Những Tấm Lòng Cao Cả - Edmondo De Amicis - Tháng tư
Mùa xuân
Thứ bảy, 1
Mồng một tháng tư! Thế là chúng tôi chỉ còn học có ba tháng nữa mà thôi! Sáng hôm nay là một trong những buổi sáng đẹp trời nhất trong cả năm. Tôi rất vui vì Coretti đã rủ tôi ngày kia cùng đi dạo chơi; rồi mẹ lại hứa sẽ dẫn đi thăm một nhà trẻ của trường Valdocco… Và điều làm tôi vui nhất tất cả lại được biết tin cậu bé thợ nề đã đỡ nhiều. Chiều hôm qua, thầy Perboni nói với bố khi đi qua nhà: “Cậu ấy đã khá, khá nhiều rồi”.
Buổi sáng mùa xuân đẹp thật!
Qua các cửa kính của lớp học, thấy bầu trời xanh, cây cối trong vườn chồi non mơn mởn; và cửa sổ các nhà đều mở rộng, xếp những chậu hoa, lá đã xanh rờn.
Thầy giáo không cười, vì thầy không cười bao giờ; nhưng trông thầy có vẻ vui đến nỗi gần như không còn thấy cái vết nhăn sâu trũng chạy dài qua trán thầy nữa. Thầy dạy cách giải một bài toán trên bảng đá, và người ta thấy thầy hít một cách khoan khoái cái không khí thơm mùi đất ẩm và mùi lá non đang tràn qua các cửa sổ vào lớp từng đợt. Tiết trời đẹp như thế này làm cho người ta đã nghĩ đến những cuộc dạo chơi ở đồng quê.
Trong khi thầy giảng, người ta nghe tiếng một người thợ rèn đập đe ở một phố lân cận, và từ căn nhà trước mặt vọng qua tiếng hát của một bà mẹ ru con. Xa xa, ở trại Cernaia vang lên tiếng kèn. Mọi người đều như vui vẻ và hài lòng, kể cả Stardi, cái cậu Stardi thô lậu như con thú chưa thuần ấy. Có một lúc bác thợ rèn đập mạnh hơn, và bà mẹ hát to hơn. Thầy giáo bỗng ngừng giảng và lắng tai nghe. Rồi đưa mắt nhìn ra cửa sổ, thầy nói chậm rãi:
“Bầu trời tươi mát, một bà mẹ đang hát, một người thợ đang làm việc, học trò đang học bài… thật là những sự tốt đẹp đang hài hòa với nhau…”
Tan học ra, chúng tôi nhận thấy các học trò khác cũng đều vui như chúng tôi. Tất cả họ đi thành hàng, chân đánh nhịp và hát như là ngày mai đã được nghỉ hè rồi. Các cô giáo mom cười vui vẻ. Bố mẹ học sinh chuyện trò với nhau cùng tươi cười và bà mẹ Crossi, bác bán hàng rau quả, mang theo cái thúng đầy hoa đồng thảo[47] làm thơm nức cả phòng chờ.
Tôi chưa bao giờ thấy có nhiều nụ cười vui vẻ như buổi sáng mai này, bà mẹ hiền từ của tôi cũng đến đón con về. Tôi bước đến với mẹ và nói: “Mẹ à, con thấy rất vui. Không biết tại sao sáng nay con lại thấy vui lòng thế, hở mẹ?” Mẹ mỉm cười, trả lời tôi rằng bởi vì hôm nay trời đẹp và lương tâm của tôi không có gì phải tự trách.
Vườn trẻ
Thứ ba, 4
Như đã hứa, hôm qua, sau bữa ăn sáng, mẹ dẫn tôi đến vườn trẻ để gửi đứa em gái của Precossi cho bà hiệu trưởng. Tôi chưa hề thấy vườn trẻ bao giờ, và vườn trẻ này làm cho tôi thích vô cùng.
Ở đấy có hai trăm em bé gái và trai, cạnh chúng thì những chú nhóc lớp một của chúng tôi đã là những người lớn rồi.
Chúng tôi đến vừa lúc các em kéo vào nhà ăn. Người ta thấy hai cái bàn rất dài, mặt bàn có khoét những lỗ tròn, trong mỗi lỗ đặt một cái bát màu nâu, đầy cháo và đậu, bên cạnh để một cái cùi dìa bằng thiếc.
Đi vào, một vài em vấp ngã và cứ nằm sóng xoài ra đấy cho đến khi có một cô giáo đến đỡ dậy.
Tuy vậy, nhờ đẩy và hò hét: “Tiến lên, tiến lên đi!” rồi cũng xếp được tất cả các em vào chỗ của chúng. Thế là các em bắt đầu ăn. Cảnh tượng thật là buồn cười! Một em ăn với hai cái thìa, một em lại ăn bốc; nhiều em cầm từng quả đậu nhét vào túi, trái lại những em khác thì bọc chặt vào chéo áo tạp đề, rồi để tay lên nghiền cho nát ra. Có những em mải nhìn ruồi bay quên cả ăn; nhiều em khác ho sặc cháo ra tung tóe chung quanh như một cơn mưa hạt gạo; người ta ngỡ đây là một cái chuồng gà, thế nhưng trông thật đáng yêu, hai dãy khuôn mặt hồng hào, nhất là các em bé gái tóc buộc túm trên đỉnh đầu bằng những nơ màu xanh, đỏ, lục.
Một cô giáo hỏi một tốp em bé gái: “Các em có biết lúa mọc ở đâu không?”
Thế là cả tốp há những cái mồm đầy cả cháo và trả lời như hát: “Lúa-mọc-trong-nước”. Tôi nhớ lại thì hình như đó là một câu trong cuốn dạy đánh vần mà người ta đã tập cho các em.
Cô giáo ra lệnh: “Giơ tay lên”.
Thế là tất cả những cánh tay bé nhỏ xinh xắn ấy giơ lên, những cánh tay mà mấy tháng trước đây còn bọc trong tấm vải lót, với những bàn tay tí xíu trông như những con bướm trắng và hồng.
Sau đó, các em ra chơi; trước khi ra, mỗi em cầm lấy một chiếc làn nhỏ của mình treo ở tường, trong đựng sẵn bữa trưa. Chúng ra vườn và tản ra khắp nơi, đoạn lấy thức ăn ra: bánh mì, những quả mận, một miếng phô-ma nhỏ, một quả trứng luộc, một nắm đỗ luộc, một cánh gà giò.
Mẹ vào trong vườn để vuốt ve em này em khác. Nhiều em xúm quanh mẹ, vây lấy mẹ, ngẩng mặt lên để được hôn. Một em đưa biếu mẹ một phần tư quả cam đã cắn dở, em khác một miếng vỏ bánh mì, một em bé gái cho mẹ một ngọn lá.
Trong lúc đó thì nơi này, nơi khác xảy ra khá nhiều tai nạn làm cho các cô giáo phải chạy vội đến. Có những bé gái khóc và không tháo được cái nút ở chiếc khăn tay ra, có những em tranh nhau mấy hạt táo, cấu nhau và hét ầm lên. Một em bé trai, vấp một chiếc ghế dài lật ngửa rồi ngã, cứ khóc thổn thức chứ không làm sao đứng lên được.
Trước khi ra về mẹ ôm ba bốn em vào hai cánh tay, thế là từ tứ phía các em kéo nhau đến để được bế, dù mặt mũi bê bết những lòng đỏ trứng hoặc nhoe nhoét nước cam; các em tranh nhau, em thì nắm lấy các ngón tay mẹ để xem những chiếc nhẫn, em thì kéo sợi dây chuyền để xem chiếc đồng hồ, những em khác thì muốn tóm lấy cái bím tóc của mẹ.
“Bà cẩn thận! Chúng làm bẩn hết áo”, mấy cô giáo bảo mẹ như vậy.
