Súng, Vi Trùng Và Thép - Jared Diamond - Lời nói đầu
CÂU HỎI CỦA YALI
Tất cả chúng ta đều biết, lịch sử đã diễn ra rất khác nhau đối với từng dân tộc ở những phần khác nhau trên trái đất. Trong vòng 13.000 năm kể từ cuối Kỷ Băng hà sau cùng, một số vùng trên thế giới đã phát triển được thành những xã hội công nghiệp có chữ viết, công cụ bằng kim loại, một số vùng khác chỉ phát triển được những xã hội chăn nuôi không chữ viết, nhiều vùng khác nữa vẫn chỉ là các xã hội săn bắt hái lượm dùng công cụ bằng đá. Những sự bất quân bình lịch sử này đã hắt những cái bóng dài lên thế giới hiện đại, bởi các xã hội có chữ viết và sử dụng công cụ bằng kim loại đã chinh phục hoặc tiêu diệt các xã hội khác. Tuy những khác biệt này vẫn là nhân tố cơ bản nhất của lịch sử thế giới, song nguyên nhân của chúng vẫn chưa rõ ràng và đang gây tranh cãi. Câu hỏi hóc búa về nguồn gốc của những khác biệt đó đã đặt ra trước mắt tôi từ 25 năm trước, trong một dạng đơn giản và mang tính cá nhân.
Vào tháng 7 năm 1972, có lần tôi đi bộ dọc bờ biển trên hòn đảo xích đạo New Guinea nơi tôi đang nghiên cứu sự tiến hóa của chim với tư cách nhà sinh vật học. Tôi từng nghe nói về một chính trị gia nổi tiếng người địa phương tên là Yali, lúc đó ông này đang đi kinh lý trong vùng. Hôm đó tình cờ Yali và tôi lại đi cùng một hướng, và ông ta bắt kịp tôi. Chúng tôi đi bên nhau trong khoảng một tiếng đồng hồ và nói chuyện suốt thời gian đó.
Con người Yali đầy lôi cuốn và nghị lực. Cặp mắt ông ngời sáng đầy mê hoặc. Ông nói năng hết sức tự tin về bản thân mình, nhưng ông cũng đặt nhiều câu hỏi thấu đáo và biết chăm chú lắng nghe. Cuộc đàm đạo của chúng tôi bắt đầu với chủ đề mà lúc đó người New Guinea nào cũng canh cánh trong lòng: nhịp độ nhanh chóng của diễn tiến chính trị. Papua New Guinea, theo cách mà hiện nay người ta gọi dân tộc của Yali, lúc đó còn là lãnh thổ do Australia cai quản theo ủy trị của Liên Hợp Quốc, nhưng chẳng bao lâu nữa ắt sẽ giành được độc lập. Yali giải thích cho tôi về vai trò của ông trong việc giúp người dân địa phương chuẩn bị cho việc tự mình nắm chính quyền.
Sau một hồi, Yali chuyển hướng cuộc trò chuyện và bắt đầu “quay” tôi. Ông ta chưa hề đi đâu ra khỏi New Guinea và chưa hề học quá bậc trung học, nhưng không gì có thể thỏa mãn được nỗi tò mò của ông. Trước hết ông ta muốn biết về công việc nghiên cứu chim của tôi ở New Guinea (kể cả chuyện tôi được trả bao nhiêu tiền). Tôi giải thích cho ông ta rằng có những nhóm chim rất khác nhau đã di cư đến New Guinea trong vòng hàng triệu năm qua. Rồi ông ta hỏi tôi tổ tiên của chính dân tộc ông ta đã đến New Guinea bằng cách nào trong mấy vạn năm trở lại đây, và người châu Âu đã biến New Guinea thành thuộc địa như thế nào trong 200 năm qua.
Cuộc đối thoại vẫn khá thân thiện, mặc dù cả hai chúng tôi chẳng lạ gì về sự căng thẳng giữa hai xã hội mà Yali và tôi là đại diện. Hai thế kỷ trước đây, tất cả người New Guinea hãy còn “sống trong Thời đại Đồ đá”. Nghĩa là, họ vẫn dùng những công cụ bằng đá tương tự những gì mà ở châu Âu đã bị thay thế bằng công cụ kim loại từ hàng ngàn năm trước; và họ sống trong những ngôi làng không được quản lý dưới một chính quyền có tính tập trung. Người da trắng đã đến, áp đặt chính quyền tập trung và mang lại những hàng hóa vật chất mà người New Guinea lập tức nhận ra giá trị, từ rìu thép, diêm và thuốc men cho tới quần áo, rượu và ô. Ở New Guinea, tất cả các vật phẩm này được gọi chung là “hàng” (cargo).
Nhiều thực dân da trắng thẳng thừng khinh miệt người New Guinea, coi họ là những kẻ “bán khai”. Ngay cả những “ông chủ” da trắng kém cỏi nhất – mãi đến năm 1972 họ vẫn được gọi là “ông chủ” – cũng có mức sống cao hơn nhiều so với người New Guinea, thậm chí cao hơn cả những chính trị gia đầy sức lôi cuốn như Yali. Thế nhưng Yali đã quay rất nhiều người da trắng cũng như đã “quay” tôi khi đó, còn tôi thì đã quay nhiều người New Guinea. Cả ông ta lẫn tôi đều biết rõ rằng người New Guinea trung bình ít nhất cũng thông minh ngang với người châu Âu. Tất cả những điều đó Yali đều có nghĩ tới khi ông ta hỏi tôi với một cái nhìn sáng quắc xuyên thấu nữa: “Thế thì tại sao người da trắng các ông lại chế ra nhiều hàng như vậy rồi đem sang New Guinea, còn người da đen chúng tôi lại có ít hàng của chính mình đến vậy?”
Đó là một câu hỏi đơn giản nhưng chạm đến tâm điểm của đời sống, Yali nhận ra điều đó. Thế nhưng vẫn có một sự khác biệt to lớn giữa lối sống của người New Guinea trung bình với lối sống của người châu Âu hay người Mỹ trung bình. Giữa các dân tộc khác trên thế giới cũng có những khác biệt tương tự về lối sống. Những khác biệt lớn lao đó ắt có những nguyên nhân sâu xa mà người ta có thể cho là hiển nhiên.
Thế nhưng câu hỏi bề ngoài đơn giản của Yali lại không dễ trả lời. Lúc ấy tôi đã không trả lời được. Các sử gia chuyên nghiệp vẫn còn tranh cãi với nhau về lời đáp cho câu hỏi đó, hầu hết thậm chí còn không đặt câu hỏi đó ra nữa kia. Trong nhiều năm kể từ khi Yali và tôi có cuộc đàm đạo kể trên, tôi đã nghiên cứu và viết về các phương diện khác của lịch sử loài người, lịch sử và ngôn ngữ. Cuốn sách này, được viết ra sau đó hai mươi lăm năm, là nỗ lực nhằm trả lời cho Yali.
Mặc dù câu hỏi của Yali chỉ liên quan đến sự tương phản về lối sống giữa người New Guinea với người da trắng châu Âu, song ta có thể mở rộng ra nhiều cặp tương phản khác trong thế giới hiện đại. Các dân tộc có nguồn gốc Âu-Á, nhất là các dân tộc hiện vẫn đang sống ở châu Âu và Đông Á, cộng với những người đã di cư sang Bắc Mỹ, hiện đang thống trị thế giới về của cải và quyền lực. Các dân tộc khác, trong đó có hầu hết người châu Phi, đã dứt bỏ được ách thực dân châu Âu song vẫn còn tụt hậu rất xa về của cải và quyền lực. Lại có những dân tộc khác, chẳng hạn như cư dân bản địa châu Úc, người châu Mỹ bản địa và người cực nam châu Phi, không còn là chủ nhân mảnh đất của mình mà đã bị tàn sát, bị chinh phục, trong một số trường hợp thậm chí còn bị diệt chủng bởi người châu Âu thực dân.
Vậy, ta có thể đặt lại những câu hỏi về sự bất bình đẳng trong thế giới hiện đại như sau: Tại sao của cải và quyền lực chỉ được phân phối như hiện nay chứ không được phân phối theo cách nào khác? Chẳng hạn, tại sao không phải người châu Mỹ bản địa, người châu Phi và người châu Úc bản địa là những kẻ đi tàn sát, chinh phục hay tiêu diệt người châu Âu và người châu Á?
Ta có thể dễ dàng đẩy câu hỏi này lùi lại thêm một bước. Vào năm 1500, khi sự bành trướng thuộc địa của châu Âu chỉ mới khởi đầu, các dân tộc trên những lục địa khác nhau đã khác nhau rất nhiều về công nghệ và tổ chức chính trị. Hầu hết châu Âu, châu Á và Bắc Phi là nơi có những nhà nước hoặc đế quốc vũ trang bằng kim loại, trong số đó vài nước đang trên ngưỡng cửa công nghiệp hóa. Hai dân tộc châu Mỹ bản địa, người Aztec và người Inca, đang cai trị những đế quốc dùng công cụ bằng đá. Một số phần của châu Phi hạ Sahara được phân chia giữa các quốc gia hay tù trưởng quốc nhỏ dùng công cụ bằng sắt. Hầu hết các dân tộc khác – trong đó có tất cả các dân tộc ở châu Úc và New Guinea, nhiều đảo Thái Bình Dương, hầu hết châu Mỹ và nhiều phần nhỏ của châu Phi hạ Sahara – vẫn sống thành những bộ lạc chăn nuôi hay thậm chí như là những bộ lạc săn bắt hái lượm dùng công cụ bằng đá.
