Thư viện Online
  • Trang chủ
  • Sách mới cập nhật
  • Trang chủ
  • Sách mới cập nhật

Những Tấm Lòng Cao Cả - Edmondo De Amicis - Tháng mười một

  1. Home
  2. Những Tấm Lòng Cao Cả - Edmondo De Amicis
  3. Tháng mười một
Prev
Next

Cậu bé nạo ống khói

Thứ ba, 1

Chiều qua, tôi đến khu nữ sinh, ở cạnh khu Baretti của chúng tôi, để đưa cho cô giáo của em Silvia bài chép về truyện cậu bé Padova mà cô muốn đọc. Trong khu có đến bảy trăm nữ sinh.

Lúc tôi đến thì học trò bắt đầu ra về, ai nấy đều vui vẻ được nghỉ một đợt vào những ngày đầu tháng mười một.

Trước cổng trường, bên kia đường phố, một cậu bé nạo ống khói đang đứng, tay tựa vào tường, đầu gục vào tay. Người cậu đen ngòm những bồ hóng, cũng như cái bị, mấy cái chổi và cái nạo của cậu, và cậu khóc nức nở, não nuột quá chừng.

Hai ba nữ sinh lớp hai lại gần, hỏi cậu tại sao mà khóc như vậy.

Nhưng cậu bé nạo ống khói không trả lời, và cứ khóc mãi.

Các bạn nữ sinh lại hỏi:

– Kìa, nói đi, bạn làm sao vậy? Tại sao bạn khóc?

Cậu bé bỏ cánh tay xuống, để lộ một gương mặt trông hết sức hiền hậu, và kể lại là đi nạo mấy ống khói, được số tiền cộng lại là ba hào, nhưng chẳng may rơi mất, vì vô ý bỏ vào cái túi áo thủng…

Cậu bé tội nghiệp không dám trở về nhà chủ vì sợ bị đánh.

Nói rồi, cậu lại càng khóc thảm thiết hơn, đầu gục vào cánh tay như một kẻ tuyệt vọng.

Các nữ sinh nhìn nhau, vẻ mặt rất nghiêm chỉnh; một số nữa cũng kéo đến, bé có, lớn có, con em những công nhân nghèo cũng như con nhà giàu, tay ôm cặp sách. Một nữ sinh vào loại lớn, đội cái mũ có cắm chiếc lông chim xanh, lấy hai đồng xu trong túi ra và nói:

– Mình chỉ có hai xu, nhưng chúng ta hãy góp nhau lại.

– Mình cũng có hai xu đây, – một cô bé mặc áo đỏ nói, – thế nào tất cả chúng ta cũng kiếm đủ ba hào!

Thế là các nữ sinh lên tiếng gọi: “Amalia, Luigina, Annina, một xu nhé. Ai có xu đưa đây!”.

Một vài cô mang tiền đi mua vở và mua hoa. Họ liền vội vàng đem tiền đến. Những cô khác bé hơn biếu những đồng trinh. Cô nữ sinh đội mũ cắm chiếc lông xanh, thu tiền và lên tiếng đếm:

– Tám, mười, mười lăm xu! Chưa đủ, phải thêm nữa!

Một chị con gái, hình như là phụ giáo, đi tới và cho một hào. Tất cả nữ sinh tíu tít hoan nghênh chị. Thế là chỉ còn thiếu năm xu nữa thôi.

– Kìa, các chị lớp bốn đang tới kìa, họ có tiền đấy, – một em bé nói.

Lớp bốn tới nơi, tiền lại càng nhiều. Các bạn nữ sinh xúm quanh cậu bé nạo ống khói; và thật là thích mắt nhìn cái cảnh cậu bé đen ngòm, hiền hậu, ở giữa đám nữ sinh xinh xắn, đáng yêu mặc quần áo đủ màu, tóc xõa phất phới, người cắm lông chim tươi màu, kẻ thắt ruy băng bằng lụa.

Số tiền ba hào đã đủ, nhưng xu vẫn tiếp tục đổ ra như mưa. Những em bé không có tiền, cũng lách qua giữa các chị lớn, đem cho những chùm hoa nho nhỏ, gọi là cũng góp phần mình.

Bỗng bác gác cổng chạy tới, nói to: “Bà hiệu trưởng đến”.

Tức thì các nữ sinh bỏ chạy tứ tung như một đàn chim sẻ.

Cậu bé nạo ống khói còn lại một mình trên đường phố, đứng lau nước mắt. Không những hai tay cậu đầy cả xu mà các bạn nữ sinh còn luồn vào khuyết áo của cậu, đút vào túi áo, và cả trong mũ của cậu không biết bao nhiêu là chùm hoa nho nhỏ.

Bạn Garrone của tôi

Thứ sáu, 4

Chúng tôi chỉ được nghỉ có hai ngày; ấy thế mà tôi tưởng như đã trải qua một thời gian vô tận tôi không được gặp Garrone. Càng hiểu cậu, tôi càng yêu cậu; tất cả các bạn của tôi đều có thiện cảm như vậy, trừ những đứa độc ác, vì Garrone chống lại những hành động độc ác của chúng; mỗi khi có một đứa lớn định trêu ghẹo hay hà hiếp một đứa bé, mà đứa bé gọi Garrone đến thì đứa lớn kia buộc phải đứng yên ngay.

Bố Garrone là thợ máy xe lửa. Vì bị ốm liền hai năm, nên Garrone đi học hơi chậm. Nay cậu là người lớn và khỏe nhất lớp; cậu có thể nhấc cái ghế dài chỉ một tay thôi… Như vậy, mà cậu lại rất tốt… Ai hỏi bất cứ cái gì: con dao, cây bút chì, cái tẩy, tờ giấy, cậu vui vẻ cho mượn hoặc cho hẳn ngay. Trong giờ học, cậu không bao giờ nói chuyện, cũng không bao giờ gây ra một tiếng ồn. Luôn luôn ngồi im trên ghế, chiếc ghế quá hẹp đối với cậu, cậu phải cúi xuống, lưng khom khom và đầu rụt ngang vai. Mỗi khi tôi nhìn cậu thì cậu cũng nhìn tôi với đôi mắt tươi cười, như muốn nói: “Chúng mình là bạn thân, phải không Enrico!”.

Người ta cũng có chế cậu một tí đấy vì lớn và khỏe như vậy mà cái áo, cái quần, ống tay áo, ống quần lại quá chật, quá ngắn; đôi giày của cậu to tướng, và chiếc “cà vạt” quấn quanh cổ thì như sợi dây thừng. Garrone đáng thương! Những điều ấy có sá gì? Chỉ cần trông thấy cậu là đã yêu cậu ngay rồi! Cậu có một con dao chuôi nạm xà cừ cậu bắt được năm ngoái trên quảng trường Vũ khí; một hôm dùng dao, cậu bị khía một nhát sâu vào ngón tay, nhưng trong lớp chẳng ai hay biết gì cả, và về nhà cậu cũng chẳng nói một lời, để cho bố mẹ khỏi phải lo sợ. Khi người ta đùa cậu, cậu cũng không hề giận, nhưng coi chừng, khi cậu đã khẳng định một điều gì mà có ai bảo: “Việc đó không đúng sự thật”, thì lập tức mắt cậu lóe lên như chớp, và nắm tay cậu đập xuống như muốn gãy cả ghế. Thứ bảy tuần trước, cậu đã cho một học sinh lớp một trên hai xu, vì cậu này để ai lấy mất tiền, không có để mua cuốn vở. Giờ Garrone đang bận viết một bức thư dài tám trang trên một loại giấy có nền hoa to màu rực rỡ, để mừng sinh nhật của mẹ. Bà mẹ của Garrone, một người cao, béo, rất dễ mến, thường hay đến trường đón con. Thầy giáo nhìn Garrone vẻ hiền từ và mỗi khi đến gần Garrone thầy lại tát yêu vào má cậu. Tất nhiên tôi yêu bạn Garrone lắm! Tôi rất vui thích được nắm chặt bàn tay to tướng của cậu trong tay mình. Tôi tin chắc rằng cậu sẽ không ngại liều mình để cứu một người bạn, cậu sẽ đem hết sức mình để che chở cho bạn: cứ nhìn vào đôi mắt của Garrone thì thấy rõ điều đó! Giọng nói của cậu tuy hơi cộc, nhưng người ta cảm thấy rằng đó là tiếng vọng của một tấm lòng cao thượng và hào hiệp.

