Khi Tách Cà Phê Còn Chưa Nguội - Toshikazu Kawaguchi - Phần 2.1
- Home
- Khi Tách Cà Phê Còn Chưa Nguội - Toshikazu Kawaguchi
- Phần 2.1 - Câu chuyện thứ hai: Vợ chồng
Quán cà phê này không có điều hòa. Quán được mở từ năm Minh Trị thứ 7 (1874), tuy đã trải qua khoảng một trăm bốn mươi mốt năm và có sửa lại một số nội thất bên trong nhưng phần lớn vẫn được giữ nguyên từ đó đến nay. Nói cách khác, mọi thứ vẫn được giữ nguyên từ thời Minh Trị thứ 7, thời mà người ta vẫn còn dùng đèn dầu là chủ yếu. Người ta nói quán cà phê mà chúng ta nhìn thấy như bây giờ được mở từ năm Minh Trị thứ 21, nhưng thực ra nó đã được mở sớm hơn những mười bốn năm.
Cà phê được du nhập vào Nhật Bản từ thời Edo, thời của Tướng quân Tokugawa Tsunayoshi. Tuy nhiên, có vẻ cà phê không phải là một thức uống hợp với khẩu vị người Nhật lúc bấy giờ nên chưa phải là một thức uống được yêu thích. Nói đúng ra, lúc đó cà phê chỉ được coi là một thứ đồ uống đen đen và có vị đắng ngắt.
Cùng với sự phát triển của đèn điện, những chiếc đèn dầu được sử dụng từ khi bắt đầu mở quán cũng được thay thế, duy chỉ có điều hòa cho đến giờ vẫn không được lắp đặt vì sẽ phá hỏng khung cảnh bài trí trong quán.
Mùa hè đến, mặc dù ở dưới tầng hầm, nhưng vào ban ngày, nếu nhiệt độ vượt quá ba mươi độ C, thông thường trong quán sẽ khá oi bức. Trần nhà của quán cà phê này cũng có gắn một chiếc quạt trần. Nó như một chiếc quạt máy có cánh tạo gió lớn, nhưng có lẽ mãi về sau này khi có điện, nó mới được gắn lên trên đó. Ấy thế nhưng chiếc quạt trần đó lại chẳng tạo ra được những cơn gió mạnh tương xứng trong những ngày hè nóng bức. Về cơ bản, chức năng chính của nó chỉ là hỗ trợ việc lưu thông không khí mà thôi.
Trong lịch sử Nhật Bản, nhiệt độ cao kỷ lục đo được là bốn mươi mốt độ C vào ngày 12 tháng 8 năm 2013 ở Ekawasaki thuộc tỉnh Kouchi. Cái quạt trần này chắc cũng chẳng giúp ích gì trong những ngày thời tiết nóng đến thế.
Tuy nhiên ở quán cà phê này, ngay cả giữa mùa hè người ta cũng cảm thấy mát mẻ. Ngoài nhân viên ra thì không một ai biết người làm cho không khí ở đây trở nên mát mẻ đến thế là ai. Chẳng có lý do gì mà biết được.
Mặc dù mới là đầu hè, nhưng cũng đã có những buổi chiều nắng khá gay gắt. Trong quán, một cô gái trẻ ngồi ở ghế trước quầy, đang ghi ghi chép chép thứ gì đó, bên cạnh đặt một ly cà phê đá đã tan và có vẻ nhạt hơn phần nào. Cô ấy mặc một chiếc áo thun màu trắng đậm chất mùa hè kết hợp với váy bút chì màu xám cùng đôi xăng-đan dây, ngồi thẳng lưng, tay cầm chiếc bút đặt những nét chữ chạy trên tờ giấy viết thư màu anh đào. Phía sau quầy, một cô gái với nước da trắng, dáng người mảnh khảnh và đôi mắt lấp lánh tỏa sáng như một thiếu nữ đang chăm chú nhìn ngắm vị khách nữ kia. Đó chính là Tokita Kei. Kei dường như khá để ý tới nội dung bức thư đó. Thỉnh thoảng, cô ấy lại liếc nhìn những nét chữ mà cô gái kia đang viết với vẻ nghịch ngợm chẳng khác gì một đứa trẻ. Trong quán, ngoài cô gái đang ngồi viết thư ở chỗ quầy bar ra, còn một người phụ nữ mặc chiếc đầm màu trắng, đang ngồi trên chiếc ghế đặc biệt đó và một người đàn ông tên là Fusagi đang ngồi ở chiếc bàn gần cửa ra vào nhất. Fusagi hôm nay cũng mở cuốn tạp chí, đặt lên trên bàn và chăm chú đọc nó. Cô gái đang viết thư kia bỗng thở “phù” một cái. Kei cũng nhận thấy và như hiểu được điều gì đó, cô cũng thở “phù” theo.
“Xin lỗi. Tôi đã ngồi lại lâu quá.” Cô gái nhét bức thư vừa viết xong vào phong bì và nói.
“Không sao đâu ạ!” Kei cũng di chuyển bước chân mình và trả lời.
“Cô có thể chuyển cái này cho chị gái tôi được không?”
Nói đoạn, cô gái lịch sự đưa hai tay cầm lấy chiếc phong bì đã nhét bức thư vào trong và đưa tới trước mặt Kei. Tên của vị khách này là Hirai Kumi, em gái của một người khách quen của quán, tên Hirai Yaeko.
“Nhưng mà… chị của cô…”
Kei đang định nói gì đó, nhưng giữa chừng miệng cô như cứng lại mà chẳng thể nói thêm điều gì.
“…?”
Kumi hơi cúi đầu, có thể nhìn thấy vẻ mặt hơi bất ngờ của Kei. Nhưng rồi Kei lại mỉm cười như không có chuyện gì.
“Cái này đưa cho chị cô đúng không?”
Kei nói rồi hướng cặp mắt về bức thư mà Kumi đang cầm trên tay.
Kumi vừa cảm động, tỏ vẻ biết ơn với Kei và nói: “Tôi nghĩ có thể chị ấy sẽ không đọc kĩ nhưng dù sao cũng xin nhờ cô.”
Nói xong, cô ấy lại cúi đầu xuống.
Kei lịch sự đáp lại: “Tôi hiểu rồi”, rồi cúi đầu và đưa hai tay nhận lấy bức thư.
Kumi bước đến trước máy tính tiền và hỏi “Của tôi bao nhiêu tiền vậy?” rồi đưa biên lai ghi những món cô đã gọi ra trước mặt Kei để thanh toán. Kei cẩn thận đặt bức thư lên trên mặt bàn quầy, rồi nhận lấy biên lai, bắt đầu gõ vào máy tính tiền.
Tên đầy đủ của máy tính tiền là “cash register”. Máy tính tiền ở quán cà phê này có vẻ là chiếc máy tính tiền cũ nhất trong những chiếc “cash register” đã từng được sử dụng cho đến bây giờ. Tuy nhiên, nói là cũ nhưng không có nghĩa rằng nó có từ khi mới mở quán. Quán cà phê này bắt đầu sử dụng máy tính tiền từ khi Nhật Bản bước vào thời kỳ Showa (1926-1989). Để dễ liên tưởng thì có thể nói nó gần với thời kỳ sử dụng máy đánh chữ. Và để chống trộm, chỉ riêng phần thân máy cũng đã nặng đến bốn mươi mốt kí. Hơn nữa, mỗi khi gõ số tiền vào, nó lại phát ra những tiếng lạch cà lạch cạch.
“Cà phê… bánh mì nướng… cơm cà ri… kem hoa quả..”
Kei vừa lẩm bẩm trong miệng vừa tạo ra âm thanh lạch cạch khi gõ số tiền vào chiếc máy tính tiền.
“Soda kem… pizza nướng…”
Có vẻ như Kumi ăn khá nhiều thứ. Biên lai không chỉ có một tờ và Kei đang bắt đầu gõ vào máy tờ thứ hai.
“Cơm rang cà ri… kem đá bào vị chuối… cơm thịt lợn chiên.”
Như bình thường thì hình như không cần thiết phải đọc lên tất cả những món khách đã gọi, nhưng Kei lại chẳng mảy may quan tâm đến mà cứ nói vanh vách từng món từng món một. Cộng thêm cái dáng vẻ gõ lạch cà lạch cạch từng số tiền vào chiếc máy tính tiền thì đúng là trông cô giống như một đứa trẻ đang chơi đồ chơi với vẻ ngây thơ, hớn hở.
“Còn món Gorgonzola Gnocchi [một loại pasta hình vuông], mì Ý thịt gà kèm rau thơm…”
“Tôi ăn nhiều quá nhỉ?”
Kumi có vẻ hơi ngượng ngùng khi tất cả những món mình gọi được đọc lên từng thứ một với âm thanh chắc ai cũng có thể nghe thấy. Có thể cô ấy đang rất muốn nói rằng: “Không cần phải đọc to lên như vậy cũng được mà”.
“Đúng là ăn nhiều thật.”
Đây không phải lời Kei nói, mà là Fusagi, người đã nghe thấy hết những món Kei đọc lên khi thanh toán, anh ta vẫn nhìn chằm chằm vào cuốn tạp chí trên bàn rồi khẽ nói. Kei vẫn giữ nét mặt ngây ngô, nhưng Kumi có vẻ hơi đỏ mặt một chút rồi hỏi: “Bao nhiêu tiền ạ?”
Tuy nhiên, có vẻ việc thanh toán vẫn chưa kết thúc.
“À, còn bánh sandwich trộn và cơm nắm nướng, một phần cơm cà ri gọi thêm, và còn một ly cà phê đá. Tổng cộng là mười nghìn hai trăm ba mươi yên.”
Kei mở tròn đôi mắt và tươi tắn mỉm cười mà chẳng hề có ý chê bai hay gì cả.
“Vậy… đây ạ!”