Dĩ nhiên, những sự khác biệt về công nghệ và chính trị đó vào khoảng năm 1500 đã là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến những bất quân bình của thế giới hiện đại. Các đế quốc có vũ khí bằng thép đã có thể chinh phục hay tiêu diệt các bộ lạc chỉ dùng vũ khí bằng đá và gỗ. Tuy nhiên, làm cách nào thế giới đã đạt tới tình trạng như vậy vào thời điểm năm 1500?
Một lần nữa, chúng ta có thể dễ dàng đẩy lùi câu hỏi này thêm một bước, bằng cách dựa vào lịch sử thành văn và các di chỉ khảo cổ. Cho đến cuối kỷ Băng hà, khoảng 11.000 năm TCN, mọi dân tộc trên mọi lục địa đều hãy còn là dân săn bắt hái lượm. Mỗi lục địa phát triển với một tốc độ khác nhau trong khoảng từ 11.000 năm TCN đến năm 1500, đó chính là điều đã dẫn đến những bất quân bình về công nghệ và chính trị vào năm 1500. Trong khi người châu Úc bản địa và nhiều dân châu Mỹ bản địa vẫn cứ là dân săn bắt hái lượm, hầu hết người Âu-Á, hầu hết người châu Mỹ và châu Phi hạ Sahara đã dần dần phát triển nông nghiệp, chăn nuôi, nghề luyện kim và các tổ chức chính trị phức tạp. Nhiều phần của Âu-Á và một khu vực của châu Mỹ cũng đã phát minh ra chữ viết một cách độc lập với nhau. Tuy nhiên, chính tại Âu-Á các phát minh này xuất hiện sớm hơn ở bất cứ nơi nào khác. Chẳng hạn, việc sản xuất đại trà công cụ bằng đồng, vốn chỉ mới khởi đầu ở vùng Andes Nam Mỹ vào các thế kỷ trước năm 1500, đã xuất hiện ở Âu-Á từ trước đó trên 4.000 năm. Công nghệ dùng đá của người Tasmania, khi được các nhà thám hiểm châu Âu phát hiện lần đầu vào năm 1642, còn đơn sơ hơn nhiều so với ở nhiều vùng của châu Âu Sơ kỳ Đồ đá cũ trước đó hàng vạn năm.
Vậy là rốt cuộc ta có thể đặt lại câu hỏi về những sự bất quân bình của thế giới hiện đại như thế này: tại sao sự phát triển của loài người đã diễn ra trên những lục địa khác nhau với những tốc độ khác nhau đến vậy? Những tốc độ phát triển rất khác nhau đó chính là mẫu hình lớn nhất của lịch sử và là chủ đề cuốn sách của tôi.
Tuy cuốn sách này nói cho cùng là về lịch sử và tiền sử, song chủ đề của nó không chỉ có giá trị hàn lâm mà còn có tầm quan trọng to lớn về thực tiễn và chính trị. Lịch sử những tương tác giữa các dân tộc khác nhau chính là cái đã định hình thế giới hiện đại thông qua sự chinh phục, bệnh truyền nhiễm và diệt chủng. Các xung đột đó tạo ra những ảnh hưởng lâu dài mà sau nhiều thế kỷ vẫn chưa thôi tác động, vẫn đang tích cực tiếp diễn ở một số khu vực nhiều vấn đề nhất của thế giới ngày nay.
Chẳng hạn, hầu hết châu Phi vẫn đang phải đánh vật với di sản quá khứ thuộc địa của mình. Ở các khu vực khác – gồm hầu hết Trung Mỹ, Mexico, Peru, Tân Caledonia, Liên Xô cũ và nhiều phần của Indonesia – các cuộc nội loạn và chiến tranh du kích đang khiến những người dân bản địa mà dân số vẫn còn khá đông chống lại các chính phủ vốn chủ yếu nằm trong tay hậu duệ của những người chinh phục từ nơi khác đến. Nhiều dân tộc bản địa khác – như người Hawai bản địa, người Australia bản địa, người Siberia bản địa, người châu Mỹ bản địa ở Hoa Kỳ, Canada, Brazil, Argentina và Chile – đã bị giảm sút nghiêm trọng về dân số do nạn diệt chủng và bệnh tật đến nỗi ngày nay họ chỉ còn một dúm lọt thỏm giữa số đông hậu duệ những kẻ xâm lược. Mặc dù không có khả năng tiến hành chiến tranh du kích do dân số quá ít, họ vẫn đang ngày càng mạnh mẽ đòi quyền lợi của mình.
Ngoài ảnh hưởng lâu dài của các xung đột giữa các dân tộc trong quá khứ đối với tình hình chính trị và kinh tế ngày nay, còn có những ảnh hưởng về ngôn ngữ, đặc biệt là sự biến mất trong ngày một ngày hai của hầu hết trong số 6.000 ngôn ngữ của thế giới hiện đại, do chúng bị thay thế bởi tiếng Anh, tiếng Trung Hoa, tiếng Nga và một số ít ngôn ngữ khác mà số người nói đã tăng vọt trong vài thế kỷ gần đây. Mọi vấn nạn đó của thế giới hiện đại đều là hệ quả của những quỹ đạo lịch sử khác nhau hàm chứa trong câu hỏi của Yali.
Trước khi tìm lời đáp cho câu hỏi của Yali, ta nên dừng một chút để xem xét một số ý kiến phản đối bản thân việc thảo luận câu hỏi đó. Đối với một số người, nội việc đặt ra câu hỏi đó thôi cũng đủ khiến họ thấy mình bị xúc phạm, vì một số lý do.
Một ý kiến phản đối như sau: Nếu chúng ta thành công trong việc lý giải làm cách nào một số người này thống trị những người khác, thì liệu điều đó có biện minh cho bản thân việc thống trị không? Liệu có phải nói vậy là hàm ý cái tình trạng thống trị kia là không tránh được và do đó việc đấu tranh hòng thay đổi tình trạng đó ngày nay là vô nghĩa? Ý kiến phản đối này dựa trên một khuynh hướng phổ biến là lẫn lộn giữa việc lý giải nguyên nhân với việc biện minh cho kết quả hoặc chấp nhận kết quả. Sử dụng một cách lý giải lịch sử vào việc gì và bản thân việc lý giải đó là hai chuyện hoàn toàn khác nhau. Hiểu một hệ quả thường là để tìm cách thay đổi hệ quả đó, chứ không phải để lặp lại hoặc kéo dài nó. Chính vì vậy các nhà tâm lý học mới cố thấu hiểu não trạng của những kẻ sát nhân hay kẻ hãm hiếp, chính vì vậy các sử gia chuyên ngành xã hội học mới cố thấu hiểu hành vi diệt chủng, các bác sĩ mới cố thấu hiểu các nguyên nhân bệnh tật ở người. Các nhà khoa học đó không tìm cách biện minh cho hành vi sát nhân, hãm hiếp, diệt chủng và bệnh tật. Họ tìm cách sử dụng hiểu biết của họ về chuỗi nhân quả hầu chặn đứng cái chuỗi đó.
Thứ hai, liệu việc trả lời câu hỏi của Yali có tự động bao hàm một cách tiếp cận lịch sử theo hướng lấy châu Âu làm trung tâm, một sự vinh danh người Tây Âu và nỗi ám ảnh về tầm quan trọng của Tây Âu và châu Mỹ Âu hóa trong thế giới hiện đại hay không? Liệu cái tầm quan trọng đó chỉ là một hiện tượng nhất thời trong vài thế kỷ trước, còn nay thì đã lu mờ sau sự nổi lên của Nhật Bản và Đông Nam Á hay không? Trên thực tế, hầu hết cuốn sách này sẽ đề cập đến các dân tộc khác không phải người châu Âu. Thay vì chỉ tập trung vào những tương tác giữa người châu Âu với người không phải châu Âu, ta cũng sẽ xét những tương tác giữa các dân tộc ngoài châu Âu với nhau – nhất là các tương tác diễn ra trong nội bộ châu Phi hạ Sahara, Đông Nam Á, Indonesia và New Guinea, giữa các dân tộc bản địa ở các khu vực đó. Còn xa mới là tán dương các dân tộc có nguồn gốc Tây Âu, ta sẽ thấy rằng hầu hết các yếu tố cơ bản trong nền văn minh của họ đã được phát triển bởi các dân tộc khác sống ở những nơi khác, chỉ sau đó mới được du nhập đến Tây Âu.
