Thư viện Online
  • Trang chủ
  • Sách mới cập nhật
  • Trang chủ
  • Sách mới cập nhật

Khi Tách Cà Phê Còn Chưa Nguội - Toshikazu Kawaguchi - Phần 3.1

  1. Home
  2. Khi Tách Cà Phê Còn Chưa Nguội - Toshikazu Kawaguchi
  3. Phần 3.1 - Câu chuyện thứ ba: Chị em
Prev
Next

… Một cô bé đang lặng lẽ ngồi trên chiếc ghế đó.

Cô bé với đôi mắt tròn to ấy có vẻ đang là học sinh trung học. Cô mặc một chiếc áo len màu be cùng váy ngắn kẻ ca rô, kèm tất đen và đi một đôi bốt màu ô liu, bên ngoài khoác một chiếc áo khoác có mũ trùm màu đỏ. Nếu chỉ nhìn vào quần áo, trông cô thật ra dáng người lớn, nhưng nét mặt vẫn đậm chất trẻ con. Mái tóc đen mượt dài ngang cằm, và mặc dù không trang điểm nhưng với hàng mi dày, gương mặt cô trông sắc nét hơn hẳn.

Mặc dù nói cô đến từ tương lai, nhưng nếu không có cái quy tắc phiền phức là không được rời khỏi ghế thì với cách ăn mặc này cô bé có ra khỏi quán cũng chẳng có vấn đề gì. Nhưng bây giờ mới là thời điểm đầu tuần tháng tám, với thời tiết này mà mặc thế thì là cả một vấn đề.

Chẳng rõ cô bé này đến gặp ai. Bởi hiện tại, trong quán chỉ có một người đàn ông vạm vỡ, mặc đồng phục đầu bếp, mắt híp thành sợi chỉ tên là Tokita Nagare. Nagare là chủ quán.

Có vẻ như cô bé ấy không phải đến để gặp ai đó. Trong đôi mắt đang nhìn Nagare ấy cũng không gợn lên một chút tình cảm nào. Nếu cô bé này đến để gặp Nagare, chắc hẳn cô đã phải làm gì đó rồi. Nhưng dường như cô bé này cũng không để ý đến sự tồn tại của Nagare trong quán.

Thế nhưng trong quán này chẳng còn vị khách nào khác cả. Nagare cũng chẳng có việc gì để làm nên cứ đứng khoanh tay như vậy.

Nagare là một anh chàng to con, nếu là các cô bé thông thường, không, chỉ cần là phụ nữ bình thường, nếu ở một mình trong quán cà phê chật hẹp với một anh chàng to lớn như vậy cũng sẽ cảm thấy lo sợ. Ấy thế mà cô bé này lại cứ thản nhiên ngồi đó với vẻ mặt chẳng liên quan gì đến mình.

“…”

“…”

Cô bé và Nagare, chẳng ai nói với ai câu gì. Thỉnh thoảng, cô bé lại liếc nhìn chiếc đồng hồ treo tường như thể đang chú ý thời gian và rồi cũng chẳng có phản ứng nào khác nữa.

Đột nhiên, Nagare hít hít mũi và mở to mắt trái. Đúng lúc đó, bên trong nhà bếp phát ra tiếng “ting” báo hiệu đã nướng xong của lò nướng.

Nagare chậm chạp đi vào nhà bếp và lúi húi chuẩn bị cái gì đó. Cô bé cũng chẳng để ý đến điều này, chỉ uống một ngụm cà phê và gật gù. Có lẽ cà phê vẫn còn chưa nguội.

Một lát sau, Nagare bước từ trong bếp ra, trên tay bưng một cái khay hình chữ nhật, trên đó có bánh mì nướng, bơ, salad và sữa chua trái cây. Phải nói thêm rằng loại bơ này làm theo công thức tự chế và là một trong những món sở trường của Nagare. Món này ngon đến nỗi Hirai Yaeko, cô gái tóc uốn, còn mang cả hộp nhựa tới để mang về nữa.

