạc nhiên, và tôi nghe một cậu hỏi: “Thế là bây giờ, có phải bạn ấy không đến trường nữa phải không?”

Khi chiếc quan tài ra khỏi nhà thì người ta nghe một tiếng kêu tuyệt vọng từ trong cửa sổ, đó là bà mẹ mà người ta phải vội vàng đưa vào lại trong phòng.

Ra đến ngoài phố, chúng tôi gặp đoàn học sinh một trường trung học đang đi thành hàng đôi, và tất cả đều cung kính cúi chào.

Tội nghiệp cậu bé quá cố! Cậu sẽ ngủ giấc ngủ vĩnh viễn với chiếc huy chương của cậu; và chúng tôi sẽ không bao giờ trông thấy cậu với chiếc mũ lưỡi trai nho nhỏ có sọc đỏ nữa… Cậu đang khỏe mạnh, thế mà chỉ ốm có bốn ngày cậu đã ra đi. Ngày cuối cùng cậu còn gắng gượng ngồi dậy để làm bài, và cậu muốn đem cái huy chương của cậu để trên giường nằm, sợ người ta lấy mất của cậu. Nay thì chẳng ai lấy của cậu nữa, tội nghiệp cậu bé! Vĩnh biệt, vĩnh biệt! Chúng tôi sẽ nhớ đến cậu mãi mãi ở khu Baretti, xin cậu an giấc.

Hôm trước ngày 14 tháng 3

Hôm nay, một trong những ngày vui nhất: 13 tháng 3, ngày hôm trước của lễ phát phần thưởng, ngày lễ lớn hàng năm sẽ cử hành ở nhà hát Vittorio Emanuele. Lần này các cậu được lên sân khấu trình danh sách học sinh được thưởng cho các đơn vị trao phần thưởng, không phải tùy tiện cứ ra thế nào cũng được. Sáng nay, thầy hiệu trưởng đến và nói với chúng tôi: “Các con ạ, một tin mừng”. Rồi thầy gọi: “Coraci!”

Cậu học sinh người xứ Calabria đứng dậy:

“Con có muốn ở trong số những người ngày mai ở nhà hát và trình danh sách lên nhà chức trách không?”

Cậu học sinh người Calabria trả lời là có.

“Tốt, thầy hiệu trưởng nói: như thế sẽ có thêm một đại biểu của người Calabria nữa. Năm nay tòa thị chính muốn rằng mười hay mười hai người đem trình phần thưởng lên các nhà chức trách phải là dân các tỉnh khác nhau của nước Ý và chọn trong các trường quốc lập ở Torino này. Chúng ta có hai mươi khu và năm phân hiệu: bảy nghìn học sinh. Tổng số học sinh đông như vậy chẳng dễ gì mà tìm ra các trẻ em của mỗi miền trên nước Ý được, ở khu Torquato Tasso[Khu này mang tên đại thi hào Ý thời Phục hưng Torquato Tasso (1544 – 1595), tác giả thiên anh hùng ca nổi tiếng của văn học Ý “Jerusalem giải phóng”.] đã tìm ra được hai đại biểu các đảo: một người ở đảo Sardegna và một người ở Sicilia. Trường Boncompagni góp một người Roma ở khu Tommaseo[Khu này mang tên nhà bác ngữ và chính trị gia người Ý nổi tiếng trong thời cận đại (1802 – 1874).] còn lại thì dễ tìm ra người Venezia, ngưởi Lombardia, người Romagna thôi. Khu Monviso giới thiệu một người Napoli, con một sĩ quan; còn ta ở khu Baretti này ta góp một người Genova và một người Calabria. Đẹp lắm, phải không nào? Chính những người anh em của ta ở khắp tất cả các miền của nước Ý sẽ đưa trình các phần thưởng. Phải để ý, khi họ xuất hiện trên sân khấu, cả mười hai người cùng một lúc, thì các con phải hoan hô chào mừng họ. Họ là trẻ con, nhưng họ đại điện cho quê hương, họ chẳng khác nào là người lớn vậy, chẳng phải một băng vải nhỏ ba màu cũng là biểu tượng của nước Ý, khác gì một lá cờ lớn? Chắc chắn là các con sẽ hoan hô nhiệt liệt. Các con sẽ tỏ ra là những trái tim non trẻ mới mười tuổi của các con cũng phấn khích trước hình ảnh thiêng liêng của Tổ quốc.

Nói xong thầy hiệu trưởng đi ra, thì thầy giáo vừa mỉm cười vừa nói thêm: “Vậy là Coraci, con là đại biểu của những người dân Calabria”.

Tất cả chúng tôi vỗ tay vui cười và khi tan học ra ngoài phố, chúng tôi vây lấy Coraci, cầm chân nhấc cậu lên và công kênh cậu trên vai như mừng chiến thắng. Chúng tôi reo lên: “Hoan hô đại biểu xứ Calabria”, nhưng reo vì vui mừng, tuyệt không phải chế giễu, trái lại chúng tôi còn ăn mừng Coraci, vì thực ra cậu vẫn làm cho tất cả chúng tôi mến. Tươi cười vì được hoan nghênh, cậu để cho chúng tôi kiệu đi như vậy cho đến một góc phố nọ thì chạm trán với một ông râu đen nhánh, ông ta bỗng bật cười.

“Bố mình đấy”, cậu bé người Calabria nói. Thế là các bạn ôm đứa con trai đặt luôn vào lòng ông bố, rồi tẩu tán ra khắp mọi phía.

Lễ phát phần thưởng

14, tháng ba

Khoảng hai giờ nhà hát lớn đã đông nghịt: dưới nhà, trong các hành lang, ở các lô, trên sân khấu. Có hàng nghìn người đủ mặt: trẻ em, các bà, thầy giáo, công nhân, phụ nữ bình dân, trẻ còn bé. Thật là náo nhiệt, kẻ gật đầu, kẻ vẫy tay; lông cắm mũ, dải buộc tóc chập chờn như sóng lượn, tiếng rì rầm liên tục và vui vẻ, khiến người ta phải tươi vui.