Thứ ba, liệu những từ như “văn minh” và những cụm từ như “sự trỗi dậy của văn minh” có hàm chứa cái ấn tượng sai lạc rằng văn minh mới là hay ho còn săn bắt hái lượm thì khốn khổ và lịch sử trong suốt 13.000 năm qua là sự tiến bộ dần dần từ chỗ bất hạnh đến chỗ ngày càng hạnh phúc hơn cho con người? Thật tình, tôi không cho rằng các nước công nghiệp là “tốt” hơn các bộ lạc săn bắt hái lượm, hay việc từ bỏ lối sống săn bắt hái lượm để chuyển sang nhà nước dựa trên công cụ bằng sắt là đại diện cho “tiến bộ”, hay điều đó đã dẫn đến việc nâng cao hạnh phúc của con người. Ấn tượng riêng của tôi, do đã từng sống ở cả các thành phố Hoa Kỳ lẫn các làng mạc New Guinea, là không phải ai cũng hiểu như nhau cái gọi là những phúc lợi của văn minh. Chẳng hạn, so với những người săn bắt hái lượm, công dân ở các nước công nghiệp hóa được hưởng dịch vụ y tế tốt hơn, ít có rủi ro bị sát hại và được sống lâu hơn, nhưng lại ít được hưởng sự hỗ trợ xã hội từ tình bạn và gia đình mở rộng. Động cơ để tôi khảo sát những khác biệt địa lý trong các xã hội loài người không phải là để tán dương rằng một loại xã hội nào đó là hay ho hơn, mà chỉ để thấu hiểu điều gì đã xảy ra trong lịch sử.
Liệu câu hỏi của Yali có thực sự cần một cuốn sách khác để trả lời không? Chẳng phải chúng ta chưa biết câu trả lời ư? Nếu có câu trả lời thì nó là gì?
Có lẽ cách lý giải thông thường nhất đều hoặc ngấm ngầm hoặc thẳng thừng quy cho sự khác biệt về sinh học giữa các dân tộc. Trong các thế kỷ sau năm 1500, khi các nhà thám hiểm châu Âu bắt đầu biết đến những khác biệt to lớn về công nghệ và tổ chức chính trị giữa các dân tộc trên thế giới, họ cho rằng những khác biệt đó phát sinh từ những khác biệt về khả năng nội tại. Khi thuyết Darwin xuất hiện, người ta dùng các thuật ngữ về chọn lọc tự nhiên và nguồn gốc tiến hóa để nhào nặn lại cách lý giải này. Các dân tộc sơ khai về công nghệ bị họ coi là dấu vết sự tiến hóa của loài người từ tổ tiên loài vượn. Họ cho rằng việc những dân tộc như vậy bị các nhà thực dân từ các xã hội công nghiệp hóa đến giành đất đai là tiêu biểu cho sự sống sót của loài thích nghi nhất. Khi ngành di truyền học xuất hiện, cách lý giải này được nhào nặn lại thêm lần nữa, lần này dùng thuật ngữ di truyền học. Người châu Âu bắt đầu được coi như vốn dĩ từ trong gen di truyền đã sẵn thông minh hơn người châu Phi, đặc biệt là so với người châu Úc bản địa thì lại càng thông minh hơn.
Ngày nay, một số bộ phận của xã hội phương Tây công khai bác bỏ chủ nghĩa phân chủng. Thế nhưng nhiều (có khi là hầu hết!) người phương Tây, dù với tư cách cá nhân hay trong tiềm thức, vẫn tiếp tục chấp nhận những cách lý giải theo hướng phân biệt chủng tộc. Mỗi khi nhắc đến chủ đề người châu Úc bản địa, ngay cả những người Mỹ, người châu Âu và người Úc da trắng có học thức đều cho rằng trong bản thân người châu Úc đã có cái gì đó sơ khai. Rõ ràng là trông họ khác người da trắng. Nhiều hậu duệ của những người bản địa đã sống sót qua thời kỳ thực dân châu Âu nay cảm thấy khó mà thành đạt về kinh tế trong xã hội của người Úc da trắng.
Một lập luận có vẻ hấp dẫn thì phát biểu như sau: Những người di cư da trắng đến Úc đã xây dựng một nhà nước có học vấn, công nghiệp hóa, tập trung hóa về chính trị và dân chủ dựa trên công cụ kim loại và sản xuất lương thực, tất cả chỉ trong vòng một thế kỷ thực dân hóa một lục địa nơi mà người châu Úc bản địa đã sinh sống bằng cách săn bắt hái lượm và không có công cụ kim loại trong vòng ít nhất 40.000 năm. Đây là hai thử nghiệm liên tiếp nhau trong sự phát triển của loài người mà ở đó môi trường trước sau chỉ là một, biến tố duy nhất là những con người chiếm hữu môi trường đó. Còn phải có bằng chứng nào hơn thế nữa để có thể kết luận rằng những khác biệt giữa xã hội châu Úc bản địa với các xã hội châu Âu phát sinh từ những khác biệt ở bản thân các dân tộc đó?
Lý do để ta phản đối những cách lý giải theo hướng phân biệt chủng tộc này không phải chỉ vì chúng thật đáng tởm mà còn bởi chúng sai. Không có bằng chứng vững chắc nào cho thấy có tồn tại những khác biệt ở trí thông minh của con người song song với những khác biệt về công nghệ. Trên thực tế, như tôi sẽ giải thích sau đây, các dân tộc “Đồ đá Mới” thời hiện đại, xét trên mức trung bình, có lẽ thông minh hơn chứ không phải kém hơn các dân tộc đã công nghiệp hóa. Nghe thì có vẻ nghịch lý, nhưng ở Chương 15 ta sẽ thấy, các di dân da trắng đến châu Úc không đáng được hưởng cái tiếng thơm mà lâu nay người ta vẫn gán cho là đã xây dựng một xã hội có văn hóa, công nghiệp hóa cùng với các đức tính khác như đã kể ở trên. Ngoài ra, các dân tộc mà chỉ mới gần đây hãy còn sơ khai về công nghệ – như người châu Úc bản địa và người New Guinea – thường nắm rất chắc công nghệ một khi họ đã được trao cơ hội làm điều đó.
Các nhà tâm lý học nhận thức đã có những nỗ lực to lớn hòng tìm kiếm những khác biệt về IQ giữa những người xuất thân từ nhiều vùng địa lý khác nhau nhưng hiện nay sống trong cùng một nước. Đặc biệt, nhiều nhà tâm lý học người Mỹ da trắng suốt nhiều thập kỷ qua đã ra sức chứng minh rằng người Mỹ da đen gốc Phi tự trong di truyền đã kém thông minh hơn người Mỹ da trắng gốc Âu. Tuy nhiên, như mọi người đều biết, những người được đem ra so sánh vốn dĩ khác nhau rất nhiều về môi trường xã hội và cơ hội học hành. Sự thật này càng gây khó khăn gấp đôi cho những nỗ lực nhằm kiểm chứng cái giả thiết rằng những khác biệt về trí tuệ là nguyên nhân sâu xa cho những khác biệt về công nghệ. Trước hết, ngay cả khả năng nhận thức của người lớn chúng ta đã chịu ảnh hưởng nặng nề của môi trường xã hội nơi ta sinh trưởng thời thơ ấu, khiến cho thật khó lòng phân biệt rạch ròi xem những ảnh hưởng nào là do những khác biệt bẩm sinh trong gen di truyền. Thứ hai, các thử nghiệm về khả năng nhận thức (chẳng hạn như thử nghiệm IQ) có xu hướng đo đếm vốn học vấn và văn hóa chứ không phải trí thông minh bẩm sinh dù trí tuệ đó là thế nào đi chăng nữa. Do những tác động đáng ngờ đó của môi trường sống thời thơ ấu và tri thức thu nhận được đối với kết quả thử nghiệm IQ nên nỗ lực của các nhà tâm lý học cho đến nay vẫn chưa thể đưa ra kết luận nào đủ thuyết phục về sự thiếu hụt IQ bẩm sinh mà nhiều người cho là hiển nhiên không phải bàn ở những ai không phải người da trắng.
Quan điểm của tôi đối với cuộc tranh cãi này hình thành từ 33 năm làm việc với những người New Guinea trong chính xã hội của họ và đến nay vẫn còn nguyên vẹn. Ngay từ những ngày đầu làm việc với người New Guinea, họ đã gây ấn tượng cho tôi rằng họ là những người xét trung bình là thông minh hơn, sáng trí hơn, biết biểu cảm hơn và quan tâm nhiều hơn đến những người và vật quanh mình so với người Âu hay người Mỹ trung bình. Ở những công việc mà người ta có thể giả định một cách hợp lý là phản ánh những phương diện khác nhau của chức năng não bộ, chẳng hạn như khả năng lập bản đồ trong đầu về những cảnh quan không quen thuộc, họ tỏ ra tinh tường hơn nhiều so với người phương Tây. Dĩ nhiên, người New Guinea có xu hướng đạt hiệu quả kém hơn ở những việc mà người phương Tây đã được rèn luyện từ thời thơ ấu còn người New Guinea thì không. Vì vậy mà những người New Guinea sống trong các làng mạc xa xôi, không hề được học hành có vẻ như ngu độn trong mắt người phương Tây. Ngược lại, tôi luôn luôn biết mình có vẻ ngu độn đến thế nào trong mắt người New Guinea mỗi khi tôi cùng họ vào rừng rậm, bởi tôi tỏ ra thật vụng về, kém cỏi ở những việc đơn giản (chẳng hạn như lần theo một lối mòn trong rừng rậm hoặc dựng lều) bởi những việc đó người New Guinea đã được dạy làm từ bé còn tôi thì không.