Nhưng mẹ chẳng để ý gì đến điều ấy, cứ tiếp tục vuốt ve các em, và tất cả đều muốn đến với mẹ, dang tay về phía mẹ, tranh nhau để chạy đến trước, và đều hét lên “Chào bà, chào bà!”. Nhưng rồi chúng tôi cũng thoát ra được khỏi khu vườn, và các em đứng bên trong dán mũi vào lưới hàng rào để nhìn chúng tôi đi qua. Các em thò những cánh tay bé xíu ra ngoài vẫy mẹ, lại biếu mẹ những vỏ bánh mì, những miếng phô-ma, những mẩu táo, tất cả cùng kêu to: “Chào bác! Chào bác! Mai bác đến nhá!”
Còn mẹ thì đi, nhưng vẫn đưa tay ra vuốt những bàn tay, hàng trăm bàn tay bé nhỏ đang về phía mẹ như một hàng rào hoa hồng tươi thắm, sinh động; rồi bước ra phố, áo đầy những mẩu thức ăn, những vết bẩn, đôi mắt nhòa lệ sung sướng như đi dự một ngày hội về, và người ta còn nghe từ trong vườn trẻ vọng ra như tiếng chim ríu rít: “Chào bác! Chào bác! Lần sau bác lại đến, bác ạ!”
Buổi thể dục
Thứ tư, 5
Tiết trời vẫn đẹp. Buổi học thể dục của chúng tôi được chuyển từ trong nhà ra ngoài vườn để tập với dụng cụ.
Hôm qua Garrone ở trong văn phòng thầy hiệu trưởng, lúc mẹ cậu Nelli đến xin cho con được miễn những bài tập thể dục mới. Bà ấy để tay lên đầu con, nói một cách khó nhọc với thầy hiệu trưởng: “Cháu không thể tập được…”
Nelli rất buồn tủi vì bị gạt ra, không được tập đu dây, tự thấy tủi nhục.
“Rồi mẹ sẽ thấy, cậu ta nói, – con sẽ tập được như các bạn”.
Bà mẹ lặng lẽ nhìn con, thương yêu và dịu dàng, rồi ngập ngừng bà nói: “Tôi chỉ sợ các bạn…”. Bà muốn nói: “chế nó”. .
Nelli trả lời: “Việc đó không sợ, đã có Garrone. Chỉ cần Garrone không cười con là được rồi…”
Thế là người ta để cho cậu được tập thể dục. Trước tiên thầy giáo dẫn chúng tôi đến leo cột – cái cột thẳng đứng, rất cao; phải leo tít lên đến trên cùng, rồi đứng thẳng người trên chiếc xà ngang.
Derossi và Coretti leo như hai con khỉ.
Cậu bé Precossi cũng leo rất giỏi, dù vướng cái áo dài đến đầu gối. Khi cậu ta leo, anh em trêu cho cậu ta cười bằng cách nhại lại câu nói đầu lưỡi của cậu: “Xin lỗi, xin lỗi…”
Stardi thì thở hồng hộc, mặt đỏ như con gà tây, nghiến răng như một con chó đang gầm gừ, quyết leo lên đến đích dù sau có phải ở luôn lại đó cũng đành. Và cậu ta đến đích thật. Còn Nobis khi đến lượt cậu leo lên tới xà ngang, thì lấy dáng đứng ở đấy trông rất oai vệ. Votini bị tụt hai lần, dù đã thắng một bộ quần áo mới, có sọc xanh rất đẹp, vừa sắm cốt để dùng tập thể dục. Muốn leo cho dễ, tất cả chúng tôi đều xoa tay bằng bột nhựa thông. Người ta biết rằng Garoffi, nhà kinh doanh ấy, cung cấp cho tất cả mọi người với giá mỗi gói một xu, và chắc là thế nào cũng ăn lãi mỗi gói một ít.
Đến lượt Garrone. Cậu ta vừa leo, vừa nhá bánh mì, xem dễ như không; và tôi tin rằng cậu ta còn có thể vác thêm một người nữa trên vai là khác, vì cậu ta khỏe thế cơ mà, khác gì một con bò mộng non.
Sau Garrone đến lượt Nelli. Vừa thấy cậu ôm cái cột với hai cánh tay dài và gầy, là mọi người đã cười và thì thầm.
Nhưng Garrone, hai tay khoanh lại trước ngực, đảo mắt nhìn quanh, cái nhìn hứa hẹn rõ ràng những quả đấm vào đầu; và thế là mọi người bỗng im bặt như có phép thần thông. Nelli bắt đầu leo một cách rất chật vật. Cậu bé đáng thương mặt đỏ như lửa, mồ hôi đẫm cả trán.
Thầy giáo bảo cậu: “Thôi xuống đi”.
Nhưng cậu cứ cố, cố sức leo… Tôi cứ thấp thỏm lo sợ cậu tuột tay rơi huỵch xuống đất bất tỉnh nhân sự. Tôi nghĩ rằng, giá tôi đang ở vào chỗ cậu ta mà mẹ tôi trông thấy thì mẹ sẽ đau đớn như thế nào! Và nghĩ như vậy tôi lại càng thêm thương người bạn tội nghiệp của tôi. Tôi có thể hy sinh không biết cái gì đây để cho cậu có thể leo lên đến tận trên cao được; giá tôi có thể lấy tay đẩy cậu ta lên, mà không ai trông thấy!… Trong lúc đó thì Derossi, Coretti và Garrone luôn mồm khuyến khích: “Lên đi! Lên nữa đi! Nelli! Can đảm lên chút nữa thôi…”
Nelli cố hết sức bình sinh rướn người lên một lần nữa, khẽ rên một tiếng, và chỉ còn cách cái xà ngang có hai ngón tay nữa mà thôi.
“Hoan hô! – Mọi người đứng dưới thét lên, cố lên, tí nữa thôi…”
Và thế là Nelli đã nắm chặt được cái xà.
Mọi người vỗ tay.
“Hoan hô thầy giáo nói, – thế là đủ rồi, con xuống đi!”
Nelli không nghe, cậu muốn đứng lên cái xà như những người khác. Sau vài cố gắng nữa, cậu đặt được hai khuỷu tay lên đấy, rồi hai đầu gối, sau cùng là hai bàn chân; thế là cậu đứng thẳng người lên đấy, thở dốc, nhưng rạng rỡ vẻ chiến thắng, nhìn xuống chúng tôi.
Chúng tôi lại vỗ tay hoan hô cậu lần nữa. Bấy giờ cậu đưa mắt nhìn ra đường. Tôi ngoảnh về phía ấy và, qua hàng cây trồng để che hàng rào sắt của khu vườn, tôi thấy mẹ cậu đang đi đi lại lại trên vỉa hè, nhưng không dám nhìn cậu.
Nelli tụt xuống và mọi người đón cậu, vui như Tết. Cậu vui hẳn lên, linh hoạt lên, đôi mắt long lanh, tưởng đã thành một người khác.
Sau buổi học, mẹ cậu đến đón, ôm hôn cậu và hỏi vẻ hơi lo ngại: “Thế nào, cậu bé tội nghiệp của mẹ, con tập thế nào?”
Các bạn liền trả lời thay cậu: “Tốt lắm, bác ạ! Bạn leo giỏi lắm, giỏi chẳng khác gì chúng cháu cả; bạn ấy khỏe, bác ạ! Bạn ấy nhanh lắm, bạn ấy cũng như mọi người…”
Tội nghiệp, bà mẹ vui sướng biết ngần nào. Bà muốn cảm ơn chúng tôi, lắp bắp mấy lời, bắt tay ba bốn đứa chúng tôi, vuốt ve Garrone, rồi dẫn con về. Và chúng tôi thấy hai mẹ con bước nhanh, vừa nói chuyện vừa làm dáng điệu, vẻ hài lòng như chúng tôi chưa bao giờ được trông thấy cả.