Nhà hát trang trí bằng những vòng hoa giấy màu quốc kỳ. Ở chỗ dàn nhạc đã dựng hai bậc thang, bên phải để đi lên, bên trái để đi xuống. Ở phía trước sân khấu có kê một dãy ghế bành bọc nhung đỏ, một vòng hoa danh dự nhỏ treo ở lưng tựa chiếc ghế giữa.

Một bên sân khấu kê một cái bàn phủ thảm màu lục, trên mặt bàn xếp những chồng sách, buộc dây màu quốc kỳ ba màu, thu hút lòng thèm muốn của học sinh. Dàn nhạc vẫn ngồi ở chỗ hàng ngày, trước mặt sân khấu. Các thầy giáo cô giáo ngoi hết một nửa hành lang thứ nhất dành riêng cho họ. Một đội đồng ca gần trăm học sinh ngồi trên các ghế dài kê trước mặt sân khấu, tay cầm các bài hát. Đằng sau sân khấu và hai bên cánh gà nhiều thầy giáo cô giáo đang sắp xếp hàng ngũ các học sinh được thưởng; bố mẹ họ vây quanh, thắt lại chiếc khăn quàng, sửa lại mái tóc lần cuối cùng cho con. Vừa cùng với bố mẹ vào đến chỗ ngồi ở trên gác, tôi thấy ngay cô giáo có cái lông chim đỏ ở mũ, ngồi ở hành lang trước mặt; cô đang cười hai má lúm đồng tiền xinh xắn, và bên cạnh cô giáo của em trai tôi là “cô tu sĩ” nhỏ nhắn mặc toàn màu đen, cùng với cô giáo lớp một trên của tôi, nhưng tội nghiệp trông cô xanh quá, và ho dữ dội, tiếng ho nghe suốt từ đầu này đến đầu kia nhà hát, ở dưới nhà tôi nhận ra ngay cậu Garrone thân yêu, và cạnh cậu là Nelli, đang tựa cái dâu tóc bạch kim vào vai bạn. Xa hơn một chút tôi thấy Garoffi với cái mũi khoằm như mỏ quạ; cậu đã tốn bao nhiêu công khó nhọc để kiếm cho ra những bản danh sách in, dù cậu đã có một bó tướng… có lẽ theo thói quen cậu muốn đầu cơ về thứ ấy chăng?… Gần cửa ra vào là bác bán củi, cùng với vợ mặc quần áo Chủ nhật, ngồi cạnh con trai là Coretti, cậu này được phần thưởng thứ ba; hôm nay Coretti không mặc cái áo chẽn bằng da con rái cá với cái mũ nồi bằng da mèo nữa, mà lại diện oách như một tiểu công tử. Có một lúc tôi trông thấy Votini ở một hành lang, đeo ra ngoài áo một cái cổ giả viền đăng ten, nhưng chỉ một lát là cậu ta biến đâu mất. Ngồi trước sân khấu, rất đông người, có ông đại úy pháo binh Robetti và cậu con trai chống đôi nạng.

Hai giờ đúng, nhạc bắt đầu nổi lên; cùng lúc người ta thấy bước lên sân khấu từ cầu thang bên phải: ông thị trưởng, ông tỉnh trưởng, ông bồi thẩm tòa án. Ông hiệu trưởng trung học và rất nhiều vị quan chức, mặc áo lễ màu đen, lần lượt ngồi vào những chiếc ghế bành đỏ. Nhạc vừa dứt, thầy giáo dạy hát bước ra, tay cầm cái que. Thầy giơ tay một cái, tất cả các cậu ngồi ở dưới nhà cùng đứng dậy; thầy vung tay cái nữa, họ bắt đầu hát.

Bảy trăm học sinh, tất cả hát bản đồng ca rất hay, điệu nhạc long trọng. Bảy trăm giọng trẻ em cùng cất lên một lúc: thật tuyệt trần. Tất cả mọi người cùng im lặng ngồi nghe. Tiếng hát của các cậu vừa dịu dàng, vừa trang nghiêm, vừa gây một ấn tượng sâu sắc. Bài hát vừa dứt, tiếng vỗ tay nổi lên nhiệt liệt, rồi im lặng trở lại.

Lễ trao phần thưởng sắp bắt đầu: thầy giáo lớp hai của tôi có mái tóc hung và đôi mắt linh hoạt, đã tiến ra sân khấu để đọc danh sách những người được thưởng. Người ta chờ xem mười hai cậu bé bước ra trình các phần thưởng. Các báo đã đăng tin rằng đó là những người con của tất cả các tỉnh nước Ý. Trong khi chờ họ, người ta tò mò nhìn về phía mà các cậu sẽ xuất hiện; chính ông thị trưởng và các thân sỹ khác cũng chú ý, cả nhà hát im phăng phắc. Bỗng nhiên người ta thấy đoàn đại biểu đến, chân bước nhanh nhẹn. Họ tiến đến sát mép sân khấu; rồi mười hai đại biểu tí hon, như chúng tôi vẫn gọi, dừng lại, tươi cười, nhưng hơi lúng túng. Toàn thể cử tọa – ba nghìn người là ít – cùng đứng dậy một lúc và tiếng vỗ tay vang lên, tựa hồ một tiếng sấm dài. Các cậu bé hình như khá bối rối.

Tôi nhận ra ngay Coraci, cậu bé Calabria mặc quần áo đen như mọi khi. Một ông ủy viên hội đồng thành phố ngồi chỗ chúng tôi và biết các cậu chỉ cho mẹ tôi từng người. Ông ta nói: “Cái cậu bé tóc bạch kim ấy là đại biểu Venezia; đại biểu Roma là cái cậu cao, tóc xoăn ấy”.