Không khó nhận ra hai lý do tại sao ấn tượng của tôi rằng người New Guinea thông minh hơn người phương Tây là đúng. Trước hết, người châu Âu từ hàng ngàn năm nay đã sống trong những xã hội có mật độ dân cư cao, với chính phủ trung ương, cảnh sát và tòa án. Trong các xã hội đó, các bệnh dịch truyền nhiễm đặc thù cho dân cư tập trung (chẳng hạn như đậu mùa) là nguyên nhân tử vong chính trong lịch sử, trong khi việc giết người tương đối không phổ biến còn tình trạng chiến tranh là ngoại lệ chứ không phải luôn luôn diễn ra. Hầu hết người châu Âu nào thoát khỏi các bệnh truyền nhiễm chết người thì cũng thoát khỏi các lý do tử vong tiềm tàng khác và lưu truyền gen của mình cho các thế hệ sau. Ngày nay, hầu hết trẻ em châu Âu sinh ra đều sống qua được các căn bệnh truyền nhiễm chết người và có thể sinh con đẻ cái, bất kể trí thông minh và các gen mà chúng mang trong người là như thế nào. Ngược lại, người New Guinea đã sống trong những xã hội mà số lượng người quá ít không đủ cho các bệnh truyền nhiễm vốn chỉ nảy sinh ở quần thể đông có thể phát triển. Ngược lại, người New Guinea truyền thống thường chết nhiều hơn do tình trạng giết hại lẫn nhau, các cuộc chiến tranh liên miên giữa các bộ lạc, tai nạn, và những khó khăn trong tìm kiếm lương thực.
Trong xã hội New Guinea truyền thống, người thông minh thường có nhiều khả năng thoát khỏi các nguyên nhân tử vong cao kể trên so với người kém thông minh. Tuy nhiên, tỷ lệ tử vong vì bệnh truyền nhiễm ở các xã hội châu Âu thì chẳng mấy liên quan đến trí thông minh mà lại liên quan đến kháng thể di truyền vốn tùy thuộc vào chi tiết thành phần hóa học của cơ thể. Chẳng hạn, người có nhóm máu B hoặc O có nhiều kháng thể chống bệnh đậu mùa hơn so với người có nhóm máu A. Nghĩa là, ở New Guinea, sự chọn lọc tự nhiên để cho ra gen thông minh có lẽ là nghiệt ngã hơn nhiều so với ở các xã hội với mật độ dân cư cao hơn và tổ chức chính trị phức tạp hơn, nơi mà sự chọn lọc tự nhiên đối với thành phần hóa học của cơ thể là mạnh mẽ hơn.
Ngoài nguyên nhân di truyền này, còn có một nguyên nhân thứ hai khiến người New Guinea có khi lại hóa ra thông minh hơn người phương Tây. Trẻ em châu Âu và Mỹ ngày nay dành phần lớn thời gian để giải trí thụ động bằng cách xem ti vi, nghe radio và xem phim. Trong gia đình Mỹ trung bình, người ta bật ti vi mỗi ngày bảy tiếng đồng hồ. Ngược lại, trẻ em New Guinea truyền thống gần như không có cơ hội nào để giải trí thụ động như vậy mà dành hầu hết thời gian trong ngày để làm việc gì đó tích cực, chẳng hạn trò chuyện hoặc chơi với các trẻ khác hay người lớn. Hầu như mọi nghiên cứu về sự phát triển của trẻ đều nhấn mạnh vai trò của sự kích thích và hoạt động trong thời thơ ấu đối với việc phát triển trí não, và nêu rõ rằng nếu thiếu sự kích thích trong thời thơ ấu thì trí não sẽ phát triển còi cọc không thể cứu vãn. Điều này chắc chắn đã góp một nhân tố phi di truyền vào [sự hình thành] chức năng trí não vượt trội ở người New Guinea trung bình.
Nghĩa là, về khả năng trí não, người New Guinea có lẽ vượt trội về di truyền so với người phương Tây, và chắc chắn họ cũng vượt trội ở khả năng thoát khỏi những bất lợi to lớn về phát triển mà hầu hết trẻ em trong các xã hội công nghiệp hóa ngày nay phải đối mặt trong giai đoạn chúng lớn lên. Hiển nhiên là ở đây tuyệt không có hàm ý gì về sự bất lợi của người New Guinea về mặt trí tuệ đặng có thể trả lời câu hỏi của Yali.
Cũng hai nhân tố đó – di truyền và sự phát triển trong thời thơ ấu – là cái không chỉ khiến người New Guinea khác biệt người phương Tây mà hẳn cũng khiến những người săn bắt hái lượm và thành viên của các xã hội sơ khai về công nghệ khác biệt với thành viên các xã hội tiên tiến về công nghệ nói chung. Vậy là, cái giả định mang tính phân biệt chủng tộc thường tình ắt phải bị lật nhào. Song nếu thế thì tại sao người châu Âu, mặc dù hình như có những bất lợi về di truyền và (trong thời hiện đại) có những bất lợi hiển nhiên trong quá trình phát triển ở tuổi thơ ấu, rốt cuộc lại vẫn có nhiều hàng hóa hơn? Tại sao người New Guinea lại là những kẻ sơ khai về công nghệ, dù họ có cái mà tôi tin là trí thông minh vượt trội?
Cách lý giải dựa theo di truyền học không phải là lời đáp duy nhất khả dĩ cho câu hỏi của Yali. Một cách lý giải khác, rất phổ biến ở người Bắc Âu, thì lại dựa vào cái gọi là tác động kích thích của khí hậu lạnh ở đất nước họ, trong khi khí hậu nóng, ẩm, nhiệt đới thì có tác động kìm hãm đối với sức sáng tạo và năng lực. Có thể là khí hậu thay đổi theo mùa ở các vĩ độ cao đặt ra nhiều thách thức đa dạng hơn so với khí hậu nhiệt đới vốn ít thay đổi theo mùa. Có thể là khí hậu lạnh đòi hỏi người ta phải giàu sáng tạo hơn về công nghệ để có thể sinh tồn, bởi người ta phải xây nhà đủ ấm, mặc đủ ấm, trong khi sống ở vùng nhiệt đới thì ít phải lo về nhà ở hơn và hoàn toàn không phải lo mặc ấm. Hoặc, cũng có thể đảo ngược cái lập luận đó để đi đến cùng một kết luận: mùa đông dài ở các vĩ độ cao khiến người ta phải dành nhiều thời gian hơn ở trong nhà đặng lo việc phát minh.
Mặc dù kiểu lý giải này đã có thời rất thịnh hành, song nếu khảo sát cẩn thận thì cũng không đứng vững. Như ta sẽ thấy, các dân tộc Bắc Âu mãi đến mấy ngàn năm gần đây vẫn không hề đóng góp được gì có tầm quan trọng cơ bản đối với nền văn minh Âu-Á; đơn giản là họ có may mắn sống ở một vị trí địa lý nơi họ có thể tiếp thu những thành tựu (chẳng hạn như nông nghiệp, bánh xe, chữ viết và nghề luyện kim) đã được phát triển ở những khu vực ấm áp hơn của lục địa Âu-Á. Ở Tân Thế giới, các khu vực lạnh ở vĩ độ cao thậm chí còn là nơi trì trệ hơn của loài người. Những xã hội châu Mỹ bản địa duy nhất từng phát minh ra chữ viết đều đã nảy sinh ở Mexico tại phía nam Hạ chí tuyến; những đồ gốm xưa nhất của Tân Thế giới xuất hiện ở gần xích đạo tại vùng nhiệt đới Nam Mỹ; và xã hội Tân Thế giới mà ý kiến chung nhận định là xã hội tiên tiến nhất về nghệ thuật, thiên văn và các phương diện khác là xã hội Maya cổ ở vùng Yucatán và Guatemala nhiệt đới vào thiên niên kỷ đầu sau Công nguyên.
Lại có một cách lý giải thứ ba cho câu hỏi của Yali; nó giả định về tầm quan trọng của các thung lũng đất thấp tại các vùng khí hậu khô, nơi mà sản xuất nông nghiệp năng suất cao phụ thuộc vào những hệ thống đê điều quy mô lớn, các hệ thống này lại đòi hỏi phải có chính quyền tập trung. Người ta đề xuất cách lý giải này là do cái thực tế hiển nhiên rằng các đế quốc sớm nhất và chữ viết lâu đời nhất đều phát sinh ở các thung lũng Tigris và Euphrate tại vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu và thung lũng sông Nile của Ai Cập. Các hệ thống kiểm soát nước hình như cũng gắn liền với các tổ chức chính trị có tính tập trung tại một vài khu vực khác của thế giới, trong đó có thung lũng sông Ấn ở tiểu lục địa Ấn Độ, các thung lũng Hoàng Hà và Dương Tử ở Trung Hoa, vùng đất thấp Maya tại Trung Mỹ và vùng sa mạc duyên hải Peru.