Nagare luôn cảm thấy hạnh phúc mỗi khi thấy khách hàng ăn món bơ này và thốt lên rằng nó thật tuyệt. Nhưng có một điều khá phiền phức là mặc dù món bơ này dùng toàn loại nguyên liệu đắt tiền nhưng lại bị coi là món ăn kèm miễn phí và điều này khiến Nagare gặp phải khá nhiều khó khăn khi không thể tính thêm tiền cho nó.

Nagare vẫn giữ nguyên cái khay và đứng trước mặt cô bé. Anh chàng to con đứng trước một cô gái bé nhỏ trông cứ như một bức tường đang chắn trước mặt vậy. Sau cùng, Nagare nhìn xuống cô bé và hỏi:

“Cô đến đây để gặp ai?”

“…”

Cô bé chỉ đáp lại bức tường đồ sộ Nagare bằng ánh mắt tròn to lấp lánh và vẫn điềm nhiên như không trước một anh chàng lạ mặt. Nagare đã quen với việc chỉ cần nhìn thấy mình là các cô gái phải giật mình, thậm chí là kinh sợ, nhưng giờ, chính anh lại cảm thấy bối rối trước phản ứng của cô bé.

“Có chuyện gì?” Nagare lại hỏi, nhưng cô bé vẫn chẳng có phản ứng gì cả mà chỉ đáp gọn lỏn một câu: “Chẳng có gì.”

Rồi cô bé lại tiếp tục nhấp một ngụm cà phê, mắt nhìn thẳng, hoàn toàn không nhìn đến Nagare đang đứng trước mặt.

“…”

Nagare cúi người xuống, nhẹ nhàng đặt cái khay xuống trước mặt cô gái, không nói một lời và trở về phía sau quầy, sau đó lại tiếp tục khoanh tay.

Có lẽ, đến lúc này cô bé mới có một chút bối rối. Cô gọi với theo Nagare: “Này anh!”

“Có chuyện gì?”

“Tôi không gọi món nhưng…”

Cô bé vừa chỉ vào chiếc bánh mì nướng trước mặt vừa quay sang nói với Nagare bằng giọng nói hơi phiền phức.

Nhưng đáp lại lời than phiền của cô, Nagare chỉ bảo: “Mời cô.”

“…”

Cô bé nhìn chằm chằm vào chiếc bánh mì một lúc, còn Nagare thì buông lỏng hai tay và để lên trên quầy.

“Một cô bé như cô đã cất công từ tương lai quay về đây, quán chẳng có gì hơn ngoài món đó.”

Có lẽ, Nagare cũng đang đợi một lời cảm ơn, ấy thế nhưng cô bé lại chỉ nhìn anh chằm chằm, ngay đến một nụ cười mỉm đáp lại cũng không có.

Bị phản ứng của cô bé dọa, Nagare hơi hoảng: “Sao nào?”

“Không có gì. Vậy tôi không khách sáo.”

“Hừ, cô cũng thật lòng nhỉ?”

“À, vì tôi chẳng có lý do gì để nghi ngờ nó cả.”

“…”

Cô bé thành thạo phết bơ vào bánh mì và ăn đến phồng má. Rột, rột, cô bé ăn một cách ngon lành.

Nagare vẫn đang chờ phản ứng của cô, tất nhiên anh hi vọng thấy được sự cảm động sau khi ăn món bơ sở trường của mình.

Thế nhưng chẳng có phản ứng nào như Nagare mong đợi. Cô bé vẫn giữ nguyên vẻ mặt điềm nhiên như thế, ăn hết chiếc bánh mì rồi lại tiếp tục với món salad và cuối cùng là sữa chua hoa quả.

Giải quyết hết bàn ăn, cô bé chắp hai tay lại và vẫn chẳng nói lấy một lời.

Nagare nhất thời cảm thấy thật thất vọng.