Có hai hay ba cậu ăn mặc rất đẹp, các cậu khác là con những công nhân; nhưng tất cả đều quần áo sạch sẽ, chỉnh tề. Đại biểu Firenze lại là cậu bé nhất, buộc một cái đai màu xanh xung quanh mình. Kẻ trước người sau, họ diễu qua mặt ông thị trưởng, ông ôm hôn tất cả, trong khi một ông khác lần lượt giới thiệu từng người: “Firenze, Napoli, Bologna, Palermo…”

Và mỗi cậu đi qua là cử tọa đều vỗ tay. Các đại biểu tí hon đến đứng cạnh chiếc bàn màu lục để các phần thưởng; và thầy giáo bắt đầu đọc danh sách, từng khu, từng lớp, từng người được thưởng và những người này nối tiếp nhau lên sân khấu thành một cuộc diễu hành lý thú.

Khi những cậu đầu tiên vừa bước lên sân khấu thì nghe nhạc nổi lên một điệu nhẹ nhàng, theo tôi biết thì chỉ do toàn vĩ cầm biểu diễn mà thôi. Bản nhạc kéo dài suốt thời gian các cậu kéo qua, điệu nhạc hay đến nỗi có thể bảo rằng đó là những tiếng thì thầm, tiếng của tất cả các bà mẹ, tất cả các thầy giáo, cô giáo đang thân ái khuyên bảo hay trách cứ.

Những người được thưởng, người nọ tiếp người kia, đến trước các tân khách để họ trao phần thưởng, và khi trao họ nói với mỗi người một lời thân ái hay vuốt ve các cậu. Từ dưới nhà cũng như trên các hành lang, học sinh vỗ tay mỗi khi thấy đi qua một người được thưởng bé quá hay một trong những người ăn mặc như tuồng con nhà nghèo. Có những cậu học lớp bé, khi đến sân khấu đâm ra lúng túng, chẳng biết nên làm gì, cứ quay người sang bèn nọ bên kia làm cho cử tọa cười rộ lên. Trong số ấy có một cậu xinh xắn vô cùng, tóc xoăn buộc một chiếc nơ hồng to tướng, vô ý vướng chân vào tấm thảm, ngã sóng xoài ra. Ông tỉnh trưởng nâng cậu dậy, và người ta lại cười, vừa cười vừa vỗ tay. Một cậu ngã lăn lông lốc khi xuống thang. Người ta nghe tiếng cậu kêu, nhưng may không việc gì cả. Đủ các hạng người diễu qua: có bộ mặt ranh mãnh, có bộ mặt sợ hãi, có những khuôn mặt đỏ như gấc, và có những em còn bé tí, má phinh phính, mỉm cười với tất cả mọi người. Các em ấy vừa bước xuống là bố hay mẹ liền ôm vào lòng, đưa ra ngoài.

Bây giờ đến lượt khu của chúng tôi. Tôi nghe gọi tên nhiều bạn quen biết. Trước tiên là Coretti, mặc quần áo mới từ đầu đến chân, vẻ mặt khôi ngô rạng rỡ, mỉm cười để lộ hai hàm răng trắng. Nào có ai biết được là ngay sáng hôm nay cậu đã không đi vác hai xe củi! Ông thị trưởng đặt tay lên vai cậu, vừa trao phần thưởng cho cậu, vừa hỏi cậu cái vệt đỏ trên trán cậu là vệt gì. Tôi đưa mắt xuống dưới nhà, tìm bố mẹ cậu thì thấy họ đưa tay lên che miệng, cùng cười. Tiếp theo là Derossi, mặc áo dài màu xanh thẫm cài khuy bằng thép, người mảnh mai, thanh lịch, trán cao, tóc bạch kim uốn xoăn rủ xuống đầy hai vai, đẹp và đáng yêu đến nỗi tôi sẵn sàng gửi đến cậu một cái hôn. Các tân khách ai cũng muốn nói chuyên với cậu và bắt tay cậu. Sau đó thầy giáo cất tiếng gọi: “Giulio Robetti”.

Người ta thấy cậu con trai ông đại úy pháo binh chống nạng đi ra. Hàng trăm học sinh đã biết nguyên nhân gây ra tai nạn cho cậu, câu chuyện đồn đi tức khắc; thế là tiếng vỗ tay nổi lên rào rào, làm rung động cả nhà hát. Đàn ông đứng dậy, đàn bà vẫy khăn tay, và cậu bé tội nghiệp thẹn thò và run run đứng dừng lại ngay giữa sân khấu.

Ông thị trưởng dắt cậu lại phía mình, ôm hôn rồi lấy vòng hoa danh dự treo ở lưng tựa chiếc ghế mình ngồi, đặt vào đầu một chiếc nạng mà cậu bé dũng cảm đang cầm nghiêng ra phía trước mặt; rồi ông đưa cậu ra tận phía trước sân khấu cho ông đại úy pháo binh, bố của cậu bé cao quý ấy. Ông đại úy nhấc bổng con lên và đưa về lô mình ngồi, giữa những tiếng hoan hô chào mừng của cử tọa.

Tiếng nhạc êm ái, dịu dàng chưa dứt và học sinh vẫn tiếp tục diễu qua: học sinh khu trường Consolata, hầu hết là con những nhà tiểu thương. Học sinh khu Vanchiglia con các công nhân; học sinh khu Boncompagni đa số là con các gia đình nông dân, sau hết học sinh trường Raineri là trường cuối cùng.

