Súng, Vi Trùng Và Thép - Jared Diamond - Lời nói thêm vào năm 2003: Súng, Vi Trùng và Thép ngày nay
- Home
- Súng, Vi Trùng Và Thép - Jared Diamond
- Lời nói thêm vào năm 2003: Súng, Vi Trùng và Thép ngày nay
Súng, Vi trùng và Thép (SVT) bàn về việc tại sao các xã hội loài người phức tạp đã phát sinh trên mỗi lục địa theo một cách khác nhau trong 13.000 năm trở lại đây. Tôi hoàn tất việc hiệu chỉnh bản thảo vào năm 1996 và cuốn sách được ấn hành trong năm 1997. Từ đó đến nay tôi dành hầu hết thời gian để tiến hành những đề án khác, đặc biệt là cuốn sách kế tiếp của tôi về sự sụp đổ các xã hội. Chính vì vậy khoảng cách bảy năm và sự chuyển hướng tập trung sang các đề án khác đã khiến tôi không thể tiếp tục theo sát Súng, Vi trùng và Thép. Nay nhìn lại, ta thấy thế nào về cuốn sách này, và kể từ lần xuất bản đầu tiên của cuốn sách có những gì đã xảy ra khiến các kết luận của nó bị thay đổi đi hay được triển khai thêm? Theo cái nhìn phải thừa nhận là còn thiên kiến của tôi, thông điệp chính của cuốn sách vẫn còn nguyên giá trị, và kể từ khi nó được xuất bản đến nay người ta đã đạt được nhiều bước phát triển mới, trong đó thú vị nhất là bốn triển khai câu chuyện đối với thế giới hiện đại và lịch sử gần đây.
Kết luận của tôi trong cuốn sách là, các xã hội đã phát triển trên mỗi lục địa một khác là do môi trường trên mỗi lục địa một khác, chứ không phải do những khác biệt trong cấu trúc sinh học của con người. Công nghệ tiên tiến, tổ chức chính trị tập trung và các đặc tính khác của xã hội phức tạp chỉ có thể phát sinh ở các quần thể người định cư với mật độ cao có khả năng tích lũy lương thực thặng dư – những quần thể nào kiếm được cái ăn nhờ nền nông nghiệp vốn bắt đầu xuất hiện vào khoảng 8.500 năm TCN. Nhưng các loài cây và thú có thể thuần hóa, vốn có tầm quan trọng thiết yếu để nông nghiệp có thể ra đời, lại được phân bố rất không đều trên các lục địa. Các loài có thể thuần hóa có giá trị cao nhất chỉ tập trung ở chín khu vực nhỏ trên toàn thế giới, và cũng chín khu vực này đã trở thành những nguyên quán sớm nhất của nền nông nghiệp. Cư dân nguyên thủy của những nguyên quán đó nhờ vậy đã có được lợi thế xuất phát để tiến lên phát triển được súng, vi trùng và thép. Ngôn ngữ và gen của cư dân nguyên thủy ở các nguyên quán đó, cũng như gia súc, cây trồng, công nghệ và chữ viết của họ, đã trở nên thống trị trong thế giới cổ đại cũng như thế giới hiện đại.
Các phát hiện trong sáu năm gần đây nhất của các nhà khảo cổ học, di truyền học, ngôn ngữ học và các chuyên gia khác đã làm phong phú thêm hiểu biết của chúng ta về vấn đề này mà không làm thay đổi những nét chính của nó. Cho tôi kể ra đây ba ví dụ. Một trong những thiếu sót lớn nhất của diện bao quát về địa lý trong Súng, vi trùng và thép là Nhật Bản; trong ấn bản năm 1996 tôi đã không có gì nhiều để nói về giai đoạn tiền sử của khu vực này. Bằng chứng di truyền gần đây gợi ý rằng dân tộc Nhật ngày nay là sản phẩm của một sự bành trướng nông nghiệp tương tự như các cuộc bành trướng mà tôi đã đề cập tới trong Súng, vi trùng và thép: một sự bành trướng của các nhà nông Triều Tiên, bắt đầu vào khoảng 400 năm TCN, vào miền tây nam Nhật Bản và sau đó tiến lên phía đông bắc quần đảo Nhật Bản. Những người này di cư sang Nhật Bản mang theo nền nông nghiệp thâm canh và công cụ bằng kim loại, và họ hợp huyết với cư dân bản địa Nhật Bản thời đó (có họ hàng với người Ainu ngày nay) để hình thành người Nhật Bản ngày nay, cũng như các nhà nông vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu hợp huyết với những người săn bắt hái lượm nguyên thủy ở châu Âu để hình thành nên người châu Âu ngày nay.
Một ví dụ khác là, các nhà khảo cổ trước kia vẫn cho rằng ngô, đậu và bí của Mexico đã đến được vùng đông nam Hoa Kỳ bằng con đường trực tiếp nhất thông qua vùng đông bắc Mexico và miền đông Texas. Thế nhưng hiện nay người ta đang dần thấy rõ rằng con đường này vốn khí hậu quá khô không thể làm nông nghiệp được; thay vì vậy các cây trồng đó đã di chuyển theo con đường khác dài hơn, bành trướng từ Mexico vào vùng tây nam Hoa Kỳ và kích thích sự ra đời các xã hội Anasazi ở đó, sau đó bành trướng từ New Mexico và Colorado về phía đông ngang qua các thung lũng sông của vùng Đồng bằng Lớn mà thâm nhập vào vùng đông nam Hoa Kỳ.
Còn ví dụ cuối cùng, ở Chương 10 tôi đã nêu ra sự tương phản giữa việc ở châu Mỹ thì cùng một cây hoặc những cây gần gũi nhau được thuần hóa nhiều lần độc lập với nhau và tốc độ bành trướng của chúng rất chậm dọc theo trục bắc-nam châu Mỹ, trong khi ở Âu-Á mỗi loài cây hầu như chỉ được thuần hóa ở một trung tâm duy nhất và có thể bành trướng nhanh chóng theo trục đông-tây của lục địa này. Người ta đã tiếp tục tìm ra thêm nhiều ví dụ cho hai mẫu hình tương phản nhau này, song hiện nay ta cũng thấy rằng dường như hầu hết hoặc tất cả Năm Loài Gia Súc Hữu Nhũ Lớn của Âu-Á cũng đã được thuần hóa độc lập nhiều lần ở nhiều khu vực khác nhau của Âu-Á – so với các cây trồng Âu-Á thì có khác, song lại giống như các cây trồng của châu Mỹ.