Leng keng.

Kazu đã về. Cô vừa ném chùm chìa khóa với một đống móc treo về phía Nagare đang ở sau quầy vừa chào: “Em đã v…”

Còn chưa kịp nói hết câu, Kazu đã nhìn thấy cô bé ngồi trên ghế.

“Ừ!”

Nagare vừa đón lấy chùm chìa khóa vừa trả lời, anh cũng chẳng nói hẳn hoi là Em đã về rồi đấy à?

Kazu kéo cánh tay của Nagare ra khỏi quầy và hỏi nhỏ: “… Ai thế?”

“À,” Nagare buồn rầu đáp.

Nếu là mọi ngày, Kazu cũng chẳng để ý đến ai ngồi vào chiếc ghế đó. Bởi cô có thể dễ dàng đoán ra ngay đó là một người đến từ tương lai để gặp một ai đó và cũng chẳng can thiệp vào chuyện của người khác bao giờ. Nhưng đây lại là lần đầu tiên cô gặp một vị khách dễ thương đến vậy, thế nên cô cứ đứng như vậy ngắm vị khách ấy.

Nhận thấy ánh mắt của Kazu, cô bé lên tiếng: “Chào chị!”

Đã vậy, cô ấy còn mỉm cười thật tươi nữa chứ, vẻ mặt mà Nagare không được thấy trước đấy. Thấy vậy, Nagare nhướng mày trái lên.

“Cô đến đây để gặp ai sao?”

“Vâng, đúng vậy.”

Cô bé thành thật trả lời câu hỏi của Kazu. Nghe thấy hai người nói chuyện, Nagare cảm thấy cơ miệng khẽ giật. Lúc nãy anh cũng hỏi một câu tương tự, thế mà cô ấy lại chẳng trả lời anh. Chẳng thú vị gì cả. Nagare bất mãn, quay mặt đi mà nói: “Nhưng chẳng có ai ở đây còn gì.”

Kazu vừa dùng ngón trỏ gõ vào cằm vừa nghĩ: “Thế cô ấy đến gặp ai nhỉ?”

“Hả? Chẳng lẽ…?” Kazu cứ giữ nguyên tư thế gõ cằm như vậy và quay lại hỏi Nagare.

Quả thực, nếu trừ Kazu ra thì trong quán này chỉ còn mỗi Nagare. Nagare cũng chỉ vào mình: “Tôi á?”, rồi trầm ngâm, “Hưmm…”

Có lẽ, anh đang nhớ đến lúc cô bé ấy xuất hiện.

Cô bé xuất hiện trên ghế đã là chuyện của mười phút trước. Kei nói rằng hôm nay sẽ đến khoa phụ sản để khám nên nhờ Kazu đi cùng. Bình thường nếu là khám sức khỏe định kỳ thì Nagare sẽ đi theo, nhưng hôm nay lại khác. Bởi Nagare luôn cho rằng khoa phụ sản là thánh địa của nữ giới, là nơi “đàn ông không được phép bước vào”. Chính vì vậy, trông quán hôm nay chỉ có một mình Nagare.

Cô ấy chọn lúc mình có một mình để đến?

Thâm tâm Nagare bỗng thấy kích động.

Thảo nào thái độ từ nãy đến giờ rất bối rối.

Nagare vừa bóp cằm suy nghĩ. Và dường như đã tìm ra điểm mấu chốt, anh bỗng nhảy ra khỏi quầy và lao về phía cô gái.

“…”

Cô bé vẫn chẳng có phản ứng gì mà chỉ nhìn Nagare như trước. Nhưng lúc này, Nagare đã không còn là Nagare lúc nãy nữa.

Nagare mỉm cười thầm nghĩ một cách vui sướng:

Nếu ánh mắt lạnh lùng này là để che giấu sự bối rối thì trông cô bé cũng dễ thương đấy chứ.