Tuy nhiên, nghiên cứu khảo cổ chi tiết đã chỉ ra rằng các hệ thống tưới tiêu phức tạp không đi liền với sự phát sinh các chính quyền tập trung hóa mà chỉ xuất hiện sau đó một thời gian dài. Có nghĩa là, sự tập trung hóa về chính trị đã phát sinh vì một lý do nào khác, chỉ sau đó nó mới cho phép việc xây dựng các hệ thống tưới tiêu phức tạp. Không một phát minh chủ chốt nào ra đời trước các chính quyền tập trung kể cả tại các khu vực này của thế giới mà lại gắn liền với các thung lũng sông hoặc với các hệ thống tưới tiêu phức tạp. Chẳng hạn, ở Lưỡi liềm Phì nhiêu, sản xuất lương thực và lối sống thành làng mạc đã phát sinh ở vùng đồi núi chứ không phải ở các thung lũng sông đất thấp. Thung lũng sông Nile vẫn là một khu vực chậm tiến về văn hóa trong khoảng 3.000 năm sau khi nền sản xuất lương thực theo làng mạc đã bắt đầu hưng thịnh tại vùng đồi của Lưỡi liềm Phì nhiêu. Các thung lũng sông ở Tây Nam Hoa Kỳ rốt cuộc cũng đã hỗ trợ sự ra đời của nông nghiệp tưới tiêu và xã hội phức tạp, song chỉ sau khi nhiều phát minh mà các xã hội đó dựa vào đã được du nhập từ Mexico. Các thung lũng sông ở Đông Nam Úc vẫn chỉ có các xã hội bộ lạc không biết làm nông sinh sống.
Lại có một loại lý giải khác liệt kê những nhân tố trực tiếp cho phép người châu Âu giết chết hoặc chinh phục các dân tộc khác – đặc biệt là súng ống, bệnh truyền nhiễm, công cụ bằng thép và các sản phẩm chế tác của họ. Cách lý giải như vậy thì cũng đúng, bởi các nhân tố đó rõ ràng là đã từng trực tiếp chịu trách nhiệm về các cuộc chinh phục của người châu Âu. Tuy nhiên, giả thuyết này không hoàn chỉnh, bởi nó vẫn chỉ đưa ra một cách lý giải gần nhất (giai đoạn đầu) để nhận diện các nguyên nhân trực tiếp. Nó mời gọi chúng ta đi tìm những nguyên nhân tối hậu: tại sao người châu Âu – chứ không phải người châu Phi hay người châu Mỹ bản địa – là những người rốt cuộc đã có trong tay súng, vi trùng và thép?
Tuy người ta đã đạt được vài tiến bộ trong việc nhận diện những nguyên nhân tối hậu đó trong trường hợp châu Âu chinh phục Tân Thế giới, song châu Phi vẫn là một câu đố lớn. Châu Phi là châu lục nơi người nguyên thủy đã tiến hóa trong thời gian dài nhất, nơi người hiện đại về mặt giải phẫu cũng đã ra đời, và nơi mà các căn bệnh bản địa như sốt rét và sốt hoàng nhiệt đã giết chết các nhà thám hiểm châu Âu. Nếu như quả thật ai khởi đầu sớm hơn sẽ có ưu thế hơn, thì tại sao súng và thép không phát sinh đầu tiên ở châu Phi, cho phép người châu Phi cùng các vi trùng của họ đi chinh phục châu Âu? Và đâu là nguyên nhân tại sao người châu Úc bản địa đã không thể đi xa hơn giai đoạn săn bắt hái lượm dùng công cụ bằng đá?
Các câu hỏi nảy sinh từ việc so sánh các xã hội loài người trên phạm vi toàn thế giới từng lôi cuốn sự quan tâm của các sử gia và nhà địa lý. Ví dụ nổi tiếng nhất cho một nỗ lực như vậy ở thời đại ngày nay là cuốn Nghiên cứu Lịch sử (Study of History) gồm 12 tập của Arnold Toynbee. Toynbee đặc biệt quan tâm đến tính năng động nội tại của 23 nền văn minh tiên tiến, trong đó 22 nền văn minh có chữ viết và 19 nằm ở lục địa Âu-Á. Ông ít quan tâm hơn đối với thời tiền sử và các xã hội giản đơn, không có chữ viết của thời tiền sử. Thế nhưng, những cội rễ của sự bất bình đẳng trong thế giới hiện đại nằm trong chính thời tiền sử đó. Vì vậy mà Toynbee không đặt ra câu hỏi của Yali, cũng không nhìn thấy được cái mà tôi coi là mẫu hình lớn nhất của lịch sử. Những cuốn sách khác về lịch sử thế giới cũng có xu hướng tương tự là tập trung vào các nền văn minh có chữ viết ở Âu-Á trong vòng 5.000 năm trở lại đây; họ chỉ nhắc qua loa đến các nền văn minh châu Mỹ bản địa tiền Colombo và thậm chí còn qua loa hơn khi đề cập đến phần còn lại của thế giới ngoại trừ những tương tác gần đây của bộ phận này với các nền văn minh Âu-Á. Kể từ nỗ lực của Toynbee, các giả thuyết mang tính tổng hợp những nhân quả lịch sử trên phạm vi toàn thế giới đã bị giới sử gia coi nhẹ, bởi nó đặt ra một vấn đề rõ ràng là nan giải.
Các chuyên gia thuộc nhiều ngành đã đưa ra những giả thiết tổng hợp có tính toàn cầu trong lĩnh vực của mình. Đặc biệt hữu ích là đóng góp của các nhà địa lý học môi sinh, nhân chủng học văn hóa, nhà sinh học chuyên nghiên cứu việc thuần hóa cây trồng và vật nuôi, và các học giả quan tâm đến ảnh hưởng của bệnh truyền nhiễm đối với lịch sử. Các nghiên cứu này đã khiến người ta chú ý đến một số phần của bài toán khó, song chúng chỉ đưa ra từng mảnh nhỏ của cái hợp đề lớn cần thiết vẫn đang còn thiếu vắng kia.
Vậy là không có lời đáp nào mà tất cả mọi người thừa nhận cho câu hỏi của Yali. Một mặt, những cách lý giải trực tiếp thì đã rõ: một số dân tộc đã phát triển được súng, vi trùng và thép, cùng các nhân tố khác khiến họ có được sức mạnh chính trị và kinh tế sớm hơn các dân tộc khác; còn một số dân tộc khác thì đã không bao giờ phát triển được các nhân tố sức mạnh ấy cả. Mặt khác, những cách lý giải tối hậu – chẳng hạn, tại sao công cụ bằng đồng xuất hiện sớm ở nhiều phần của Âu-Á, muộn hơn và chỉ ở vài vùng ở Tân Thế giới, song đã chẳng bao giờ xuất hiện ở châu Úc bản địa – thì vẫn còn chưa rõ.
Chúng ta hiện vẫn thiếu những cách lý giải tối hậu như vậy, điều đó khiến cho vẫn còn đó một khoảng trống lớn về tri thức, bởi mẫu hình rộng lớn nhất của lịch sử vẫn chưa thể lý giải được. Mọi người, dù là kẻ phân biệt chủng tộc hay không, đều thấy rành rành một điều rằng mỗi dân tộc có một hành trình riêng trong lịch sử. Hoa Kỳ hiện nay là một xã hội được nhào nặn theo khuôn mẫu châu Âu, chiếm những vùng đất chinh phục được từ người châu Mỹ bản địa và tích hợp hậu duệ của hàng triệu người châu Phi hạ Sahara bị đưa sang châu Mỹ làm nô lệ. Châu Âu hiện đại không phải là một xã hội nhào nặn theo mẫu của người châu Phi đen hạ Sahara, những kẻ đem hàng triệu người châu Mỹ bản địa sang làm nô lệ.
Những kết quả đó [của tiến trình lịch sử] thật hoàn toàn thiên lệch: nào có phải là 51% châu Mỹ, châu Úc và châu Phi bị người châu Âu chinh phục còn 49% châu Âu bị người châu Mỹ bản địa, người châu Úc bản địa và người châu Phi chinh phục. Toàn bộ thế giới hiện đại đã được hình thành với những kết quả đầy thiên lệch. Vậy nên những kết quả đó đòi hỏi phải có những cách lý giải vững chắc, những cách lý giải cơ bản hơn, chứ không chỉ là những tiểu tiết nào là cách đây vài ngàn năm ai tình cờ thắng trong vài trận đánh hoặc ai đã tình cờ phát minh được cái gì.