Các khám phá đó cũng như những khám phá khác bổ sung thêm những chi tiết – mà với tôi vẫn cứ đầy hấp dẫn – cho hiểu biết của chúng ta về việc bằng cách nào việc phát sinh nghề nông đã kích thích sự ra đời các xã hội phức tạp dựa trên nông nghiệp trong thế giới cổ đại. Tuy nhiên, những thành tựu lớn nhất dựa trên Súng, vi trùng và thép lại là sự khai triển các lĩnh vực vốn không phải là điểm tập trung chính của cuốn sách. Kể từ khi sách được xuất bản, hàng ngàn người đã viết thư, gọi điện thoại, gửi email cho tôi hoặc níu áo tôi đặng nói cho tôi biết họ nhận thấy có những sự tương đồng hoặc tương phản nào giữa các quá trình ở tầm lục địa vào thời cổ đại được đề cập tới trong Súng, vi trùng và thép với những quá trình trong thời hiện đại hay cận đại mà họ đang nghiên cứu. Tôi sẽ kể cho các bạn bốn trong số những sự khai ngộ đó: nói ngắn gọn là, thứ nhất, ví dụ đầy sáng tỏ về Cuộc chiến Súng hỏa mai ở New Zealand, thứ hai, câu hỏi muôn thuở “Tại sao là châu Âu chứ không phải là Trung Quốc?”, thứ ba, sự tương đồng giữa cạnh tranh trong thế giới cổ đại với cạnh tranh trong thế giới kinh doanh hiện đại, lần này được đề cập chi tiết hơn; và thứ tư, sự liên quan của Súng, vi trùng và thép với việc tại sao một số xã hội trong thế giới ngày nay thì giàu có trong khi các xã hội khác vẫn nghèo.
Vào năm 1996 tôi có dành một đoạn ngắn (trong Chương 13) để nói tới một hiện tượng trong lịch sử New Zealand vào thế kỷ XIX được gọi là Cuộc chiến Súng hỏa mai nhằm minh họa cho thấy các công nghệ mới bành trướng mạnh mẽ đến thế nào. Cuộc Chiến Súng hỏa mai là một chuỗi phức tạp các cuộc chiến tranh mà ngày nay chúng ta vẫn còn hiểu biết ít giữa các bộ lạc bản địa Maori ở New Zealand trong khoảng từ 1818 đến thập niên 1830 – ấy là những cuộc chiến tranh mà trong đó các bộ lạc vốn trước kia chỉ đánh nhau bằng vũ khí làm bằng đá và gỗ thì nay bắn nhau bằng súng của châu Âu. Từ đó đến nay đã có hai cuốn sách được xuất bản giúp ta hiểu nhiều hơn về thời kỳ hỗn loạn đó trong lịch sử New Zealand, đặt nó vào bối cảnh lịch sử rộng hơn và làm rõ hơn mối liên hệ giữa nó với Súng, vi trùng và thép.
Vào đầu thế kỷ XIX các nhà buôn, nhà truyền giáo và thợ săn cá voi châu Âu bắt đầu đến thăm New Zealand vốn là nơi sinh sống của các nhà nông và ngư dân Polynesia được gọi là người Maori từ 600 năm trước. Những người châu Âu đầu tiên đặt chân đến New Zealand tập trung ở mỏm cực bắc đảo này. Các bộ lạc Maori phía bắc được tiếp xúc với người New Zealand sớm nhất nên cũng là những bộ lạc đầu tiên tiếp thu được súng hỏa mai, nhờ vậy mà có được ưu thế quân sự hơn so với tất cả các bộ lạc chưa có súng hỏa mai. Họ tận dụng ưu thế đó để tính sổ với các bộ lạc láng giềng vốn là kẻ thù truyền kiếp của mình. Nhưng họ cũng dùng súng hỏa mai vào một kiểu chiến tranh mới: tiến hành những cuộc hành quân đường dài để tấn công các bộ lạc Maori cách mình đến hàng trăm dặm, nhằm chiếm được nhiều nô lệ hơn và giành được nhiều uy thế hơn so với các bộ lạc đối thủ.
Đóng vai trò quan trọng chẳng kém gì súng hỏa mai của châu Âu (mà nhờ đó người Maori đã có thể tiến hành những cuộc tập kích tầm xa) là cây khoai tây do người châu Âu du nhập – vốn xuất xứ từ Nam Mỹ, cây này đã giúp người Maori đạt được năng suất bình quân trên mỗi hécta cao hơn hàng nhiều tấn so với cây khoai lang truyền thống của họ. Sở dĩ trước kia người Maori không thể tiến hành những cuộc tập kích tầm xa như vậy là do hạn chế của loại cây trồng truyền thống đó: họ từng phải gặp hai khó khăn cùng một lúc, ấy là vừa phải nuôi sống các chiến binh đi đánh trận xa nhà trong một thời gian dài, vừa phải nuôi những người ở lại gồm phụ nữ và trẻ em vốn phải trông vào sức lao động của đàn ông trong việc trồng khoai thế nhưng đàn ông thì lại đi đánh nhau cả. Cây khoai tây đã giúp giải quyết được vấn đề nan giải đó. Vì vậy Cuộc chiến Súng hỏa mai cũng có thể gọi bằng một cái tên ít hào hùng hơn là Cuộc chiến Khoai tây.
Dù được gọi thế nào đi nữa, Cuộc chiến Súng hỏa mai/Khoai tây đã có sức hủy diệt ghê gớm, giết chết khoảng một phần tư dân số nguyên thủy của người Maori. Số người bỏ mạng cao nhất là khi một bộ lạc có nhiều súng hỏa mai và nhiều khoai tây tấn công một bộ lạc có ít hoặc hoàn toàn không có hai thứ đó. Trong những bộ lạc không nằm trong số đã tiếp thu được súng và khoai tây sớm nhất, một số bộ lạc đã hầu như bị tuyệt diệt trước khi họ kịp tiếp thu hai thứ đó, những bộ lạc khác thì đã quyết tâm tiếp thu cho bằng được hai thứ đó và nhờ vậy phục hồi được thế cân bằng về quân sự như trước. Một tình tiết trong các cuộc chiến tranh đó là khi người Maori chinh phục và thảm sát tập thể người Moriori như đã được mô tả ở Chương 2.
Các cuộc Chiến tranh Súng hỏa mai/Khoai tây minh họa cho quá trình chính yếu xuyên suốt lịch sử 13.000 năm qua: các nhóm người có súng, vi trùng và thép, hoặc có được ưu thế về công nghệ và quân sự sớm hơn, đã bành trướng sang các khu vực khác nơi có những nhóm người khác sinh sống từ trước, cho đến khi các nhóm này bị những nhóm có ưu thế hơn kia chiếm chỗ hoặc cho đến khi tất cả đều có chung những ưu thế mới. Lịch sử cận đại cho ta vô số ví dụ về người châu Âu bành trướng sang các lục địa khác. Ở nhiều nơi, các dân tộc bản địa không phải châu Âu đã chẳng bao giờ có được cơ hội tiếp thu súng và rốt cuộc là hoặc mất mạng hoặc mất tự do. Tuy nhiên, Nhật Bản đã thành công trong việc tiếp thu (thật ra là tiếp thu lại) súng, bảo toàn được nền độc lập của mình và trong vòng 50 năm đã dùng được những khẩu súng mới của mình để đánh bại một cường quốc châu Âu trong cuộc chiến Nga – Nhật năm 1904-1905. Người Anh-điêng vùng Đồng bằng Lớn Bắc Mỹ, người Anh-điêng vùng Araucania Nam Mỹ, người Maori ở New Zealand và người Ethiopia đã tiếp thu được súng và dùng chúng để chống trả được người châu Âu xâm lược trong một thời gian dài mặc dù rốt cuộc cũng đành chịu thất bại. Ngày nay, các nước thuộc Thế giới thứ ba đang làm hết sức mình để bắt kịp Thế giới thứ nhất bằng cách tiếp thu những ưu thế về công nghệ và nông nghiệp của các nước này. Những sự bành trướng công nghệ và nông nghiệp đó, mà thoạt tiên đã phát sinh từ sự cạnh tranh giữa các nhóm người, ắt phải từng xảy ra vào vô số thời điểm khác và tại vô số nơi chốn khác trong suốt 10.000 năm qua.