Thầy giáo của bố
Thứ ba, 11
Ngày hôm kia lúc sắp ăn chiều, đọc tờ báo, bố bỗng kêu lên một tiếng ngạc nhiên và nói với chúng tôi:
“Thế mà bố cứ tưởng thầy ấy đã mất từ hai mươi năm nay, thầy giáo sơ đẳng đầu tiên của bố ấy mà. Thì ra thầy Vincenzo Crosetti đáng thương vẫn còn sống! Năm nay thầy đã tám mươi bốn tuổi rồi! Bố vừa đọc thấy tin bộ tặng thầy huân chương Biểu dương Công trạng vì sáu mươi năm trong ngành giáo dục của thầy. Sáu mươi năm! Con nghe rõ chứ? Thầy chỉ mới về hưu cách đây có hai năm thôi. Nhà thầy ở cách Torino một giờ đi bằng xe lửa, tại Condove, quê của bà làm vườn cũ của ta ở Chieri ấy.
Bố nói thêm: “Enrico à, ta sẽ đi thăm thầy”. Và suốt cả buổi tối, bố chỉ nói toàn chuyện người thầy giáo của mình. Cái tên của người thầy giáo đầu tiên đã gợi cho bố nhớ lại hàng nghìn kỷ niệm của thời thơ ấu, của những bạn ban đầu, của bà mẹ đã mất.
“Thầy Crosetti thân yêu ấy, – bố nói, – giờ đây bố như đang thấy thầy ở trước mắt. Đã bốn mươi năm rồi từ ngày bố học với thầy. Thầy vóc người nhỏ nhắn, bấy giờ lưng cũng đã hơi còng, đôi mắt nhỏ nhắn, không có râu, mặt nghiêm nghị, nhưng tác phong thầy rất lễ độ; thầy thương học trò như cha thương con và không bỏ qua một lỗi lầm nào của học trò mà không uốn nắn. Từ một người nông dân thầy đã thành ông giáo, nhờ cố gắng học tập và chịu đựng mọỉ sự thiếu thốn. Bà nội con rất mến thầy, ông nội xem thầy như bạn thân. Không rõ từ Torino này thầy chuyển về Condove, rồi ở luôn đấy hay như thế nào?… Thầy sẽ không nhận ra bố, chắc thế, nhưng có hề gì, bố thì sẽ nhận ra thầy ngay!… Bốn mươi bốn năm rồi… Bốn mươi bốn năm, Enrico à! Mai ta đi thăm thầy”.
Thế là hôm qua, lúc chín giờ sáng, chúng tôi ra ga Susa. Tôi rất muốn được Garrone cùng đi, nhưng không thể được, vì mẹ cậu đang ốm.
Thật là một ngày xuân đẹp. Tàu chạy qua những cánh đồng xanh um và những hàng giậu trồng hoa, tỏa hương thơm ngát. Bố có vẻ vui lòng lắm: chốc chốc lại quàng tay qua cổ tôi, và vừa ngắm cảnh thôn quê vừa chuyện trò với tôi, thân mật như với một người bạn:
“Tội nghiệp thầy giáo, – bố nói, – sau ông nội, thầy là người thương yêu bố nhất, và đã đem cho bố nhiều điều tốt đẹp nhất. Bố không bao giờ quên được những lời khuyên bảo bổ ích của thầy, và cả những lời trách mắng rất nghiêm khắc của thầy làm cho bố khi về đến nhà rồi mà cổ vẫn như còn nghẹn.
Bố vẫn như thấy thầy đang bước vào lớp học, dựng cái gậy vào một góc tường, treo cái áo rét lên mắc áo, lúc nào cũng vẫn một dáng điệu ấy. Thầy bao giờ cũng bình tĩnh, rất có lương tâm, đầy thiện chí và rất chăm chỉ, như ngày nào thầy cũng mới lên lớp lần đầu tiên cả. Bố vẫn nhớ những lúc thầy gọi bố: “Bottini này, Bottini”. Hai ngón tay thầy cầm quản bút…”
Xuống xe ở Condove là chúng tôi tìm ngay đến nhà bà làm vườn cũ, bà ta có một cửa hiệu nhỏ trong một ngõ cụt.
Chúng tôi thấy bà giữa đám con cái, bà tiếp chúng tôi rất niềm nở, cho chúng tôi biết tin chồng đi làm ở Hy Lạp từ ba năm nay và cũng sắp về, tin đứa con gái vừa điếc vừa câm, đang học trường dạy những người câm điếc ở Torino. Rồi bà bảo cho chúng tôi địa chỉ của thầy Crosetti mà cả làng đây ai cũng biết.
Chúng tôi ra khỏi vùng này, và theo một con đường vắt qua các ngọn đồi, hai bên toàn những hàng giậu nở hoa.
Bố không nói gì nữa, bị thu hút vào những kỷ niệm xưa; thỉnh thoảng mỉm cười, hoặc lắc đầu buồn bã.
Bỗng bố đứng lại, nói: “Kìa, thầy kia rồi; cam đoan là đúng như thế”.
Một cụ già, vóc người nhỏ nhắn, râu bạc, đội cái mũ rộng vành, tay chống gậy, đang đi xuống ngọn đồi trước mặt chúng tôi. Dáng đi của cụ ngập ngừng, hai tay run run.
“Đúng là thầy!” bố nhắc lại và rảo bước. Đến gần cụ già chúng tôi dừng lại; cụ cũng đứng lại và nhìn bố.
Nét mặt cụ vẫn tươi và đôi mắt vẫn sáng.
“Thưa cụ, có phải là con đang được hân hạnh hầu chuyện cụ giáo Vincenzo Crosetti đây không ạ?” bố vừa nói vừa bỏ mũ ra.
Cụ già chào lại.
“Chính tôi đây ạ” – cụ trả lời, giọng hơi run, nhưng nghe sang sảng.
– Thế thì, – bố nói tiếp và nắm lấy một bàn tay của cụ, – xin thầy cho phép một học trò cũ của thầy được bắt tay thầy. Con từ Torino đến đây hầu thăm thầy.
– Thật hân hạnh cho tôi quá… Tôi không biết… Ông học với tôi hồi nào nhỉ? Xin lỗi, ông vui lòng cho biết tên.
Bố xưng tên và nói rành mạch ngày bố vào trường, lại nói thêm: “Có thể thầy không nhớ con, đó là đương nhiên; nhưng con thì nhận ra thầy ngay!”
Cụ giáo cúi đầu suy nghĩ, mồm lẩm bẩm tên bố hai, ba lần; còn bố thì mỉm cười nhìn thầy, đôi mắt xúc động.
Bỗng cụ giáo nhớ ra, ngửng đầu lên, rồi nói chậm rãi: “Alberto Bottini, con kỹ sư Bottini, ở quảng trường Consolata?”
– Đúng thế ạ! – Bố nói và đưa cả hai tay về phía cụ.
– Thế thì, cho phép tôi, thưa ông… – và bước tới cụ ôm hôn bố, cái đầu bạc của cụ Crosetti chỉ mới ngang vai người học trò thôi, và bố đưa môi hôn vào vầng trán tôn kính của cụ “Giờ, xin mời quá bước lại nhà”, cụ giáo nói.
Và không nói gì thêm, cụ quay trở về bằng con đường cũ. Mấy phút sau, chúng tôi đến một mảnh vườn con, cuối vườn là một ngôi nhà nhỏ có hai cửa ra vào, một cái quét vôi trắng chung quanh. Cụ giáo mở cửa ấy, đưa chúng tôi vào một căn phòng, bốn bức tường quét vôi trắng. Ở một góc kê một tấm phản, có một cái chăn đắp chân kẻ ô xanh trắng; xa một chút là cái bàn giấy, trên mặt có cái giá sách nhỏ, chung quanh là bốn chiếc ghế tựa. Và một bản đồ đã cũ đóng đinh vào tường: tất cả đồ đạc trong phòng chỉ có thế…
Chúng tôi ngồi xuống. Bố và cụ giáo nhìn nhau một lúc yên lặng.