Bác bán than với ông quý tộc

Thứ hai, 7

Chắc chắn Garrone không phải là người đi nói với Betti cái điều mà Carlo Nobis dám nói với cậu này!

Carlo Nobis tự phụ vì bố cậu ta là quý tộc và giàu có. Ông Nobis, người khá cao, vẻ đứng đắn và lịch sự, râu rất dài, một bộ râu đen đẹp; gần như ngày nào ông cũng đưa con trai đến trường.

Sáng qua Nobis cãi nhau với Betti, một trong những học sinh bé nhất, con một bác bán than, và không biết nói gì, vì cảm thấy mình trái, nó đã kêu lên: “Bố mày chỉ là quân khố rách áo ôm”. Betti đỏ mặt tía tai, chẳng đáp lại sao cả, nhưng giàn giụa nước mắt. Về nhà ăn trưa, cậu ta nhắc lại cho bố nghe câu nói của Nobis. Vì vậy, sau bữa ăn, bố của Betti, một người bé nhỏ đen thui, đến phàn nàn với thầy giáo. Trong khi bác ta đang nói giữa lớp học hết sức im lặng, thì bố Nobis như thường lệ, giúp con trai cởi áo khoác ở ngoài cửa, nghe nói đến tên mình liền đi vào để hỏi xem có việc gì.

Thầy Perboni đáp: “Bác đây đến phàn nàn rằng Caclô của ông đã nói rằng: ‘Bố mày chỉ là quân khố rách áo ôm’”.

Ông Nobis cau mày và hơi đỏ mặt. Ông hỏi con: “Có phải con đã nói thế không?”.

Caclô đứng giữa lớp, trước mặt Betti, cúi đầu xuống chẳng trả lời sao cả.

Bố cậu ta nắm lấy cánh tay con, đẩy con lại sát Betti, cho hai cậu gần như đụng vào nhau và bảo: “Xin lỗi bạn đi”.

Bác bán than muốn ngăn lại, nói: “Không, không”, nhưng người quý tộc cứ mặc và nhắc lại cho Caclô: “Xin lỗi bạn đi. Nhắc lại lời bố: ‘Tôi xin lỗi bạn, Betti ạ, về câu nói thóa mạ, ngu dại, tôi đã trót nói về bố bạn, mà bố tôi lấy làm tự hào được bắt tay’”.

Bác bán than hết sức ngăn lại, nhưng ông Nobis không chịu thôi, và con trai ông phải làm theo lời bố, nói nho nhỏ, không dám ngửng đầu lên, những lời mà bố nhắc cho từng câu một.

Bấy giờ ông Nobis đưa tay ra bắt tay bác bán than; bác này siết tay rất chặt, rồi đẩy con trai vào tay Carlo Nobis.

Ông bá tước lại nói với thầy giáo: “Xin thầy làm ơn xếp cho hai cháu ngồi cạnh nhau”.

Thầy Perboni liền xếp Betti ngồi cùng ghế với Caclô. Khi hai cậu đã yên chỗ, ông Nobis cúi chào và đi ra.

Bác bán than tần ngần một lát, ngắm hai đứa trẻ ngồi lại với nhau, rồi đến gần, nhìn Nobis vẻ thiện cảm và mến tiếc. Chẳng nói một lời, bác đưa tay ra vuốt ve nó, nhưng rồi chẳng dám, bác chỉ đưa mấy ngón tay to tướng khẽ lướt qua trán nó, rồi đi ra.

Thầy giáo liền nói với chúng tôi: “Hãy nhớ lấy những việc các con vừa trông thấy: đó là bài học hay nhất trong năm nay”.

Cô giáo của em trai tôi

Thứ năm, 10

Cô Delcati biết em tôi mệt, đã đến nhà thăm chúng tôi. Cậu con trai bác bán than, năm trước cũng học với cô. Cô làm cho chúng tôi chết cười với câu chuyện cô kể là một hôm mẹ Betti mang đến nhà biếu cô mấy hộc than, túm trong cái tạp dề của bà, để cảm ơn cô đã thưởng huy chương ngoan ngoãn cho con trai bà. Tội nghiệp, bà ta cứ nằng nặc xin cô nhận cho món quà mọn ấy, và khóc dở vì phải mang cái tạp dề đầy than của bà về. Một lần khác, một người đàn bà tốt bụng, mẹ một chú học trò bé của cô, đem đến cho cô một bó hoa rất to; và cô giáo đã tìm được, nhét ở giữa bó hoa, một ống tiết kiệm đựng đầy những đồng xu mới… Chúng tôi nghe cô kể chuyện thích quá và em trai tôi đã vui vẻ nuốt một chén thuốc đắng cho vừa lòng cô Delcati. Với những chú học trò bé tí ở lớp một dưới ấy phải kiên nhẫn biết chừng nào, đứa nào cũng sún răng như những ông già, không đọc được cả chữ R lẫn chữ S!… Đứa thì ho, đứa thì chảy máu cam, đứa này để mất đôi guốc ở dưới gầm ghế. Đứa kia thét lên vì tự mình chích phải ngòi bút vào tay, rồi thì một đứa khóc vì đáng lẽ phải mua quyển vở số 2, lại mua quyển vở số 1… Lại còn cả năm chục chú nhóc phải dạy cho biết đọc, biết viết, biết tính nữa chứ!…

Mỗi một con người bé bỏng ấy đều đem theo trong túi áo những que cam thảo, những cái kẹo bạc hà, những chiếc cúc, những cái nút chai, những hòn sỏi… Cô giáo có khi muốn lục soát, nhưng chúng giấu bảo vật của chúng vào tận đôi giày. Nhưng ít ra chúng cũng chăm chỉ chứ? Thôi đi! Một con ruồi to lọt vào cửa sổ là tất cả đều ngẩng đầu lên… Mùa hè chúng đem đến trường những con cánh cam bay vù vù, hay rơi vào lọ mực lấm bê bết rồi bò lên các trang vở vạch những vạch mực đen ngòm. Cô giáo phải làm thay bà mẹ của tất cả bọn trẻ ấy: giúp chúng mặc quần áo, băng các ngón tay bị ngòi bút chích phải, buộc lại những mũ nồi đứt dải, để ý trông cho chúng khỏi lấy nhầm áo choàng của nhau; nếu không thì các chú nhóc khóc và thét.

Vất vả thay cô giáo! Thế mà đôi khi các bà mẹ lại còn đến phàn nàn: “Cô ạ, không biết thế nào mà con tôi lại đánh mất ngòi bút? – Làm sao mà cháu không học được chữ nào cả? – Tại sao cô lại không biểu dương con tôi, nó học giỏi thế cơ mà! – Tại sao cô lại không nhổ cái đinh trên mặt ghế để cho thằng Piero tội nghiệp của tôi rách cái quần mới nguyên?…”

Đôi lúc cô giáo đáng thương không nhịn được nữa; cô mắng các học trò bé nhỏ của cô. Nhưng rồi cô lại hối hận và vuốt ve đứa bé cô mắng; cô nói là sẽ đuổi đứa này hay đứa khác ra khỏi trường, nhưng thấy nó khóc lại động lòng thương, và cô trách cứ những bố mẹ đã bắt con nhịn ăn để phạt.