Theo nghĩa đó thì Cuộc chiến Súng hỏa mai/Khoai tây của New Zealand chẳng có gì lạ. Tuy những cuộc chiến tranh đó chỉ là một hiện tượng có tính thuần túy địa phương, chỉ bó hẹp ở New Zealand, song chúng lại khơi nên sự quan tâm của toàn thế giới bởi cung cấp một ví dụ sáng rõ, thu hẹp trong một không gian và thời gian nhất định, về biết bao nhiêu là hiện tượng có tính địa phương tương tự. Chỉ trong vòng hai thập kỷ từ khi được du nhập vào vùng phía bắc New Zealand, súng hỏa mai và khoai tây đã bành trướng 900 dặm (1.440 km, ND) về mỏm phía nam New Zealand. Trong quá khứ, nông nghiệp, chữ viết, và các vũ khí cải tiến trước khi súng ra đời đã phải mất nhiều thời gian hơn gấp bội để bành trướng qua những khoảng cách lớn hơn gấp bội, song các quá trình xã hội [vốn là nền tảng cho] sự cạnh tranh và chiếm chỗ lẫn nhau giữa các dân tộc thì về bản chất vẫn là một. Ngày nay chúng ta tự hỏi liệu vũ khí hạt nhân có sẽ từ tám quốc gia hiện đang sở hữu chúng sinh sôi nảy nở ra toàn thế giới do hệ quả của chính cái quá trình xã hội thường xuyên đầy bạo lực đó hay không.
Một lĩnh vực thứ hai được thảo luận sôi nổi từ năm 1997 đến nay có tiêu đề có thể gọi là “Tại sao lại châu Âu chứ không phải Trung Quốc?” Hầu hết cuốn Súng, vi trùng và thép bàn về những sự khác biệt giữa các lục địa, chẳng hạn tại sao chính một số dân tộc Âu-Á chứ không phải người Australia bản địa, người châu Phi hạ Sahara hay người châu Mỹ bản địa là những kẻ đã bành trướng ra toàn thế giới trong thiên niên kỷ vừa qua. Tuy nhiên, tôi đã nhận ra rằng nhiều độc giả cũng có thể tự hỏi: “Tại sao cùng là Âu-Á nhưng tại sao chính người châu Âu chứ không phải người Trung Quốc hay nhóm nào khác đã bành trướng ra toàn thế giới?” Tôi biết độc giả sẽ không cho phép tôi kết thúc Súng, vi trùng và thép nếu tôi không nói năng gì về câu hỏi hiển nhiên này.
Vì vậy tôi đã xét một cách ngắn gọn vấn đề này trong Lời kết. Tôi đã đề xuất rằng sở dĩ châu Âu đã vượt qua Trung Quốc là do nguyên nhân tối hậu nào đó sâu xa hơn chứ không phải những nguyên nhân trực tiếp theo quan niệm của hầu hết sử gia (tỉ như Khổng giáo của Trung Quốc đối lại với truyền thống Do Thái giáo – Thiên Chúa giáo của châu Âu, sự hưng khởi của nền khoa học phương Tây, sự ra đời chủ nghĩa trọng thương và chủ nghĩa tư bản châu Âu, nạn phá rừng ở Anh cộng với trữ lượng than của nước này, v.v.) Đằng sau các nguyên nhân đó và những nguyên nhân trực tiếp khác, tôi còn nhìn thấy “Nguyên lý Phân mảnh Tối ưu”, nghĩa là những nhân tố địa lý tối hậu khiến cho Trung Quốc trở thành quốc gia thống nhất từ rất sớm và suốt phần lớn lịch sử từ đó đến nay vẫn thống nhất, trong khi châu Âu thì thường xuyên phân mảnh [thành nhiều chủ thể chính trị độc lập, ND]. Sự phân mảnh của châu Âu quả thật đã tạo điều kiện cho tiến bộ công nghệ, khoa học và chủ nghĩa tư bản bởi nó tạo điều kiện cho sự cạnh tranh giữa các nước, cũng nhờ vậy [do châu Âu có nhiều nước, ND] nên các nhà phát minh nếu không được tài trợ ở nước này thì có thể xin tài trợ ở nước kia, bị o ép ở xứ này thì có thể xin trú ẩn ở xứ kia, trong khi sự thống nhất của Trung Quốc thì không.
Sau khi sách được xuất bản, các sử gia đã chỉ cho tôi thấy rằng, sự phân mảnh của châu Âu, sự thống nhất của Trung Quốc, cùng sức mạnh tương đối của cả châu Âu lẫn Trung Quốc, tất cả đều phức tạp hơn nhiều so với được miêu tả trong sách của tôi. Ranh giới địa lý của các cương vực chính trị/xã hội mà ta có thể gọi chung là “châu Âu” hay “Trung Quốc” thay đổi qua từng thế kỷ. Trung Quốc đã đi trước châu Âu về công nghệ ít nhất là cho tới thế kỷ XV và vẫn có thể lặp lại điều đó trong tương lai, trong trường hợp đó thì câu hỏi “Tại sao châu Âu chứ không phải Trung Quốc?” có thể chỉ còn liên quan đến một hiện tượng nhất thời không được lý giải một cách sâu sắc. Sự phân mảnh về chính trị có những hệ quả phức tạp hơn chứ không phải chỉ là tạo diễn trường mang tính xây dựng cho sự cạnh tranh: chẳng hạn, sự cạnh tranh không chỉ có tính xây dựng mà còn có thể có tính hủy diệt (cứ nghĩ tới hai cuộc Thế chiến Thứ nhất và Thế chiến Thứ hai thì rõ). Bản thân sự phân mảnh là một khái niệm đa chiều chứ không bất biến và đơn nghĩa: nó có tác động thế nào đến sự đổi mới là còn tùy ở những nhân tố như liệu ý tưởng [của con người] và [bản thân] con người có thể dễ dàng vượt qua ranh giới ngăn giữa các mảnh hay không, và liệu các mảnh đó khác biệt nhau hay mảnh nào cũng giống mảnh nào. Sự phân mảnh liệu có “tối ưu” hay không cũng còn tùy ta dùng thước đo nào để lượng giá sự tối ưu; mức độ phân mảnh tối ưu cho sự cách tân công nghệ có thể không phải là tối ưu đối với năng suất của nền kinh tế, sự ổn định chính trị hay hạnh phúc của con người.