Dường như có vẻ hợp lý khi giả định rằng mẫu hình lịch sử đó phản ánh những khác biệt bẩm sinh trong bản thân các dân tộc. Dĩ nhiên, người ta dạy chúng ta rằng nói thẳng điều đó trước mặt thiên hạ thì chẳng lịch sự cho lắm. Chúng ta từng đọc các nghiên cứu chuyên môn tuyên bố mình đã chứng minh được những khác biệt bẩm sinh đó, song chúng ta cũng từng đọc được những lời phản đối cho rằng các nghiên cứu đó mắc phải những khiếm khuyết về kỹ thuật. Chúng ta thấy trong đời sống hằng ngày rằng, sau nhiều thế kỷ bị chinh phục hay buôn nô lệ, một số trong các dân tộc từng bị chinh phục đến nay vẫn cứ thuộc một đẳng cấp dưới. Người ta bảo chúng ta rằng cả điều đó nữa cũng không liên quan đến những thiếu sót về sinh học mà là do những bất lợi về xã hội và bị hạn chế về cơ hội.
Tuy nhiên, chúng ta vẫn phải tự hỏi. Chúng ta vẫn cứ nhìn thấy tất cả những khác biệt rành rành và dai dẳng đó trong thân phận của các dân tộc. Chúng ta yên trí rằng những cách lý giải dựa trên sinh học có vẻ rất minh bạch kia đối với những bất bình đẳng của thế giới tại thời điểm 1500 năm Công nguyên là sai, nhưng không ai cho ta biết đâu là cách lý giải đúng. Chừng nào ta chưa có một cách lý giải đủ thuyết phục, chi tiết và được mọi người đồng ý đối với mẫu hình lớn của lịch sử, chừng đó hầu hết người ta còn tiếp tục cho rằng, nói gì thì nói, cách lý giải dựa trên sinh học mang tính phân biệt chủng tộc vẫn là lý giải đúng. Đó dường như là lý lẽ hùng hồn nhất để tôi viết cuốn sách này.
Cánh nhà báo thường vẫn yêu cầu các tác giả tóm tắt cuốn sách của mình trong một câu. Với cuốn sách này thì câu tóm tắt đó là đây: “Diễn trình lịch sử của mỗi dân tộc một khác, đấy là do những khác biệt giữa môi trường sống của các dân tộc, chứ không phải do những khác biệt về sinh học giữa bản thân các dân tộc đó”.
Đương nhiên, ý tưởng rằng môi trường địa lý và địa sinh học ảnh hưởng đến sự phát triển xã hội là một ý tưởng chẳng có gì mới. Tuy nhiên, ngày nay, quan điểm này không còn được giới sử học coi trọng; người ta cho rằng nó sai hoặc quá đơn giản hóa, hoặc châm biếm, coi là thuyết quyết định luận môi trường rồi thì lờ đi, nếu không thì các nỗ lực hòng thấu hiểu những khác biệt ở quy mô toàn cầu lại bị người ta cho là quá khó khăn và đem xếp xó. Thế nhưng địa lý đúng là có tác động đến lịch sử; câu hỏi ở đây là tác động đến đâu, và liệu địa lý có thể giải thích cho mẫu hình lớn của lịch sử hay không.
Thời điểm đã chín muồi để ta có một cái nhìn mới mẻ đối với các câu hỏi đó, bởi có những thông tin mới từ những ngành khoa học có vẻ như rất xa ngành lịch sử loài người. Các ngành khoa học đó bao gồm trước hết là di truyền học, sinh học phân tử và địa sinh học áp dụng với cây trồng và các cây dại tổ tiên của chúng, cũng các ngành đó cộng thêm sinh thái học hành vi, áp dụng cho vật nuôi và các loài vật hoang dã tổ tiên của chúng; sinh học phân tử về các vi trùng ở người và các vi trùng liên quan của thú; khoa truyền nhiễm học đối với các bệnh của người; di truyền học người; ngôn ngữ học; các nghiên cứu khảo cổ trên mọi lục địa và các hòn đảo chính; và các nghiên cứu về lịch sử công nghệ, chữ viết và tổ chức chính trị.
Sự đa dạng của các ngành này đặt ra nhiều khó khăn đối với những tác giả nào có ý muốn viết sách nhằm trả lời câu hỏi của Yali. Tác giả phải có một kiến văn rộng lớn bao quát tất cả các ngành khoa học trên, để có thể tổng hợp những kết quả mới nhất có liên quan. Lịch sử và tiền sử của từng lục địa đều phải được tổng hợp theo cách tương tự. Chủ đề chính của sách là lịch sử, nhưng cách tiếp cận là của khoa học – nhất là của các khoa học liên quan đến lịch sử như sinh học tiến hóa và địa chất học. Tác giả phải hiểu biết qua kinh nghiệm trực tiếp về một loạt nhiều xã hội loài người, từ các xã hội săn bắt hái lượm đến các nền văn minh hiện đại trong thời đại khoa học không gian.
Những yêu cầu đó thoạt trông có vẻ đòi hỏi phải có một công trình của nhiều tác giả. Thế nhưng giải pháp nhiều tác giả sẽ không ổn ngay từ đầu, bởi bản chất của vấn đề là phải phát triển được một cách lý giải tổng hợp duy nhất. Muốn vậy thì chỉ có thể là một tác giả duy nhất, dù điều đó đặt ra nhiều khó khăn đến đâu đi nữa. Điều không tránh khỏi là tác giả duy nhất đó sẽ phải toát mồ hôi hột để tích hợp tư liệu từ nhiều ngành và sẽ phải được sự hướng dẫn của nhiều đồng nghiệp.
Lai lịch của tôi đã giúp tôi tiếp cận với một số ngành khoa học như vậy từ trước khi Yali đặt câu hỏi đó cho tôi vào năm 1972. Mẹ tôi là giáo viên và nhà ngôn ngữ học, cha tôi là bác sĩ chuyên về di truyền bệnh ở trẻ em. Nhờ tấm gương của cha nên suốt thời đi học tôi luôn nghĩ lớn lên mình sẽ làm bác sĩ. Tôi cũng đã trở thành kẻ say mê quan sát chim chóc từ năm lên bảy tuổi. Do đó âu cũng chỉ là một bước dễ dàng để đến năm cuối đại học tôi chuyển từ mục đích ban đầu là nghề y sang mục đích nghiên cứu sinh học. Tuy nhiên, suốt những năm trung học và đại học, tôi vẫn học chủ yếu là ngôn ngữ, lịch sử và viết văn. Ngay cả sau khi quyết định lấy bằng tiến sĩ về sinh lý học, tôi gần như bỏ ngang khoa học ngay trong năm đầu học cao học để trở thành nhà ngôn ngữ học.
Từ khi lấy bằng tiến sĩ vào năm 1961, tôi đã cùng một lúc tiến hành nghiên cứu khoa học trong hai lĩnh vực: một bên là sinh lý học phân tử, một bên là sinh học tiến hóa và địa sinh học. Một thuận lợi ngoài dự kiến cho cuốn sách này là, sinh học phân tử là một ngành khoa học lịch sử vốn buộc ta phải dùng những phương pháp khác với những phương pháp của các ngành khoa học thực nghiệm. Nhờ vậy mà những khó khăn trong việc xây dựng một cách tiếp cận mang tính khoa học đối với lịch sử loài người trở nên quen thuộc với tôi. Nhờ sống tại châu Âu từ năm 1958 đến 1962, giữa những người châu Âu mà cuộc đời đã bị chấn thương ghê gớm vì lịch sử châu Âu thế kỷ XX, tôi bắt đầu nghĩ nghiêm túc hơn đến việc những chuỗi nhân quả đã vận hành như thế nào trong diễn trình lịch sử.
Trong 33 năm gần đây nhất, công việc điền dã của tôi với tư cách nhà sinh học tiến hóa đã cho tôi cơ hội tiếp xúc gần gũi với nhiều xã hội khác nhau của loài người. Chuyên môn của tôi là tiến hóa của loài chim, nên tôi từng nghiên cứu tại Nam Mỹ, Nam Phi, Indonesia, Úc và đặc biệt là New Guinea. Nhờ sống chung với người dân bản địa tại các vùng đó, tôi đã trở nên quen thuộc với các xã hội người hãy còn sơ khai về công nghệ, từ những người săn bắt hái lượm đến các bộ lạc làm nông và câu cá mà mãi đến gần đây vẫn còn sử dụng công cụ bằng đá. Vì vậy, cái mà những người có chữ viết coi là những lối sống xa lạ từ thời tiền sử xa xăm lại chính là một phần sống động nhất của cuộc đời tôi. New Guinea, mặc dù chỉ chiếm một phần nhỏ nhoi của đất đai thế giới, lại bao hàm một phần lớn lao đến kỳ lạ của sự đa dạng nhân loại. Trong số 6.000 ngôn ngữ của loài người hiện nay, riêng ở New Guinea đã có tới 1.000 ngôn ngữ. Trong quá trình nghiên cứu loài chim ở New Guinea, mối quan tâm của tôi đối với ngôn ngữ lại hồi sinh, bởi tôi cần phải soạn danh sách tên địa phương của các loài chim trong gần 100 ngôn ngữ thuộc số 1.000 ngôn ngữ New Guinea đó.