Nagare lấy tay trái chống cằm và hỏi cô bé: “Chẳng lẽ, cô bé, đến đây gặp tôi?”

“Không.”

“Tôi…”

“Không.”

“T…”

“Không.”

“…”

Cô bé chẳng để cho Nagare nói hết một câu nào. Nghe thấy hai người nói chuyện, Kazu tổng kết lại một câu: “Phủ định hoàn toàn.”

Nagare chán nản, uể oải.

“Không phải là tôi sao…?”

Anh càu nhàu vài tiếng rồi lại lững thững đi về phía quầy.

Có lẽ cô bé thấy dáng vẻ chán nản lúc này của Nagare khá là buồn cười nên cuối cùng cô cũng cười thành tiếng ra vẻ nghịch ngợm.

Leng keng.

Khi tiếng chuông cửa còn chưa kết thúc, cô bé đã vội vã nhìn lên chiếc đồng hồ ở chính giữa. Cô ấy biết trong ba chiếc đồng hồ quả lắc của quán này chỉ có chiếc ở giữa là chỉ đúng giờ, còn hai cái còn lại thì hoặc chạy chậm hơn, hoặc chạy nhanh hơn.

Rồi cô lại nhìn chằm chằm vào cửa ra vào.

“…”

Một lúc sau, “Kazu, cảm ơn em nhé!”

Kei vừa nói vừa tiến vào trong quán. Hôm nay Kei mặc một chiếc đầm màu xanh nhạt và đi một đôi xăng-đan. Có thể hôm nay trời khá nóng, thế nên cô lấy luôn cái mũ rơm to đùng quạt phành phạch, phành phạch.

Hôm nay Kei cùng Kazu đi ra ngoài, nhưng có lẽ Kei vừa rẽ vào cửa hàng tiện lợi gần đấy nên về muộn hơn một chút. Hiện cô vẫn còn cầm một túi nylon nhỏ trên tay.

Kei là người rất hoạt bát và lạc quan. Cô cũng rất đáng yêu và có lẽ khá bạo dạn. Ngay cả những vị khách trông dữ tợn nhất cũng không làm cô thấy sợ. Thậm chí dù là người nước ngoài không hiểu tiếng Nhật thì cô cũng chẳng thấy ngại ngùng gì.

Kei nhìn thấy cô bé trên chiếc ghế đó: “Xin chào quý khách!”

Cô mỉm cười bắt chuyện như mọi khi. Không, nụ cười của cô hôm nay còn rạng rỡ hơn, giọng của cô hôm nay còn vang hơn cả mọi ngày.

“…”

Cô bé kia ngồi thẳng lưng, hơi cúi đầu như đang chào một bề trên của mình.

Kei cũng mỉm cười chào lại cô bé, sau đó lạch bạch đi về phía căn phòng trong góc.

“Vậy, mọi chuyện thế nào rồi?”

Nagare nhẹ nhàng hỏi khiến Kei dừng bước. Hôm nay Kei được Kazu dẫn đi khám phụ sản, thế nên anh có chuyện muốn hỏi.

Kei vỗ nhẹ một cái vào cái bụng vẫn còn bằng phẳng của mình, sau đó tặng cho Nagare một nụ cười thật tươi, kèm theo hai ngón tay tạo hình chiến thắng.

“Vậy sao?”

Nagare nói rồi híp đôi mắt nhỏ ti hi của mình, gật đầu liền hai cái. Bản thân Nagare không biết thể hiện trực tiếp mỗi khi gặp chuyện vui mừng, và Kei cũng biết điều đó. Cô thấy gương mặt Nagare đầy hạnh phúc.

Mọi chuyện đều được thu hết vào trong đôi mắt như đang cười cười của cô bé đang ngồi đằng kia. Nhưng Kei lại chẳng để ý đến ánh mắt đấy mà đi thẳng vào trong phòng.

Thế nhưng, cô bé ấy như thể chợt nhớ điều gì đó, cô lớn tiếng gọi với theo Kei một cách bất ngờ.