Tôi có cảm tưởng rằng đại đa số các nhà khoa học xã hội vẫn chuộng những lối giải thích dựa trên các nguyên nhân trực tiếp đối với sự khác biệt giữa tiến trình lịch sử của châu Âu với tiến trình lịch sử của Trung Quốc. Chẳng hạn, trong một bài tiểu luận thâm trầm sâu sắc gần đây Jack Goldstone đã nhấn mạnh tầm quan trọng của “khoa học động cơ” của châu Âu (đặc biệt là Anh), nghĩa là sự áp dụng khoa học vào sự phát triển máy móc và công cụ. Goldstone viết: “Có hai vấn đề mà mọi nền kinh tế tiền công nghiệp đều phải đối mặt: khối lượng và sự tập trung. Khối lượng năng lượng cơ giới mà bất cứ nền kinh tế tiền công nghiệp nào có được chỉ giới hạn ở các dòng chảy của nước, những con vật hay người [mà người ta] có thể nuôi ăn, và sức gió [mà người ta] có thể bắt được. Ở bất cứ khu vực nào cố định về địa lý, khối lượng này càng bị giới hạn ngặt nghèo… Khó lòng phóng đại ưu thế của nền kinh tế hay cường quốc quân sự/chính trị đầu tiên nào phát minh ra một phương cách hầu thu được công hữu ích từ năng lượng trong các nhiên liệu hóa thạch… Chính sự áp dụng năng lượng hơi nước vào việc xe sợi, vào việc di chuyển trên mặt nước và trên bộ, vào việc làm gạch, xay hạt, luyện sắt, xúc đất, xây nhà, và tất cả các quy trình sản xuất đã làm chuyển hóa nền kinh tế nước Anh… Có lẽ đó hoàn toàn không chỉ là một thành tựu cần thiết của nền văn minh châu Âu mà còn là sự phát triển phong phú của một nền khoa học động cơ vốn là hệ quả tình cờ của những hoàn cảnh đặc thù, tuy có thể rất ngẫu nhiên, đã tình cờ xảy ra tại nước Anh trong thế kỷ XVII và XVIII”. Nếu lập luận này là đúng thì việc đi tìm những cách lý giải sâu xa về địa lý hay sinh thái sẽ chẳng có lợi lộc gì.
Quan điểm thiểu số đối lập với luận điểm trên, tương tự như quan điểm của tôi trong Lời kết của Súng, vi trùng và thép, đã được Graeme Lamp bàn chi tiết như sau: “Những khác biệt giữa châu Âu và Trung Quốc về sinh thái và địa lý giúp ta giải thích tại sao nền khoa học ở hai khu vực này lại có những số phận khác nhau đến vậy. Trước hết, nền nông nghiệp [nhờ vào mưa tự nhiên] ở châu Âu chẳng có vai trò gì đối với nhà nước bởi nhà nước hầu như luôn luôn ở xa các cộng đồng dân cư sở tại, và khi cách mạng nông nghiệp ở châu Âu sản xuất được lương thực thặng dư ngày càng tăng, điều đó giúp cho sự ra đời nhiều thành thị tương đối tự trị bên cạnh các thể chế thành thị chẳng hạn như các trường đại học từ trước khi ra đời các nhà nước tập trung hóa vào cuối thời Trung cổ. Ngược lại, nền nông nghiệp dựa trên tưới tiêu và kiểm soát lượng nước của Trung Quốc tạo điều kiện thuận lợi để sớm hình thành những nhà nước mang tính xâm hấn và cưỡng bức ở các thung lũng sông chủ yếu, trong khi các thành thị cùng những thể chế của thành thị chẳng bao giờ đạt được mức độ tự trị cục bộ như ở châu Âu. Thứ hai, địa lý Trung Quốc, không như địa lý châu Âu, không thuận lợi cho những nhà nước độc lập có thể tồn tại lâu dài. Thay vì vậy, địa lý Trung Quốc tạo điều kiện cho sự chinh phục và thống nhất trên một khu vực rộng lớn, theo sau đó là những thời kỳ tương đối ổn định dưới sự thống trị của một đế chế. Hệ thống nhà nước hình thành từ đó đã đè nén hầu hết các điều kiện thuận lợi cho sự trỗi dậy của khoa học hiện đại… Cách giải thích được mô tả sơ lược trên đây rõ ràng là quá đơn giản hóa. Tuy nhiên, một trong những ưu điểm của cách lý giải này là tránh được lối vòng vo tam quốc vẫn thường có mặt trong những lối giải thích không đào sâu hơn những khác biệt về xã hội hoặc văn hóa giữa châu Âu và Trung Quốc. Bao giờ người ta cũng có thể “quay” những lối giải thích như vậy bằng cách đặt thêm một câu hỏi nữa: tại sao châu Âu và Trung Quốc khác nhau ở các nhân tố xã hội và văn hóa đó? Tuy nhiên, những cách giải thích nào bám rễ vào tận [những đặc trưng về] địa lý và sinh thái thì chạm tới được tầng sâu nhất [của vấn đề]”.
Dung hòa được hai cách tiếp cận khác nhau đó hầu giải đáp câu hỏi “Tại sao châu Âu chứ không phải Trung Quốc” vẫn là một thử thách cho các nhà sử học. Lời giải đáp đó có thể có những hệ quả quan trọng [để người ta biết] Trung Quốc hay châu Âu nên được cai trị theo cách nào là tốt nhất ngày nay. Chẳng hạn, xét từ quan điểm của Lamp và của tôi, thảm họa Cách mạng Văn hóa ở Trung Quốc trong thập niên 1960 và 1970 – khi một số nhà lãnh đạo lầm lạc đã có thể đóng cửa toàn bộ hệ thống trường học của đất nước lớn nhất thế giới trong vòng năm năm trời – có thể không phải là một sai lầm đơn nhất xảy ra chỉ một lần trong lịch sử, mà là điềm tiên báo rằng những thảm họa tương tự có thể sẽ còn xảy ra trong tương lai chừng nào Trung Quốc còn chưa tiến hành giải tập trung hóa nhiều hơn nữa hệ thống chính trị của họ. Ngược lại, trong khi xăng xái tiến lên thống nhất về chính trị và kinh tế, châu Âu hiện nay cần suy ngẫm nhiều hơn đến việc làm sao đừng triệt bỏ những nguyên nhân nền tảng đã giúp châu Âu thành công trong năm thế kỷ qua.