Kumi nhanh chóng lấy ra hai tờ tiền từ trong ví và đưa ra trước mặt Kei. Kei đưa tay nhận lấy hai tờ tiền và nói: “Tôi nhận của cô mười một nghìn yên”.
Rồi lại gõ lạch cạch vào máy. Trong khi chờ đợi, Kumi lại cúi mặt xuống.
Ding… ngăn kéo máy tính tiền mở ra nhanh chóng, Kei lấy tiền thừa ra.
“Xin trả lại cô bảy trăm bảy mươi yên tiền thừa.”
Kei đưa tiền thừa cho Kumi rồi lại mỉm cười với đôi mắt to tròn tươi tắn. Kumi một lần nữa lại lịch sự cúi đầu và nói: “Cảm ơn vì bữa ăn.”
Có vẻ như cô ấy khá xấu hổ và ngượng ngùng vì tất cả những món mình gọi được đọc rõ lên như vậy nên đã định nhanh chóng ra khỏi quán. Thế nhưng Kei bỗng kéo Kumi lại và nói: “À, xin lỗi cô, nhưng chờ tôi một chút nhé.”
“Còn chuyện gì sao?”
Kumi dừng bước, quay về phía Kei.
“Cô có muốn nhắn gì đó…. tới chị gái của cô không?”
Kei hướng mắt về phía bước chân Kumi, hai tay huơ huơ và nói.
“Không sao đâu. Tôi đã viết hết trong thư rồi.”
Kumi trả lời không chút do dự.
“À… đúng vậy nhỉ…”
Kei hơi hụt hẫng một chút rồi nhún vai nhẹ một cái.
Kumi có vẻ vui trước nhã ý của Kei và khẽ cười, sau đó suy nghĩ một chút rồi nói: “Nếu được, cô có thể giúp tôi nhắn lại với chị gái tôi điều này được không?”
“Vâng!”
Kei hào hứng đáp lại.
“Bố và mẹ đều không còn giận chị nữa.”
“Bố và mẹ đều không còn giận chị nữa.”
Kei khẽ nhắc lại những lời mình vừa nghe từ Kumi.
“Vâng, nhờ cô nói với chị ấy lại như vậy.”
Kei lại tỏ vẻ mặt hào hứng với đôi mắt lấp lánh rồi lặp lại hai lần “Tôi nhớ rồi” với giọng điệu vui mừng như mình vừa làm được một điều gì đó có ích.
Kumi quay lại nhìn ngắm lại quán cà phê, rồi một lần nữa cúi đầu chào Kei và bước ra khỏi quán.
Leng keng.
Kei chạy lại phía cửa để xác nhận xem Kumi đã ra khỏi quán chưa, sau đó cô bất ngờ quay người về phía quầy đang không một bóng người và nói: “Chị… đã cãi nhau với bố mẹ à?”
Ngay sau đó, từ phía dưới quầy vốn chẳng có ai lại vọng ra một giọng nói hơi khàn khàn: “Tôi đã bị bố mẹ từ mặt.”
Hirai bất ngờ ló mặt ra.
“Chị đã nghe hết rồi chứ?”
“Nghe chuyện gì?”
“Thì hình như bố mẹ chị đã hết giận chị rồi.”
“Không biết sao nữa…”
Có lẽ do Hirai đã ngồi ở dưới quầy khá lâu nên khi cô từ từ chậm rãi bước ra thì chẳng khác gì một bà lão bị còng lưng. Cô nổi bật như mọi khi với một chiếc áo họa tiết da báo, váy ôm sát màu hồng và đôi xăng-đan.
“Một cô em gái thật tốt phải không?”
Hirai khẽ nhún vai.
“Với người khác thôi.”
Nói đoạn, cô ấy liền ngồi vào chiếc ghế trước quầy mà Kumi đã ngồi suốt cho tới khi nãy, lấy trong chiếc túi nhỏ cũng có họa tiết da báo một điếu thuốc lá rồi châm lửa hút.
Khói thuốc phả vào không gian. Hirai vừa đưa mắt nhìn theo đám khói thuốc đó, vừa để lộ nét mặt đăm chiêu hiếm thấy. Khuôn mặt lơ đãng nhìn vào không trung với tâm trí đang đặt ở một nơi xa xăm nào đó.
“Đã có chuyện gì xảy ra vậy?” Kei vừa lên tiếng hỏi, vừa quay người đi về phía bên trong quầy.
Hirai nhả một hơi khói thuốc rồi khẽ nói: “Nó rất giận tôi đấy.”
“Giận chị?”
Kei mở to đôi mắt có vẻ ngạc nhiên rồi hỏi lại.
“Con bé, không muốn tiếp quản…”
Kei có vẻ không hiểu những lời Hirai nói nên khẽ nghiêng đầu.
“Lữ quán…” Hirai nói.
Gia đình Hirai mở một lữ quán cao cấp rất nổi tiếng ở thành phố Sendai thuộc tỉnh Miyagi. Bố mẹ cô ấy có ý định cho Hirai tiếp quản công việc của họ, nhưng mười ba năm trước Hirai đã bỏ nhà ra đi, thành ra Kumi lại trở thành người thay Hirai tiếp quản công việc kinh doanh. Bố mẹ cô hiện giờ vẫn đang khỏe mạnh, nhưng do tuổi tác cũng đã cao, nên giờ đây Kumi trở thành một bà chủ trẻ tuổi điều hành và quản lý quán trọ. Từ sau khi Kumi trở thành bà chủ, cô thường xuyên lên Tokyo để gặp chị gái mình và thuyết phục cô ấy trở về nhà.
“Tôi đã nói rằng tôi không hề muốn về nhà, vậy mà nó vẫn cứ hết lần này đến lần khác…”
Hirai xòe hai bàn tay và đếm từng ngón một như để diễn tả tần suất Kumi đến gặp và thuyết phục cô quay về là rất nhiều.
“Đúng là một đứa cứng đầu mà.”
Kei bày tỏ với thái độ có vẻ ngán ngẩm.
“Nhưng dù thế, chị cũng không cần phải tránh mặt cô ấy vậy chứ.”
“Vì tôi không muốn thấy.”
“Cái gì?”
“Gương mặt nó.”
Kei khẽ nghiêng đầu.
“Mọi thứ… nó đều viết hết lên mặt rồi còn đâu. Vì chị, mà em phải làm một việc không hề muốn chút nào – trở thành bà chủ của lữ quán. Chỉ khi chị trở về thì em mới được tự do… làm những điều mình thích. Thế đấy!”
Hirai giải thích với vẻ chán nản.
“Ớ? Tôi có thấy thế đâu?” Kei trả lời rất nghiêm túc.
Hirai cũng hiểu câu nói đó của Kei. “Dù gì đi nữa.”, Hirai ngắt lời, “Tôi cũng chúa ghét việc bị áp đặt.”
Cô nhả một hơi khói thuốc kèm theo bộ mặt có vẻ không vừa ý. Kei khẽ lắc đầu mấy cái.
“Thôi chết, đã giờ này rồi cơ à?”
Hirai nói với vẻ hơi miễn cưỡng rồi dập điếu thuốc lá vào gạt tàn.
“Đến giờ mở cửa hàng rồi.”
Nói xong cô ấy đứng phắt dậy.
“Chui ở dưới này ba tiếng đồng hồ nên giờ hông đau ê ẩm!”
Hirai đứng dậy phủi mông quần phía sau “bộp… bộp…”, kéo lê đôi xăng đan kêu loẹt quẹt rồi đi ra phía cửa.
“À, còn bức thư…”
Kei chợt nhớ ra bức thư mình giữ của Kumi, rồi đưa ra trước mặt Hirai.
“Cô vứt đi giùm tôi.”
Hirai thậm chí không thèm nhìn vào bức thư đang ở trước mặt mình, phẩy tay và nói.
“Chị không định đọc sao?”
“Tôi có thể đoán nó viết gì. Một mình em quản lý lữ quán thực sự rất vất vả, chị hãy quay về đi, nếu chị còn nhớ được đây chính là công việc chị phải làm thì thật tốt biết mấy… Đại loại là như thế ấy mà!”
Hirai vừa nói, vừa lấy ra từ trong chiếc túi da báo một cái ví to cỡ như cuốn từ điển, rồi để tiền cà phê lên mặt quầy.
“Vậy nhé!”
Nói xong cô chạy như bay ngay ra khỏi quán.
Leng keng.
“Dù cô ấy có nói là vứt đi…” Kei bối rối nhìn vào bức thư Kumi đưa cho.
Leng keng.
Trong khi Kei đang chưa biết làm gì với bức thư thì chuông cửa lại reo lên, Tokita Kazu bước vào ngay sau khi Hirai rời đi. Kazu là em họ của Tokita Nagare, chủ của quán cà phê này, cô đang theo học một trường Đại học Mỹ thuật. Khi được nghỉ học, cô đến đây làm thêm.
Hôm nay Kazu cùng với Nagare ra ngoài để mua nguyên liệu, có lẽ họ vừa mua hàng về. Trên tay trĩu mấy túi hàng, chùm chìa khóa ô tô va vào nhau lách cách. Cô xuất hiện trong một chiếc áo thun với một chiếc quần bò, nhìn trẻ trung hơn rất nhiều so với lúc mặc chiếc tạp dề cùng chiếc nơ bướm thắt trên cổ khi đang làm việc.
“Em đã về đấy à?”
Kei tay vẫn cầm bức thư, mỉm cười lên tiếng.
“Em xin lỗi chị nhé, em về hơi trễ.”
“Không sao, không sao, dù sao cũng không đông khách lắm mà.”
“Em đi thay đồ ngay đây ạ.”
So với lúc cô ấy thắt chiếc nơ trên cổ khi làm việc thì lúc này Kazu thể hiện nhiều biểu cảm hơn hẳn. Cô ấy hơi lè lưỡi, rồi vụt vào phòng trong để thay đồ.