Vào cuối buổi lễ, bảy trăm học sinh đứng trước sân khấu lại hát một ban đồng ca khác, khá hay. Sau đó, ông thị trường đọc một bài diễn văn ngắn và tiếp theo, ông bồi thẩm kết thúc như sau:

“Ra khỏi đây, các con ạ. các con không được quên gửi một cái chào và một lời cảm ơn đến những người đã vì các con mà không quản bao mệt nhọc, những người đã hiến tất cả sức mạnh của trí thông minh và lòng dũng cảm cho các con, những người sống và chết vì các con, và họ đây này!”. Và ông bồi thẩm đưa tay chỉ về phía các thầy giáo, cô giáo ngồi trên các hành lang. Nghe lời kêu gọi cảm động, hưởng ứng đúng biết bao nhiêu những tình cảm của mình, học sinh đều đứng dậy, dang tay về phía các thầy, các cô. Các thầy, các cô đều đứng dậy vẫy mũ, khăn đáp lại, tất cả đều xúc động vì sự biểu lộ tình mến yêu ấy của học sinh.

Dàn nhạc lại cử một bài nữa, và quần chúng chào mười hai đại diện bé nhỏ của các tỉnh trong nước Ý một lần cuối cùng nữa. Các cậu tay nắm chặt tay, cùng tiến ra phía trước sân khấu, và người ta tung những bó hoa lên các cậu.

Một vụ cãi lộn

Thứ hai, 20

Thật thế, không, tuyệt không phải do ganh tị với cậu vì cậu được phần thưởng còn tôi thì chẳng có gì, mà sáng nay tôi lại cãi nhau với Coretti. Thật không phải vì ganh tị, nhưng dù thế tôi cũng phải nhận là mình có lỗi.

Thầy giáo xếp cậu ngồi cạnh tôi; tôi đang nắn nót từng chữ trên trang vở viết tập thì Coretti chạm khuỷu tay vào tôi, làm cho cây bút của tôi vẽ ra một cái móc quái gở, lại dây mực vào truyện kể hàng tháng Máu nóng người Romagna mà tôi chép cho cậu bé thợ nề ốm. Tôi nổi giận, nói một câu bất nhã. Coretti cười trả lời rằng: “Mình không cố ý đâu”.

Lẽ ra tôi phải tin cậu vì tôi biết cậu ấy lắm, nhưng cái cười của cậu làm tôi bực mình và tôi nghĩ: “Giờ nó đã được phần thưởng nó thành ra kiêu căng”.

Lát sau, để trả thù, tôi đẩy cậu ta một cái đến nỗi hỏng hết trang viết tập của cậu.

Thế là cậu ta giận đỏ mặt, nói: “Này, cậu cố ý đấy nhé”, vừa nói vừa giơ tay dọa đánh tôi.

Thầy giáo nhìn cậu, cậu liền hạ tay xuống, nhưng lại nói thêm: “Lát nữa tao chờ mày ở cổng”.

Tôi tự thấy khó chịu, cơn giận của tôi đã lắng xuống, và tôi đã thấy hối hận. Không, Coretti không bao giờ lại cố ý ẩy mình, vì cậu ta rất tốt. Tôi nhớ lại hôm đến nhà cậu tôi thấy cậu vừa học vừa chăm sóc mẹ ốm; với lại tôi đã tiếp cậu rất chu đáo tại nhà mình, và bố cũng thấy cậu cũng rất hợp ý bố. Thật tôi chẳng tiếc cái gì để đánh đổi lấy cái câu ngu xuẩn mà tôi đã buột mồm nói ra, đổi lấy cái cử chỉ phục thù bần tiện ấy.

Tôi nhớ lại lời khuyên của bố:

– Con có lỗi à?

– Vâng.

– Vậy con phải xin lỗi người ta.

Xin lỗi à! Tôi không đủ can đảm làm việc ấy, phải hạ mình thì tôi xấu hổ lắm.

Tôi nhìn Coretti một bên, tôi thấy cái vai áo chẽn của cậu sứt chỉ, có lẽ vì cậu ta đã vác củi, và tôi cảm thấy tôi yêu cậu, tôi tự nhủ: “Nào! Hãy can đảm lên!” nhưng cái câu “mình xin lỗi cậu” cứ tắc nghẹn trong cổ.

Còn cậu thì thỉnh thoảng lại nhìn trộm tôi; tôi cho là cậu ta buồn hơn là giận. Nhưng tôi thì lại nhìn nghiêng, để cậu ta đừng cho là tôi đang sợ.

Cậu ta nhắc lại: “Ra ngoài kia ta sẽ gặp nhau”.

Tôi cũng nhắc lại: “Được! Ra ngoài kia ta sẽ gặp nhau”.

Thế nhưng tôi nghĩ đến một câu mà có lần bố đã nói với tôi: “Nếu con trái, thì chỉ được đỡ thôi, không được đánh giả”. Và tôi tự nhủ: “Ừ, mình chỉ đỡ, chứ không đánh”. Tôi vẫn cáu và buồn, không nghe bài giảng của thầy nữa. Cuối cùng đã đến giờ tan học.

Khi còn lại một mình ở ngoài phố, tôi thấy Coretti đi theo tôi. Tôi đứng lại, rút cái thước kẻ cầm tay. Cậu ta đi đến, tôi giơ thước lên…

“Ấy đừng, Enrico ạ, – cậu ta nói với một nụ cười hiền hậu, đưa tay gạt cái thước của tôi ra, – hãy trở lại thân nhau như trước”.

Tôi ngạc nhiên, ngây ra một lúc, rồi tôi thấy như có bàn tay ai đẩy tôi; thế là tôi ôm chầm lấy cậu.

Coretti ôm tôi và nói: “Chúng ta sẽ không bao giờ giận nhau nữa, phải không nào?”

– Không bao giờ. Không bao giờ! – Tôi trả lời.

Chúng tôi chia tay nhau, cả hai đều hài lòng. Nhưng khi về nhà tôi kể lại tất cả cho bố nghe, tưởng làm bố vui lòng, nào ngờ bố mắng: “Đáng lẽ chính con phải đưa tay cho bạn trước, vì con lỗi cơ mà”. Bố lại nói tiếp: “Con không được giơ thước dọa đánh một đứa bé tốt hơn con, con dọa con trai của một quân nhân”. Rồi giật cái thước tôi đang cầm, bố bẻ ra làm đôi.