Rồi cụ giáo nói to, mắt nhìn nền nhà lát gạch mà ánh mặt trời chiếu sáng nom như một bàn cờ: “Anh Bottini! Ồ, tôi nhớ rõ lắm, bà thân sinh ra anh là một phụ nữ rất tốt! Năm thứ nhất anh ngồi ở chiếc băng trên cùng, phía bên trái cạnh cửa sổ. Nào anh xem, tôi vẫn còn nhớ đấy chứ! Giờ đây tôi vẫn như còn nhìn thấy cái đầu tóc xoăn xoăn của anh…”
Cụ ngừng lại, suy nghĩ, rồi nói tiếp:
“Hồi đó, anh là một cậu con trai rất linh hoạt, phải không nào? Đến năm thứ hai, anh bị bệnh bạch hầu, và bà mẹ đau khổ của anh đem anh trở lại trường sau khi khỏi bệnh, gầy, trùm khăn kín mít. Từ bấy đến nay đã bốn mươi năm rồi, phải không nào? Anh còn nhớ đến người thầy giáo già của mình, thế là rất quý… Có những học trò cũ như anh đã đến thăm tôi những năm trước đây, có người đã là giáo sĩ, đại tá, tóm lại là ở những địa vị và nghề nghiệp rất khác nhau”.
Cụ Crosetti hỏi xem bố làm nghề gì; biết rõ, cụ kêu lên: “Tôi rất vui lòng, rất vui lòng!”… Rồi cụ nói tiếp: “Ít lâu nay tôi không được gặp ai nữa, và tôi e rằng có thể anh là người đến thăm tôi cuối cùng đấy anh ạ!”
– Thầy nói gì vậy? Trông thầy vẫn còn mạnh và khỏe nữa, thầy không nên nói như vậy!
– Anh tưởng thế đấy thôi. Này anh xem, tay tôi run đây này, – vừa nói cụ giáo vừa chìa hai tay ra, – đó là một triệu chứng xấu… tôi bị chứng này đã ba năm nay, hồi đó tôi còn đang dạy. Lúc đầu tôi không để ý đến, cho rằng sẽ khỏi thôi. Nhưng trái lại mỗi ngày càng run thêm, và cứ thế đến một ngày nọ tôi không thể viết được nữa. Ôi, thật là một vố đánh vào tim tôi, anh ạ, cái hôm mà tay tôi đánh rơi một giọt mực lên trang vở một học sinh của tôi! Tôi còn cố kéo dài ít lâu nữa, thế rồi, sau sáu mươi năm dạy học, tôi đành phải bỏ nhà trường, bỏ học trò của tôi, bỏ công tác[49]. Thật là cay đắng, anh thấy không, cay đắng hết sức. Sau buổi lên lớp cuối cùng, toàn thể học sinh đã kéo theo tôi về nhà, làm cho tôi vui; dù sự bày tỏ cảm tình như vậy tôi vẫn buồn, tôi hiểu rằng cuộc đời đối với tôi như vậy là hết rồi…
Năm trước đây nhà tôi mất, và cả đứa con trai độc nhất của tôi cũng chết; tôi chỉ còn có hai đứa cháu gọi bằng bác mà thôi. Giờ tôi sống với số tiền hưu trí mấy trăm lira, tôi chẳng còn làm gì nữa cả, đối với tôi ngày cứ dài như vô tận; thú vui duy nhất của tôi là giở lại những quyển sổ các lớp cũ của tôi, những bộ sưu tập các họa báo, mấy quyển sách mà người ta biếu. Đấy, – cụ giáo vừa nói vừa chỉ cái giá sách, – trong ấy đựng tất cả những vật kỷ niệm của tôi, tất cả quá khứ của tôi! Ngoài ra tôi chẳng còn gì khác nữa trên đời này.
Rồi bỗng nhiên giọng vui vẻ, cụ nói tiếp: “Tôi sẽ dành cho anh một việc bất ngờ, anh Bottini thân yêu ạ”
Cụ giáo đứng dậy, lại gần bàn làm việc, mở một ngăn kéo. Trong ngăn kéo có rất nhiều tập giấy nhỏ buộc dây lụa, trên mỗi tập có ghi một cái tên và ngày tháng. Cụ tìm một tí, mở ra một tập, lật lật mấy tờ, rồi rút ra một tờ giấy đã ngả màu vàng, đưa cho bố. Đó là một bài tập của bố, ngày tháng đề cách đây đã bốn mươi năm. Trên đầu trang giấy, thấy ghi:
Alberto Bottini – Chính tả, ngày mồng 3 tháng tư năm 1838.
Bố nhận ra ngay nét chữ trẻ con thô, to của mình, và vừa mỉm cười vừa đọc, nhưng bỗng mắt bố rưng rưng lệ; tôi liền đứng dậy và hỏi bố làm sao vậy.
Bố đưa tay quàng lấy người tôi, ôm chặt tôi vào một bên mình và nói:
“Con hãy nhìn trang giấy này. Con có thấy không, đây là những chữ sửa lại, do tay bà nội sửa cho bố đấy. Bao giờ bà cũng tô lại những chữ l và t cho bố, còn những dòng cuối bài thì là do tay bà hoàn toàn viết lấy. Bà cố tập viết cho giống nét chữ của bố, và những khi bố mệt hay buồn ngủ thì bà làm nốt bài cho bố, mẹ của bố thật là một bà thánh!” Rồi bố cúi xuống hôn vào trang giấy.
“Chính những vật này, – cụ giáo vừa nói vừa chỉ vào các tập giấy – là những vật lưu niệm của tôi. Cứ mỗi năm tôi để lại một bài tập của mỗi học sinh của tôi; còn đấy cả, sắp xếp thứ tự và đều đánh số rõ ràng. Thỉnh thoảng tôi lại giở ra từng bài, đọc bài này một câu, bài kia một câu, thế là tôi nhớ lại hàng nghìn việc, và hình như tôi đang sống lại trong quá khứ của mình vậy. Biết bao nhiêu học trò, anh ạ: cứ nhắm mắt lại là tôi thấy những khuôn mặt nọ tiếp theo những khuôn mặt kia, lớp này đến lớp khác, hàng trăm và hàng trăm trẻ em. Ai biết được trong số đó đã có bao nhiêu người chết rồi? Tôi nhớ rõ hơn hết là những học trò tốt nhất và những học trò xấu nhất, những người đã làm tôi vui lòng và những người đã làm tôi đau lòng, vì giữa đám cừu non cũng có những con rắn. Nhưng giờ thì, anh hiểu không, cũng như là tôi đã ở thế giới bên kia rồi, nên tôi đều yêu mến tất cả họ như nhau hết”.
Cụ giáo ngồi xuống, và hai tay cụ nắm lấy mặt bàn tay tôi.
– Thưa thầy, – bố vừa hỏi vừa mỉm cười, – thế về phần con thầy có còn nhớ một vài vụ nghịch ngợm nào không ạ?
– Anh ấy à? – cụ giáo cũng vừa trả lời vừa mỉm cười, – không có gì, lúc này có lẽ tôi chưa nhớ ra, như thế không có nghĩa là anh không làm việc gì nghịch ngợm cả. Thực ra hồi đó trông anh nghiêm trang so với lứa tuổi của anh. Tôi còn nhớ tình thương yêu rất lớn của bà cụ đối với anh… Anh có biết rằng đến thăm tôi thế này là anh rất tốt và rất đáng yêu không? Làm sao mà anh có thể gác công việc bận rộn của mình để đến thăm một người thầy giáo tội nghiệp như thế này?