Kei vẫn cầm bức thư, nhìn ra phía cửa quán và hỏi với vào Kazu đang ở trong phòng: “Anh ấy đâu rồi?”
Người chịu trách nhiệm mua nguyên liệu cho quán cà phê này là Kazu và Nagare. Số lượng cần mua không phải là nhiều nhưng lúc nào cũng phải hai người đi. Bởi Nagare là người kĩ tính trong việc chọn lựa các nguyên liệu. Nhưng cũng vì quá kĩ tính nên có lúc anh mua vượt quá số tiền dự kiến. Chính vì vậy, mỗi khi đi mua hàng, Kazu sẽ đi cùng để giám sát. Trong lúc họ đi ra ngoài, Kei sẽ một mình trông coi cửa hàng. Đôi khi Nagare cũng không mua được nguyên liệu mình mong muốn. Những lúc đó anh thường cứ để mặc như vậy và đi uống chút gì đó.
“À… Anh Nagare nói có lẽ sẽ về hơi muộn một chút.”
Kazu trả lời một cách hơi mơ hồ.
“Chắc là lại đi uống gì rồi chứ gì?”
Kazu chỉ ló mặt ra rồi nói với vẻ mặt như thể mình là người có lỗi: “Em sẽ thay anh ấy.”
Kei mở to mắt, hơi phụng má: “Đúng là quá đáng mà!”
Nói rồi cô đi thẳng vào phòng trong, với bức thư vẫn cầm trên tay.
Trong quán chỉ còn lại không gian yên tĩnh với cô gái mặc đầm trắng đang đọc tiểu thuyết và Fusagi. Dù đang là mùa hè, nhưng cả hai người đều đang uống cà phê nóng. Có hai lý do có thể đoán được. Thứ nhất, cà phê nóng có thể gọi thêm thoải mái. Thứ hai là vì ở trong quán lúc nào cũng rất mát mẻ. Có lẽ với những người ngồi lâu như họ thì cà phê nóng đi chăng nữa cũng không có vấn đề gì.
Chỉ một lát sau, Kazu xuất hiện trong bộ trang phục của một nữ phục vụ bàn như thường lệ.
Mới đầu hè nhưng nhiệt độ bên ngoài cũng hơn ba mươi độ C. Dù chỉ đi về từ bãi đỗ xe cách đó vài chục mét thôi thì mồ hôi cũng chảy ra từng giọt. Kazu vừa lấy chiếc khăn tay ra thấm mồ hôi, vừa thở “phù” một cái.
“Xin lỗi…”
Đột nhiên Fusagi ngẩng đầu lên khỏi cuốn tạp chí đang đặt trên bàn và cất giọng.
“Vâng!” Kazu có chút giật mình nên giọng hơi cao hơn bình thường.
“Có thể cho tôi thêm một tách cà phê nữa được không?”
“À… vâng!”
Kazu trả lời với thái độ không được tập trung như mọi ngày. Cô ấy dường như vẫn còn chút lơ đãng như lúc mặc áo thun.
“…”
Fusagi đưa ánh mắt nhìn theo Kazu đang đi vào bếp.
Người đàn ông tên Fusagi này, lần nào tới quán anh cũng ngồi ở vị trí đó. Nếu chỗ đó đã có khách ngồi trước, thì anh sẽ đi về luôn mà không thèm chuyển sang chỗ khác. Không phải ngày nào anh cũng đến. Một tuần khoảng hai, ba lần, anh sẽ xuất hiện vào lúc quá trưa. Sau đó mở cuốn tạp chí du lịch hoặc thỉnh thoảng vừa viết cái gì đó vừa đưa mắt nhìn cuốn tạp chí từ trang đầu tiên đến trang cuối cùng. Sau khi làm xong những việc đó thì anh mới về. Trong quãng thời gian ngồi tại quán, thứ duy nhất anh gọi là cà phê nóng. Cà phê của quán này được gọi chung là Moka, nó được làm từ những hạt cà phê vô cùng thơm ngon từ đất nước Ethiopia. Nó có vị chua khá mạnh, và do có đặc trưng riêng nên cũng có khá kén người thưởng thức. Tuy nhiên do sự kén chọn đặc biệt của Nagare mà quán chỉ sử dụng duy nhất loại Moka này mà thôi. Ấy vậy mà Fusagi lại thích uống loại cà phê này. Có thể nói đối với anh, quán cà phê này là một không gian thích hợp cho việc chậm rãi thưởng thức tách cà phê và lật giở những trang tạp chí.
Kazu từ trong bếp quay lại với chiếc bình thủy tinh cầm trên tay để thêm cà phê cho Fusagi. Cô đến bên cạnh chiếc bàn mà Fusagi đang ngồi, với tay lấy tách cà phê. Nếu như mọi khi, Fusagi sẽ cứ để mắt vào cuốn tạp chí và đợi cho đến khi cà phê được rót vào ly của mình, nhưng hôm nay có vẻ hơi khác thường. Anh tỏ vẻ nghi hoặc và nhìn chằm chằm Kazu.
“…”
Kazu nhận thấy thái độ khác thường của Fusagi, cô nghĩ có lẽ anh còn muốn hỏi chuyện gì đó ngoài việc muốn uống thêm cà phê nên đã cất lời.
“Tôi có thể giúp gì thêm cho anh không?”
Kazu hỏi với khuôn mặt tươi cười.
“Cô là… nhân viên mới à?” Anh nói.
“…”
Kazu vẫn giữ nguyên biểu cảm đó, đặt tách cà phê ở chỗ anh rồi nói: “À… vâng!”
“Vậy à?”
Fusagi đáp lại với vẻ hơi ái ngại.
Có thể anh đang muốn khoe với “cô nhân viên mới” này rằng anh là khách quen của quán, và anh cảm thấy vui khi cho người khác biết được điều đó. Nhưng anh cũng chỉ nói như vậy, rồi ngay sau đó lại trở về với cuốn tạp chí trên bàn. Kazu cũng coi như không có chuyện gì rồi tiếp tục quay trở lại công việc của mình với gương mặt lạnh lùng. Nói là quay lại làm việc, nhưng cũng chẳng có vị khách nào khác, vì thế Kazu chỉ lấy khăn lau những chiếc tách và đĩa đã được rửa sạch rồi đặt lên kệ để tách chén. Cô vừa từ từ lau chén tách, vừa bắt chuyện với Fusagi từ trong quầy. Quán cà phê này khá bé nên không cần phải nói quá to cũng có thể nghe rõ.
“Quán cà phê này.”
“…?”
“Quý khách hay đến quán cà phê này đúng không?”
“Đúng thế!”
Kazu vừa thăm dò Fusagi vừa tiếp tục: “Anh có biết không? Có một truyền thuyết thành thị nói về quán này?”
“À… tôi biết rõ!”
“Cả chiếc ghế đặc biệt kia…?”
“Vâng!”
“Vậy, quý khách cũng đến đây… vì muốn quay trở về quá khứ?”
“Vâng!”
Fusagi trả lời không chút do dự.
Kazu dừng công việc trong tay lại.
“Nếu quay về quá khứ… anh định làm gì?”
Kazu hơi rướn người lên, cô hỏi Fusagi với chút tò mò. Nếu bình thường, Kazu sẽ tuyệt đối không bao giờ đặt những câu hỏi như vậy. Có vẻ như cô ấy cũng nhận ra bản thân mình hơi khác mọi khi khi đặt câu hỏi đó, nên vội vàng cúi đầu và nói: “À, tôi xin lỗi.”
Rồi tiếp tục lau tách và trốn tránh ánh nhìn của Fusagi.
“…”
Fusagi nhìn khuôn mặt đang cúi xuống của Kazu, từ từ lấy ra trong chiếc túi cầm tay của mình một chiếc phong bì màu nâu trông hơi cũ kĩ, có vẻ nó đã được anh giữ qua vài năm, bốn góc của chiếc phong bì đã hơi nhàu nát. Trên chiếc phong bì không ghi địa chỉ người nhận, nhưng hình như đó là một bức thư. Có vẻ là một thứ rất quan trọng. Fusagi cầm nó bằng hai tay, giơ nó ra phía trước với ý để cho Kazu xem.
“Đó là…?” Kazu lại dừng tay và hỏi.
“Cho vợ tôi…”
Fusagi nói nhỏ như thì thầm cho chính mình.
“Gửi cái này cho vợ tôi…”
“Đó là một bức thư?”
“Vâng!”
“Gửi cho vợ anh?”
“Đúng vậy! Tôi vốn đã định đưa cho cô ấy.”
“Vậy là… anh muốn quay trở lại ngày hôm đó?”
“Đúng thế!”
Đến đây Fusagi cũng trả lời không chút do dự.
“Vậy… vợ của anh, hiện giờ đang ở đâu?”
Fusagi thoáng im lặng một chút, anh không thể trả lời câu hỏi này của Kazu ngay được.
“Vợ tôi…”
Kazu nhìn chằm chằm vào Fusagi và chờ đợi câu trả lời.
“Tôi… thật ra… tôi cũng không biết.”
Fusagi trả lời bằng một giọng nhỏ đến mức phải căng tai ra người ta mới nghe thấy rồi bắt đầu đưa tay gãi đầu. Có lẽ anh cảm thấy bối rối và xấu hổ khi trả lời rằng chính bản thân mình cũng không biết vợ mình đang ở đâu. Nét mặt anh trở nên đăm chiêu khiến Kazu cũng không nói thêm gì nữa.
Fusagi vội vã thêm lời:
“À, nhưng thực sự… là tôi đã từng có vợ.”
“Tên cô ấy… là…”
Fusagi vừa nói vừa tự gõ tách tách vào trán.
“Chà!”
Fusagi hơi lắc đầu. “Cô ấy tên là gì nhỉ?”
Nói đoạn rồi anh lại tiếp tục im lặng.
Không biết Kei đã quay lại từ bao giờ. Có lẽ cô ấy cũng đã nghe được câu chuyện của hai người. Cô đứng đó với khuôn mặt tái xanh.