Sự khai triển thứ ba trong thời gian gần đây đối với thông điệp mà Súng, vi trùng và thép gửi đến thế giới hiện đại là sự khai triển bất ngờ nhất đối với tôi. Không lâu sau khi sách được ấn hành, nó được Bill Gates tỏ lời khen ngợi, từ đó tôi bắt đầu nhận được thư từ của nhiều doanh nhân khác cũng như nhiều nhà kinh tế học, họ chỉ cho tôi thấy những tương đồng khả hữu giữa lịch sử các xã hội loài người được đề cập trong Súng, vi trùng và thép với lịch sử của các nhóm trong giới kinh doanh. Sự tương đồng đó liên quan đến câu hỏi lớn sau đây: đâu là cách tốt nhất để tổ chức các nhóm người, tổ chức và doanh nghiệp sao cho tối ưu hóa được năng suất, tính sáng tạo, tính cách tân và sự phồn vinh? Nhóm của ta nên theo hướng tập trung hóa (mà điểm cực đoan là theo hướng độc tài) hay nên có cơ chế lãnh đạo phân tán hoặc thậm chí phi chính phủ? Nên tổ chức quần thể người của ta thành một nhóm duy nhất hay nên phân ra thành ít hoặc nhiều nhóm nhỏ? Ta nên duy trì sự trao đổi thông tin cởi mở giữa các nhóm hay nên dựng những bức tường bí mật giữa các nhóm? Ta nên dựng những bức tường thuế quan bảo hộ nhằm chống lại bên ngoài hay nên [mạnh dạn] đưa doanh nghiệp của mình bước vào cạnh tranh tự do?
Các câu hỏi đó phát sinh ở nhiều cấp độ khác nhau và cho nhiều loại nhóm khác nhau. Chúng áp dụng cho cơ cấu tổ chức ngay cả ở cấp quốc gia: hãy nhớ lại những cuộc tranh cãi triền miên về việc dạng chính phủ nào là tốt nhất: chế độ độc tài tốt bụng, hệ thống liên bang hay thể chế phi chính phủ ai muốn làm gì cũng được. Cũng một câu hỏi đó đặt ra đối với cơ cấu tổ chức của các công ty khác nhau trong cùng một ngành. Ta giải thích thế nào việc Microsoft đã thành công đến vậy trong thời gian gần đây, trong khi IBM vốn trước kia từng rất thành công thì lại tụt hậu nhưng rồi đã thay đổi triệt để cơ cấu tổ chức và cải thiện được thành tích? Làm sao ta giải thích được vì đâu mỗi vành đai công nghiệp có một thành công mỗi khác? Hồi tôi còn nhỏ sống ở Đường số 128 thành phố Boston, vành đai công nghiệp bao quanh Boston hãy còn dẫn đầu thế giới về tính sáng tạo và óc tưởng tượng khoa học. Nhưng Đường 128 đã tụt hậu, nay thì Thung lũng Silicon mới là trung tâm đổi mới. Mối quan hệ giữa các doanh nghiệp với nhau ở Thung lũng Silicon và trên Đường 128 là rất khác nhau, có lẽ chính vì vậy mà thành quả của hai bên mới khác nhau.
Dĩ nhiên, còn có cả những khác biệt nổi tiếng giữa năng suất nền kinh tế của toàn bộ các nước, như nền kinh tế của Nhật Bản, Hoa Kỳ, Pháp và Đức. Dẫu vậy, trên thực tế có những khác biệt to lớn giữa năng suất và của cải của các ngành kinh doanh khác nhau thậm chí trong cùng một nước. Chẳng hạn, ngành thép của Hàn Quốc về tính hiệu quả cũng tương đương như ngành thép Hoa Kỳ, nhưng tất cả các ngành khác của Hàn Quốc đều lạc hậu hơn các ngành tương đương của Hoa Kỳ. Cơ cấu tổ chức của các ngành công nghiệp Hàn Quốc có gì khác nhau để dẫn tới sự khác nhau như vậy về năng suất tuy tất cả đều trong cùng một nước?
Hiển nhiên, tại sao mỗi công ty thành công một khác còn tùy thuộc một phần ở tính cách đặc thù của các cá nhân. Chẳng hạn, thành công của Microsoft chắc chắn có liên quan nào đó đến tài năng cá nhân của Bill Gates. Thậm chí dù có một cơ cấu tổ chức công ty ưu việt, Microsoft vẫn sẽ không thành công nếu lãnh đạo thiếu năng lực. Tuy nhiên, người ta vẫn có thể hỏi: nếu về lâu về dài hoặc nếu tính bình quân mọi yếu tố đều giống như nhau thì dạng tổ chức nào đối với các nhóm người là tốt nhất?
Bằng cách so sánh lịch sử Trung Quốc với lịch sử tiểu lục địa Ấn Độ và lịch sử châu Âu trong Lời kết của Súng, vi trùng và thép, tôi đã đề xuất một lời giải đáp cho câu hỏi này, áp dụng cho sự cách tân công nghệ ở cấp quốc gia. Như đã giải thích trong phần trước, tôi đã suy ra rằng sự cạnh tranh giữa các thực thể chính trị khác nhau đã thúc đẩy sự đổi mới ở châu Âu vốn bị phân mảnh về địa lý, còn tình trạng thiếu cạnh tranh [giữa các thực thể chính trị khác nhau] đã kìm hãm sự đổi mới ở nước Trung Quốc thống nhất. Phải chăng nói vậy có nghĩa là, nếu mức độ phân mảnh về chính trị còn cao hơn cả châu Âu thì càng tốt hơn nữa? Có lẽ là không: Ấn Độ vốn phân mảnh về địa lý còn cao hơn cả châu Âu, nhưng lại kém đổi mới hơn về công nghệ. Chính điều này đã gợi ý cho tôi về Nguyên lý Phân mảnh Tối ưu: sự đổi mới diễn ra nhanh nhất ở xã hội nào có sự phân mảnh ở cấp độ trung gian tối ưu – xã hội nào thống nhất quá thì bất lợi, song xã hội nào phân mảnh quá thì cũng bất lợi nốt.