Cô Delcati là một thiếu nữ cao lớn, xinh đẹp, ăn mặc nền nếp, linh hoạt, dễ xúc động và rất dịu dàng.

– Nhưng ít ra bọn trẻ cũng mến cô ít nhiều gì chứ? – Mẹ hỏi cô như vậy.

– Vâng, có chứ, chỉ có điều là đến năm sau, chúng từ biệt tôi để lên học lớp khác thì không nhìn lại tôi nữa. Khi bọn trẻ vô tình ấy lên học những lớp có các ông giáo dạy thì hình như chúng lấy làm xấu hổ là đã qua tay tôi; may mắn lắm chúng mới chào cho một tiếng! Ấy cứ như thế đấy. Cứ sau hai năm trời hết lòng chăm nom những đứa trẻ mà mình thương yêu hết sức, rồi phải xa chúng, không gặp lại nữa! Có đôi đứa mà mình tưởng là có thể tin cậy, mình tự nhủ: “Ồ, những đứa này thương yêu mình mãi mãi”. Thế mà nghỉ hè xong chúng cũng chẳng còn nhớ đến mình hơn gì các đứa khác.

“Nhưng con, thì con không thế chứ, phải không con? Bỗng cô Delcati nói, vừa nói vừa đứng lên ôm hôn em tôi. – Con sẽ không quay đầu đi khi đến gần cô chứ? Con sẽ không từ bỏ không nhận người bạn đáng thương của con, không nhận cô giáo hiền lành của con chứ?”.

Mẹ tôi

(thư của bố)

Thứ năm, 10

Bố để ý là sáng nay, lúc cô giáo đến thăm, tôi nói với mẹ có nhỡ thốt ra một lời thiếu lễ độ. Bố thấy mình có nhiệm vụ viết mảnh thư này cảnh cáo tôi. Đọc thư tôi xúc động vô cùng.

“Trước mặt cô giáo của em, con đã thiếu lễ độ với mẹ! Việc như thế không bao giờ con được phạm lại lần nữa, Enrico của bố ạ! Sự hỗn láo của con như một nhát dao đâm vào tim bố vậy! Bố nhớ tới mẹ con, cách đây mấy năm, đã phải thức suốt đêm, cúi mình trên chiếc nôi của con, trông chừng hơi thở hổn hển của con, quằn quại vì nỗi lo sợ, khóc nức nở khi nghĩ rằng có thể mất con đi!… Nhớ lại điều ấy, bố không thể nén được cơn tức giận đối với con. Hãy nghĩ xem, Enrico à! Con mà lại xúc phạm đến mẹ con à! Người mẹ sẵn sàng bỏ hết một năm hạnh phúc để tránh cho con một giờ đau đớn, người mẹ có thể đi ăn xin để nuôi con, có thể hy sinh tính mạng để cứu sống con!

“Hãy nghĩ kỹ đến điều này, Enrico ạ: trong đời con sẽ có thể trải qua những ngày thật buồn thảm, những ngày buồn thảm nhất tất sẽ là ngày mà con mất mẹ con.

“Khi con đã khôn lớn, con đã trưởng thành, mà các cuộc đấu tranh đã luyện con thành người dũng cảm, có thể có lúc con sẽ hồi tưởng tới mẹ con, với lòng mong ước thiết tha được nghe lại tiếng nói của mẹ, và được mẹ lại dang tay ra đón con vào lòng; vì dù cao lớn, dù khỏe mạnh thế nào chăng nữa, con sẽ vẫn tự thấy mình chỉ là một đứa trẻ tội nghiệp yếu đuối và không được che chở. Con sẽ nhớ lại với một nỗi cay đắng những lúc con đã làm cho mẹ phải phiền muộn; lương tâm cắn rứt, sẽ bắt con phải trả một giá rất đắt. Khốn khổ thay! Con không thể hy vọng được yên ổn trong đời nếu con đã làm cho mẹ con buồn phiền. Dù có hối hận, có cầu xin tha thứ, có sùng bái linh hồn của mẹ, tất cả cũng vô ích mà thôi. Lương tâm sẽ không để cho con được chút nào yên tĩnh đâu. Hình ảnh dịu dàng và hiền hậu của mẹ con sẽ làm cho tâm hồn con như bị khổ hình. Enrico, hãy nhớ rằng, tình thương yêu cha mẹ là tình cảm thiêng liêng hơn cả. Vô phúc cho kẻ nào chà đạp lên tình thương yêu đó!

“Từ nay, không bao giờ con được thốt ra một lời nói nặng với mẹ con, và con phải xin lỗi mẹ, không phải vì sợ bố mà do nhiệt tình thành khẩn của lòng con. Con hãy cầu xin mẹ hôn con, để cho cái hôn ấy xóa đi cái dấu vết vong ân bội nghĩa trên trán con. Bố rất yêu con, con ạ, con là niềm hy vọng tha thiết nhất của đời bố, nhưng thà rằng bố phải thấy con chết đi, còn hơn là thấy con bội bạc với mẹ con. Thôi, và trong một thời gian con đừng hôn bố: bố sẽ không thể vui lòng đáp lại cái hôn của con được.

Bố của con”.

Bạn Coretti của tôi

Chủ nhật, 13

Bố đã tha thứ cho tôi rồi; nhưng vì thấy tôi còn hơi buồn, nên chiều nay mẹ hiền từ của tôi cho tôi đi dạo chơi với anh con lớn của bác gác cổng. Khi chúng tôi đi đến bên cạnh một cái xe đỗ trước một cửa hàng, thì nghe có tiếng ai gọi tôi. Tôi quay đầu lại. Thì ra Coretti, bạn cùng lớp với tôi, mặc cái áo ngắn bằng da rái cá và đội cái mũ nồi da mèo. Cậu ta mồ hôi nhễ nhại nhưng ra vẻ bằng lòng lắm; cậu ta vác trên vai một bó củi khá nặng. Một người lớn đứng trên xe, chuyển củi cho cậu, còn cậu thì chuyển vào trong cửa hàng của bố, xếp thành đống, rồi lại nhanh nhẹn quay ra cái xe.

– Làm gì đấy, Coretti? – Tôi hỏi.

– Cậu thấy đấy, – Coretti vừa đáp vừa giơ tay ra đỡ một bó củi, – mình làm việc, đồng thời học lại bài!

Tôi cười. Nhưng Coretti nói rất nghiêm chỉnh, và vừa vác củi chạy vào cửa hàng, vừa lẩm bẩm:

“Biến cách của động từ là… thay đổi tùy theo số và theo giống và thay đổi theo ngôi vị…”

Và vừa hạ củi xuống, vừa xếp thành đống lại đọc: “Tùy theo thời gian… thời gian lúc diễn ra hành động…”

Rồi lại đến cạnh chiếc xe để ôm thêm một ôm, cậu đọc thêm: “… Tùy theo cách mà hành động được nói đến…”

Cậu ta cứ thế mà học bài ngữ pháp ngày hôm sau của chúng tôi.

– Cậu biết không, – Coretti nói, mình muốn lợi dụng thì giờ. Bố mình bận đi giao hàng với người giúp việc, mẹ mình đang ốm; tất nhiên mình phải giúp vào việc dỡ hàng trên xe xuống. Việc đó không ngăn được mình học lại bài ngữ pháp. Hôm nay bài khó quá, mình không tài nào nhồi vào óc được!