– Thế này đây, thầy ạ, – bố trả lời hoạt bát hẳn lên, – con không quên được cái ngày con bắt đầu đi học. Bà mẹ đáng thương của con dắt con đến. Đó là lần đầu tiên mà mẹ con phải xa con trong hai tiếng đồng hồ, mà mẹ con đưa con ra khỏi nhà mình và giao con cho những người xa lạ. Đối với một bà mẹ rất hiền từ ấy, ngày con bước vào trường học cũng như ngày con bước vào đời, nó bắt đầu một chuỗi dài những phen xa cách cần thiết và đau đớn; từ ngày ấy, xã hội đã rút khỏi tay bà đứa con trai để rồi không bao giờ trả lại nó trọn vẹn cho bà nữa. Bà gửi gắm con cho thầy, thầy thân mến ạ, mà giọng bà run run, và khi ra về bà còn mỉm cười với con qua khe cửa mà mắt bà đẫm lệ, và thầy đã đưa tay làm một dấu hiệu để làm yên lòng bà như muốn nói với bà: “Thưa bà, xin bà cứ tin cậy vào tôi”. Đấy, chính cái cử chỉ ấy, cái nhìn ấy làm cho con hiểu rằng thầy chia sẻ nỗi bồi hồi của mẹ con, cái bàn tay ấy của thầy đặt lên trái tim mình để làm cho người mẹ đáng thương được yên lòng; cái cử chỉ hiền từ, nhân hậu, thông cảm ấy, bao giờ con cũng nhớ đến, như đã khắc sâu vĩnh viễn vào lòng con. Chính cái kỷ niệm ấy đã làm cho con từ Torino đến đây để được thưa với thầy, sau bốn mươi bốn năm xa cách: “Thưa thầy kính yêu, con xin cám ơn thầy!”
Cụ giáo không nói gì, cụ xoa mãi đầu tôi với một bàn tay run run, rồi từ đầu cụ xoa xuống trán, và từ trán xuống vai tôi.
Trong lúc đó, bố nhìn những bức tường trống trải, chiếc giường gỗ tồi tàn, một mẩu bánh mì đặt cạnh một chai dầu ăn ở khung cửa sổ, và bố có vẻ suy nghĩ:
“Tội nghiệp thầy giáo, sau sáu mươi năm làm việc, đó là tất cả phần thưởng của thầy!”
Cụ già phúc hậu lấy làm bằng lòng, và lại tiếp tục nói chuyện rất hoạt bát, về gia đình chúng tôi, về những thầy giáo khác thuở ấy, về những bạn học của bố.
Bố ngắt câu chuyện, ngỏ ý mời cụ giáo đi xuống Condove ăn bữa trưa với chúng tôi.
“Xin cám ơn anh, nhưng tiếc là tôi không nhận lời được”, cụ giáo nói. Và xem chừng cụ lưỡng lự, bố cầm lấy hai tay cụ, và lại khẩn khoản mời. Cụ giáo nói:
– Làm sao mà tôi ăn được với hai bàn tay khổ sở run như cầy sấy thế này? Khác nào là hình phạt đối với tôi và đối với những người khác nữa.
– Chúng con sẽ giúp thầy, thầy ạ – bố trả lời. Thế là cụ nhận lời, gật đầu với một nụ cười. “Đối với tôi, hôm nay quả là một ngày rất đẹp, – cụ nói và đóng cửa lại, – một ngày rất đẹp, anh Bottini thân mến ạ, một ngày mà còn sống là tôi còn nhớ, chắc chắn như vậy anh ạ”. Bố đưa tay đỡ cụ giáo cùng đi, còn tôi thì nắm lấy bàn tay cụ, và chúng tôi theo con đường nhỏ đi xuống dốc. Chúng tôi gặp hai cô gái bé đi chân đất đang chăn bò và một cậu bé con trai vác một bó rơm trên vai.
Cụ giáo cho biết rằng các cô cậu ấy là học trò lớp hai, buổi sáng họ ra đồng chăn bò và buổi chiều đi giày vào để đến lớp học.
Gần đứng bóng thì chúng tôi đến quán hàng, chúng tôi ngồi vào một cái bàn lớn, cụ giáo ngồi giữa hai bố con, và chúng tôi bắt đầu ăn trưa.
Quán hàng vắng lặng. Ông cụ tội nghiệp lại rất vui, và gần như cụ không thể nào ăn được. Bố cắt thịt, cắt bánh, lấy muối vào đĩa cho cụ. Uống thì cụ phải cầm cốc cả hai tay, thế mà chiếc cốc vẫn vập vập vào răng cụ.
Cụ nói chuyện nhiều và say sưa về những quyển sách tập đọc của cụ hồi thơ ấu, đến những lời khen ngợi của các người trên của cụ, cụ nói tất cả những điều ấy với một nụ cười gần như trẻ trung.
Còn bố thì nhìn cụ với cái vẻ mặt mà thỉnh thoảng ở nhà tôi vẫn bắt gặp, những lúc bố nhìn tôi và mỉm cười vì một ý kín đáo nào đó của mình.
Mải nói chuyện, cụ giáo đánh đổ rượu vào áo gi-lê, bố vội đứng lên lấy khăn của mình lau cho cụ, nhưng cụ thì ngăn lại và nói: “Xin đừng, xin đừng, tôi không dám…” và cụ lại cười, vừa cười vừa nói những tiếng La tinh.
Sau cùng, cụ nâng cốc trịnh trọng, nói: “Xin chúc sức khỏe của anh! Và của các cháu! Để tưởng nhớ bà mẹ hiền của anh!”
– Kính chúc sức khỏe của thầy! – Bố vừa đáp lại vừa bắt tay cụ.
Từ cuối gian phòng, chủ quán và những người giúp việc nhìn chúng tôi vẻ rất hài lòng, và lấy làm tự hào thấy cụ giáo vùng mình được khoản đãi như thế.
Hai giờ chúng tôi ra về, và cụ giáo ngỏ ý muốn tiễn chúng tôi ra ga. Bố lại đua tay cho cụ khoác, còn tôi lại nắm lấy bàn tay cụ và cầm gậy cho cụ.
Những người đi đường đều dừng lại nhìn chúng tôi, vì mọi người đều biết cụ Crosetti và chào cụ.
Đến một quãng đường, chúng tôi nghe từ một cửa sổ mở rộng, những tiếng trẻ em đang cùng đọc bài tập đọc. Cụ già đứng lại và mặt cụ đượm buồn, cụ nói:
“Đấy việc này làm cho tôi đau lòng, anh Bottini thân mến ạ; nghe tiếng trẻ con học ở nhà trường mà lại không được ở đấy nữa, nghĩ rằng chúng đã có một thầy giáo khác… Sáu mươi năm rồi, tai tôi đã nghe bản hòa tấu những giọng trẻ em ấy và trái tim tôi đã quen thuộc quá rồi… Giờ thì tôi chẳng còn gia đình, chẳng còn đứa trẻ nào nữa!”
– Xin lỗi thầy, – bố nói, – thầy vẫn còn nhiều đứa con ở khắp nơi trên thế giới. Họ vẫn nhớ thầy, cũng như con suốt đời vẫn nhớ thầy vậy.
– Không, không, – cụ nói một cách buồn rầu, – tôi không còn có trường học nữa, tôi không còn có trẻ con nữa, và không có trẻ con thì tôi cũng không sống được bao lâu nữa.
– Xin thầy đừng nói vậy, – bố đáp lại, – thầy đã làm được biết bao nhiêu việc có ích, thầy đã cống hiến cả đời mình một cách cao quý biết bao!
Cụ giáo nghiêng cái đầu bạc vào vai bố một lúc, rồi siết chặt tay tôi.
Chúng tôi vào sân ga, tàu sắp chạy.
“Xin tạm biệt thầy”, bố vừa nói vừa ôm hôn cụ Crosetti vào hai má. “Tạm biệt và xin cám ơn!” cụ giáo trả lời và nắm bàn tay của bố với cả hai bàn tay run rẩy của mình và ghì lên chỗ trái tim của mình.
Khi tôi ôm hôn cụ, tôi thấy mặt cụ đẫm nước mắt. Bố đẩy tôi lên toa xe, và đến lượt mình bước lên thì bố nhanh tay lấy ngay cái gậy thô kệch của cụ giáo đang chống, đổi bằng cái gậy rất đẹp của mình tay cầm nạm bạc, có khắc hai chữ cái họ tên mình.