Suy luận này hô ứng với Bill Lewis và các lãnh đạo khác của Mc Kinsey Global Institute, một hãng tư vấn hàng đầu có trụ sở tại Washington, hiện đang tiến hành nghiên cứu so sánh nền kinh tế của các nước và nền kinh tế trên toàn thế giới. Các nhà lãnh đạo đã rất đỗi sửng sốt khi thấy sự tương đồng giữa kinh nghiệm kinh doanh của họ với các suy luận của tôi từ lịch sử đến nỗi họ tặng cho toàn bộ mấy trăm đối tác kinh doanh của công ty mỗi người một bản Súng, vi trùng và thép, rồi họ lại đưa tôi một bản các báo cáo của họ về nền kinh tế của Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Hàn Quốc, Nhật Bản, Brazil và nhiều nước khác. Cả họ nữa cũng phát hiện ra vai trò then chốt của sự cạnh tranh và quy mô của nhóm trong việc thúc đẩy đổi mới. Dưới đây là một số kết luận mà tôi lượm lặt được từ những cuộc trò chuyện với các lãnh đạo của McKinsay và từ các báo cáo của họ:
Người Mỹ thường tưởng tượng rằng các ngành công nghiệp Đức và Nhật Bản đều siêu hiệu quả, vượt xa các ngành công nghiệp Hoa Kỳ về năng suất. Thực ra điều đó không đúng: nếu tính bình quân với mọi ngành công nghiệp thì năng suất ở Hoa Kỳ cao hơn so với cả Nhật Bản lẫn Đức. Nhưng các số liệu bình quân đó che giấu những khác biệt to lớn giữa các ngành công nghiệp trong phạm vi từng nước vốn liên quan đến những khác biệt trong cơ cấu tổ chức, mà những khác biệt sau này mới gợi cho ta nhiều điều suy nghĩ. Để tôi cung cấp cho các bạn hai ví dụ rút ra từ nghiên cứu của McKinsey đối với ngành bia Đức và ngành chế biến thực phẩm của Nhật.
Người Đức làm bia tuyệt ngon. Mỗi khi tôi cùng vợ bay sang Đức, chúng tôi luôn mang theo một vali trống, đến khi về Mỹ thì dùng nó để đựng đầy những chai bia Đức đủ uống cả năm sau. Thế nhưng năng suất ngành bia ở Đức chỉ bằng 43% so với ngành bia ở Mỹ. Trong khi đó, ngành luyện kim và ngành thép của Đức lại có năng suất bằng các ngành tương đương ở Mỹ. Người Đức rõ ràng là thừa khả năng tổ chức tốt các ngành công nghiệp, thế tại sao họ không làm được vậy riêng với ngành bia?
Hóa ra ngành bia Đức khác mọi ngành khác ở chỗ sản xuất quy mô nhỏ. Có hàng ngàn công ty bia nhỏ trên khắp nước Đức, tất cả đều được bảo hộ nên không phải cạnh tranh với nhau bởi mỗi nhà máy bia Đức hầu như là một kẻ độc quyền ở mỗi địa phương, đồng thời tất cả lại cũng được bảo hộ trước hàng nhập khẩu. Hoa Kỳ có 67 nhà máy bia chính, sản xuất 23 tỷ lít bia mỗi năm. Toàn bộ 1.000 nhà máy bia của Đức cộng lại cũng chỉ sản xuất được một nửa chừng đó. Thế nên tính bình quân ngành bia Hoa Kỳ sản xuất được lượng bia nhiều hơn 31% so với ngành bia Đức.
Đó là do mỗi vùng có thị hiếu riêng và do chính sách của chính phủ Đức. Dân uống bia ở Đức nồng nhiệt trung thành với nhãn hiệu bia ở địa phương mình, cho nên chẳng có hãng bia Đức nào có thể gọi là “bia dân tộc” như Budweiser, Miller hay Coors của Hoa Kỳ. Thay vì vậy, hầu hết bia Đức chỉ được tiêu thụ trong phạm vi 30 dặm cách nhà máy nơi nó được sản xuất. Vì vậy, ngành bia Đức không thể thu lãi từ doanh số bán. Trong ngành bia, cũng như trong các ngành khác, doanh số càng nhiều thì chi phí sản xuất càng giảm. Thiết bị lạnh để ủ bia càng lớn và dây chuyền đổ bia vào chai càng dài thì chi phí sản xuất bia càng giảm. Những công ty bia Đức nhỏ xíu đó tương đối không hiệu quả. Không hề có cạnh tranh; chẳng qua chỉ là một ngàn hãng độc quyền ở cấp địa phương.
Lòng trung thành của người uống bia ở Đức đối với nhãn hiệu bia của địa phương mình càng được củng cố bởi luật pháp Đức, vốn đặt ra điều kiện ngặt nghèo khiến bia nước ngoài khó cạnh tranh trên thị trường Đức. Chính phủ Đức có cái gọi là luật bảo vệ sự thuần khiết của bia, chỉ định rõ ràng cái gì có thể đưa vào bia được. Chẳng có gì lạ rằng các quy định bảo vệ sự thuần khiết đó của chính phủ dựa trên chính các thành phần mà các hãng bia Đức vẫn đưa vào bia chứ không phải dựa trên thành phần bia của Mỹ, Pháp hay Thụy Điển. Chính vì những luật đó mà chẳng có bao nhiêu bia nước ngoài được xuất sang Đức, và do năng suất thấp cũng như giá thành cao nên bia Đức dù ngon tuyệt thế kia nhưng được bán ở nước ngoài ít hơn ta tưởng nhiều. (Có thể bạn sắp phản đối tôi rằng bia Đức hiệu Löwenbräu được bán đầy ở Hoa Kỳ đấy thôi, nhưng xin hãy đọc kỹ lại nhãn hiệu trên chai bia Löwenbräu kế tiếp mà bạn sắp uống: nó không được sản xuất ở Đức mà là ở Bắc Mỹ theo giấy phép chuyển nhượng, trong những nhà máy lớn với năng suất và doanh số bán kiểu Bắc Mỹ).
Ngành xà bông và ngành điện tử tiêu dùng của Đức cũng kém hiệu quả như vậy: các công ty đó không phải cạnh tranh với nhau cũng chẳng phải cạnh tranh với nước ngoài, thành thử họ không áp dụng những quy trình tốt nhất theo chuẩn quốc tế. (Bạn hãy nhớ xem mình mua cái tivi nhập từ Đức lần cuối cùng là từ khi nào vậy?) Nhưng các ngành luyện kim và ngành thép của Đức thì không có những bất lợi đó, bởi các công ty lớn của Đức thuộc những ngành này phải cạnh tranh với nhau và với nước ngoài nên buộc phải áp dụng những quy trình tốt nhất theo chuẩn quốc tế.
Một ví dụ khác mà tôi ưa thích trong các báo cáo của McKinley là ngành chế biến thực phẩm của Nhật. Người Mỹ thường rất nể sợ tính hiệu quả của người Nhật, mà quả thật tính hiệu quả trong một số ngành của Nhật thì kinh khủng, nhưng ở ngành chế biến thực phẩm thì không. Hiệu quả của ngành chế biến thực phẩm Nhật chỉ bằng vỏn vẹn 32% so với ngành tương đương ở Hoa Kỳ. Có 67.000 công ty chế biến thực phẩm ở Nhật, so với chỉ 21.000 công ty ở Hoa Kỳ, trong khi dân số Hoa Kỳ gấp đôi dân số Nhật, nghĩa là tính bình quân mỗi công ty chế biến thực phẩm của Hoa Kỳ lớn hơn gấp sáu lần một công ty chế biến thực phẩm của Nhật. Tại sao ngành chế biến thực phẩm của Nhật, cũng như ngành bia của Đức, lại gồm toàn những công ty nhỏ chiếm độc quyền ở từng địa phương? Về cơ bản, câu trả lời cũng là hai nguyên nhân như trên: thị hiếu từng địa phương và chính sách của chính phủ.