Máu nóng người Romagna[*]

[*]Xứ Romagna ở miền Trung Ý, đất đai khô xấu nghèo nàn, dân cư thưa thớt, xưa kia nổi tiếng về sào huyệt của quân trộm cướp.

(Truyện đọc hàng tháng)

Tối hôm ấy, ngôi nhà của Ferruccio im lặng hơn thường lệ. Bố cậu có cửa hàng bách hóa nhỏ, đã đi Forlì mua mấy thứ gì đấy, mẹ cậu đi theo mang cả Luigina, cô con gái bé đi mổ mắt. Phải sáng hôm sau họ mới về. Sắp nửa đêm. Người đàn bà làm thuê đã đi về sau bữa ăn tối; ở nhà chỉ còn có bà ngoại liệt cả hai chân với Ferruccio, cậu bé mới mười ba tuổi.

Ngôi nhà chỉ có một tầng và nằm bên đường cái, cách một cái làng ở ven Forlì, một thành phố xứ Romagna, độ một tầm súng. Cạnh ngôi nhà nho nhỏ ấy chẳng có nhà cửa nào, ngoài cái đống hoang tàn của một quán trọ bị cháy trước đấy hai tháng.

Đằng sau nhà là một vườn rau, giậu rào quanh có trổ một cái cổng nhỏ kiểu thôn quê. Cái cửa của ngôi hàng, đồng thời là cửa ra vào, trông ra đường cái. Chung quanh bốn bề là đồng không mông quạnh, những đám ruộng dâu bát ngát.

Sắp nửa đêm. Mưa rơi, gió thét. Ferruccio với bà còn thức ở trong phòng ăn. Phòng này cách vườn rau một gian nhà chứa đầy đồ cũ.

Ferruccio mới về lúc mười một giờ, sau khi chuồn đi đâu mất mấy tiếng liền, để bà cứ ngồi như đóng đinh trong chiếc ghế bành rộng chờ sốt ruột, lo lắng hết sức. Bà cụ tội nghiệp ngồi suốt ngày trên chiếc ghế ấy, và nhiều khi suốt cả đêm, vì những cơn đau tức ghê gớm làm cho bà không tài nào nằm xuống được.

Trời mưa và gió thổi hắt vào các cửa kính. Đêm tối như mực. Ferruccio về nhà mệt lử, lấm be bét, áo ngoài rách và trán bầm tím vì một hòn đá ném trúng. Thoạt tiên bè bạn lấy đá ném nhau chơi thôi, rồi dần dần đi đến chỗ đánh nhau thật, bao giờ mà chả thế. Tệ hơn nữa là Ferruccio lại đánh bạc và thua hết sạch tiền, cái mũ nồi cũng rơi mất đâu ở một cái hố.

Dù gian nhà chỉ có một ngọn đèn dầu nhỏ, để ở một góc bàn gần ghế bành, bà ngoại đáng thương ấy vẫn thấy ngay vẻ thảm hại của đứa cháu; và qua những lời thú tội, úp mở của cháu, bà cụ đã đoán được phần nào những lầm lỗi của nó, rồi sau cùng còn gì là nó thú ra hết; bà vốn thương Ferruccio với tất cả tâm hồn, nên bà không nhịn được, bật ra khóc.

Yên lặng một lúc lâu, rồi bà nói: “Ôi! Cháu chẳng chút thương xót bà ngoại tội nghiệp của cháu, nếu không cháu đã chẳng lợi dụng bố mẹ cháu đi vắng để làm những việc như thế. Cháu bỏ bà một mình suốt cả ngày. Cháu chẳng chút thương xót gì bà! Coi chừng Ferruccio à, cháu đang đi con đường nguy hiểm sẽ đưa cháu đến một kết cục thảm hại đấy. Bà đã thấy những đứa trẻ đầu tiên cũng như cháu, thế rồi sau đã thành ra những kẻ vô lại ghê gớm. Người ta bắt đầu bằng trốn nhà đi chơi, đánh nhau với bạn, thua bạc mất tiền, rồi dần dần từ ném đá đi đến đâm nhau, từ cờ bạc đến các tật xấu khác, và từ tật xấu đi đến… trộm cướp”.

Ferruccio đứng nghe, cách bà vài bước, mình tựa vào cái tủ, đầu cúi gầm, cằm sát vào ngực, đôi mày cau lại, còn sôi sục cơn tức giận lúc đánh nhau. Mái tóc xoăn màu hạt dẻ rủ xuống trán, và đôi mắt to xanh rực lên những ánh lạ lùng. “Từ cờ bạc đến trộm cướp! – bà nhắc lại, vừa nói vừa khóc. – Ferruccio à, cháu hãy nghĩ đến cái tên vô lại ở xứ này, cái tên Vito Mozzoni lưu manh, mới hai mươi bốn tuổi đầu mà đã hai lần ở tù. Nó làm cho bà mẹ tội nghiệp của nó phải chết vì buồn phiền; bà có quen mẹ nó đấy. Bố nó thì tuyệt vọng đã bỏ đất nước trốn sang Thụy Sĩ. Cháu hãy nghĩ đến tên vô lại ấy; nó chào, bố cháu cũng không chào lại, vì xấu hổ; lúc nào người ta cũng thấy nó quần tụ với những quân hung đồ còn tệ hơn nó nữa, cho đến cái ngày phải đi đày khổ sai thôi. Này, thằng Mozzoni ấy, bà có biết nó khi nó còn nhỏ, trước kia nó cũng chỉ bắt đầu như cháu, rồi có thể cháu cũng sẽ đẩy bố mẹ cháu đến kết cục thảm hại như bố mẹ nó thôi…”

Ferruccio làm thinh. Tấm lòng cậu đâu có độc ác; cậu có trốn nhà đi chơi cũng do dồi dào sinh lực và táo bạo hơn là vì bẩm tính xấu xa. Bố cậu nuông con quá; vì biết rằng trong thâm tâm con có thể có những tình cảm cao thượng nhất và hơn nữa, gặp hoàn cảnh thì có thể có hành động cao cả và hào hiệp, nên ông đã để cho con tự do cho đến ngày con tự hiểu lấy lẽ phải.