Rồi quay lại nói với người đánh xe:

– Bố cháu có dặn là đến bảy giờ sẽ về đây để trả tiền cho bác.

Chiếc xe đi khỏi, Coretti mời tôi: “Vào hàng chơi lát đã!” Sợ từ chối sẽ làm cho cậu phật lòng, tôi vào một gian phòng lớn đầy những gỗ và củi, có một cái cân đặt ở gần cửa.

– Nói thật với cậu hôm nay mình bận lắm, – Coretti lại nói, – mình làm bài cứ lắt nhắt từng mảnh, từng đoạn. Mình đang viết thì có người đến đặt hàng… Vừa mới ngồi xuống viết nốt thì đấy, bác xe củi đã đến!… Sáng nay mình đã hai lần chạy ra tận chợ củi ở quảng trường Venezia rồi. Hai chân như rụng đâu mất rồi, còn hai bàn tay thì rộp cả lên. Mình chẳng còn thích thú gì để làm cái bài tập vẽ nữa cả!

Vừa nói, cậu bé dũng cảm lấy chổi quét mấy nhát sạch cả lá khô trên sàn nhà.

– Này, thế cậu ngồi ở đâu mà làm bài? – tôi hỏi.

– Đây, lại mà xem.

Coretti dắt tôi vào nhà trong, nơi làm bếp và phòng ăn. Ở một góc, trên một cái bàn, thấy đặt mấy quyển sách và những bài tập bắt đầu làm.

– Này, – Coretti nói, – mình đang để câu trả lời thứ hai dở dang đấy: với da thuộc, người ta đóng giày, làm dây curoa… và bây giờ mình thêm: làm vali.

Rồi cầm bút, Coretti viết luôn, nét chữ rất đẹp.

– Nhà không có ai à? – có tiếng hỏi bên ngoài cửa hàng.

Một bà đến mua củi.

– Có cháu đây, – Coretti trả lời, rồi đi ra cân củi, nhận tiền, chạy tới một góc có treo tấm bảng đá nhỏ, ghi số củi vừa bán, xong trở về với bài làm và bảo tôi: – Hãy xem người ta có để yên cho mình viết xong trang này không? và tiếp tục viết: làm túi du lịch, túi đạn cho bộ đội…

– Ôi! Cái món cà phê khốn khổ của mình đi đời mất, – Coretti bỗng ngừng lại và kêu lên; rồi chạy đến bếp lò, nhấc ấm cà phê ra.

– Cà phê của mẹ mình đấy, – cậu ta nói, – chúng ta cùng mang đến cho mẹ mình, vui lòng chứ? Mẹ mình gặp cậu, sẽ rất bằng lòng. Đã bảy hôm rồi, mẹ mình ốm… Ái chà! Các biến cách của động từ! Chúng nó đây! Mình bị bỏng tay luôn vì cái ấm cà phê này. À sau túi đạn cho bộ đội thì mình phải thêm vào cái gì nữa nhỉ? Còn cái gì đấy, nhưng mình chưa tìm ra thôi!… Nào, vào đây với mình đi!

Cậu bạn nhỏ của tôi mở một cánh cửa và chúng tôi đi vào trong buồng của mẹ Coretti. Bà nằm trên một cái giường to, đầu trùm một cái khăn trắng.

– Cà phê đây mẹ ạ, – Coretti nói và đưa tách cà phê cho mẹ. Rồi nhìn về phía tôi cậu nói thêm – Con giới thiệu với mẹ một bạn cùng lớp với con.

– Ồ! Tốt quá, cậu đến thăm một người ốm, thật tốt quá, – người đàn bà trung hậu nói.

Coretti sửa lại những chiếc gối ở sau vai mẹ, gấp lại mép chăn, thổi bùng ngọn lửa lò sưởi và đuổi con mèo đang vô lễ ngồi lên trên nóc tủ.

– Mẹ có cần gì nữa không? – Coretti vừa hỏi mẹ vừa đỡ lấy tách cà phê. – Mẹ đã uống hai thìa xirô chưa? Mẹ dùng hết, con sẽ ra hiệu thuốc mua thêm. Gỗ, củi đã xếp đâu vào đấy rồi; đến bốn giờ, con sẽ đặt thịt lên bếp, như mẹ đã dặn; và khi nào bà hàng bơ đi qua, con sẽ trả bà ta tám xu. Mẹ cứ yên tâm, mọi việc đâu sẽ vào đấy cả.

– Tốt lắm, con ạ, – bác hàng củi trả lời, – con nhớ hết cả mọi việc! Tội nghiệp con tôi!

Coretti chỉ cho tôi xem một cái khung nhỏ có lồng ảnh của bố cậu mặc quân phục, ngực lấp lánh chiếc Huân chương quân công, ông được tặng năm 1866 khi đang ở trung đoàn của thái tử Umberto. Trông khuôn mặt giống hệt bạn Coretti của tôi, đôi mắt lanh lợi, nụ cười yêu đời.

Chúng tôi trở lại gian nhà bếp

– À, mình tìm ra rồi! – Coretti nói, và chạy đến chỗ quyển vở, viết thêm vào “Người ta cũng dùng để làm yên cương ngựa”. – Phần còn lại, mình sẽ làm nốt tối nay, mình sẽ thức khuya một chút! Cậu sướng thật, Enrico ạ, có thì giờ học tập, lại có thì giờ chơi…

Vẫn vui vẻ và nhanh nhẹn, Coretti dẫn tôi ra cửa hàng; cậu đặt những khúc gỗ trên cái giá, lấy cưa xẻ ra làm đôi, vừa làm vừa bảo tôi:

– Này, môn thể dục này khỏe hơn cái động tác đẩy tay ra đằng trước nhiều! Mình muốn khi bố mình về thì đống gỗ này đã cưa xong, và bố mình sẽ hài lòng lắm! Chỉ khốn nỗi là sau khi cưa xong mình viết những chữ t và i cứ ngoằn ngoèo như rắn bò, thầy giáo bảo thế. Biết làm sao được? Mình sẽ thưa thật với thầy: “Con phải vận động hai cánh tay luôn và các ngón tay phải bị ảnh hưởng”. Điều cốt yếu là làm sao cho mẹ mình chóng khỏi, và ơn Chúa, hôm nay mẹ mình đã khá nhiều. Còn bài ngữ pháp thì sáng mai mình sẽ dậy học sớm. Kìa, xe than đã về đấy. Nào, bắt tay vào việc thôi!

Một chiếc xe chất đầy những bao đen sì đỗ trước cửa hàng. Coretti chạy ra nói chuyện với người đánh xe, rồi trở vào.

– Giờ thì mình không thể giữ cậu lại nữa đâu, – Coretti bảo tôi, – mai nhé, và cám ơn cậu đã đến thăm mình! Chúc cậu đi dạo chơi vui vẻ, Enrico sung sướng ạ!

Và siết tay tôi xong, Coretti chạy ra nhấc bao than đầu tiên đặt lên lưng, vác vào, rồi cứ thế thoăn thoắt chạy từ cửa hàng ra chiếc xe, từ chiếc xe vào cửa hàng sắc mặt tươi tắn dưới cái mũ nồi bằng da mèo và luôn luôn nhanh nhẹn, vui vẻ, khẩn trương đến nỗi ai trông thấy cũng phải thích.

“Enrico sung sướng!” cậu bảo tôi như vậy. Ồ, không Coretti ạ, không, bạn sung sướng hơn tôi; bạn vừa học, bạn vừa làm, bạn giúp ích cho bố mẹ nhiều hơn tôi, bạn can đảm hơn tôi; và trăm lần tốt hơn tôi, bạn thân mến của tôi ạ!