Từ tất cả các mối quan tâm đó mà hình thành nên cuốn sách gần đây nhất của tôi, một tường trình không nặng tính kỹ thuật về sự tiến hóa của loài người có tựa đề Loài tinh tinh thứ ba. Chương 14 của cuốn sách, có tựa đề “Các nhà chinh phục tình cờ”, nhằm để hiểu hậu quả của sự gặp gỡ giữa người châu Âu và người châu Mỹ bản địa. Sau khi hoàn thành cuốn sách đó, tôi nhận ra rằng những cuộc gặp gỡ khác giữa các dân tộc, trong thời hiện đại cũng như thời tiền sử, cũng đã làm nảy sinh những vấn đề tương tự. Tôi nhận thấy vấn đề mà tôi đã vật lộn trong Chương 14 về thực chất là câu hỏi mà Yali đã đặt ra cho tôi vào năm 1972, chỉ có điều được chuyển sang một phần khác của thế giới. Thế là rốt cuộc, được nhiều bạn bè giúp đỡ, tôi sẽ cố gắng thỏa mãn nỗi tò mò của Yali, cũng là nỗi tò mò của chính tôi.
Các chương của cuốn sách này được chia làm bốn phần. Phần I, với tựa đề “Từ Vườn địa đàng đến Cajamarca”, gồm ba chương. Chương 1 cho bạn đọc một cái nhìn chớp nhoáng về sự tiến hóa và lịch sử của loài người, từ khi chúng ta tách khỏi loài vượn cách đây khoảng 7 triệu năm cho đến cuối thời kỳ Băng hà cách đây khoảng 13.000 năm. Chúng ta sẽ lần theo dấu vết bành trướng của tổ tiên loài người, từ cái nôi đầu tiên ở châu Phi sang các lục địa khác, nhằm thấu hiểu tình trạng của thế giới ngay trước khi khởi đầu các sự kiện mà người ta vẫn gán chung cái thuật ngữ “sự phát sinh các nền văn minh”. Hóa ra rằng sự phát triển của loài người trên một số lục địa đã có bước khởi đầu sớm hơn về thời gian so với các lục địa khác.
Chương 2 chuẩn bị cho chúng ta khảo sát những tác động của môi trường lục địa lên lịch sử trong 13.000 năm qua, bằng cách khảo sát ngắn gọn những tác động của môi trường hải đảo đối với lịch sử trong phạm vi thời gian và khu vực nhỏ hơn. Khi tổ tiên người Polynesia bành trướng sang khu vực Thái Bình Dương khoảng 3.200 năm trước, họ đã gặp những hòn đảo có môi trường hoàn toàn khác nhau. Trong vòng vài ngàn năm, cái xã hội Polynesia thủy tổ đó đã sinh sôi nảy nở trên các hòn đảo rất khác nhau đó để trở thành một loạt xã hội con rất khác nhau, từ các bộ lạc săn bắt hái lượm đến những đế quốc sơ khai. Sự phát tán này có thể làm mẫu hình cho sự phát tán lâu dài hơn, trên quy mô lớn hơn và ít được hiểu rõ hơn của các xã hội trên những lục địa khác nhau từ cuối thời kỳ Băng hà sau cùng để trở thành những bộ lạc săn bắt hái lượm và đế quốc khác nhau.
Chương 3 giới thiệu cho chúng ta những cuộc va chạm giữa các dân tộc từ những lục địa khác nhau, bằng cách thuật lại thông qua lời kể của các nhân chứng đương thời từng mắt thấy tai nghe cuộc đụng độ bi thảm nhất trong lịch sử: tại Cajamarca, thành phố tại Peru, Francisco Pizarro cùng một nhúm quân chinh phục đã bắt sống hoàng đế Inca Atahualpa ngay trước mắt toàn bộ quân đội của ông ta. Chúng ta có thể nhận diện chuỗi nhân tố trực tiếp đã cho phép Pizarro bắt sống Atahualpa, các nhân tố này cũng có tác động như vậy trong những cuộc chinh phục khác của người châu Âu đối với các xã hội châu Mỹ bản địa. Các nhân tố này bao gồm vi trùng, ngựa, chữ viết, tổ chức chính trị và công nghệ (đặc biệt là tàu biển và vũ khí) của Tây Ban Nha. Việc phân tích các nhân tố trực tiếp đó là phần dễ của cuốn sách này; phần khó là làm sao nhận định những nguyên nhân sâu xa dẫn đến các nhân tố đó và dẫn đến cái hậu quả đã diễn ra trong thực tế chứ không phải cái hậu quả ngược lại là Atahualpa đến Madrid để bắt sống vua Charles Đệ nhất của Tây Ban Nha.
Phần II, với tựa đề “Sự phát sinh và bành trướng của sản xuất lương thực” bao gồm từ Chương 4 đến Chương 10, đề cập đến cái mà tôi cho là nhóm nguyên nhân quan trọng nhất trong số các nguyên nhân tối hậu. Chương 4 trình bày sơ lược bằng cách nào nền sản xuất lương thực – nghĩa là làm ra lương thực bằng cách trồng trọt hoặc chăn nuôi thay vì săn bắt và hái lượm lương thực trong tự nhiên – rốt cuộc đã dẫn đến các nhân tố trực tiếp cho phép Pizarro giành thắng lợi. Song việc phát sinh sản xuất lương thực diễn ra khác nhau ở từng vùng trên thế giới. Như ta sẽ thấy trong Chương 5, các dân tộc ở một số vùng trên thế giới đã tự mình phát triển nền sản xuất lương thực; một số dân tộc khác tiếp thu được nền sản xuất lương thực từ các trung tâm độc lập đã nói ở trên vào thời tiền sử; một số dân tộc khác nữa không tự mình phát triển cũng chẳng tiếp thu nền sản xuất lương thực vào thời tiền sử mà đến mãi thời hiện đại vẫn cứ là những tộc người săn bắt hái lượm. Chương 6 khảo sát các nhân tố dẫn tới việc các dân tộc ở một số vùng đã chuyển từ săn bắt hái lượm sang sản xuất lương thực song các dân tộc ở nhiều vùng khác thì không.
Các Chương 7, 8 và 9 cho thấy cây trồng và vật nuôi vào thời tiền sử đã được thuần hóa từ cây dại và vật hoang như thế nào bởi các nhà nông và người chăn nuôi sơ khai vốn không hề hình dung được việc mình đang làm sẽ dẫn đến kết quả gì. Những khác biệt về địa lý dẫn đến sự khác biệt trong chủng loại cây dại và thú hoang có thể thuần hóa ở từng khu vực, lý giải được khá nhiều về việc tại sao chỉ một vài khu vực đã trở thành trung tâm sản xuất lương thực, tại sao sản xuất lương thực phát sinh ở các khu vực này sớm hơn ở các khu vực khác. Từ số ít trung tâm phát nguyên này, sản xuất lương thực đã bành trướng sang một số khu vực nhanh hơn sang những khu vực khác. Một nhân tố chính tác động đến việc bành trướng nhanh hay chậm kia là hướng trục chính của từng lục địa: trong khi ở lục địa Âu-Á hướng trục chính là Tây-Đông thì ở châu Mỹ và châu Phi hướng trục chính là Bắc-Nam (Chương 10).
Vậy là, Chương 3 phác họa những nhân tố trực tiếp đằng sau cuộc chinh phục người châu Mỹ bản địa, còn Chương 4 phác họa việc các nhân tố đó đã phát triển như thế nào từ nguyên nhân tối hậu là nền sản xuất lương thực. Trong Phần III (“Từ lương thực đến súng, vi trùng và thép”, Chương 11 đến Chương 14), mối liên hệ giữa nguyên nhân tối hậu đến nguyên nhân trực tiếp sẽ được khảo sát một cách chi tiết, bắt đầu từ sự tiến hóa của các vi trùng đặc trưng cho dân số tập trung với mật độ cao (Chương 11). Người châu Mỹ bản địa và các dân tộc phi Âu-Á khác chết vì vi trùng Âu-Á đông hơn nhiều so với chết vì súng hay vũ khí bằng thép của lục địa Âu-Á. Ngược lại, rất ít hoặc hoàn toàn không có loại vi trùng giết người đặc thù nào phục sẵn chờ các nhà chinh phục châu Âu ở Tân Thế giới. Tại sao sự trao đổi vi trùng giữa các lục địa lại thiếu cân bằng đến vậy? Ở đây, các kết quả nghiên cứu mới nhất của khoa sinh học phân tử sẽ làm sáng tỏ vấn đề khi chỉ ra mối quan hệ giữa vi trùng với sự phát triển nền sản xuất lương thực tại Âu-Á nhiều hơn là ở châu Mỹ.
Một chuỗi nhân quả khác dẫn từ sản xuất lương thực đến chữ viết, vốn có lẽ là phát minh quan trọng nhất trong mấy ngàn năm trở lại đây (Chương 12). Chữ viết ra đời từ chỗ chưa có gì chỉ một vài lần ít ỏi trong lịch sử loài người, tại những khu vực vốn dĩ đã là cái nôi phát sinh nền sản xuất lương thực sớm nhất. Tất cả các xã hội khác có được chữ viết chỉ là nhờ tiếp thu hệ chữ viết của các khu vực khác, hoặc dựa trên ý tưởng chữ viết từ các trung tâm phát nguyên kia mà phát minh ra chữ viết của mình. Do vậy, đối với sinh viên ngành lịch sử thế giới, hiện tượng chữ viết là đặc biệt hữu ích để có thể khảo sát những nhóm nguyên nhân quan trọng khác: tác động của địa lý để cho các ý tưởng và phát minh có thể bành trướng dễ dàng hay khó khăn.