Người Nhật cực kỳ mê thực phẩm tươi sống. Một hộp sữa trong siêu thị ở Hoa Kỳ chỉ có ghi một ngày tháng: ấy là hạn sử dụng. Khi tôi cùng vợ đến một siêu thị ở Tokyo cùng với mấy hàng xóm người Nhật của vợ tôi, chúng tôi ngạc nhiên khám phá rằng ở Nhật một hộp sữa được ghi đến những ba ngày tháng: ngày sữa được sản xuất, ngày nó được nhập vào siêu thị, ngày hết hạn. Việc sản xuất sữa ở Nhật thường bắt đầu vào lúc 12 giờ một phút hàng đêm, để cho sữa khi đưa ra thị trường có thể ghi là sữa được sản xuất ngay hôm nay. Nếu sữa được sản xuất lúc 11 giờ 59 phút đêm thì ngày ghi trên hộp sữa sẽ phải ghi rõ là sản xuất ngày hôm qua, mà nếu vậy thì sẽ chẳng ai mua.
Kết quả là ngành chế biến thực phẩm ở Nhật có tính độc quyền cục bộ. Một nhà sản xuất sữa ở miền bắc Nhật chẳng hy vọng gì cạnh tranh với miền nam Nhật bởi vận chuyển sữa từ bắc xuống nam sẽ phải mất thêm một ngày, ấy là một hạn chế ghê gớm trong mắt người tiêu thụ. Tính độc quyền cục bộ đó được củng cố bởi chính sách của chính phủ Nhật: họ gây khó dễ cho thực phẩm chế biến ở nước ngoài bằng cách áp đặt một loạt quy định ngặt nghèo trong đó có hạn kiểm dịch 10 ngày (bạn cứ hình dung, chỉ cần hàng cũ một ngày mà người tiêu dùng Nhật đã lánh xa, giờ cũ đến 10 ngày thì họ càng cảm thấy thế nào). Chính vì vậy ngành chế biến thực phẩm của Nhật không phải cạnh tranh ở cả trong lẫn ngoài nước, cũng không học những phương pháp chế biến thực phẩm tốt nhất trên thế giới. Một phần vì vậy mà giá cả thực phẩm ở Nhật rất cao: thịt bò ngon nhất giá 200 đô-la Mỹ một pound (0,48 kg, ND) còn thịt gà giá 25 đô-la Mỹ một pound.
Một số ngành khác của Nhật được tổ chức rất khác với ngành chế biến thực phẩm. Chẳng hạn, các công ty thép, kim loại, ô tô, linh kiện ô tô, máy ảnh và điện tử gia dụng của Nhật cạnh tranh rất khốc liệt và có năng suất cao hơn các ngành tương đương ở Hoa Kỳ. Nhưng các ngành xà bông, bia và máy vi tính của Nhật, cũng giống như ngành chế biến thực phẩm, không phải cạnh tranh, không áp dụng những quy trình tốt nhất, nên năng suất cũng thấp hơn các ngành tương đương ở Hoa Kỳ (Nếu nhìn quanh nhà mình, bạn sẽ thấy rằng chiếc tivi, máy ảnh, có khi cả ô tô nữa là của Nhật, nhưng máy vi tính và xà bông thì không).
Cuối cùng, ta hãy áp dụng các bài học này để so sánh các vành đai công nghiệp hoặc các ngành công nghiệp khác nhau ở Hoa Kỳ. Từ khi Súng, vi trùng và thép được xuất bản, tôi đã dành nhiều thời gian trò chuyện với những người ở Thung lũng Silicon cũng như ở Đường 128, họ bảo tôi rằng hai vành đai công nghiệp đó rất khác nhau về đặc tính kinh doanh. Thung lũng Silicon bao gồm nhiều công ty cạnh tranh với nhau khốc liệt. Tuy nhiên, giữa họ cũng có nhiều hợp tác – một dòng lưu chuyển tự do các ý tưởng, con người và thông tin giữa các công ty. Ngược lại, tôi nghe nói các doanh nghiệp ở Đường 128 kín cổng cao tường hơn nhiều, biệt lập với nhau hơn nhiều, như các công ty sản xuất sữa của Nhật Bản vậy.
Còn về sự tương phản giữa Microsoft với IBM thì sao? Từ khi Súng, vi trùng và thép được xuất bản, tôi đã có được những người bạn mới ở Microsoft và biết được về cơ cấu tổ chức đặc thù của công ty đó. Microsoft có rất nhiều đơn vị, mỗi đơn vị từ 5 đến 10 người, các đơn vị có thể tự do liên thông với nhau và không được quản lý ở cấp vĩ mô; các đơn vị được trao rất nhiều quyền tự do theo đuổi ý tưởng riêng của mình. Cơ cấu tổ chức khác thường đó ở Microsoft – về thực chất là phân nhỏ thành nhiều đơn vị bán độc lập cạnh tranh với nhau – tương phản với cơ cấu ở IBM mà mãi đến vài năm gần đây vẫn là những nhóm cô lập hơn nhiều, dẫn đến hậu quả là IBM đánh mất năng lực cạnh tranh. Thế rồi IBM thu dụng một nhà quản trị kinh doanh mới, người này thay đổi mọi chuyện một cách triệt để: IBM giờ đây có cơ cấu tổ chức giống Microsoft hơn, và tôi nghe nói nhờ vậy khả năng đổi mới của IBM đã được cải thiện.
Tất cả những điều trên gợi ý rằng chúng ta có thể rút ra một nguyên lý chung về cơ cấu tổ chức nhóm. Nếu mục đích của ta là đổi mới và năng lực cạnh tranh, ta không nên tập trung quá cũng không nên phân mảnh quá. Thay vì vậy, ta nên để quốc gia, ngành sản xuất, vành đai công nghiệp hay công ty mình phân nhỏ thành nhiều nhóm cạnh tranh với nhau đồng thời duy trì sự liên thông tương đối tự do – giống như hệ thống chính phủ liên bang của Hoa Kỳ mà từ trong nội tại đã tạo điều kiện cho sự cạnh tranh giữa 50 bang.
Phần triển khai còn lại đối với Súng, vi trùng và thép là sự triển khai câu hỏi trọng tâm về các nền kinh tế trên thế giới: tại sao một số nước (như Hoa Kỳ và Thụy Sĩ) thì giàu, trong khi những nước khác (như Paraguay và Mali) lại nghèo? Tổng sản phẩm quốc nội tính theo đầu người (GNP) của các nước giàu nhất thế giới nhiều hơn trên 100 lần so với GNP của các nước nghèo nhất. Đây không chỉ là câu hỏi có tính lý thuyết đầy thách thức khiến cho các giáo sư kinh tế học có việc làm, mà còn là một câu hỏi quan trọng [đối với các nhà hoạch định] chính sách. Nếu xác định được câu trả lời, các nước nghèo có thể tập trung thay đổi những gì khiến cho họ mãi nghèo và tiếp thu những gì đã làm cho những nước khác giàu.