Thầy hiệu trưởng

Thứ sáu, 18

Sáng nay, Coretti rất vui lòng, vì thầy giáo lớp hai cũ của cậu, thầy Coatti, đến coi kỳ thi hàng tháng của cậu. Thầy Coatti người cao lớn, tóc quăn, đôi mắt âm u và tiếng nói oang oang. Thầy luôn luôn dọa phạt học trò, dọa cả đưa đi tù; nhưng thầy không phạt ai bao giờ và cười trong chòm râu khi thấy học trò sợ. Trường thị xã của chúng tôi có tám thầy giáo, kể cả thầy phụ giáo, nhỏ nhắn và không có râu, nom còn trẻ măng.

Còn thầy hiệu trưởng của chúng tôi, thì người cao lớn, hói đầu, đeo kính gọng vàng, và có bộ râu hoa râm dài xuống tận ngực; chiếc áo chẽn lúc nào cũng cài khuy rất đứng đắn đến tận cằm và người ta trông là biết ngay thầy rất hiền đối với bọn trẻ. Mỗi khi học sinh bị gọi lên để nhắc nhở điều gì, run sợ bước vào văn phòng của thầy thì thầy không hề rầy la, thầy nắm lấy tay học trò, dịu dàng khuyến khích; giảng giải cho họ phải cư xử như thế nào; và thường thường thì học sinh đều hối hận vì lỗi lầm của mình và sẽ không mắc lại nữa. Cuối cùng thầy nói với họ vẻ hiền hậu hết sức và giọng thuyết phục vô cùng, đến nỗi ra khỏi phòng của thầy, học sinh đều rơm rớm nước mắt, và hổ thẹn hơn là bị phạt. Thầy hiệu trưởng tốt biết bao! Thầy bao giờ cũng là người đến trường sớm nhất và là người ở lại sau cùng; buổi sáng thầy đến đón học sinh và tiếp bố mẹ học sinh; buổi chiều khi tất cả các thầy giáo, cô giáo đều ra về cả rồi, thầy còn đi kiểm tra quanh trường xem có học trò nào bị tai nạn xe cộ gì không, có đánh nhau ngoài phố không, hoặc có lấy cất, đá đút đầy cặp sách để ném vào đầu nhau không.

Mỗi khi thoáng bóng thầy hiện ra ở một chỗ ngoặt đầu phố, thì người ta thấy lũ trẻ chạy trốn, bỏ ngay cả chơi bi, chơi nút chai. Thầy hiệu trưởng phúc hậu giơ ngón tay dọa từ đằng xa, nhưng vẻ mặt hiền từ và đượm buồn của thầy thì lại hứa trước sự khoan hồng.

Mẹ có nói cho tôi biết là không ai thấy thầy cười từ khi thầy mất người con trai, một thanh niên tình nguyện tòng quân mà tấm ảnh để luôn luôn trên bàn hiệu trưởng của thầy. Ngay sau khi xảy ra sự bất hạnh ấy, thầy hiệu trưởng chúng tôi muốn xin nghỉ việc; thầy có viết đơn xin về hưu; nhưng rồi ngày này qua ngày khác, thầy cứ chần chừ không gửi đi, thầy thấy đau khổ khi phải từ biệt học sinh của thầy. Nhưng chiều hôm kia (lúc ấy bố ở trong phòng giấy của thầy), thầy có vẻ quả quyết gửi đi; bố ngỏ lời tiếc nhớ vì thấy thầy từ giã nhà trường thì bỗng một người bước vào. Ông ta đến xin cho con học. Thấy đứa bé, thầy hiệu trưởng bất giác có một cử chỉ ngạc nhiên, hết nhìn cậu học trò mới, lại nhìn cái ảnh đặt trên bàn, thế rồi, kéo cậu học trò lại gần mình, thầy nhìn thẳng vào mặt cậu.

Cậu bé ấy giống một cách lạ lùng người con trai mà thầy đã mất. Thầy hiệu trưởng ghi tên người học trò mới, tiễn hai bố con về, không quên đưa tay xoa cái đầu tóc đen của cậu bé, rồi trở lại ngồi vào bàn giấy, nghĩ ngợi.

– Quả là một sự thiệt thòi lớn nếu thầy muốn bỏ việc điều khiển nhà trường! – bố nhắc lại, tiếp tục câu chuyện đang bỏ dở.

Nghe câu ấy, hình như thầy hiệu trưởng sực tỉnh ra khỏi sự suy nghĩ, thầy cầm lá đơn xin từ chức xé đi và nói:

– Tôi ở lại.

Những người lính

Thứ ba, 22

Anh con trai thầy hiệu trưởng là quân chí nguyện khi anh hy sinh. Vì vậy mà người cha đáng thương thường đến quảng trường Corso, mỗi khi chúng tôi tan học, để xem quân lính diễu qua. Hôm qua, một trung đoàn bộ binh diễu qua. Độ năm chục đứa trẻ nhảy nhót quanh đội nhạc binh, lấy thước kẻ đánh nhịp vào cặp sách. Chúng tôi thì đứng thành nhóm trên lề đường. Garrone bó người trong bộ áo quá chật, ngoạm vào một miếng bánh mì to tướng; Votini lúc nào cũng ăn mặc lịch sự và chải chuốt, đứng cạnh Precossi, con ông thợ chữa khóa, mặc áo dài của cha, cậu bé người Calabria, cậu bé thợ nề, Crossi tóc đỏ, Franti vẻ trâng tráo, Robetti con trai ông đại úy pháo binh (cái cậu đã cứu sống đứa bé dưới bánh xe ngựa và bây giờ phải chống nạng) tất cả chúng tôi đều ở đấy để xem quân lính diễu qua. Thấy một người lính đi khập khiễng, Franti liền cười. Nó liền thấy một bàn tay đặt lên vai nó. Franti quay lại và trông thấy thầy hiệu trưởng của chúng tôi.

– Này, Franti, chế giễu một người lính đang ở trong đội ngũ và không thể đáp lại, cũng không thể tự vệ, thế khác nào chửi một người đang bị trói, như thế gọi là hèn nhát!

Franti liền lỉnh mất.

Quân lính đi qua, xếp hàng bốn, nhễ nhại mồ hôi và đầy những bụi, súng ống lấp lánh dưới ánh mặt trời.

Thầy hiệu trưởng nói với chúng tôi: “Phải yêu những quân nhân, các con ạ, đó là những người bảo vệ chúng ta. Ngày mai họ sẽ ra trận, hy sinh vì chúng ta, nếu có một đạo quân nước ngoài đe dọa lãnh thổ của ta. Chính họ cũng là những cậu bé! Họ chỉ hơn các con vài tuổi thôi; họ cũng đang đi học, học trong trung đoàn; và họ cũng như chúng ta, là người từ khắp tất cả các miền của nước Ý đến. Nhìn xem, người ta có thể nhận ra gần đúng dáng người của họ: nào người Sicilia, người Sardegna, người Napoli, người Lombardia. Trung đoàn này là một trung đoàn đã lâu năm, đã chiến đấu từ năm 1848, tuy không còn là những chiến sĩ ngày ấy nữa, nhưng vẫn là lá cờ ấy! Biết bao nhiêu người đã chết vì đất nước quanh lá cờ này, hai mươi năm trước khi các con ra đời!

– Lá cờ đây! – Garrone nói.

Quả thật, người ta thấy lá cờ đỏ, trắng và lục phất phới trên đầu các chiến sĩ. Thầy hiệu trưởng lại nói:

– Nào, các con, hãy tỏ lòng kính mến quân đội đi, các con hãy chào theo cách chào của học sinh, đưa tay lên trán, khi ba màu cờ đi qua!