“Xin lỗi!”

“Vâng?”

Đột nhiên bị gọi lại, Kei trả lời theo phản xạ, sau đó hướng đôi mắt to tròn về phía cô bé.

Bị Kei nhìn sang, cô bé hạ mắt xuống, hơi lưỡng lự như thể đang che giấu điều gì đó.

“Có chuyện gì vậy?”

Nghe Kei hỏi như vậy, cô bé dường như đã đưa ra được một quyết định gì đó, cô ngẩng đầu lên, gương mặt cô có nét gì đó thật đẹp và cũng rất ngây thơ. Nó hoàn toàn khác với vẻ lạnh lùng mà Nagare vẫn thấy từ nãy.

“À, ừm…”

“Chuyện gì?”

“Chúng ta, có thể chụp chung một tấm ảnh chứ?”

Lời nói của cô bé khiến Kei tròn mắt ngạc nhiên.

“Tôi sao?” Kei hỏi ngược lại.

“Vâng.” Cô bé khẳng định.

“Với cô ấy?” Nagare ngay lập tức chỉ sang phía Kei và hỏi lại.

“Vâng.” Cô bé lại đáp lại rất rõ ràng.

“Chẳng lẽ, cô đến đây để gặp chị ấy?”

“Vâng.” Cô bé cũng trả lời câu hỏi của Kazu.

Kei chẳng hề ngượng ngùng hay do dự, trái lại, mắt cô sáng lên trước lời mời của một cô bé không quen. Tính của cô vốn rất tươi vui, hoạt bát, thế nên dù nói chuyện với người lạ cũng chẳng có chút phòng bị nào cả. Và cũng chính vì vậy mà cô chẳng thèm để ý đến chuyện cô bé này là ai, và cô ấy muốn chụp ảnh cùng mình để làm gì.

“Ớ? Thật sao? Thế cô chờ chút, để tôi trang điểm nhé.”

Nói rồi cô nhanh chóng lấy hộp kính áp tròng ra khỏi túi xách và bắt đầu trang điểm.

Thế nhưng…

“À, em không có thời gian…” Cô bé nhỏ nhẹ nói.

“… A, vậy sao?”

Tất nhiên Kei cũng biết mấy quy tắc khi quay về quá khứ này. Mặt cô hơi đỏ lên, cô vội vàng đóng hộp kính áp tròng lại.

Nếu là bình thường thì người xin chụp ảnh chung sẽ tiến lại chỗ người kia, nhưng trong trường hợp này, cô bé ấy không thể rời khỏi ghế nên Kei đưa túi nylon mua đồ và cái mũ rơm cho Kazu rồi tiến lại cạnh cô.

“Máy ảnh đâu?”

Kei vừa hỏi thì cô bé đã đưa một chiếc máy ảnh được đặt trước trên bàn cho Kazu.

“Ớ? Cái gì thế này? Cái này là máy ảnh sao?”

Nhìn chiếc máy ảnh cô bé đưa cho Kazu, Kei thốt lên kinh ngạc. Thật quá đỗi ngạc nhiên. Chiếc máy ảnh này chỉ lớn cỡ tấm danh thiếp, rất mỏng và trong suốt. Trông nó cũng chỉ cỡ một tấm nhựa trong là cùng.

“Mỏng ghê!”

Kei trầm trồ. Cô liếc ngang liếc dọc chiếc máy ảnh trong tay Kazu.

“Xin lỗi, em không có thời gian…” Cô bé lạnh lùng nói như một đứa trẻ giận dỗi.

“À vâng.” Kei nhún nhún vai rồi lại quay về đứng cạnh cô bé.

“Vậy tôi chụp nhé.”

“Vâng.”

Kazu giơ máy ảnh về phía hai người. Có vẻ cách sử dụng của cái máy này cũng không khó lắm. Kazu chỉ việc ấn vào phím ảo hiện trên màn hình.

Tách.