“Thật buồn cười quá nhỉ… tôi xin lỗi!” Fusagi nói, rồi tự cười ha ha ha.
Vẻ mặt của Kazu lúc này thật phức tạp, chẳng biết là bình tĩnh hay thương cảm cho Fusagi nữa.
“Không đâu!” Cô nói.
Leng keng.
Kazu không nói gì mà chỉ nhìn ra cửa.
“Ơ…!”
Cô không ngờ, người bước vào lại là Koutake.
Koutake là một y tá làm việc ở một bệnh viện tổng hợp gần đây. Hôm nay có lẽ cô ấy ghé qua trên đường đi làm về. Thay vì mặc bộ đồng phục y tá như ở viện, cô xuất hiện với một chiếc áo váy màu xanh mạ non cùng chiếc quần bó quá đầu gối màu xanh đậm, trên vai đeo túi xách màu đen. Cô vừa cầm chiếc khăn tay màu tím nhạt thấm mồ hôi vừa bước vào trong quán.
Koutake cúi chào hai người đang đứng trong quầy, rồi ngay sau đó đến bên bàn của Fusagi và nói: “Anh Fusagi, hôm nay anh cũng tới đây sao?”
Bỗng dưng có người gọi tên mình nên Fusagi quay lại nhìn chằm chằm vào Koutake với ánh mắt rất ngạc nhiên. Sau đó anh cúi mặt xuống mà không hề nói gì. Koutake nhận thấy thái độ của Fusagi hơi khác mọi khi, cô nghĩ anh không khỏe ở đâu đó nên hỏi tiếp với giọng có vẻ rất quan tâm:
“Fusagi, anh không sao chứ?”
Ngay lập tức, Fusagi ngước mặt lên nhìn Koutake rồi ngần ngại lên tiếng hỏi:
“Hình như chúng ta đã gặp nhau ở đâu đó rồi phải không?”
“…”
Sau khi nghe Fusagi nói vậy, nụ cười trên môi của Koutake bỗng vụt tắt. Chiếc khăn tay màu tím nhạt Koutake dùng để thấm mồ hôi trên tay bỗng rơi xuống đất, lặng yên không một tiếng động.
Thực ra Fusagi bị mắc chứng Alzheimer khi còn trẻ, khiến trí nhớ bị tổn thương. Đặc trưng của căn bệnh này là khiến cho những tế bào thần kinh trong não sụt giảm một cách nhanh chóng, não bị teo đi khiến trí lực của con người giảm sút làm cho nhiều người thay đổi cả tính cách. Và vì chức năng của não bị suy giảm cục bộ nên họ thường rơi vào trạng thái nhớ nhớ quên quên, như người ta vẫn thường gọi là “ngớ ngẩn”. Về trường hợp của Fusagi, anh sẽ mất dần những ký ức của mình từ những phần mới nhất, và từ một con người hay cáu kỉnh trở thành một người có tính tình nhẹ nhàng, ôn hòa. Tóm lại, Fusagi vẫn nhớ chuyện mình có vợ, nhưng lại không hề nhớ rằng người phụ nữ tên Koutake đang đứng trước mặt mình đây chính là người vợ mình nhắc đến.
Koutake nhỏ giọng nói: “À… không!”
Sau đó lui ra sau một, hai bước.
Kazu im lặng nhìn theo Koutake, trong khi đó Kei lại cúi đầu. Koutake từ từ xoay người sang hướng khác rồi nhanh chóng bước đến chỗ ngồi cách xa Fusagi nhất ở quầy rồi ngồi xuống. Cô nhận ra mình đã làm rơi chiếc khăn. Thế nhưng cô chẳng thèm để mắt đến nó giống như thể đó chẳng phải là một món đồ của mình. Fusagi cũng đã nhận ra cô làm rơi chiếc khăn tay ấy, anh nhặt lên cho cô. Fusagi nhìn chiếc khăn tay mình vừa nhặt lên một chút, rồi đứng dậy khỏi chiếc ghế, đến bên cạnh chỗ mà Koutake đang ngồi.
“Xin lỗi cô, gần đây trí nhớ tôi không được tốt lắm, và ngày càng hay quên…”
Anh cúi đầu nói.
Koutake không định ngước lên nhìn Fusagi, chỉ khẽ nói: “Không sao đâu..”
Rồi cô nhận lấy chiếc khăn đang ở trước mặt mình với đôi bàn tay khẽ run lên.
Fusagi lại cúi đầu lần nữa, rồi lặng lẽ trở lại chỗ ngồi của mình. Tuy đã ngồi xuống, nhưng anh vẫn cảm thấy có điều gì đó là lạ. Anh ngồi lật đi lật lại những trang tạp chí, chốc chốc lại đưa tay lên gãi đầu. Một lát sau, anh với tay lấy tách cà phê rồi uống một ngụm. Tách cà phê đó mặc dù mới gọi thêm lúc nãy nhưng, “Cà phê lại nguội mất rồi…” Fusagi lại lẩm nhẩm.
“Anh có cần tôi đổi tách khác không?”
Kazu nhanh chóng cất tiếng hỏi, nhưng Fusagi bỗng đứng dậy và nói, “Tôi về bây giờ đây.”
Nói rồi anh nhanh chóng thu dọn cuốn tạp chí trên bàn.
“…”
Koutake vẫn ngồi đó nắm chặt chiếc khăn tay để trên đầu gối, cúi đầu và chẳng làm gì cả.
Fusagi đến bàn tính tiền và đưa phiếu ra.
“Bao nhiêu tiền vậy?”
“… Ba trăm tám mươi yên ạ.”
Kazu vừa liếc mắt nhìn Koutake vừa trả lời Fusagi và gõ lạch cạch vào máy tính tiền.
“Ba trăm tám mươi yên…”
Fusagi rút từ trong chiếc ví da nam đã cũ một tờ tiền một nghìn yên rồi đưa cho Kazu.
“Gửi cô.”
“Tôi xin nhận một nghìn yên ạ!”
Trong khi Kazu nhận tiền và gõ vào máy tính tiền, Fusagi thoáng quay đầu nhìn Koutake. Thế nhưng anh cũng chẳng làm gì cả, chỉ đơn giản nhìn ngó một chút trong lúc đợi tiền thừa mà thôi.
“…”
“Xin trả lại anh sáu trăm hai mươi yên.”
Fusagi nhanh chóng đưa tay nhận lấy tiền thừa rồi nói: “Cảm ơn” với vẻ xin lỗi, sau đó nhanh chân bước ra khỏi quán.
Leng keng.
“Cảm ơn quý khách!”
Sau khi Fusagi ra khỏi quán, tất cả mọi người đều im lặng. Chỉ có cô gái mặc đầm trắng vẫn chăm chú đọc sách như không có chuyện gì. Trong quán lại trở nên yên ắng. Vốn dĩ quán cà phê này cũng lại không mở nhạc. Nếu nói đến âm thanh có thể nghe thấy lúc này, có lẽ chỉ là tiếng cạch cạch đưa đi đưa lại của ba chiếc đồng hồ quả lắc và tiếng lật sách của cô gái mặc đầm trắng kia.
Sau một hồi im lặng, Kazu cất tiếng gọi Koutake đang ngồi lặng thinh ở quầy: “Chị Koutake…”
Cô chỉ nói vậy, rồi lại không nói thêm gì nữa. Có lẽ cô cũng đang băn khoăn không biết mình có nên nói gì trong lúc này nữa hay không.
Koutake có vẻ hiểu được tâm trạng của Kazu lúc bấy giờ, cô nói: “Không sao đâu, chị cũng đã chuẩn bị tâm lý rồi mà…”
Rồi cô mỉm cười.
“Em cũng đừng lo lắng!”
Sau đó đoạn hội thoại lại rơi vào im lặng. Koutake dường như không thể chịu nổi bầu không khí trầm lặng, đau khổ này nữa, cô chỉ biết cúi gương mặt buồn rầu của mình xuống để giấu đi những tâm trạng rối bời của mình trong lúc này.
Đã có lần cô nói về bệnh tình của Fusagi cho Kazu và Kei. Đương nhiên là cho cả Nagare và Hirai nữa. Koutake cũng nghĩ tới cái ngày mà Fusagi hoàn toàn quên hết mọi chuyện về mình. Bình thường cô luôn nói “Cho dù như vậy, tôi cũng sẽ chăm sóc anh ấy với tư cách một người y tá. Vì tôi là y tá, nên ít nhiều cũng có những thứ tôi có thể làm được cho anh ấy”, để ngầm cho mọi người biết rằng cô cũng đã chuẩn bị tâm lý sẵn sàng cho chuyện này rồi. Trong quán, cô cũng đề nghị Kazu và Kei gọi mình bằng cái tên thời con gái là “Koutake” để tránh việc gây nhầm lẫn cho Fusagi. Chứ như trước đây thì Kazu và Kei vẫn gọi cô là “Chị Fusagi”.
Căn bệnh mất trí nhớ khi còn trẻ này sẽ khác nhau, tùy theo độ tuổi, giới tính, nguyên nhân và cách điều trị mà sẽ tiến triển rất khác nhau, tuy nhiên trường hợp của Fusagi được cho là tiến triển khá nhanh so với những bệnh nhân khác.
Koutake dường như chưa thể đón nhận được cú sốc khi Fusagi đã hoàn toàn quên mất mình, cô thực sự không biết phải làm gì ngoài việc ngồi lặng thinh ở đó.
Đột nhiên, Kei mang từ trong nhà bếp ra một chai rượu vẫn còn nguyên chưa mở và nói: “Cái này em nhận từ khách”, rồi đặt “cộp” một cái lên quầy.
“Chị uống một chút chứ?”
Kei mỉm cười và nói. Đôi mắt như đang cười tươi nhưng lại đỏ hoe.
Bên ngoài nhãn chai rượu có ghi tên là “Nana Kou”.