Lá cờ, do một sĩ quan vác, đi qua trước mặt chúng tôi, đã sờn và rách nát, một chiếc huân chương dính ở cán cờ. Tất cả chúng tôi cùng một lúc đưa tay lên trán chào. Người sĩ quan nhìn chúng tôi mỉm cười, và chào lại chúng tôi theo kiểu nhà binh.

“Hoan hô, các con!”, một giọng nói phía đằng sau chúng tôi. Quay lại, chúng tôi thấy một cụ già, ve áo dài đeo tấm huân chương. Đó là một sĩ quan hưu trí, – “Hoan hô, các con, – cụ lại nói – các con làm thế là tốt! Kẻ nào lúc bé tôn trọng lá cờ lớn lên sẽ biết bảo vệ lá cờ!”

Và trong lúc con người trung hậu ấy nói thì lá cờ của trung đoàn phất phới bay ở đấy, trên quảng trường Coocxô, chung quanh là một đám trẻ con vui vẻ reo hò nhịp theo điệu quân nhạc.

Người bảo vệ Nelli

Thứ tư, 23

Hôm qua, Nelli cũng đi xem quân đội diễu hành. Là một đứa bé gù lưng tội nghiệp, Nelli có vẻ buồn, và tự nhủ: “Mình sẽ không bao giờ được đi bộ đội!”. Cậu bé đáng thương ấy rất chăm học, nhưng thân hình gầy gò và xanh xao đến nỗi được một lát là mệt hết hơi. Mẹ cậu là một bà tóc vàng, mặc quần áo đen, hàng ngày đến đón con vào giờ tan học, để con khỏi phải bị đám đông xô đẩy. Cứ xem cách bà vuốt ve con! Những ngày đầu, học trò chế nhạo Nelli, lấy cặp sách thúc vào lưng nó, nhưng nó không bao giờ chống lại, và cũng không cho mẹ biết; nó muốn tránh đừng để mẹ buồn vì con mình bị chúng bạn hành hạ. Người ta chế nhạo Nelli, và đứa bé đáng thương chỉ khóc thầm, đầu gục trên mặt bàn.

Một hôm, Garrone can thiệp và bảo đám học trò: “Ai đụng đến Nelli thì sẽ lôi thôi với tớ; tớ sẽ giã cho một trận cạch đến già”. Franti không thèm đếm xỉa gì đến sự đe dọa của Garrone, và đã bị ăn trận đòn ấy, một trận đấm đá làm cho hắn ta lăn quay ba vòng. Từ đó không còn ai làm cho Nelli phải lo ngại nữa. Thầy Perboni đã xếp Garrone ngồi một bàn với Nelli và hai cậu đã thành đôi bạn thân. Nelli rất hâm mộ Garrone. Bước vào lớp là đưa mắt tìm xem có Garrone không. Ra về không bao giờ quên chào tạm biệt, và Garrone cũng làm như vậy. Khi Nelli đánh rơi ngòi bút hay quyển sách xuống dưới ghế, Garrone liền cúi xuống nhặt lên ngay cho, sợ bạn phải khó nhọc; còn giúp bạn xếp sách vào cặp và mặc áo choàng. Vì vậy Nelli rất yêu Garrone, và rất vui mừng mỗi khi Garrone được thầy giáo khen. Người ta tưởng như chính là Nelli được khen vậy! Tôi chắc là Nelli đã kể hết cho mẹ cậu: những sự trêu chọc trong những ngày đầu, và việc can thiệp của Garrone, vì sáng nay đã xảy ra việc như sau:

Thầy Perboni bảo tôi đưa lên cho thầy hiệu trưởng bản chương trình học tập, khoảng nửa giờ trước khi tan lớp; tôi đang ở đó thì bà mẹ Nelli bước vào. Bà hỏi thầy hiệu trưởng:

– Thưa thầy, trong lớp của con tôi có một học sinh tên là Garrone phải không ạ ? – bà ta hỏi thầy hiệu trưởng.

– Thưa bà, có đấy ạ.

– Xin thầy làm ơn cho gọi cậu ấy đến đây một lát. Tôi muốn nói với cậu ấy mấy lời.

Thầy hiệu trưởng bấm chuông cho người gác cổng vào, và bảo đi gọi Garrone. Sau một phút thì Garrone đến, vẻ ngạc nhiên vì thầy hiệu trưởng gọi mình.

Vừa thấy cậu bé to lớn ấy, bà Nelli liền chạy lại ôm lấy đầu cậu và hôn luôn mấy cái liền.

– Chính cháu là Garrone, bạn thân của con cô, người che chở cho đứa con tội nghiệp của cô, phải không, cháu thân yêu?

Rồi tháo ở cổ mình ra một sợi dây chuyền vàng có buộc một cái thánh giá, bà đeo vào cổ Garrone và nói:

– Hãy giữ lấy vật kỷ niệm nhỏ này, cháu thân yêu, nhận nó từ tay một người mẹ đã cầu phúc cho cháu và biết ơn cháu.

Người đầu lớp

Thứ sáu, 25

Garrone chinh phục tất cả mọi tấm lòng, thì Derossi chinh phục tất cả các điểm tốt. Derossi đã được huy chương thứ nhất; và năm nay rồi cậu lại sẽ đứng đầu lớp nữa. Chẳng có ai địch nổi cậu, người ta phải công nhận cậu trội hẳn về tất cả mọi môn học. Nhất về toán, về ngữ pháp, về tập làm văn, về vẽ; cậu hiểu mọi bài một cách dễ dàng vô cùng và có một trí nhớ đáng kinh ngạc. Lúc nào cậu cũng đạt kết quả tốt mà chẳng phải cố gắng gì cả, và hình như việc học đối với cậu chỉ là một trò chơi. Hôm qua thầy giáo còn bảo cậu: “Thiên tư của con rất lớn; cố gắng đừng hoang phí một cách vô ích”.

Thực ra cũng không thể nào mà không đố kỵ với cậu được, khi mà người ta tự thấy mình kém cậu về mọi mặt. Ôi, tôi cũng như Votini, tôi cũng sinh lòng đố kỵ đối với Derossi! Tôi thấy cay đắng, gần như cay cú; khi tôi ở nhà làm bài, tôi nghĩ rằng Derossi chắc đã làm xong bài dễ dàng và chẳng chút sai nào cả; thế nhưng, khi đến lớp, trông thấy bạn tôi tươi cười, đẹp trai và đắc thắng, khi nghe cậu trả lời những câu hỏi của thầy giáo, những câu trả lời lúc nào cũng rõ ràng, chính xác, thì tự nhiên tất cả nỗi cay đắng, tất cả lòng cay cú đều tiêu tan hết; và tôi tự lấy làm xấu hổ vì đã có những nỗi lòng ti tiện ấy!

Tôi muốn luôn được ở cạnh Derossi, cùng được học tất cả các lớp với cậu; vì sự có mặt của cậu đem cho tôi lòng can đảm và ham học; nhiệt tình của cậu đã chia sẻ sang cho tôi. Mai, thầy Perboni sẽ đọc cho chúng tôi nghe truyện hàng tháng mà thầy đã đưa cho Derossi chép, truyện nhan đề Cậu bé trinh sát người Lombard. Sáng nay, chép sự tích anh hùng ấy, Derossi rơm rớm nước mắt và run run đôi môi. Tôi nhìn cậu và tôi rất sung sướng nếu có thể nói với cậu rằng: “Derossi ạ, cậu hơn tôi nhiều, cậu là một người lớn so với Enrico bé nhỏ. Enrico kính trọng cậu và muốn noi gương cậu”.