“A, chờ chút. Lúc nào thì chụp được đây?”

Trong lúc Kei đang vén tóc mái, chỉnh lại kiểu tóc của mình thì Kazu đã nhấn nút tắt màn hình và trả máy ảnh cho cô bé.

“Ớ? Em chụp lúc nào thế?”

Cả Kazu lẫn cô bé kia đều làm mọi thứ rất nhanh. Chỉ có mỗi mình Kei vẫn còn đang loay hoay với một đống các câu hỏi trong đầu.

“Cảm ơn.” Nói rồi, cô bé uống nốt một ngụm cà phê cuối cùng.

“A, từ từ đã nào…”

Chẳng mấy chốc, cô bé đã biến thành một làn hơi nước bay lên trần nhà. Và bên dưới làn hơi nước ấy, cô gái mặc đầm trắng đã xuất hiện.

Thoạt nhìn cứ như là có một ninja thực hiện “thuật biến hình” vậy.

Với ba người ở đây mà nói, cảnh này cũng rất quen thuộc nên chẳng có gì đáng ngạc nhiên cả. Nhưng hôm nay gặp phải vị khách với tình huống không biết gì thế này thì họ thực sự rất kinh ngạc. Trường hợp này cứ như là ảo thuật vậy.

Cô gái mặc đầm trắng xuất hiện sau làn hơi nước lại tiếp tục đọc tiểu thuyết như không có chuyện gì xảy ra. Thế nhưng cô đột nhiên để ý thấy chiếc khay trước mắt mình, thế là cô dùng tay phải đẩy chiếc khay bạc ý nói: “Dọn đi.”

Kei vội cầm lấy chiếc khay. Nagare đỡ nó và đi vào trong bếp.

“Ai thế nhỉ?”

Kei vừa lầm bầm một mình, vừa nhận lại túi đồ và chiếc mũ rơm ở chỗ Kazu sau đó đi vào trong phòng.

“…”

Kazu nhìn chiếc ghế mà cô gái mặc đầm trắng đang ngồi với vẻ nghi hoặc.

Dù sao thì cho đến bây giờ vẫn chưa có vị khách nào đến từ tương lai để gặp Nagare, Kei hay Kazu cả. Bởi nếu là nhân viên trong quán thì lúc nào cũng có thể gặp được nhau, thế nên chuyện cất công quay về quá khứ thế này chẳng có ý nghĩa gì cả.

Vậy mà, hôm nay vẫn có một cô bé đến để gặp Kei.

Kazu chẳng có chút tò mò gì về việc người đó là ai hay đến đây để làm gì. Thậm chí cho dù có là sát thủ đến đây đi chăng nữa thì chắc Kei cũng chẳng bận tâm đến lý do.

Bởi quy tắc có nói rõ dù có làm gì trong quá khứ đi nữa, hiện thực vẫn sẽ không thay đổi.

Quy tắc này sẽ dẫn đến hàng loạt các sự kiện khác để đảm bảo hiện thực được giữ vững.

Ví dụ, có một vị khách đến từ tương lai và mang súng vào quán cà phê này. Sau đó vị khách này bắn chết một người khác. Dù là cố ý hay vô tình thì cũng chẳng ảnh hưởng gì cả. Nếu vị khách bị tấn công kia còn sống ở tương lai thì dù người đó có bị bắn vào tim cũng không thể chết được.

Đó chính là quy tắc.

Giả sử có trường hợp đó thật thì nhóm Kazu sẽ gọi ngay cho xe cứu thương và cảnh sát. Xe cứu thương sẽ hướng thẳng đến hiện trường và chắc chắn không có chuyện kẹt xe gì cả. Từ chỗ cảnh sát chạy đến hiện trường, rồi từ hiện trường đến bệnh viện, tất cả sẽ di chuyển một cách ngắn nhất, nhanh nhất.