Trước hành động bất ngờ trước của Kei, bầu không khí u ám trong quán nãy giờ phần nào cũng được xua tan, sự yên lặng giữa ba người cũng nhẹ đi. Koutake hơi ngần ngại, nhưng cũng không muốn để lỡ cơ hội xóa tan không khí nặng nề này.
“Vậy, cho chị một chút.” Cô đáp lại.
Với Koutake mà nói, chỉ cần thay đổi bầu không khí buồn bã khi nãy, cô cũng đã rất cảm kích rồi. Cô vẫn biết Kei luôn làm chuyện khác thường, nhưng cô không nghĩ mình sẽ được trải nghiệm nó vào lúc này. Chính điều này đã khiến cô thực sự hiểu được điều mà Hirai vẫn thường nói: “Tài năng của Kei là có thể sống rất hạnh phúc.”
Thái độ của Kazu lúc này không còn trầm lặng như lúc nãy nữa. Còn Kei vẫn mở to đôi mắt sáng rực và mỉm cười nhìn Koutake. Nhìn vào đôi mắt ấy, đột nhiên Koutake lại cảm thấy bình tĩnh một cách lạ lùng.
“Có đồ gì nhắm không nhỉ?”
Kazu đi vào bếp.
“Chị có cần làm nóng không?”
“Không, không cần…”
“Vậy cứ lấy nguyên thế này vậy…”
Kei khéo léo mở nắp chai, từ từ rót vào chiếc ly đã chuẩn bị từ trước.
Koutake đang nghĩ không biết Kei định bắt mình uống bao nhiêu đây rồi hơi hắng giọng. Kei rót rượu vào ly của Koutake đến khi sắp tràn thì mới dừng lại.
“Cảm ơn!” Koutake nén cười và nói.
Vừa lúc đó, Kazu cũng mang ra một lọ đồ muối kiểu Nhật và nói: “Chỉ có cái này thôi.”
“Thế là đủ rồi.”
Kei nói vậy rồi đưa cho Kazu cái đĩa nhỏ để đựng đồ muối.
Kazu lấy một chút ra đĩa, rồi chuẩn bị ba cái đĩa nhỏ cho ba người.
“Em uống cái này.”
Kei nói rồi lấy từ trong tủ lạnh bên dưới quầy một hộp nước cam ép rồi rót ra ly của mình. Đến cả nước cam ép cô cũng rót gần tràn mới thôi. Koutake cười phá lên và với tay ra lấy ly rượu của mình.
Cả ba người ở đây đều không phải là những người rành về rượu Nhật. Về phần Kei, cô chính là người mời rượu nhưng lại là người không uống được nên mới chọn nước cam.
Cái tên “Nana Kou” của chai rượu mà Kei được khách tặng này có nghĩa là khi uống vào, ta sẽ có được bảy niềm hạnh phúc. “Nana Kou” là loại rượu không màu và rất trong. Thực ra đây là một loại rượu cao cấp có một chút màu xanh mà người ta hay gọi là màu “xanh trong” và bằng mắt thường thì không thể thấy được. Đây là một loại rượu hoa quả có mùi thơm rất dễ chịu. Khi uống vào, giống như cái tên của nó, càng uống lại càng có cảm giác vui vẻ, hạnh phúc.
Koutake vừa thưởng thức vị ngọt dịu nhẹ của rượu, vừa nhớ lại một ngày mùa hè năm năm trước, khi lần đầu tiên cô bước vào quán cà phê này. Đó cũng là năm mà những ngày nắng nóng kỷ lục kéo dài trên khắp nước Nhật, ti vi, báo đài ngày nào cũng đưa tin kèm theo lời bình luận rằng đó là do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Thi thoảng, cô cũng lôi chồng mình ra ngoài mua sắm trong những ngày nghỉ dài, nhưng hôm ấy là một ngày nóng oi ả. Fusagi miễn cưỡng đi cùng cô rồi ngay sau đó nói muốn tìm một nơi mát mẻ để nghỉ ngơi, nên đi tìm một quán giải khát. Thế nhưng, ai cũng có suy nghĩ giống anh. Vậy nên, dù anh có tìm đến bất kỳ một quán cà phê hay Family Mart nào cũng đều chật kín chỗ hết cả.
Sau đó, họ nhìn thấy bảng hiệu nhỏ ở tận cuối đường. Quán cà phê đó có tên là Funiculì funiculà [tên một bài hát]. Khi xưa Koutake từng hát. Tuy đã rất lâu rồi nhưng cô vẫn còn nhớ rất rõ giai điệu bài hát. Đó là ca khúc viết về tinh thần vượt qua khó khăn khi chinh phục núi lửa. Ngày hôm đó trời rất nắng, nắng rát cả mặt, cả hai đều mồ hôi ròng ròng.
Ấy vậy mà sau khi đẩy cánh cửa gỗ nặng nề, bước vào trong quán, cả hai lại cảm thấy mát lạnh. Thậm chí tiếng chuông cửa kêu leng keng nghe cũng rất vui tai. Thêm vào đó, không gian bên trong quán mặc dù khá nhỏ với ba chiếc bàn đôi và ba ghế ngồi bên quầy, nhưng khách trong quán chỉ có duy nhất một cô gái mặc đầm trắng đang ngồi ở chiếc bàn xa cửa nhất. Nói đây là một điều may mắn hay một sự ngẫu nhiên cũng không sai.
Fusagi thốt lên “Thật may quá!”, rồi nhanh chóng ngồi xuống chiếc bàn gần cửa ra vào nhất. Ngay sau đó anh gọi một ly cà phê đá trong khi cô nhân viên phục vụ vừa mang ly nước lạnh đến cho anh.
Koutake nói “Tôi cũng thế nhé!”, rồi ngồi xuống đối diện Fusagi. Nhưng có vẻ anh hơi ngại ngần khi hai người ngồi đối diện nhau như vậy nên đã chuyển sang chỗ ngồi ở quầy. Còn Koutake thì dường như đã quá quen với hành động này của chồng mình nên cô không hề bận tâm gì cả. Cô đang rất ngạc nhiên khi biết được ngay gần bệnh viện nơi mình làm việc lại có một quán cà phê yên tĩnh và mát mẻ đến nhường này.
Thanh rầm bằng gỗ trên trần nhà với chiếc cột gỗ lớn có màu nâu trầm và bóng loáng như hạt dẻ. Ngoài ra còn có ba chiếc đồng hồ quả lắc lớn. Koutake không rành về đồ cổ nhưng với những món đồ cổ đã tồn tại nhiều năm thì cô chỉ cần nhìn là biết ngay. Trên bức tường đất nâu nhạt cũng đã xuất hiện những vết bẩn mờ mờ sau một thời gian dài. Tuy là ban ngày, nhưng lại không thể cảm nhận được thời gian nếu ngồi ở đây. Có lẽ đó là do quán cà phê này không có cửa sổ. Cả không gian quán được bao trùm bởi một màu nâu nhàn nhạt, cho người ta có cảm giác như được hồi tưởng lại quá khứ. Và cho dù cảm thấy thật mát mẻ khi ngồi trong quán cà phê này nhưng nhìn thế nào đi chăng nữa, cũng không hề thấy chiếc điều hòa nào cả. Chỉ thấy chiếc quạt trần bằng gỗ đang quay chầm chậm trên trần nhà. Cảm thấy kỳ lạ và tò mò, cô cũng hỏi Kei và Nagare, tuy nhiên cả hai người đều chỉ trả lời rất mơ hồ rằng “Vốn dĩ từ trước kia đã như vậy rồi!”.
Vậy mà Koutake lại thực sự bị thu hút bởi không khí của quán cà phê này và cũng rất thích tính cách của những nhân viên ở đây, điển hình như Kei, vậy nên cô thường xuyên xuất hiện vào những giờ giải lao khi đi làm.
“Cạn…!”
Kazu nói một nửa rồi dừng lại, gương mặt hơi ngượng ngùng.
“Đâu phải cạn ly đâu nhỉ?” Kei quay sang để ý tới sắc mặt của Koutake và nói.
“Ồ được chứ, mọi người không cần phải bận tâm nhiều như vậy đâu.” Koutake đáp lại và giơ ly rượu của mình ra trước, cụng ly với Kazu.
“Em xin lỗi!”
“Không sao mà!”
Koutake mỉm cười, nhẹ nhàng đáp, rồi chủ động cụng ly với Kazu. Tiếng hai ly rượu chạm vào nhau trong trẻo, kêu vang cả cái quán bé nhỏ này.
Koutake nhấp một ngụm rượu “Nana Kou” và cảm nhận hương vị ngọt dịu lan ra khắp miệng.
“Đã nửa năm rồi đấy nhỉ… từ khi mọi người gọi tôi bằng cái tên thời con gái.”
Koutake chậm rãi hồi tưởng lại quá khứ.
“Chẳng có tiếng động nào cả, mọi thứ cứ biến mất từng chút, từng chút một. Và giờ đến lượt tôi biến mất khỏi trí nhớ của anh ấy…”
Cô cười nhạt, rồi lại thì thầm:
“Tôi cũng đã chuẩn bị tâm lý rồi… thế nhưng…”
Nghe những lời bộc bạch đó, mắt Kei lại đỏ lên. Thấy vậy, Koutake lại vội vã xua tay nói: “Nhưng thực sự là tôi không sao đâu mà.”
“Tôi là một y tá, thế nên cho dù trong ký ức của anh ấy không còn sự tồn tại của tôi đi chăng nữa, thì tôi vẫn có thể chăm sóc anh ấy với tư cách y tá.”
Koutake cố gắng nói với giọng bình tĩnh nhất để hai người không nghĩ rằng cô chỉ đang cố gắng gồng mình lên tự an ủi. Đúng là cô đang tự trấn an lòng mình, nhưng thực sự là cô cũng nghĩ như vậy, rằng chính bởi vì cô là y tá, nên bằng một cách nào đó, cô vẫn có thể ở bên chăm sóc anh.