“Xin thầy giữ cái này làm vật lưu niệm của con”, bố nói.
Cụ giáo cố tìm cách trả cái gậy cho bố và lấy lại gậy của mình, nhưng bố đã bước nhanh vào trong toa và đóng cửa lại.
– Xin tạm biệt thầy giáo yêu quý của con!
– Tạm biệt, con! – Cụ giáo đáp lại, trong lúc tàu chuyển bánh, – chúc con được phước lành, vì niềm vui mà con đã đem đến cho một ông già tội nghiệp.
“Xin sẽ gặp lại”, bố thét to giọng xúc động. Nhưng cụ giáo cúi đầu xuống, dường như muốn nói: “Chúng ta sẽ không còn bao giờ gặp lại nhau nữa”.
“Có chứ, có chứ, – bố nhắc lại, chúng ta sẽ lại gặp nhau!” Thay cho câu trả lời, cụ giơ bàn tay run rẩy lên. Rồi bóng cụ khuất hẳn.
Dưỡng bệnh
Thứ năm, 20
Ai mà có thể biết được rằng, sau cuộc đi với bố trở về, lòng tôi còn vui sướng biết ngần nào thì trong mười ngày liền tôi chẳng còn được nhìn thấy đồng quê, nhìn thấy bầu trời gì nữa! Tôi vừa bị ốm, suýt chết. Tôi nghe mẹ khóc thổn thức, tôi thấy bố, mặt tái mét, nhìn tôi, đôi mắt lạc hẳn đi, em Silvia và em trai tôi nói với nhau thì thầm, và ông bác sĩ lúc nào cũng ở cạnh tôi, nói với tôi những điều mà tôi không nhớ gì hết.
Ôi! Mẹ tội nghiệp! Ba hay bốn ngày đã qua, tôi không nhớ rõ nữa, tưởng chừng như tôi đã trải qua một giấc mơ tối tăm và hỗn độn.
Hình như tôi thấy cạnh giường tôi cô giáo lớp một trên hiền từ của tôi, lấy khăn tay đưa lên mồm cố nén cơn ho.
Tôi nhớ mơ hồ rằng thầy giáo của tôi cúi xuống hôn tôi, và râu thầy hơi chích vào má tôi. Tôi thấy đi qua, như sau một màn sương mù, cái đầu tóc đỏ của Crossi, những món tóc xoăn bạch kim của Derossi, cậu bé người Calabria mặc quần áo đen, Garrone mang cho tôi quả quýt còn cả lá rồi lại chạy vội đi vì mẹ cậu đang ốm nặng. Rồi tôi tỉnh dậy như sau một giấc ngủ dài, và tôi hiểu rằng tôi đã đỡ, vì thấy bố mẹ mỉm cười và nghe Silvia hát khe khẽ! Ôi! Giấc mơ ảm đạm biết bao!…
Tuy vậy, tôi đã thấy trong người khá lên, mỗi ngày một khá thêm.
Cậu bé thợ nề đã đến và làm cho tôi cười lại lần đầu tiên với cái trò sứt môi; cậu ta làm khéo tệ, từ cái ngày ốm dậy mà mặt cậu dài ngoẵng ra, cái cậu bé tội nghiệp. Coretti cũng đến; Garoffi cũng đến: cậu biếu tôi hai vé của cuộc xổ số mới mà trúng thì được “một cây bút chì dành cho ta năm điều ngạc nhiên”, cậu mua được của một kẻ bán lại ở phố Bertola. Hôm qua trong khi tôi đang ngủ thì Precossi đến, cậu ghé môi hôn khẽ tay tôi để đừng đánh thức tôi dậy; và vì cậu mới từ xưởng rèn của bố về, mặt còn đen những than, nên đã để lại một vết đen trên tay áo tôi. Thức dậy tôi trông thấy mà sung sướng.
Chỉ mới có mấy ngày mà cây cối đã xanh tươi đến thế! Và tôi thèm biết bao nhiêu được như các em bé mà tôi trông thấy đang chạy đến trường, tay cắp sách vở khi bố bế tôi ra chỗ cửa sổ. Và tôi, vài ngày nữa, tôi cũng trở lại trường; tôi sốt ruột quá chừng, mong chóng gặp lại tất cả các bạn học thân yêu, cái ghế băng, cái vườn trường, con đường phố, mong biết tất cả những gì đã xảy ra trong khi tôi ốm, mong được cầm lại sách vở của tôi.
Tưởng chừng như đã một năm rồi tôi không trông thấy sách vở! Tội nghiệp mẹ tôi, mẹ xanh và gầy đi nhiều quá! Tội nghiệp bố tôi! Bố có vẻ mệt nhọc quá! Và các bạn tốt của tôi, đã đến thăm tôi, đi rón rén trên đầu ngón chân và ôm hôn trán tôi. Giờ tôi buồn quá, vì nghĩ rằng một ngày kia rồi chúng tôi sẽ phải xa nhau… tôi biết chắc là tôi còn sẽ tiếp tục học với Derossi và vài bạn khác nữa, nhưng Garrone, Precossi, Coretti sẽ chẳng đến trường nữa, sau khi học xong lớp bốn; từ biệt các bạn! Chúng tôi rồi sẽ mất hút nhau; các bạn sẽ không còn đến cạnh giường tôi nếu tôi còn ốm lại nữa.
Sao? Biết bao cậu bé trung hậu, các bạn rất tốt, các bạn rất thân của tôi, tôi không bao giờ được gặp lại nữa sao?
Những người bạn thợ thuyền
Thứ năm, 27
Tại sao lại không bao giờ nữa, Enrico à? Điều đó là tùy ở cậu thôi. Học xong lớp bốn, cậu vào trường trung học và các bạn sẽ đi làm công nhân, nhưng chắc các bạn vẫn cùng ở trong một thành phố với nhau trong nhiều năm nữa, và tại sao mà các cậu lại không gặp lại nhau? Bao giờ cậu vào học trường trung học cấp trên[52] cậu sẽ đến tìm các bạn ở các cửa hiệu của họ hay ở các xưởng thợ của họ, vì cậu sẽ thích thú gặp lại ở đấy những bạn học của cậu, những con người đang lao động. Cậu sẽ ở lại một lúc với họ, và tìm hiểu cuộc đời với người đời, cậu sẽ thấy là cậu học được ở họ biết bao nhiêu điều về kỹ thuật của họ, xã hội của họ và về đất nước của cậu, mà những người khác không thể nào dạy cho cậu được. Hãy nghĩ kỹ đến điều này: nếu cậu không giữ gìn những tình bạn thời thơ ấu ấy, thì sau này sẽ khó tìm được những tình bạn như thế, tôi muốn nói là ở ngoài lớp học của mình. Và như vậy là cậu chỉ sống trong có một giai cấp xã hội thôi, và cậu sẽ như người học giả mà chỉ đọc có mỗi một cuốn sách thôi. Ngay từ giờ, cậu hãy tự liệu mà giữ lấy những người bạn tốt ấy, dù khi phải xa cách nhau, và hãy vun xới những tình bạn ấy trước mọi việc, chính vì họ là con cái những người thợ thuyền. Này nhá: Những người ở tầng lớp trên là những sĩ quan, còn công nhân là những lính trên mặt trận lao động; trong xã hội cũng như trong quân đội, người lính cũng cao quý chẳng kém gì sĩ quan, vì sự cao quý ở trong lao động chứ không ở trong đồng lương, ở trong giá trị chứ không ở trong cấp bậc; mà nếu nơi nào giá trị cao hơn thì đó là ở phía người lính, người thợ, vì họ được hưởng lợi ít hơn về lao động của họ. Vậy cậu hãy yêu, hãy kính, trên tất cả mọi sự ở đời, con cái của những người lính trên mặt trận lao động; cậu hãy tôn trọng ở họ những nỗi vất vả và sự hy sinh của bố mẹ họ. Hãy thương yêu Garrone, Coretti, Precossi, cậu bé thợ nề, vì trong lồng ngực của những người thợ tí hon ấy có những trái tim tuyệt vời! Và hãy thề rằng không có sự đổi thay số phận nào mà có thể rứt ra khỏi tâm hồn cậu những tình bạn tất của thời thơ ấu ấy; rằng sau bốn mươi năm nữa, nếu đi qua một ga xe lửa cậu nhận ra trong bộ quần áo đen những than của người thợ máy, người bạn cũ Garrone của cậu… À, tôi không cần cậu phải thề! Tôi chắc rằng cậu sẽ nhảy lên trên đầu máy và ôm chầm lấy bạn cậu, dù cậu có là thượng nghị sĩ trong vương quốc đi nữa.