Ferruccio trung hậu, nhưng gan lì và khó tính, dù rất hối hận là đã làm bà phật lòng cậu vẫn không tài nào đủ can đảm nói với bà vài lời dễ nghe để bà tha thứ cho: “Vâng, cháu có lỗi, cháu sẽ không làm thế nữa. Cháu xin hứa, bà tha lỗi cho cháu”. Tính tự ái giữ kín những lời như thế trong tâm cậu, tuy lòng cậu chan chứa tình thương yêu đằm thắm.

Thấy Ferruccio cứ làm thinh, bà cụ lại nói tiếp: “Ôi! Cháu à, cháu không nói được một lời hối hận sao. Cháu cũng thấy rõ tình cảnh của bà hiện nay: chỉ còn chờ để được đưa ra đồng nữa mà thôi. Cháu còn có lòng nào mà làm cho mẹ của mẹ cháu phải khóc nữa; bà đã già lắm rồi, gần đất xa trời lắm rồi, nonna[Tiếng Ý, trẻ con gọi là bà.] tội nghiệp của cháu suốt đời thương yêu cháu, đã ru cháu suốt bao đêm trường thuở cháu còn bé, và chỉ muốn tránh cho cháu tất cả mọi đau đớn, mọi buồn phiền. Bà lúc nào cũng tự bảo rằng: “Đứa bé này sẽ là niềm an ủi của mình đây”, nhưng trái lại cháu cứ làm cho bà chết vì lo ngại được. Bà có thể hy sinh tất cả những năm tháng còn lại của bà để cầu cho cháu trở lại ngoan ngoãn và biết vâng lời như trước đây. Cháu có còn nhớ không, Ferruccio à, những lúc bà dắt cháu đi dạo chơi, cháu nhét đầy sỏi và cỏ vào các túi bà, rồi cháu ngủ bà phải cứ thế bế cháu về nhà. Thuở ấy cháu thương bà cháu lắm. Giờ bà bị liệt, bà cần có lòng thương yêu của cháu như khí trời mà bà thở, cháu hãy nghĩ rằng bà chẳng có gì, chẳng có gì hết ở đời này làm cho bà vui, bà quan tâm nữa, cái thân của bà đã gần đất xa trời lắm rồi cháu ạ”.

Xúc động, Ferruccio sắp lao đến với bà thì hình như nghe có tiếng động nhẹ, một tiếng răng rắc từ phòng bên trông ra vườn rau. Nhưng cậu cũng không thể biết đó là tiếng cái cửa chớp bị gió lay hay là tiếng gì khác.

Cậu chú ý nghe.

Mưa càng nặng hạt.

Tiếng động lại càng rõ. Lần này thì bà cũng nghe thấy.

Hoảng hốt bà hỏi: “Cái gì thế?”

Cậu trả lời: “Mưa đấy”.

Bà vừa lau nước mắt vừa nói: “Ferruccio, cháu có hứa với bà là cháu sẽ ngoan và không làm cho nonna tội nghiệp của cháu phải khóc nữa không?”

Lại một tiếng răng rắc nữa ngắt lời bà. Bà tái mặt kêu lên: “Nhưng không phải tiếng mưa… ra xem cái gì cháu”.

Rồi bà lại nói thêm ngay: “Thôi đừng, cứ ở đây” và bà nắm lấy bàn tay Ferruccio trong lòng tay bà.

Hai bà cháu không dám thở nữa. Chỉ nghe thấy tiếng nước chảy.

Bỗng họ giật mình, vì hình như eả hai bà cháu đều nghe có tiếng chân bước ở phòng bên cạnh.

Ferruccio hổn hển hỏi: “Ai đấy?”

Chẳng ai trả lời cả.

Lạnh toát xương sống, cậu bé hỏi lại: “Ai đấy?”

Nhưng vừa mới nói thì bà với cháu bỗng hét lên một tiếng kinh hồn.

Hai người đàn ông vừa nhảy vào trong phòng.

Một người tóm lấy cậu bé, lấy tay bịt miệng, người kia chẹn lấy cổ họng bà cụ.

Người thứ nhất nói: “Muốn sống thì câm họng”; Người thứ hai nói: “Im”, và giơ dao lên dọa. Cả hai đều đeo mặt nạ đen. Hồi lâu chỉ nghe thấy tiếng thở hổn hển và tiếng mưa rơi mỗi lúc một nặng hạt.

Bà cụ rên rỉ, đôi mắt mở to như muốn văng ra khỏi đầu.

Người giữ cậu bé nói nhỏ vào tai cậu: “Bố mày cất tiền ở đâu?”

Cậu bé trả lời lí nhí, hai hàm răng đánh vào nhau lập cập: “Ở kia… trong tủ ấy”.

Nó bảo: “Sang đây với tao”.

Nó lôi Ferruccio sang chiếc phòng nhỏ, chẹn lấy họng cậu. Trên sàn có một cái đèn đã che kín hết ánh sáng. Nó hỏi: “Tủ đâu?”

Cậu bé lấy tay chỉ.

Thế là để cho chắc chắn, nó dúi cậu bé bắt quỳ xuống trước mặt tủ, lấy hai chân kẹp cậu lại, rút dao găm ra cắn vào hai hàm răng, sẵn sàng cắt cổ nếu cậu kêu lên. Một tay nó cầm đèn, tay kia lấy trong túi ra một cái kìm, thuồn vào lỗ khóa. Nó ấn mạnh, bẻ khóa ra, mở hai cánh cửa tủ, xáo lung tung mọi thứ lên, nhét đầy túi, đóng tủ lại, rồi lại mở ra, lục lọi lần nữa; xong nó lại tóm lấy cuống họng cậu bé đẩy sang phòng ngoài; ở đấy tên trộm kia đang giữ bà cụ gần ngất đi, đầu ngoẹo một bên, mồm há hốc.