Sau khi nhập viện, có thể các bác sĩ sẽ lắc đầu nói rằng “Không có khả năng cứu chữa”, tuy nhiên, một cách trùng hợp là ngày hôm đó sẽ có một bác sĩ lừng danh thế giới tình cờ đến thăm bệnh viện và sẽ phẫu thuật cứu tính mạng của bệnh nhân. Thậm chí cho dù nhóm máu của anh ta có là nhóm máu hiếm trong vài nghìn người mới có một thì bệnh viện này sẽ tình cờ dự trữ được một ít. Và sau đó, nhờ sự hỗ trợ của các bác sĩ, ca phẫu thuật sẽ thành công. Vị danh y đó cuối cùng có thể kết luận là nếu đến chậm một phút nữa, hay nếu viên đạn đi sâu thêm một mi-li-mét nữa… thì bệnh nhân sẽ không qua nổi.

Trong trường hợp như vậy, tất cả mọi người sẽ phải thán phục đúng là kỳ tích, nhưng thực ra đó không phải là kỳ tích gì cả. Đó chính là quy tắc. Chính vì có quy tắc này mà người đàn ông đó mới được cứu sống.

Và cũng chính vì có quy tắc này mà trước nay Kazu cũng chẳng bao giờ bận tâm xem người đến từ tương lai là ai và đến với mục đích gì. Bởi tất cả hành động của người đó đều là vô nghĩa.

“Giúp anh một chút.”

Giọng Nagare từ trong bếp vọng ra. Kazu vừa quay người lại thì Nagare đã đưa cho cô một cái khay mới để sẵn một tách cà phê pha cho cô gái mặc đầm trắng kia rồi.

Kazu nhận lấy cái khay và đi về phía cô gái mặc đầm trắng.

Kazu đứng một lúc lâu, cô vừa nhìn cô gái mặc đầm trắng vừa vu vơ nghĩ.

Rốt cục cô bé đó là ai nhỉ? Nếu chỉ vì chụp ảnh với chị thì đâu cần phải chạy hẳn về quá khứ thế này…

Leng keng.

“Xin chào quý khách!”

Giọng của Nagare vang lên. Kazu vội vàng định thần lại và đặt tách cà phê xuống trước mặt cô gái mặc đầm trắng.

Sao thế này? Đột nhiên mình có cảm giác như có chuyện gì đó sắp xảy ra.

Chợt nhận thấy điều đó, Kazu vội vàng lắc đầu như thể để xua tan suy nghĩ đó đi vậy.

“Xin chào!”

Người vừa vào quán chính là Koutake. Cô ấy vừa đi làm về. Hôm nay cô ấy mặc một chiếc áo thun có cổ màu xanh lá mạ, phối với chiếc váy trắng, chân đi một đôi giày bệt và vai đeo một chiếc túi vải.

“Chị Koutake!”

Nagare vừa mới gọi xong thì Koutake đã xoay người lại.

“A!”

“Là vợ anh Fusagi!”

Nagare vội vàng chữa lại.

Koutake lúc này mới mỉm cười, cô bước về phía quầy và ngồi xuống.

Ba ngày trước, Koutake đã quay trở về quá khứ và nhận lấy bức thư mà Fusagi ngày trước chưa đưa được cho cô. Từ ngày đó trở đi, cô cũng không cho mọi người gọi mình bằng cái tên thời con gái nữa. Hiện tại, mọi người lại thống nhất gọi chị là “vợ anh Fusagi”.

Koutake đặt chiếc túi lên chiếc ghế bên cạnh: “Cà phê.”

Cô vừa lắc lắc cổ vừa gọi thức uống.

“Vâng.”

Nagare cúi đầu trả lời, sau đó quay lưng đi về bếp để chuẩn bị cà phê cho Koutake.

Koutake nhìn quán không một bóng khách, sau đó buông thõng vai và thở dài một hơi. Có lẽ cô đang nghĩ nếu có Fusagi ở đây thì hai người có thể cùng về.