Cậu bé trinh sát người Lombard

(Truyện đọc hàng tháng)

Thứ bảy, 26

Bấy giờ là năm 1859, trong cuộc chiến tranh giải phóng xứ Lombardia, vài ngày sau trận Solferino và San Martino, mà quân Pháp và quân Ý đã chiến thắng quân Áo.

Một buổi sáng tháng sáu đẹp trời, một trung đội ky binh Saluzzo đi bước một về phía quân địch trên con đường nhỏ vắng vẻ, trinh sát cánh đồng một cách kỹ lưỡng. Đội ky binh do một sĩ quan và một hạ sĩ chỉ huy; họ nhìn xa ra phía trước, im lặng, sẵn sàng nhận ra ngay những bộ quân phục màu trắng của các đội tiền vệ quân thù xuất hiện. Cứ thế, họ đi đến một ngôi nhà con con kiểu thôn quê, xung quanh trồng toàn cây tần bì; trước nhà có một cậu bé độ mười hai tuổi đang cầm dao róc vỏ một cành tần bì để làm cái gậy. Trước cửa sổ treo một lá cờ to ba màu; trong nhà chẳng còn một bóng người. Những người nông dân treo cờ lên rồi trốn đi vì sợ quân Áo. Trông thấy toán ky binh, cậu bé liền ném gậy xuống đất, và cất mũ lưỡi trai chào. Cậu bé khôi ngô, tóc bạch kim, vẻ mặt bạo dạn, đôi mắt to xanh. Cậu mặc sơ mi và giữa hai tà áo lộ ra bộ ngực trần.

– Cậu làm gì ở đây? – người sĩ quan dừng ngựa lại hỏi: – Sao không trốn đi với gia đình?

– Cháu không có gia đình, – cậu bé trả lời, – cháu là con rơi. Cháu làm cho ai muốn thuê. Cháu ở lại đây để xem đánh nhau.

– Cậu có thấy quân Áo đi qua đây không?

– Không, từ ba hôm nay chẳng thấy gì hết. – Viên sĩ quan làm thinh một lát, rồi xuống ngựa. Cho lính đứng quay mặt về phía quân địch, viên sĩ quan vào nhà và trèo lên mái. Nhưng ngôi nhà thấp, từ trên mái người ta chỉ nhìn thấy được một khoảng nhỏ của cánh đồng.

“Phải trèo lên cây mới được”, viên sĩ quan vừa tụt xuống vừa nói.

Ngay trước lối vào nhà, có một cây tần bì cao chót vót, ngọn cây đu đưa trên nền trời xanh. Viên sĩ quan suy nghĩ, nhìn cái cây, lại nhìn những người lính, rồi đột nhiên hỏi cậu bé:

– Mắt cậu có tinh không?

– Cháu ấy à, cháu có thể nhìn thấy một con chim cách xa nghìn bước.

– Cậu có thể trèo lên tới ngọn cây này không?

– Trèo lên trên cây này à? Cháu chỉ cần hai phút thôi.

– Và cậu có thể cho tôi biết những gì cậu sẽ trông thấy từ trên ấy: có lính Áo ở phía nào, có bụi tung lên, có ngựa hay có súng lấp lánh không?

– Chắc chắn, cháu có thể báo cho bác.

– Giúp tôi việc ấy cậu muốn trả công cái gì nào?

– Cháu muốn ấy à, – cậu bé vừa cười, vừa trả lời, – chẳng muốn gì hết… Chết chửa. Nếu làm cho bọn Áo thì bất kỳ giá nào cháu cũng không… nhưng với quân ta thì… Cháu là người Lombard mà…

– Tốt lắm, thế thì trèo lên !

– Hãy hượm, để cháu cởi giày đã.

Cậu bé bỏ giày ra, thắt chặt dây lưng quần, ném cái mũ xuống cỏ và ôm quàng lấy thân cây.

“Cẩn thận !” Viên sĩ quan kêu lên, hình như bỗng nhiên lo sợ.

Cậu bé quay lại, đôi mắt xanh nhìn viên sĩ quan như muốn thầm hỏi gì.

– Chẳng có gì đâu, – viên sĩ quan nói, – cứ leo đi…

Cậu bé leo thoăn thoắt như một con mèo.

Chỉ phút chốc cậu đã đến tận ngọn cây cao chót vót, đôi chân mất hút trong tán lá, nhưng để lộ cả đầu và ngực. Mặt trời chiếu vào, đầu tóc bạch kim của cậu như lấp lánh ánh vàng. Viên sĩ quan chỉ hơi thấy cậu thôi, vì ở trên cao người cậu bé tí.

– Nhìn thẳng phía trước, và nhìn xa coi! – Viên sĩ quan gào to.

Để nhìn cho rõ, cậu bé buông tay phải đang vịn vào cành cây, đưa lên che trước mắt.

– Thấy gì không? – viên sĩ quan hỏi.

Cậu bé nghiêng mình xuống phía viên sĩ quan, lấy bàn tay làm loa đáp:

– Có hai người cưỡi ngựa trên đường cái.

– Cách đây bao xa?

– Cách một nghìn hoặc một nghìn hai trăm bước,

– Chúng nó đi đến à?

– Chúng nó đang đứng lại.

– Còn thấy gì nữa không? – viên sĩ quan lại hỏi sau một lúc im lặng. – Hãy nhìn sang phía bên phải.

Cậu bé nhìn về bên phải, rồi nói:

– Gần nghĩa địa, giữa các thân cây có vật gì óng ánh, hình như lưỡi lê.

– Có thấy người không?

– Không, chúng đều nấp trong lúa mì.

Đúng lúc ấy, một tiếng đạn bay, rít lên trên không, rồi tắt đi rất xa ở phía sau mái nhà.

– Xuống đi! – viên sĩ quan thét lên – chúng nó trông thấy đấy, tôi không muốn biết thêm gì nữa đâu, xuống!…

– Cháu không sợ đâu, – cậu bé trả lời.

– Xuống… Tôi bảo xuống!

– Hượm tí! Kìa kìa, phía bên trái cháu thấy… Cậu bé bị ngắt lời vì một tiếng đạn rít khác bay qua, thấp hơn tiếng trước. Cậu rùng mình, thốt lên: “Bọn Áo quỷ sứ! Chúng nó kiếm chuyện với mình chắc?”

Viên đạn đã rít ngay bên tai cậu.

– Xuống ngay lập tức! – Viên sĩ quan thét lên, giọng ra lệnh và bực tức.

– Cháu xuống đây, – cậu bé trả lời – có cây che, cứ yên trí. Bác có muốn biết phía bên trái có gì không.

– Không! – Viên sĩ quan đáp, – không cần, xuống đi!

– Phía bên trái, – cậu bé gào to và nghiêng nửa người về phía ấy, – hình như cạnh nhà thờ, thấy có…

Một viên đạn thứ ba lại rít lên trên ngọn cây và ngay đó cậu bé ngã nhào, tay cố bíu vào thân cây và cành cây, rồi rơi, đầu lộn xuống phía đất, hai tay dang rộng…

“Chết chửa!” viên sĩ quan vừa kêu lên vừa chạy tới. Cậu bé ngã ngửa xuống, nằm sóng xoài trên mặt đất, hai cánh tay chéo vào nhau. Một tia máu từ trong ngực chảy ra. Viên hạ sĩ và hai người lính xuống ngựa, trong khi viên sĩ quan cúi xuống cởi phanh áo sơ mi cậu bé ra. Viên đạn đã vào trong phổi bên trái của cậu. “Chết rồi”, viên sĩ quan kêu lên.