Kazu đung đưa ly rượu trên tay mình mà không có một biểu cảm gì, còn nước mắt Kei lại trào ra.
C… ộp!
Từ sau lưng Koutake, có thể nghe thấy tiếng ai đó gập quyển sách lại. Cô gái mặc đầm trắng gập cuốn tiểu thuyết đang đọc. Koutake quay đầu lại, cô gái đặt cuốn tiểu thuyết xuống bàn mà không quên kẹp thanh đánh dấu trang vào trong, sau đó lấy chiếc khăn tay từ chiếc túi xách nhỏ màu trắng của mình và chuẩn bị đứng dậy. Có thể cô ấy đang định đi vệ sinh. Cô ấy đứng lên và đi thẳng vào đó mà không tạo ra một tiếng động nhỏ nào. Nếu như cô ấy không tạo ra âm thanh khi gấp cuốn tiểu thuyết kia lại thì có lẽ cũng chẳng ai nhận ra.
Koutake hướng ánh mắt nhìn theo. Kei chỉ liếc mắt nhìn qua, còn Kazu chẳng mảy may để ý và vẫn tiếp tục thưởng thức “Nana Kou”. Có lẽ đối với hai người họ, đây là chuyện bình thường như cơm bữa.
“Không biết anh ấy định làm gì khi quay trở về quá khứ nhỉ?”
Koutake nhìn thẳng vào chỗ ngồi của cô gái trong khi cô ấy vắng mặt và tự hỏi. Dĩ nhiên, Koutake đã biết chiếc ghế đó là chiếc ghế có thể đưa người ta trở lại quá khứ.
Trước khi Fusagi xuất hiện những triệu chứng rõ ràng của bệnh Alzheimer, anh không hề tin vào câu chuyện này khi Koutake kể với anh. Ngay cả khi Koutake đang hớn hở kể cho anh về chuyện có một lời đồn rằng quán cà phê này là nơi có thể “trở lại quá khứ”, anh cũng chỉ đáp lại một câu duy nhất “Đúng là hoang đường”. Anh ấy không hề tin vào mấy chuyện tâm linh hay siêu nhiên này.
Thế nhưng, từ khi bắt đầu mất dần ký ức, Fusagi lại thường hay đến đây và đợi tới khi người phụ nữ mặc đầm trắng kia rời khỏi chiếc ghế đó. Lúc biết chuyện này, Koutake đã rất nghi ngờ, dường như không hề tin vào điều đó. Nhưng đúng là, sau khi mắc phải căn bệnh này, tính cách người ta cũng có thể thay đổi. Và sự thực là Fusagi đã trở thành một người đàn ông rất điềm đạm. Chính vì vậy, chuyện Fusagi bỗng nhiên trở nên tin vào những chuyện như thế này cũng không có gì là lạ. Thế nhưng, rốt cuộc anh muốn trở về quá khứ để làm gì? Đã có lúc Koutake hỏi Fusagi, nhưng lúc nào anh cũng chỉ có một câu trả lời duy nhất: “Bí mật”.
“Anh ấy nói, có một bức thư muốn đưa cho chị đấy, Koutake.”
Kazu lên tiếng như nhìn thấu được những gì mà Koutake đang suy nghĩ.
“Cho tôi sao?”
“Vâng!”
“Một bức thư?”
“Anh Fusagi nói là đã định đưa cho chị, nhưng…”
“…”
Koutake thoáng im lặng một chốc, rồi chỉ hờ hững đáp lại “Thế à?” như thể đây không phải chuyện của mình.
Trông thấy vẻ thờ ơ của Koutake, Kazu bối rối không biết phải làm thế nào. Cô nghĩ phải chăng mình đã nói ra một điều không nên nói.
Koutake chỉ trả lời một cách lạnh nhạt như vậy không phải vì nghe được lý do muốn trở về quá khứ của Fusagi, mà cô không tin chuyện Fusagi đã viết cho mình một bức thư.
Bởi từ trước đến nay Fusagi thực sự không giỏi trong việc đọc và viết.
Nơi Fusagi lớn lên là một làng quê thưa thớt, hơn nữa, tuổi thơ của anh gắn liền với cuộc sống nghèo khó. Anh phải phụ giúp gia đình việc kinh doanh một gian hàng bán rong biển nên không được đi học đầy đủ, tuy rằng có thể viết được Hiragana, nhưng nếu là chữ Hán thì anh chỉ viết được những chữ Hán đã được học từ những năm đầu tiểu học.
Koutake và Fusagi quen nhau qua lời giới thiệu từ một người quen của cả hai người vào hai mươi ba năm trước. Khi đó, Koutake mới hai mươi mốt tuổi, còn Fusagi hai mươi sáu tuổi. Thời đó, điện thoại di động chưa được sử dụng phổ biến như bây giờ, do đó người ta thường liên lạc với nhau qua điện thoại cố định hoặc thư tay. Fusagi phấn đấu trở thành một thợ làm vườn giỏi, anh sống luôn tại ngôi nhà nơi anh làm việc nên thư từ trở thành phương tiện liên lạc chính của họ.
Khi đó Koutake cũng mới bắt đầu theo học một trường đào tạo y tá nên họ cũng ít có cơ hội gặp nhau. Thế nhưng hai người rất hay viết thư cho nhau.
Những câu chuyện trong thư của Koutake luôn rất phong phú. Đương nhiên là không thể thiếu được phần cô nói về bản thân, ngoài ra còn những chuyện như những việc xảy ra khi cô học ở trường y tá, cảm nghĩ về cuốn sách cô đã đọc hay ước mơ tương lai của mình. Cô kể chi tiết, tỉ mỉ từ những chuyện bé nhất xảy ra đến những chuyện to tát, trọng đại; về cảm nhận của cô với những sự việc đó và cả cái cách mà cô đã giải quyết nó ra sao. Tất cả đều được viết rất đầy đủ trong thư của cô. Có nhiều khi thư của cô lên đến mười mặt giấy.
Thế nhưng những dòng thư hồi đáp của Fusagi lúc nào cũng chỉ ngắn cụt lủn. Cũng có khi anh chỉ viết lại đúng một dòng ngắn ngủi như “Nghe thật thú vị” hoặc “Thì ra là như thế”. Lúc đầu, Koutake còn nghĩ rằng do khi đó anh quá bận rộn đến nỗi không có nhiều thời gian để trả lời thư của cô một cách chỉn chu, nhưng sau rất nhiều lần, chưa có lần nào anh viết được một bức thư trả lời tử tế. Chính vì những dòng thư cụt lủn như vậy mà Koutake bắt đầu nghĩ rằng có lẽ Fusagi không hề có tình cảm với mình. Sau đó cô đã viết lại một bức thư với nội dung rằng “nếu anh không có tình cảm gì với em, thì cũng không cần phải miễn cưỡng viết thư trả lời cho em đâu. Em cũng sẽ dừng lại nếu không nhận được thư hồi âm của anh”.
Bình thường thì chỉ trong một tuần anh sẽ hồi âm cho cô, nhưng lần này đã một tháng trôi qua mà cô vẫn chưa thấy gì. Koutake đã thực sự sốc vì điều đó. Đúng là những bức thư trả lời của Fusagi có ngắn thật, nhưng Koutake hoàn toàn không có ấn tượng xấu gì với anh. Nhìn bề ngoài anh cũng không phải là một người lịch thiệp cho lắm, nhưng xét về tính cách thì có thể nói anh là một người thẳng thắn, bộc trực. Cũng chính vì thế mà, cho dù trong thư cô đã viết như vậy, nhưng dù đã qua một tháng rưỡi, cô vẫn chưa thể từ bỏ hoàn toàn mà vẫn gắng đợi thư hồi âm của anh.
Hai tháng trôi qua, bỗng một ngày, cô nhận được bức thư hồi âm từ Fusagi. Trong thư anh chỉ viết vỏn vẹn bốn chữ:
“Mình kết hôn đi!”
Koutake hoàn toàn chưa hề nghĩ đến chuyện đó, bởi vậy mà sau khi đọc được bốn chữ kia, cô vừa bất ngờ, vừa căng thẳng đến nỗi trống ngực cứ đập thình thịch. Lần này, cảm thấy dường như Fusagi cũng hiểu được tình cảm của cô, hơn nữa cô cũng cảm thấy sẽ rất xấu hổ nếu mình lại viết một bức thư hồi âm dài dằng dặc như trước nên trong thư trả lời Fusagi cô cũng chỉ viết ba chữ:
“Em đồng ý!”
Mãi sau này, cô mới biết chuyện Fusagi không giỏi trong mấy chuyện đọc, viết. Khi Koutake hỏi anh đã đọc hết đống thư của cô như thế nào, anh nói những lá thư nhiều chữ Hán anh không đọc được mà chỉ biết thừ người ra ngắm. Vì thế thư hồi âm của anh mới thường ngắn như vậy. Trong bức thư cuối cùng mà anh nhận được từ Koutake, bỗng nhiên anh có cảm giác nếu mình lại tiếp tục chỉ lướt qua thư của cô thì có thể sẽ đánh mất một thứ gì đó quan trọng, vì vậy mà anh đã nhờ hết người này đến người khác đọc giúp anh từng câu từng chữ. Do đó mà thư hồi âm của anh mới đến muộn như thế.
“…”
Koutake vẫn đang ngồi đó với vẻ mặt còn khá hoang mang vì chưa thể nào tin được việc Fusagi lại viết thư cho cô.
“Nó khoảng như thế này, chiếc phong bì màu nâu đó.” Kazu vừa nói vừa giơ tay vẽ lên không trung cho Koutake xem.
“Phong bì màu nâu?”
Nghe Kazu nhắc đến chiếc phong bì màu nâu, Koutake cảm thấy đúng là kiểu của Fusagi rồi, và cô hoàn toàn không biết gì về chiếc phong bì đó.