Bà mẹ Garrone
Thứ bảy, 29
Vừa ở trường về, tôi được ngay tin buồn. Đã mấy hôm nay, Garrone nghỉ học vì mẹ cậu ốm nặng, và bà ấy mất chiều hôm thứ bảy. Hôm qua khi chúng tôi vào lớp, thầy giáo nói:
“Nỗi bất hạnh lớn nhất có thể xảy đến cho một người con, nỗi bất hạnh ấy vừa đến với Garrone: cậu vừa mất mẹ. Mai cậu sẽ trở lại lớp, các con ạ, thầy mong các con ngay từ hôm nay tôn trọng nỗi đau khổ lớn lao của bạn.
Khi bạn bước vào lớp, các con hãy đón bạn với lòng thương yêu, và nhất là các con phải nghiêm chỉnh. Không ai được cười hay đùa với bạn ấy, thầy mong như vậy”.
Sáng nay quả nhiên Garrone lại đi học, cậu vào lớp sau các bạn một chút.
Tim tôi đau nhói khi thấy cậu mặt tái xanh, đôi mắt đỏ hoe và hai chân bước không vững. Trông cậu như vừa qua một cơn ốm lâu ngày, thật khó mà nhận ra cậu được. Cậu mặc áo quần đen, trông lại càng đáng thương.
Trong lớp, không ai nói một câu, và tất cả chúng tôi nhìn cậu, ái ngại và thương xót.
Vừa mới bước vào, trông thấy lại cái lớp học mà gần như ngày nào mẹ cũng đến đón mình, trông thấy cái bàn mà biết bao lần mẹ đã cúi xuống để dặn dò mình một lời cuối cùng những khi sắp làm bài thi, và cậu thì đã nghĩ đến bà như thế nào, nóng ruột cố làm cho chóng xong bài để được chạy ra gặp mẹ, cậu òa lên khóc, tuyệt vọng.
Thầy Perboni kéo cậu lại, ôm cậu sát vào lòng và nói:
“Khóc đi, tội nghiệp, con cứ khóc đi, nhưng hãy can đảm, con ạ. Mẹ con không còn đây nữa, nhưng vẫn nhìn thấy con, bà vẫn thương con, bà vẫn sống bên con, và một ngày kia con sẽ gặp lại bà vì con có tấm lòng lương thiện và trung hậu như lòng bà. Can đảm lên, con ạ!”
Nói xong thầy dẫn Garrone về chỗ ngồi, bên cạnh tôi. Tôi không dám nhìn Garrone. Cậu lấy sách vở ra, đã mấy hôm rồi cậu chưa giở ra. Vừa giở mấy trang sách tập đọc, cậu bỗng nhìn thấy một hình trang trí vẽ một bà mẹ đang dang tay đón con, và cậu lại khóc nấc lên lần nữa, mặt úp vào cánh tay.
Thầy giáo ra hiệu cho chúng tôi cứ để yên cho cậu khóc; và thầy bắt đầu giảng bài.
Tôi muốn nói điều gì đó với Garrone, nhưng không biết nên an ủi cậu như thế nào. Tôi đặt bàn tay lên cánh tay cậu và thì thầm với cậu:
– Thôi đừng khóc nữa, Garrone ạ.
Cậu không trả lời và không ngẩng đầu lên. Cậu đặt bàn tay mình vào tay tôi một lúc.
Tan học, không ai dám nói gì với người bạn tội nghiệp; người ta im lặng đi quanh cậu, cung kính, thông cảm. Thấy mẹ đang chờ, tôi chạy đến ôm hôn, nhưng nhìn thấy Garrone mẹ gạt tôi ra. Thoạt đầu tôi không hiểu tại sao, nhưng sau đó tôi thấy Garrone. Garrone nhìn tôi vẻ buồn không thể tả được, hình như cậu muốn nói với tôi: “Cậu hôn mẹ cậu, nhưng mình thì chẳng bao giờ còn được hôn mẹ mình nữa; cậu có mẹ, còn mẹ mình đã chết rồi!”.
Bấy giờ tôi mới hiểu vì sao mẹ lại đẩy tôi ra; và tôi đi ra, không nắm lấy tay mẹ như thường ngày.
Phẩm giá công dân
(Truyện đọc hàng tháng)
Giữa trưa hôm ấy, chúng tôi tập hợp trước tòa thị chính cùng với thầy giáo, để dự cuộc trao huân chương Phẩm giá công dân cho một cậu bé đã cứu được một bạn khỏi chết đuối trong sông Po. Một lá cờ ba sắc lớn tung bay trên bao lơn chính diện.
Chúng tôi kéo vào sân. Ở đây đã rất đông người. Phía trong cùng kê một cái bàn phủ tấm thảm đỏ để đầy những giấy tờ; đằng sau là một dãy ghế bành thếp vàng dành cho ông thị trưởng và các ủy viên trong Hội đồng thành phố. Phía bên phải một trung đội lính cảnh vệ xếp hàng, trong số đó có nhiều người đeo huân chương; ở một phía khác là đội lính cứu hỏa mặc lễ phục, lại có những lính thuộc đủ các quân chủng kéo nhau đến xem. Trong đám đông có đủ cả các ông các bà, nông dân, sĩ quan và cả trẻ con nữa. Chúng tôi đứng vào một góc sân, nơi có đông học sinh các khu khác đang đứng với thầy giáo. Cách chỗ chúng tôi không xa có những trẻ em khoảng mười đến mười hai tuổi cười cười nói nói; đó là bạn cùng lớp hoặc bạn thân của cậu bé anh hùng sắp nhận huân chương. Trên tất cả các cửa sổ trông xuống sân, những viên chức của tòa thị chính đang chống khuỷu tay nhìn xem. Trên sân thượng của thư viện cũng đầy người, và phía đối diện trên cổng chmh, thấy rất đông nữ sinh của các trường công. Quang cảnh khác nào một nhà hát mà tất cả những lô trên gác và chỗ dưới nhà đều chật ních. Người ta chuyện trò vui vẻ, chốc chốc lại nhìn về phía chiếc bàn xem đã có ai xuất hiện chưa. Đội nhạc dạo những bản nhạc nhẹ. Dưới vòm cổng vào và phía trên các bức tường, mặt trời chiếu rực rỡ.
Bỗng tiếng vỗ tay nổi lên từ trong sân, từ trên gác sân và từ các cửa sổ. Tôi kiễng chân lên để nhìn cho rõ. Đám đông tề tựu trước cái bàn đang rẽ ra làm đôi, nhường lối đi cho một người đàn ông và một người đàn bà. Người đàn ông cầm tay dắt theo một cậu bé.
Cậu bé đó chính là người đã cứu bạn.
Người đàn ông là bố cậu: một bác thợ nề, ăn mặc như đi dự hội lớn; người đàn bà, mẹ cậu, vóc bé nhỏ, tóc bạch kim, mặc áo dài đen; cậu bé cũng nhỏ người và tóc bạch kim, mặc một chiếc áo dài màu xám.