– Không, còn sống, – viên hạ sĩ nói.

– Ôi! Thương thay cậu bé dũng cảm! – Viên sĩ quan nói. – Dũng cảm, dũng cảm lên!

Trong khi viên sĩ quan nói và thấm khăn tay lên vết thương của cậu bé, thì cậu mở mắt ra, đôi mắt to lạ thường, nhưng tròng mắt đã đứng, và đầu cậu gục xuống bất động. Cậu đã chết.

Viên sĩ quan mặt tái đi, nhìn cậu bé đang nằm trên bãi cỏ một hồi. Rồi đứng dậy, rồi quay lại nhìn nữa, trong khi mấy người lính đứng im lặng bên cạnh ông ta. Những người lính khác thì quay mặt về phía quân thù.

“Tội nghiệp cậu bé! – Viên sĩ quan buồn rầu nhắc lại, – Tội nghiệp cậu bé dũng cảm!” Đến gần ngôi nhà, viên sĩ quan tháo lá cờ ba màu ở cửa sổ ra phủ lên mình cậu bé như một tấm vải liệm, chỉ để chừa khuôn mặt. Viên hạ sĩ nhặt đôi giày, cái mũ, cây gậy đang làm dở, con dao của cậu, đem để bên cạnh cậu…

Viên sĩ quan im lặng một lúc, rồi quay lại nói với viên hạ sĩ:

Ta hãy đi gọi đội quân y dã chiến đến. Cậu bé đã hy sinh như một quân nhân, phải để quân đội mai táng.

Nói xong, viên sĩ quan giơ tay gửi một cái hôn đến cậu bé quá cố, và ra lệnh “Lên ngựa!”

Quân lính lên ngựa, và trung đội tiếp tục hành quân.

Vài giờ sau, cậu bé được khâm liệm theo nghi thức trọng thể của quân đội.

Lúc mặt trời lặn, toàn thể tuyến tiền tiêu của quân Ý tiến thẳng về phía quân địch.

Trên con đường sáng hôm ấy kỵ binh đi qua, tiến lên theo hai hàng, một tiểu đoàn pháo thủ mà mấy hôm trước đã anh dũng đổ máu ở trận San Martino.

Tin chú bé chết đã truyền đi trong hàng ngũ trước khi quân sĩ rời doanh trại lên đường. Khi các sĩ quan dẫn đầu tiểu đoàn trông thấy thi hài nhỏ bé nằm dưới gốc cây tần bì, quấn trong lá cờ ba màu, thì họ tuốt gươm chào, và một người trong bọn họ cúi xuống bờ suối gần đó, hái hoa rắc lên mình cậu bé. Thế là tất cả các pháo thủ lần lượt đi qua, đều làm theo cấp chỉ huy của họ, và rắc hoa lên cậu bé. Chỉ trong mấy phút, mình cậu đã đầy hoa. Sĩ quan và quân lính đi qua đều chào: “Anh dũng, cậu bé xứ Lombardia! – Vĩnh biệt cậu bé thân yêu! – Xin tặng, cậu bé tóc vàng đáng thương! – Cậu quả là anh dũng! Vinh quang thuộc về cậu, em bé ạ! – Vĩnh biệt!”.

Một sĩ quan rút Huân chương Quân công của mình để tặng cậu, một sĩ quan khác đặt một cái hôn lên trán cậu, và hôn cứ tiếp tục rơi như mưa xuống đôi chân để trần, xuống bộ ngực đầy máu, xuống mái đầu bạch kim của cậu bé đang yên nghỉ, nằm trong lá cờ. Nét mặt của cậu như đang mỉm cười, tưởng như nghe những lời chào vĩnh biệt, cậu bé anh dũng thấy sung sướng và tự hào vì đã hiến đời mình cho xứ Lombardia thân yêu của mình.

Những người nghèo khổ

(thư của mẹ)

Thứ ba, 29

“Hy sinh tính mạng cho đất nước, như cậu bé xứ Lombardia, là một đức hạnh lớn; nhưng còn những đức hạnh khác cũng không nên bỏ qua, con ạ. Sáng nay, ở trường về, đi trước mẹ mấy bước, con đi qua mặt một người đàn bà đáng thương đang bế trên tay một đứa bé xanh xao và ốm yếu; người ấy xin con tiền. Con nhìn bà ta, và con không cho gì hết, dù trong túi con có tiền. Nghe mẹ bảo con ạ, đừng quen thói dửng dưng đi qua trước người nghèo khổ ngửa tay xin mình giúp đỡ và hơn nữa trước một người mẹ xin một xu cho con mình. Con hãy nghĩ rằng có thể đứa bé con ấy đang đói, hãy nghĩ đến những lời nói khắc khoải của người đàn bà đáng thương! Con có tưởng tượng ra những lời nức nở tuyệt vọng mà mẹ con sẽ phải nói với con ngày nào đấy: “Enrico, mẹ không có bánh mì cho con”. Khi mẹ giúp đỡ một người nghèo, người ta cám ơn mẹ bằng cách chúc cho mẹ và người thân thích của mẹ đều được sức khỏe dồi dào.

“Con không thể biết là những lời ấy đối với mẹ dịu dàng biết bao nhiêu, và mẹ biết ơn đến ngần nào người nghèo khổ đã nói với mẹ! Đối với mẹ hình như lời cầu chúc ấy phải bảo vệ cho tất cả những người thân yêu của mẹ, và mẹ về nhà càng vui lòng hơn và tự nhủ: “Người nghèo khổ này đã trả lại cho mình nhiều hơn mình đã cho họ nhiều”.

“Hãy tin lời mẹ, Enrico của mẹ ạ, thỉnh thoảng con phải trích ra một đồng từ túi tiền của con để nó rơi vào tay một cụ già không nơi nương tựa, một bà mẹ không có bánh ăn, một đứa trẻ không có mẹ. Người nghèo khổ thích trẻ con cứu giúp, vì không phải tủi nhục, vì tuổi trẻ giống như họ, cũng cần đến tất cả mọi người. Con có để ý thấy lúc nào cũng có những người nghèo khổ quanh quất gần trường học phải không? Sự giúp đỡ của một người lớn là một hành vi từ thiện, nhưng của một đứa trẻ vừa là một hành vi từ thiện, lại là một sự vuốt ve, con có hiểu không? Cũng dường như từ tay đứa trẻ bỏ xuống cùng một lúc, một đồng hào và một bó hoa. Con hãy nghĩ rằng con chẳng thiếu thốn gì hết, và người nghèo khổ thì thiếu thốn tất cả mọi thứ, trong lúc con ước mong được sung sướng, thì họ chỉ cầu xin được khỏi chết. Thật là buồn khi nghĩ rằng giữa bao nhiêu nhà giàu có, ngoài phố xá qua lại bao nhiêu là xe cộ và trẻ em mặc toàn quần áo nhung, lại có những đàn bà và trẻ em không có gì mà ăn cả. Không có gì mà ăn cả. Ôi! Enrico, từ nay về sau đừng có bao giờ đi qua trước một bà mẹ xin cứu giúp mà không đặt vào tay bà một đồng hào!

Mẹ của con”.

Prev
Next

Có thể bạn muốn đọc thêm

tra-hoa-nu-alexandre-dumas
Trà Hoa Nữ – Alexandre Dumas
November 20, 2023
tram-nam-co-don
Trăm Năm Cô Đơn – Gabriel Garcia Marquez
November 9, 2022
suoi-nguon-ayn-rand
Suối Nguồn – Ayn Rand
November 23, 2022
giet-con-chim-nhai-harper-lee
Giết Con Chim Nhại – Harper Lee
February 28, 2023

ThuVienOnline © 2026