“Thư tình sao?”
Kei lên tiếng. Cô mở to đôi mắt với vẻ mặt ngây thơ.
“Không có chuyện đó đâu.”
Koutake vội vàng xua tay.
“Nhưng nếu đó đúng là một bức thư tình thật thì chị tính sao?”
Bình thường thì Kazu chẳng bao giờ hùa theo mấy chuyện riêng tư của người khác, nhưng có lẽ cô ấy muốn thay đổi bầu không khí u ám từ nãy đến giờ. Cô cười lúng túng và cố khẳng định “giả thuyết thư tình” của mình.
Koutake dường như cũng muốn thay đổi đề tài, thế nên cô cũng chấp nhận “giả thuyết thư tình” của hai cô gái vốn chẳng biết chuyện Fusagi rất kém viết lách.
“Chị cũng muốn đọc xem sao.”
Cô dè dặt trả lời.
Đó cũng không phải một lời nói dối, nếu như bức thư đó đúng là “một bức thư tình” mà Fusagi đã viết.
“Hay là… chị thử quay về…” Kei nói.
“Gì cơ?”
Trong thoáng chốc, Koutake không thể hiểu Kei muốn nói gì, cô tròn mắt ngạc nhiên hỏi lại.
Kazu cũng ngạc nhiên với câu nói của Kei, cô vội vàng đặt ly rượu xuống bàn. “Chị à!” Kazu quay sang nhìn chằm chằm Kei và nói.
“Đúng! Chắc chắn chị cần phải quay về quá khứ để lấy bức thư đó.” Kei một mực khẳng định.
“Chờ đã, Kei!”
Koutake nghĩ mình phải ngăn Kei tiếp tục suy nghĩ linh tinh, nhưng có vẻ dường như đã quá muộn. Kei vẫn tiếp tục khăng khăng với ý kiến của mình mà không hề quan tâm đến nét mặt của Koutake lúc bấy giờ.
“Nếu đó đúng là bức thư tình mà anh Fusagi đã viết cho chị, thì chị nhất định phải nhận bức thư đó.”
Kei đã mặc định luôn bức thư mà Fusagi viết cho Koutake là một bức thư tình cho dù chưa biết thực hư có phải thế hay không. Đến bây giờ thì chẳng ai có thể ngăn Kei lại được nữa rồi. Quen biết với Kei lâu như vậy, Koutake cũng biết tính cách này của cô ấy.
Kazu chỉ ngồi đó, hơi mỉm cười và lặng lẽ thở dài.
Koutake lại một lần nữa nhìn vào chiếc ghế mà cô gái mặc đầm trắng vừa ngồi.
“…”
Cô cũng có nghe về lời đồn rằng chiếc ghế đó có thể đưa người ta trở về quá khứ. Cũng biết rằng có rất nhiều quy tắc phức tạp nếu quay về. Chỉ là bản thân cô chưa từng nghĩ đến việc mình sẽ quay trở về quá khứ. Có thể nói Koutake đến giờ vẫn còn bán tin bán nghi với chuyện có thể quay trở về quá khứ này.
Thế nhưng cô bỗng nghĩ, nếu đúng là có thể quay trở về quá khứ thật, thì cô cũng muốn thử xem sao. Bởi trên hết, cô thực sự quan tâm đến bức thư đó. Nếu đúng như Kazu nói, và nếu có thể quay trở về cái ngày mà Fusagi định đưa bức thư ấy cho Koutake thì biết đâu cô có thể nhận được nó. Một chút hi vọng dù chỉ là rất nhỏ lóe lên trong cô như vậy.
Nhưng vấn đề là cô cũng không rõ rằng mình sẽ phải quay về quá khứ trước Fusagi để nhận bức thư mà anh ấy vốn định quay về để đưa cho cô hay là phải làm gì khác. Với Koutake, đây chính là trở ngại khiến cô không quyết định dứt khoát được.
Koutake hít một hơi thật sâu để tỉnh táo suy nghĩ về mọi việc trong lúc này. Nghe nói có một quy tắc quy định rằng khi quay trở lại quá khứ, dù nỗ lực như thế nào đi chăng nữa thì cũng không thể thay đổi được hiện thực. Điều đó có nghĩa là dù cô có quay trở lại và nhận bức thư đó thì cũng chẳng có điều gì thay đổi cả. Khi cô hỏi lại Kazu điều đó, Kazu khẳng định: “Sẽ không có gì thay đổi cả.”
“…”
Thâm tâm Koutake đang bị dao động dữ dội. Nếu như cô quay trở về quá khứ và nhận lấy bức thư đó đi chăng nữa, thì hiện thực rằng Fusagi muốn trở lại quá khứ để đưa bức thư cho cô cũng vẫn sẽ không thay đổi.
Koutake một hơi uống cạn ly “Nana Kou” trong tay như dồn hết nỗi đau khổ và suy tư của mình vào trong đó. Cô thở dài một hơi rồi đặt mạnh chiếc ly lên quầy đánh “cạch” một cái.
“Đúng thế nhỉ, đúng là như vậy nhỉ…” Koutake tự lẩm bẩm một mình.
“Nếu đó đúng là bức thư tình được viết cho tôi thì việc tôi đọc nó cũng chẳng có vấn đề gì đâu nhỉ?”
Koutake cũng cho phép mình dùng luôn từ “bức thư tình” như Kei nói.
Kei nhanh chóng gật đầu đồng ý và cũng cầm ly nước cam uống cạn một hơi như để tỏ ra rằng mình rất ủng hộ suy nghĩ đó của Koutake.
“…”
Kazu không uống cạn một hơi như hai người kia, mà cô chỉ nhẹ nhàng đặt ly rượu xuống quầy rồi lặng lẽ đi vào nhà bếp.
Koutake tiến đến chiếc ghế có thể đưa cô trở về quá khứ. Cô cảm giác máu trong cơ thể như đang sôi trào. Nhẹ nhàng lách vào khoảng trống giữa chiếc bàn và ghế, cô từ từ ngồi xuống.
Những chiếc ghế ở quán cà phê này đều có chân theo kiểu chân mèo và những đường nét chạm khắc tinh xảo làm tôn lên vẻ cổ kính. Mặt ghế và phía sau được phủ bằng miếng vải màu xanh rêu. Phải nhìn thật kĩ mới nhận ra tất cả ghế của quán cà phê này đều rất mới. Mà không chỉ có ghế, tất cả mọi thứ trong quán đều luôn sáng bóng. Quán được mở từ đầu thời Minh Trị nên đến nay cũng đã hơn một trăm năm, vậy mà không hề có một chút dấu hiệu nào của việc bị thời gian bào mòn hay xuống cấp.
Nếu không dành thời gian hàng ngày để lau dọn thì có lẽ sẽ không thể giữ được một không gian như vậy. Koutake đang cảm thán như vậy thì bỗng giật mình khi thấy Kazu lúc nãy đi vào trong bếp nay đã đứng lặng lẽ bên cạnh bàn tự bao giờ. Trên tay Kazu bưng chiếc khay màu bạc, trên đó đặt một tách cà phê màu trắng tinh, mà không phải là chiếc tách thủy tinh như bình thường khách vẫn dùng. Ngoài ra còn có một cái ấm pha cà phê cũng màu trắng bạc.
Biểu hiện của Kazu khi đó khiến Koutake hơi ngạc nhiên. Nét ngây thơ, thiếu nữ của Kazu lúc nãy giờ đã biến mất không còn chút dấu vết. Bầu không khí trở nên huyền bí, tĩnh lặng đến đáng sợ.
“Chị đã hiểu rõ quy tắc rồi chứ?”
Kazu lạnh lùng nói như thể không hề quen biết Koutake trước đó.
Koutake ngay lập tức sắp xếp lại trong đầu những quy tắc cần nhớ khi trở về quá khứ.
Quy tắc thứ nhất. Nếu người mình muốn gặp trong quá khứ chưa từng đến quán cà phê này thì dù có quay lại cũng không gặp được nhau. Vì thế, việc người mình muốn gặp đã từng đến quán cà phê này hay chưa là một điểm vô cùng quan trọng cần chú ý nếu muốn quay về quá khứ để gặp người ấy. Đúng là như vậy, như thế thì dù mọi người trên khắp cả nước có nghe được truyền thuyết về quán này mà tụ tập hết đến đây cũng chẳng có ý nghĩa gì. Trong khi đó Fusagi đã rất nhiều lần đến đây nên cũng không cần phải bận tâm đến quy tắc đầu tiên này.
Quy tắc thứ hai. Dù có quay về quá khứ và nỗ lực đến đâu đi chăng nữa thì hiện thực vẫn sẽ không thay đổi. Quy tắc này Koutake cũng đã hiểu rõ. Cho dù cô có quay về quá khứ và nhận bức thư mà Fusagi chưa thể trao cho cô thì hiện thực cũng sẽ không có gì thay đổi. Mà không chỉ là bức thư, giả sử cho dù cô có tìm ra một phương pháp chữa trị đột phá cho bệnh Alzheimer của Fusagi rồi quay về quá khứ và thử chữa trị cho anh bằng phương pháp đó thì tình trạng bệnh của Fusagi cũng vẫn không thể tốt hơn. Đúng là một quy tắc “độc ác”.
Quy tắc thứ ba. Để quay trở về quá khứ, bắt buộc phải ngồi vào chiếc ghế này, chiếc ghế mà cô gái mặc đầm trắng đã ngồi. Nghe nói người phụ nữ đó bình thường chỉ đi vào nhà vệ sinh đúng một lần trong ngày. Và cô ấy đi lúc nào thì không ai biết. Tình cờ là Koutake lại đang gặp đúng khoảnh khắc ấy. Mặc dù không biết có thật hay không nhưng nghe nói nếu cố tình kéo cô gái đó ra khỏi ghế thì sẽ phải chịu lời nguyền. Tuy tình cờ, nhưng có lẽ đây là may mắn thì đúng hơn.