Điều gì đúng với chữ viết thì cũng đúng với công nghệ (Chương 13). Một vấn đề cốt tử là: liệu có thật việc đổi mới công nghệ tùy thuộc nhiều đến mức ấy vào những thiên tài sáng chế hiếm hoi và các yếu tố văn hóa đặc thù hay không, như để thách thức sự hiểu biết về các mẫu hình của thế giới. Trên thực tế, chúng ta sẽ thấy rằng, thật nghịch lý thay, số lượng lớn các yếu tố văn hóa này không ngăn cản mà ngược lại còn giúp ta hiểu rõ hơn các mẫu hình thế giới về công nghệ. Nhờ có sản xuất lương thực mà nông dân có thể làm ra lương thực thặng dư, điều này cho phép các xã hội làm nông nghiệp có thể nuôi sống các thợ thủ công chuyên môn vốn không tự làm ra lương thực mà dành toàn bộ thời gian cho việc phát triển công nghệ.
Sản xuất lương thực không chỉ nuôi sống các viên thư lại và nhà phát minh mà còn cho phép nông dân có thể nuôi sống các nhà chính trị (Chương 14). Các bộ tộc săn bắt hái lượm du cư vốn tương đối bình quyền, cương vực chính trị của họ chỉ giới hạn ở lãnh thổ của bộ lạc và ở việc thay đổi liên minh với các bộ lạc láng giềng. Với sự xuất hiện các quần thể dân cư mật độ cao, định cư và sản xuất lương thực, cũng xuất hiện các tù trưởng, vua chúa và quan lại. Các chính phủ quan lại này cần thiết không chỉ để cai quản những vùng dân cư rộng lớn đông dân mà còn để duy trì quân đội thường trực, cử các đoàn tàu đi thám hiểm và tổ chức các cuộc chiến tranh chinh phạt.
Phần IV (“Vòng quanh thế giới trong năm chương”, từ Chương 15 đến Chương 19) áp dụng các bài học ở Phần II và Phần III vào từng lục địa và một số hòn đảo quan trọng. Chương 15 khảo sát lịch sử của bản thân châu Úc và của hòn đảo lớn New Guinea mà trước kia từng gắn liền với châu Úc thành một lục địa duy nhất. Trường hợp châu Úc, quê hương của các xã hội loài người mà mãi gần đây vẫn có trình độ công nghệ đơn giản nhất, là lục địa duy nhất nơi sản xuất lương thực đã không phát sinh tại chỗ, là một trường hợp có tính thử thách cho những lý thuyết về sự khác biệt giữa các xã hội loài người trên những lục địa khác nhau. Ta sẽ thấy tại sao người châu Úc bản địa vẫn cứ là dân săn bắt hái lượm ngay cả khi hầu hết các dân tộc trên hòn đảo New Guinea kế cận đã chuyển sang sản xuất lương thực.
Chương 16 và Chương 17 tích hợp những diễn biến tại châu Úc và New Guinea vào bối cảnh toàn khu vực gồm cả Đông Á lục địa và các đảo Thái Bình Dương. Việc phát sinh nền sản xuất lương thực tại Trung Hoa đã làm nảy sinh một số chuyển động lớn vào thời tiền sử trong dân số loài người hoặc ở các dấu vết văn hóa, hoặc cả hai. Một trong các chuyển động đó, ở ngay tại Trung Hoa, đã tạo ra hiện tượng chính trị và văn hóa Trung Hoa như ta biết ngày nay. Một chuyển động khác dẫn đến hệ quả là, hầu như ở toàn bộ Đông Nam Á nhiệt đới, các bộ lạc săn bắt hái lượm bản xứ đã bị thay thế bởi các nông dân có cội nguồn sâu xa từ Nam Trung Hoa. Lại còn một chuyển động nữa: sự bành trướng của người Austronesia. Họ, cũng tương tự, đã giành chỗ các bộ lạc săn bắt hái lượm bản địa ở Philippines và Indonesia và bành trướng sang những hòn đảo Polynesia xa xôi nhất nhưng lại không chinh phục được châu Úc và hầu hết New Guinea. Đối với sinh viên ngành lịch sử loài người, tất cả các xung đột kể trên giữa các dân tộc Đông Á và Thái Bình Dương là cực kỳ quan trọng: chúng làm hình thành những quốc gia nơi một phần ba dân số thế giới hiện đại đang sinh sống và nơi sức mạnh kinh tế đang ngày càng trở nên tập trung, và chúng cung cấp những mẫu hình đặc biệt rõ rệt để có thể thấu hiểu lịch sử các dân tộc ở những vùng khác trên thế giới.
Chương 18 quay lại vấn đề đã được đề cập ở Chương 3, cuộc xung đột giữa các dân tộc châu Âu với các dân tộc châu Mỹ bản địa. Một bản tóm tắt 13.000 năm gần đây nhất của lịch sử Tân Thế giới và lịch sử vùng tây Âu-Á sẽ cho ta thấy rõ rằng việc châu Âu chinh phục châu Mỹ chỉ là đỉnh điểm của hai diễn trình lịch sử lâu dài và hầu như hoàn toàn tách biệt với nhau. Những khác biệt giữa hai diễn trình lịch sử đó mang dấu ấn của những khác biệt giữa hai lục địa về các loài cây và thú có thể thuần hóa, các loài vi trùng, thời điểm định cư, hướng của trục lục địa và các ranh giới sinh thái.
Cuối cùng, lịch sử châu Phi hạ Sahara (Chương 19) cho ta thấy những sự tương đồng cũng như tương phản đáng kinh ngạc với lịch sử Tân Thế giới. Những nhân tố định hình các cuộc gặp gỡ giữa người châu Âu với người châu Phi cũng chính là những nhân tố định hình các cuộc gặp gỡ giữa người châu Âu với người châu Mỹ bản địa. Song châu Phi cũng khác châu Mỹ ở tất cả các yếu tố trên. Hệ quả là việc người châu Âu chinh phục châu Phi đã không dẫn đến việc người châu Âu bành trướng rộng khắp hoặc lâu dài ở châu Phi hạ Sahara ngoại trừ ở mỏm cực Nam. Sự dịch chuyển dân số ở quy mô lớn có tầm quan trọng lâu dài nhất là của chính người châu Phi – sự bành trướng của người Bantu. Người ta đã chứng minh được rằng cuộc bành trướng này đã nảy sinh bởi chính những nguyên nhân như đã diễn ra ở Cajamarca, Đông Á, trên các đảo Thái Bình Dương, ở châu Úc và New Guinea.
Tôi không hề có ảo tưởng rằng các chương này đã thành công trong việc lý giải lịch sử của tất cả các lục địa trong 13.000 năm trở lại đây. Hiển nhiên, điều đó là bất khả thi trong khuôn khổ một cuốn sách cho dẫu ta nghĩ rằng mình thấu hiểu mọi câu trả lời, trong khi trên thực tế ta không hiểu được như vậy. Giỏi lắm cuốn sách này cũng chỉ xác định được một số nhóm nhân tố môi trường mà tôi tin rằng qua đó có thể trả lời một phần lớn câu hỏi của Yali. Thừa nhận các nhân tố đó nghĩa là phải thấy rõ rằng còn một phần ngầm chưa lý giải được, và hiểu được phần ngầm đó sẽ là một nhiệm vụ trong tương lai.
Lời kết mang tựa đề “Tương lai của lịch sử loài người như một khoa học” trình bày một vài mảng của cái phần ngầm đó, trong đó có vấn đề những khác biệt giữa nhiều phần khác nhau của lục địa Âu-Á, vai trò của các nhân tố văn hóa không liên quan đến môi trường, và vai trò của các cá nhân. Trong các vấn đề chưa giải quyết được đó, có lẽ vấn đề lớn nhất là làm sao xác lập lịch sử loài người như một ngành khoa học về lịch sử, đồng đẳng với các ngành khoa học lịch sử đã được thừa nhận như sinh học tiến hóa, địa chất học và khí hậu học. Việc nghiên cứu lịch sử loài người đặt ra những khó khăn có thực, song các ngành khoa học lịch sử đã được thừa nhận đó cũng gặp phải một số thử thách y như vậy. Vì thế, các phương pháp đã được phát triển trong một số lĩnh vực khác cũng có thể tỏ ra hữu ích trong lĩnh vực lịch sử loài người.
Tuy nhiên, tôi hy vọng mình đã thuyết phục được quý độc giả rằng lịch sử không phải “chỉ là một sự kiện khỉ gió này tiếp theo sự kiện khỉ gió kia” như có kẻ yếm thế đã nói. Quả thật là có những mẫu hình lớn trong lịch sử, và cuộc truy tìm nhằm lý giải các mẫu hình đó vừa hữu ích lại vừa hấp dẫn.