Tên này hỏi nhỏ: “Có thấy không?”

Tên kia trả lời: “Có” và nói thêm: “Cậu ra đi…”

Tên giữ bà cụ bỏ chạy ra cổng vườn rau xem có ai đi đến không, rồi từ phòng bên gọi sang, giọng cao như một tiếng còi: “Chạy đi”.

Tên kia còn đứng lại giữ Ferruccio, giơ dao dọa cậu bé và bà cụ đang mở trừng trừng đôi mắt; nó nói: “Kêu lên một tiếng thì tao quay lại giết chết ngay”.

Qua hai lỗ mắt của chiếc mặt nạ nó nhìn chằm chằm dọa hai bà cháu.

Đúng lúc ấy, người ta nghe xa xa trên đường cái có tiếng người vừa đi đến vừa hát.

Tên trộm liền quay đầu sang phía cửa và vội vàng làm rơi chiếc mặt nạ của nó xuống.

Bà cụ bất giác kêu lên: “Mozzoni!”

Tên trộm bị nhận mặt, gầm lên: “Con mẹ chết tiệt, mày phải ngoẻo thôi!”

Thế là nó quay lại, giơ dao lên, bà cụ sợ quá, ngất đi.

Tên giết người đâm một nhát.

Nhưng nhanh như chớp, hét lên một tiếng tuyệt vọng, Ferruccio lao tới bà mình, lấy thân mình che cho bà. Hung thủ bỏ chạy, vấp phải cái bàn, đánh đổ và làm tắt cái đèn. Cậu bé tụt dần xuống đất, thụp quỳ xuống, cứ thế vòng hai tay ôm lấy tấm thân bà cụ, đầu áp vào lòng bà.

Mấy khắc trôi qua… Gian phòng tối như mực. Tiếng hát của mấy người nông dân mất hút nơi xa xa. Bà cụ tỉnh lại.

Cụ gọi, giọng nghe còn mơ hồ: “Ferruccio!”

Cậu bé thưa: “Nonna ạ!”

Bà cụ cố nói một câu, nhưng vẫn sợ, líu cả lưỡi lại.

Cụ ngồi im lặng một hồi, run như cầy sấy. Rồi mới nói lên được: “Chúng nó đi hết rồi à?”

– Hết rồi.

– Chúng nó không giết bà… – bà cụ lẩm bẩm như nghẹn lời.

– Không ạ… bà không việc gì, nonna thân yêu ạ, – Ferruccio nói giọng yếu ớt. – chúng nó lấy tiền. Nhưng bố… đã đem đi gần hết.

Bà cụ thở ra.

Ferruccio vẫn quỳ và ôm lấy bà, cậu nói: “Bà ạ, bà thân yêu ạ, bà thương cháu chứ, phải không bà?”

– Ferruccio! Cháu tội nghiệp của bà! – Bà cụ trả lời, tay sờ đầu cháu, – sợ lắm phải không cháu? Thắp đèn lên… Thôi cứ để vậy, bà còn sợ lắm…

– Thưa bà, – cậu bé lại nói, – cháu lúc nào cũng làm bà phiền lòng…

– Không, Ferruccio à, không, đừng nói thế, đừng nghĩ đến việc ấy nữa, bà đã quên hết rồi, bà thương cháu lắm.

– Cháu luôn luôn làm bà lo phiền, – cậu bé nói tiếp, giọng run run và phải cố gắng lắm, – nhưng… cháu bao giờ cũng thương bà, bà có tha lỗi cho cháu không…? Bà tha lỗi cho cháu, nonna ạ.

– Ừ bà tha lỗi cho cháu, cháu ạ, bà hết lòng tha lỗi cho cháu. Cháu có thể không tin hay sao! Đứng lên cháu yêu dấu của bà. Bà không mắng cháu nữa đâu, cháu ngoan, cháu tốt bụng lắm! Thấp đèn lên. Can đảm lên, đứng dậy, Ferruccio…

– Cám ơn bà, – cậu bé nói giọng càng yếu… – giờ thì cháu yên tâm lắm. Nonna sẽ nhớ cháu mãi, phải không ạ? Bà sẽ nhớ cháu mãi mãi… nhớ Ferruccio của bà mãi…

– Ferruccio của bà! – Bà cụ kêu lên, ngạc nhiên và kinh hãi, để tay lên vai cậu và cúi đầu như để nhìn rõ vào mặt cậu.

– Bà nhớ đến cháu, – cậu bé còn lẩm bẩm nói thêm, giọng nói tựa hồ một hơi thở nhẹ. – Bà hôn mẹ cháu… bố cháu… em Luigina… hộ cháu… Vĩnh biệt… nonna…

– Ferruccio! Ferruccio thân yêu của bà! Cháu làm sao thế? – Bà cụ kêu lên, lo ngại xoa đầu cháu đã nặng trĩu trên hai đầu gối mình. Rồi bỗng bà đem hết sức tàn thét lên, tuyệt vọng: “Ferruccio! Ferruccio! Cháu ôi! Cục cưng của bà ơi! Ôi cứu với! Cứu với!”

Nhưng Ferruccio không trả lời. Cậu bé anh hùng đã cứu mẹ của mẹ mình thoát chết, bị một nhát dao đâm vào lưng, vừa trút hơi thở cuối cùng, sung sướng vì đã cứu sống nonna của mình.