Chưa hết, vẫn còn một nguyên tắc rắc rối khác.
Nguyên tắc thứ tư. Dù quay về quá khứ, nhưng cũng không thể rời khỏi chiếc ghế đó. Nói vậy nhưng không có nghĩa là phải ngồi dính chặt với cái ghế ấy. Chỉ là, nghe nói nếu như rời khỏi chiếc ghế đó thì có thể sẽ buộc phải quay về với hiện thực. Quán cà phê này nằm ở tầng hầm, nên không hề có sóng điện thoại. Vì vậy khi quay về quá khứ, sẽ không thể liên lạc được với người đang không ở trong quán bằng điện thoại di động. Thế nhưng do không thể rời khỏi chiếc ghế đó nên cũng không thể ra khỏi quán để đi tìm một người ở ngoài. Đây cũng lại là một quy tắc đáng ghét.
Koutake nghe nói, vài năm trước cái truyền thuyết thành thị về quán này nổi như cồn, trong nhiều ngày liền có không biết bao nhiêu vị khách đã đến đây với nguyện vọng được quay về quá khứ. Nhưng sau khi biết được ngần ấy quy tắc rắc rối đi kèm thì dần dần những người đến đây đã không còn nhiều như trước nữa.
Nhận ra Kazu đang đứng đó và chờ đợi câu trả lời của mình trong khi cô vẫn đang yên lặng, Koutake cất giọng hỏi:
“Chỉ cần uống hết cà phê trước khi nó nguội là được đúng không?”
“Vâng!”
“Sau đó thì sao?”
Koutake chỉ nhớ được những quy tắc trên. Cái cô muốn biết thêm ngoài những quy tắc đó là làm thế nào chọn được đúng khoảng thời gian cô muốn quay về.
“Chị hãy tập trung hình dung về cái ngày mà chị muốn quay về.”
Kazu như nhìn thấu băn khoăn trong lòng Koutake. Nói như vậy thì còn quá mơ hồ. Koutake ngạc nhiên hỏi lại: “Hình dung?”
“Cái ngày mà anh Fusagi vẫn còn chưa quên chị, cái ngày mà anh ấy định bụng sẽ đưa cho chị bức thư đó hay cái ngày mà anh ấy mang bức thư đó đến đây…”
Kazu đưa ra một vài ví dụ để Koutake dễ hình dung về cái gọi là “ngày muốn quay về” đó. Koutake lẩm bẩm từng câu Kazu đã nói để có thể dễ dàng tập trung nghĩ về ngày đó.
“Ngày anh ấy còn chưa quên mình, bức thư, ngày anh ấy đến đây…”
Ngày mà Fusagi còn chưa quên mất Koutake. Có rất nhiều mảng ký ức về những ngày đó, nhưng ký ức về mùa hè ba năm trước bỗng ùa về trong cô. Khi đó Fusagi vẫn hoàn toàn chưa có dấu hiệu gì về căn bệnh mà bây giờ anh đang mang.
Ngày mà Fusagi định đưa bức thư cho cô. Đó là một điều khó khăn đối với cô. Làm sao người sẽ nhận thư là Koutake có thể tưởng tượng ra ngày ấy? Nếu mà cô có quay trở về cái ngày trước khi Fusagi viết bức thư thì cũng không có ý nghĩa gì. Vì thế mà Koutake quyết định nghĩ về điệu bộ của Fusagi đang cặm cụi ngồi viết những dòng thư cho cô.
Và còn ngày mà Fusagi mang bức thư đó đến quán cà phê. Đây là một dấu mốc quan trọng. Dù có thể quay trở về quá khứ và gặp được Fusagi đi chăng nữa, nhưng nếu đó không phải là ngày mà anh mang bức thư bên mình thì cũng không có ý nghĩa gì. Tuy nhiên, bình thường Fusagi thường để những vật quan trọng vào chiếc túi đen mang theo bên mình. Nếu đó đúng là một bức thư tình thì không có lẽ nào anh ấy lại để nó ở nhà cả. Chắc chắn anh ấy sẽ cho nó vào trong chiếc túi đen đó và mang theo người để không bị Koutake phát hiện.
Cô không biết ngày mà anh định đưa bức thư đó cho cô, nhưng cô cũng có thể nghĩ ra một vài khả năng. Cô hồi tưởng lại hình ảnh mà Fusagi đang cầm chiếc túi ấy.
“Chị thấy sao?” Kazu điềm tĩnh hỏi lại.
“Chờ một chút!” Koutake hít sâu một hơi, “Ngày anh ấy chưa quên mình, bức thư, ngày anh ấy đến đây…”
Cô nhỏ giọng nhắc lại lần nữa.
Sau đó Koutake cũng không chần chừ nữa, cô đã quyết định.
“… Được rồi!”
Koutake nhìn thẳng vào Kazu và đáp.
Kazu hơi gật đầu rồi đặt tách cà phê không trước mặt Koutake. Sau đó Kazu dùng tay phải nhẹ nhàng nhấc chiếc ấm bạc khỏi khay. Từng hành động một nối tiếp nhau, nhẹ nhàng thanh lịch như động tác múa ba lê vậy. Có cái gì đó thật đẹp trong từng động tác ấy.
Kazu nhìn Koutake và nói: “Vậy…”
Cô nghỉ một nhịp.
“Khi tách cà phê còn chưa nguội…”
Cô nhẹ nhàng nói. Lời nói cuối cùng của cô lặng lẽ vang vọng khắp trong quán. Koutake cảm thấy không khí như bị ngưng đọng. Kazu nhẹ nhàng rót cà phê vào tách như thể đang thực hiện một nghi thức trang nghiêm nào đó.
Miệng ấm cà phê rất nhỏ, cà phê rót ra tạo thành một đường nhỏ màu đen tuyền. Hơn nữa cũng chẳng có tiếng róc rách lúc rót cà phê vào tách như khi dùng ấm miệng to. Dòng cà phê đen cứ thế, lặng lẽ chảy từ chiếc ấm bạc vào chiếc tách trắng, thật chậm rãi, chậm rãi.
Bình thường Koutake chẳng bao giờ nhìn thấy cái ấm bạc này. Nó trông nhỏ hơn loại ấm hay dùng trong các quán cà phê khác, nhưng nó lại tạo cho cô cảm giác có cái gì đó thật trang nghiêm, trịnh trọng, cứ như thể trong đó không phải là cà phê mà là một thứ gì đó khác vậy.
Khi Koutake còn đang nghĩ vẩn vơ về cái ấm thì tách cà phê đã được rót đầy. Bồng bềnh, bồng bềnh, hơi nước nóng bắt đầu bốc lên.
Ngay tại khoảnh khắc ấy, Koutake nhìn mọi thứ trước mắt như đang chuyển động. Cô nghĩ chắc mình đang thấy ảo giác mất rồi. Cô chợt nhớ ra lúc nãy mình vừa uống một hơi hết một ly “Nana Kou”. Chắc lúc này thì rượu bắt đầu ngấm rồi cũng nên.
Thế nhưng sự thực lại không phải vậy.
Koutake giật mình, bởi cô nhận ra thứ đang lay động không phải là cảnh vật mà chính là bản thân mình.
Cơ thể Koutake dần hòa vào làn hơi nước. Khi cô nhận ra thì cảnh vật xung quanh dường như đang trôi từ trên xuống dưới.
Dòng thời gian đã bắt đầu quay ngược lại rồi.
Koutake nhắm mắt lại. Không phải là cô sợ hãi mà cô đang chuẩn bị tâm lý nếu thực sự có thể quay trở về ngày đó.
Koutake nhận ra có sự thay đổi bắt đầu từ một câu nói của Fusagi.
Ngày đó, Koutake đang chuẩn bị bữa tối và đợi Fusagi về nhà.
Fusagi là một thợ làm vườn. Công việc của một thợ làm vườn không chỉ có cắt cành, tỉa lá mà còn phải tính toán cho cân đối giữa ngôi nhà và khu vườn. Một khu vườn quá tráng lệ cũng không tốt mà quá giản đơn cũng không được. Điều quan trọng là phải cân đối. Đó là câu cửa miệng của Fusagi.
Công việc của Fusagi luôn bắt đầu từ sớm và kết thúc vào chiều muộn. Và khi đã hoàn thành công việc của mình, Fusagi sẽ về nhà ngay lập tức. Thế nên nếu không phải trực đêm, Koutake sẽ nhanh chóng về nhà, chuẩn bị cơm tối và chờ Fusagi trở về.
Ngày hôm đó, mặc dù trời đã tối nhưng Fusagi vẫn chưa về nhà. Mặc dù thấy ngạc nhiên nhưng Koutake vẫn nghĩ anh đi uống với đồng nghiệp nên cũng không thấy lo lắng.
Kết quả là Fusagi về nhà muộn hơn hai tiếng so với mọi khi.
Khi về nhà, Fusagi chắc chắn sẽ nhấn chuông cửa. Ping pong, ping pong, ping pong. Đủ ba lần. Fusagi làm thế là để thông báo cho Koutake biết mình đã về.
Thế nhưng ngày hôm đó Fusagi đã không nhấn chuông cửa. Ngay khi Koutake nghe thấy có tiếng xoay tay cửa thì đồng thời cũng có một câu nói vang lên: “Là anh đây”.
Koutake hết sức ngạc nhiên ra mở cửa. Bởi cô nghĩ chẳng lẽ Fusagi bị thương sao đó đến mức không thể nhấn chuông được chăng.
Thế nhưng, khi cô mở cửa, Fusagi vẫn đứng đó như mọi khi, mặc một chiếc áo koikuchi [áo cánh truyền thống của Nhật] màu lông chuột với quần màu xanh, túi dụng cụ thì đeo một bên vai.
Fusagi đứng đó dè dặt nói: “Anh bị lạc đường.”
Đó là chuyện vào một đêm hè đúng hai năm trước.