Nhìn thấy người đông như thế, nghe tất cả những tiếng vỗ tay ấy, cả ba người đứng sững lại, không dám nhìn ai, cũng chẳng biết phải làm gì. Một viên môn lại dẫn họ đến cạnh chiếc bàn, phía bên phải.
Người ta im lặng một lát, rồi những tiếng hoan hô lại nổi lên nhiệt liệt hơn nữa. Cậu bé ngước nhìn các cửa sổ, tay vân vê chiếc mũ. Tôi thấy cậu ta như hao hao giống Coretti. Bố và mẹ cậu thì chỉ cứ nhìn vào cái mặt bàn.
Trong lúc ấy thì đám học sinh ở ngoại thành, đứng gần chỗ chúng tôi, đều bước lên trước, lấy tay ra hiệu cho bạn của họ trông thấy họ, hoặc gọi khẽ tên cậu. Gọi mãi rồi cậu ta cũng nghe, cậu ta nhìn các bạn rồi lấy mũ che miệng, mỉm cười.
Đúng lúc đó, đơn vị cảnh vệ đứng “nghiêm!” Ông thị trưởng đeo băng ba màu bước vào, theo sau có nhiều quan chức; ông đứng trước cái bàn, các quan chức khác đứng chung quanh ông. Nhạc ngưng lại, ông thị trưởng giơ tay ra hiệu, mọi người im phăng phắc.
Ông bắt đầu nói. Những câu nói đầu tôi không nghe rõ, nhưng tôi hiểu ông đang kể lại hành động dũng cảm của cậu bé.
Dần dần tiếng nói của ông to lên và trong trẻo vang lên khắp sân, tôi nghe không còn sót một lời nào.
“… Khi cậu đứng trên bờ thoạt nhìn thấy bạn đang vùng vẫy giằng co với cái chết giữa dòng sông, thì lập tức cậu cởi quần áo, và không một phút ngần ngại, chạy ngay xuống bờ sông. Người ta thét lên: “Đừng xuống! Chết đuối bây giờ!”
“Nhưng cậu không trả lời. Người ta muốn giữ cậu lại, cậu đẩy lùi các bạn mà chạy; người ta lại gọi, cậu đã lao mình xuống nước rồi. Mặt sông đang cồn sóng, thật là nguy hiểm, ngay cả đối với người lớn. Nhưng cậu đã vật lộn với cái chết bằng tất cả sức mạnh của tấm thân bé nhỏ và của tấm lòng cao cả của cậu. Cậu bơi theo kịp và tóm được ngay người bị nạn đã chìm nghỉm, rồi ngoi lên mặt nước. Cậu cố sức bơi ngược lại dòng nước đang cuốn mình đi, trong khi người bạn cứ ôm chặt lấy cậu. Đã mấy lần cậu bị nhấn chìm, nhưng lại ngoi lên do một cố gắng tưởng như tuyệt vọng. Quyết tâm, không gì lay chuyển nổi trong việc làm cao quý của mình, không phải như một cậu bé muốn cứu sống một cậu bé khác, mà như một người lớn, một người bố muốn cứu sống đứa con là nguồn hy vọng và cả cuộc đời của mình; cuối cùng cậu đã cướp được cái mồi của dòng sông và đưa vào bờ. Thế rồi cậu lại còn cùng những cậu khác hết lòng làm những động tác cấp cứu đầu tiên cho người bị nạn. Sau đó cậu về nhà, một mình, ung dung, kể lại việc mình đã làm một cách hồn nhiên.
“Thưa các ngài! Lòng dũng cảm của người lớn là đẹp và đáng kính; nhưng ở cậu bé, chưa thể có một ý đồ tham vọng hay lợi lộc gì cả, ở cậu bé phải đem hết gan dạ ra vì sức mình chẳng được bao nhiêu, ở cậu bé mà chúng ta không đòi hỏi một chút gì, không bắt buộc phải làm gì, chỉ cần hiểu được, không cần phải làm được hành động hy sinh của người khác, là đã đủ cho ta thấy cao quý và đáng yêu rồi; ở cậu bé tôi xin nhắc lại, thì lòng dũng cảm là cao cả! Tuyệt vời!
“Tôi không nói gì thêm nữa, thưa các ngài, tôi không muốn góp những lời khen ngợi thừa đối với một việc làm vĩ đại mà đơn giản đến thế. Đây, kẻ cứu người quả cảm và cao quý đó đang ở đây, trước mắt quý vị! Hỡi binh sĩ, hãy chào cậu như chào một người anh em. Hỡi các bà mẹ, hãy cầu phúc cho cậu như cho con mình? Hỡi các cháu thiếu nhi, hãy nhớ lấy tên của cậu, ghi sâu hình ảnh của cậu trong trí nhớ và vào trái tim của các con. Bước lại gần đây, con; nhân danh quốc vương nước Ý, tôi xin trao tặng cậu tấm huân chương Phẩm giá công dân này”.
Tiếng hoan hô dậy đất nổi lên từ hàng nghìn cửa miệng phát ra.
Ông thị trưởng cầm chiếc huân chương trên bàn gắn vào ngực cậu bé. Rồi ông ôm hôn cậu nhiều lần. Bà mẹ cậu bé lấy tay dụi mắt, ông bố thì cúi đầu.
Sau khi bắt tay hai bố mẹ sung sướng ấy ông thị trưởng cầm tấm sắc lệnh thưởng huân chương buộc băng lụa, trao cho người mẹ. Rồi quay về phía cậu bé, ông nói:
“Mong rằng kỷ niệm của ngày hôm nay, một ngày vinh quang biết bao đối với cậu, tốt đẹp biết bao đối với bố và mẹ cậu, sẽ giúp cậu suốt đời trên con đường đạo đức và danh dự! Tạm biệt con nhé”.
Ông thị trưởng bước ra, nhạc lại nổi lên, tưởng như đã đến lúc kết thúc, thì thấy đội cứu hỏa giãn ra, nhường lối cho một cậu bé độ tám chín tuổi chạy thẳng đến người anh hùng của buổi lễ và ngả vào hai cánh tay của cậu.
Những tiếng vỗ tay và những tiếng hoan hô lại rung chuyển cả cái sân; mọi người đều hiểu rằng đó là em bé đã được cứu sống trong dòng sông đã đến cảm ơn người cứu mình. Sau khi hôn cậu, em bé khoác tay cậu cùng đi ra. Hai cậu đi trước, theo sau là ông bố và bà mẹ, phải chật vật để mở lối đi giữa cái hàng rào người đang chen nhau đểđược nhìn và chào họ. Những người đứng gần cậu hơn cả thì đưa tay ra bắt; khi cậu đi qua trước đám học sinh thì họ giơ cao mũ lên vẫy. Các bạn của cậu thiếu niên anh hùng thì reo lên không biết là bao nhiêu tiếng hoan hô chúc tụng cậu.
Tôi được thấy cậu đi qua ngay cạnh tôi, mặt đỏ ửng vì sung sướng, chiếc huân chương buộc dải lụa ba màu. Mẹ cậu vừa cười lại vừa khóc, bố cậu thì đưa một bàn tay run vì xúc động, và như lên cơn sốt, vân vê bộ ria mép.
Trên cao, ở các cửa sổ và bao lơn, người ta nghiêng mình ra nhìn và vỗ tay. Bỗng nhiên, đúng lúc cái gia đình hạnh phúc này sắp đi qua cổng chính của tòa thị sảnh thì từ trên bao lơn, nơi có nữ sinh các trường đứng, rơi xuống người họ một trận mưa hoa thực sự, những bó hoa tử la lan, hoa đồng thảo, hoa đại cúc tung tóe trên đầu cậu con, ông bố và bà mẹ trước khi rơi xuống đất. Nhiều người đổ ra nhặt những cành hoa, trao cho bà mẹ, trong lúc dàn nhạc tiếp tục tấu lên những điệu nhạc dịu dàng nhất chúc mừng cậu bé cứu người dũng cảm.