Hiển nhiên, một phần câu trả lời tùy thuộc vào những khác biệt trong các thể chế của con người. Bằng chứng rõ ràng nhất cho quan điểm này là những cặp quốc gia mà môi trường sống về bản chất là giống nhau nhưng lại có những thể chế khác xa nhau và gắn liền với các thể chế đó là tổng sản phẩm quốc nội trên đầu người khác xa nhau. Bốn ví dụ rành rành là trường hợp Hàn Quốc với Bắc Triều Tiên, Tây Đức trước đây với Đông Đức trước đây, Cộng hòa Dominicana với Haiti, và Israel với các nước Arập láng giềng. Trong số những “thể chế tốt” mà người ta thường viện ra để giải thích tại sao nước đứng trước trong mỗi cặp kể trên lại thịnh vượng hơn, có thể kể tới hiệu lực của luật pháp, khuôn khổ luật pháp của các hợp đồng, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, ít tham nhũng, tỉ lệ ám sát thấp, cởi mở đối với thương mại và lưu chuyển vốn, khuyến khích đầu tư, vân vân.
Không nghi ngờ gì nữa, các thể chế tốt là một phần câu trả lời tại sao mỗi nước giàu nghèo một khác. Nhiều, hay có thể nói là hầu hết các nhà kinh tế còn đi xa hơn, tin rằng các thể chế tốt dứt khoát là nhân tố quan trọng nhất. Nhiều chính phủ, cơ quan và quỹ cho vay căn cứ vào nhân tố này để ra quyết định liên quan đến chính sách, các khoản viện trợ và cho vay, họ coi sự phát triển các thể chế tốt ở những nước nghèo là ưu tiên số một.
Song người ta cũng ngày càng nhận ra rằng quan điểm coi thể chế tốt là trên hết cũng không toàn diện – không phải sai, chỉ là không toàn diện – và để các nước nghèo có thể trở thành giàu thì còn có những nhân tố quan trọng khác cần tính đến. Không thể có chuyện chỉ cần giới thiệu các thể chế tốt cho những nước nghèo như Paraguay và Mali là các nước đó sẽ tiếp thu các thể chế kia và đạt được GNP tương đương với Hoa Kỳ hay Thụy Sĩ. Các ý kiến phê phán quan điểm quá coi trọng thể chế tốt có thể chia làm hai loại. Một đằng thừa nhận tầm quan trọng của các nhân tố trực tiếp khác ngoài thể chế tốt, chẳng hạn như sức khỏe cộng đồng, những hạn chế về thổ nhưỡng và khí hậu ảnh hưởng đến năng suất nông nghiệp và tính dễ tổn thương của môi trường. Một đằng thì coi trọng nguồn gốc của các thể chế tốt.
Theo cách phê phán sau này, chỉ xét các thể chế tốt với tư cách ảnh hưởng trực tiếp mà không quan tâm đến nguồn gốc của chúng thì không đủ. Các thể chế tốt chẳng phải là một biến tố ngẫu nhiên có thể nảy ra ở bất cứ đâu trên trái đất, ở Đan Mạch hay ở Somalia với xác suất như nhau. Tôi thì cảm thấy rằng, trong quá khứ, các thể chế tốt luôn luôn hình thành do một chuỗi dài những mối liên hệ lịch sử, từ các nguyên nhân sâu xa bắt nguồn từ [điều kiện] địa lý cho tới những biến tố phụ thuộc trực tiếp là các thể chế đó. Cần phải thấu hiểu cái chuỗi đó nếu chúng ta hy vọng ngày nay có thể nhanh chóng tạo ra được những thể chế tốt tại các quốc gia chưa từng có chúng.
Tại thời điểm viết Súng, vi trùng và thép, tôi đã nhận xét: “Những nước đang nổi lên vị trí cường quốc mới hiện nay cũng chính là những nước mà tự hàng ngàn năm trước đã là bộ phận của các trung tâm thống trị cũ dựa trên sản xuất lương thực, không thì cũng là những nước mà cư dân bản địa đã bị các dân tộc xuất phát từ các trung tâm đó di cư đến chiếm chỗ… Bàn tay của diễn trình lịch sử từ 8.000 năm TCN vẫn đang đè nặng lên chúng ta”. Hai bài báo mới của các nhà kinh tế học (một bài của Olsson và Hibbs, một bài của Bockstette, Chanda và Putterman) đã khảo chứng một cách chi tiết cái giả định về bàn tay lịch sử này. Hóa ra là, những nước ở các khu vực từng có xã hội nhà nước hoặc nông nghiệp từ xa xưa thì nay cũng là những nước có GNP cao hơn các nước có lịch sử ngắn ngủi, thậm chí cho dù các nhân tố thay đổi khác đã được kiểm soát. Kết quả này giải thích phần lớn sự biến thiên trong GNP. Ngay cả giữa các nước có GNP thấp hoặc mãi đến gần đây vẫn thấp, những nước nào từng có xã hội nhà nước hoặc nông nghiệp từ xa xưa như Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc thì cũng có tốc độ tăng trưởng cao hơn so với những nước có lịch sử ngắn như New Guinea và Philippines mặc dù một số nước có lịch sử ngắn được hưởng tài nguyên thiên nhiên dồi dào hơn gấp bội.
Nguyên nhân hiển nhiên dẫn đến những kết cục đó của lịch sử thì có nhiều, chẳng hạn nước nào từng kinh qua lịch sử xã hội nhà nước và nông nghiệp lâu dài thì cũng có những người cầm quyền giàu kinh nghiệm, có kinh nghiệm với kinh tế thị trường, vân vân. Về mặt thống kê, một phần cái kết cục tối hậu đó của lịch sử tỏ ra được trung hòa bởi các nguyên nhân trực tiếp mà ta đã biết, ấy là những thể chế tốt. Nhưng vẫn còn đó một kết cục lớn của lịch sử, [kể cả] sau khi ta đã kiểm soát các phép đo thông thường là những thể chế tốt ấy. Vì vậy, ắt hẳn còn phải có những cơ chế trung hòa trực tiếp khác nữa. Như vậy vấn đề then chốt là, cần phải thấu hiểu cặn kẽ chuỗi nhân quả đã khiến một số xã hội nhà nước và nông nghiệp [phát triển] trong quá trình lịch sử lâu dài [để đạt] tới tăng trưởng kinh tế ngày nay thì mới mong giúp được các nước đang phát triển tiến lên theo chuỗi nhân quả đó nhanh hơn.
Nói ngắn gọn, với tôi chủ đề của Súng, vi trùng và thép có vẻ không chỉ là động lực trong thế giới cổ đại mà còn là một lĩnh vực chín muồi để chúng ta nghiên cứu trong thế giới hiện đại.