Cậu bé thợ nề ốm nặng

Thứ ba, 28

Cậu bé thợ nề tội nghiệp đang ốm nặng; thầy giáo bảo chúng tôi đến thăm và ba đứa chúng tôi: Garrone, Derossi và tôi hẹn nhau cùng đến. Chúng tôi có mời cậu Nobis kiêu ngạo để xem cậu ta trả lời thế nào. Cậu ấy chỉ trả lời cộc lốc: “Không”. Votini cũng xin vắng mặt, có lẽ sợ đến đấy dây phải vôi bẩn mất áo đẹp.

Tan học, khoảng bốn giờ chiều, chúng tôi đến nhà bác thợ nề. Trời đổ mưa rào. Garrone đứng lại ngoài phố, mồm đầy bánh mì bảo chúng tôi: “Ta sẽ mua quà gì cho cậu ấy bây giờ?” mồm nói, tay cho vào túi lắc hai đồng xu kêu leng keng.

Chúng tôi góp nhau mỗi người hai xu và mua ba quả cam to. Vào nhà, chúng tôi trèo lên gác xép. Đến trước cửa phòng, Derossi bỏ huy chương ra đút vào túi. Tôi hỏi tại sao mà làm như vậy. Cậu đáp: “Chẳng biết nữa, để khỏi có vẻ… có vẻ không đeo thì phải hơn”.

Chúng tôi gõ cửa, bố cậu ra mở, người cao lớn như ông khổng lồ, vẻ mặt đầy lo âu.

“Các cậu là ai?” bác ấy hỏi. Garrone đáp: “Chúng cháu học cùng lớp với Antonio, chúng cháu mang cam lại cho bạn ấy”.

– Ôi, thằng Tonino tội nghiệp của tôi, – bác vừa kêu lên vừa lắc đầu. – Tôi e nó không còn có thể ăn được cam của các cậu nữa.

Và bác đưa tay áo lên lau nước mắt. Bác để chúng tôi đi trước, bước vào một cái phòng trần rất thấp, ở đấy cậu bé thợ nề đang ngủ trên một cái giường sắt. Mẹ cậu ấy quỳ bên giường, trán gục vào hai bàn tay; nghe chúng tôi vào, cũng chỉ khẽ ngoảnh lại, nhìn chúng tôi một tí thôi.

Trên tường treo mấy cái bàn chải to, một cái cuốc chim và một cái rây để rây vôi. Cái áo dài của bác thợ nề, trắng những vôi, đắp lên hai chân người ốm.

Cậu bé tội nghiệp, gầy gò, xanh xao, mũi dài ra, thở một cách khó nhọc. Cậu Tonino thân mến ấy, cậu bạn nhỏ của tôi, đáng yêu như thế, vui tính như thế, dù có phải hy sinh cái gì để lại được trông thấy cậu làm cái trò sứt môi tôi cũng không từ, tội nghiệp, cậu bé thợ nề!

Garrone để một quả cam lên gối, cạnh má cậu. Mùi thơm làm cậu thức giấc. Cậu cầm lấy quả cam, nhưng lại để nó rơi xuống, và nhìn Garrone không chớp.

“Mình đây, Garrone đây, có nhận ra mình không?” Garrone nói.

Một nụ cười thoáng qua đôi môi người ốm, cậu cố lấy sức chìa một bàn tay ra, Garrone nắm lấy giữa hai bàn tay mình, cúi xuống hôn và nói:

“Antonio này, can đảm lên, can đảm lên! Cậu sẽ khỏi ngay thôi mà; cậu sẽ lại đi học và thầy Perboni sẽ xếp cậu ngồi cạnh mình. Cậu bằng lòng chứ?”

Cậu bé thợ nề không trả lời.

Mẹ cậu khóc nức nở:

“Ôi! Tonino tội nghiệp của mẹ, con tốt thế, con ngoan thế, con không sống được nữa hay sao?”

– Thôi thôi, – bác thợ nề kêu lên, tuyệt vọng, – thôi thôi, bà làm tôi điên đầu lên mất.

Rồi bác nói với chúng tôi: “Cám ơn, cám ơn các cháu. Thôi các cháu về đi nhé, ở đây buồn lắm”.

Cậu bé lại nhắm mắt lại, trông như chết.

– Cháu có thể giúp bác được việc gì không ạ? – Garrone hỏi.

– Không,. cám ơn, cháu thân mến ạ! – Bác thợ nề trả lời.

Nói xong, bác tiễn chúng tôi ra và đóng cửa lại. Nhưng xuống chưa được một nửa cầu thang, chúng tôi đã nghe tiếng gọi: “Garrone, cháu Garrone”.

Cả ba chúng tôi vội vàng chạy lên.

– Garrone! – Bác thợ nề kêu lên, mặt mày rạng rỡ, – Tonino vừa gọi cháu đấy! Đã ba hôm liền, nó không nói gì cả, thế mà nó vừa gọi cháu hai lần. Ôi! Mong sao đó là một dấu hiệu tốt lành!

– Các cậu về nhé, – Garrone nói với chúng tôi, – mình ở lại đây.

Rồi cậu ấy theo bác thợ nề vào nhà.

Derossi không cầm được nước mắt. Tôi hỏi: “Cậu thương Tonino à?… Đã nói được rồi, thế là cậu ấy sẽ khỏi!”

– Mình cũng tin như vậy, – Derossi trả lời, nhưng mình không nghĩ đến cậu ấy… mình nghĩ đến Garrone kia. Thật Garrone tốt quá, có một tâm hồn tốt đẹp quá.

Prev
Next

Có thể bạn muốn đọc thêm

tra-hoa-nu-alexandre-dumas
Trà Hoa Nữ – Alexandre Dumas
November 20, 2023
giet-con-chim-nhai-harper-lee
Giết Con Chim Nhại – Harper Lee
February 28, 2023
den-khong-hat-bong-watanabe-dzunichi
Đèn Không Hắt Bóng – Watanabe Dzunichi
June 10, 2023
suoi-nguon-ayn-rand
Suối Nguồn – Ayn Rand
November 23, 2022

ThuVienOnline © 2026