Nhìn thấy mọi chuyện từ nãy giờ, Kazu cảm thấy hơi buồn cười. Cô đưa tách cà phê cho cô gái mặc đầm trắng, sau đó gọi với vào bếp: “Em nghỉ một chút đây”.

Sau đó Kazu cũng đi vào căn phòng trong góc.

Nagare không đáp lời, thay vào đó Koutake lại vẫy tay và bảo: “Vâng, cô đi nhé!”

Thượng tuần tháng tám, thời tiết vẫn còn là giữa hè. Thế nhưng Koutake vẫn gọi cà phê nóng. Bởi cô thích hương vị cà phê mới pha. Với cô, cà phê đá chả có vị gì cả, chỉ có cà phê nóng mới đáng thưởng thức. Và cà phê của Koutake thì lần nào cũng do Nagare chuẩn bị.

Bình thường, Nagare vẫn dùng bình xi-phông để pha cà phê. Khi pha cà phê xi-phông, người ta sẽ cần đến một bình cầu, đổ nước vào đấy và đun trên ngọn lửa đèn cồn. Khi nước nóng, hơi nước sẽ bốc lên, thấm vào và hòa tan hạt cà phê xay nguyên chất đựng trong phễu thủy tinh bên trên bình cầu. Cuối cùng cà phê sẽ chảy ngược xuống bình đựng. Còn như Koutake, muốn thưởng thức cả hương lẫn vị của cà phê mới pha thì anh sẽ pha cà phê với dụng cụ lọc nhỏ giọt. Trong cách pha chế này, người pha chế sẽ cần đến một bộ lọc cà phê, lót giấy lọc vào đấy, sau đó cho cà phê xay nguyên chất vào rồi từ từ rót nước nóng xuống. Nagare luôn cho rằng với cách pha này, người pha có thể tự điều chỉnh, vị đắng, độ đậm của cà phê bằng cách chế nước, hay nhiệt độ của nước… Và trong không gian tĩnh lặng của quán, ta có thể nghe thấy tiếng từng giọt cà phê rơi, tí tách, tí tách. Koutake rất thích nghe âm thanh ấy, và thời gian chờ đợi cà phê cũng là một quãng thời gian ngọt ngào.

Trong khi đó, Kei lại hay sử dụng máy pha cà phê tự động. Từ việc xay cà phê đến chọn hương vị yêu thích, cô chỉ cần nhấn nút một cái là máy sẽ tự động pha sẵn. Với một người không bao giờ chú tâm vào cách pha cà phê như cô thì chỉ có cách này là hợp nhất. Cũng chính vì thế mà có những vị khách hay đến quán chỉ để thưởng thức một tách cà phê nguyên chất được pha một cách tỉ mẩn, nếu không có Nagare ở đây họ cũng sẽ không gọi cà phê. Đương nhiên, dù là Nagare hay là Kei pha cà phê thì giá cả vẫn không thay đổi.

Còn Kazu, cô cũng thường pha cà phê xi-phông. Thực ra cô cũng chẳng có lý do gì đặc biệt cả, chỉ là cô thích nhìn hơi nước từ bình cầu bay lên phễu thủy tinh mà thôi. Còn pha theo cách dụng cụ lọc nhỏ giọt với Kazu mà nói, nó quá là phức tạp rồi.

Nagare đã pha xong một tách cà phê nguyên chất.

Nhìn tách cà phê trước mắt, Koutake nhẹ nhàng nhắm mắt lại, cảm nhận giây phút hạnh phúc nhỏ nhoi.

Bình thường nếu yêu cầu Nagare pha cà phê, anh sẽ pha một tách moka.

Đặc trưng lớn nhất của cà phê moka là hương vị của nó. Có nhiều người cũng giống như Koutake, thích mê mùi hương đậm đà của nó, nhưng mặt khác, loại cà phê này còn một đặc trưng nữa là vị chua khá mạnh. Có thể nói, loại cà phê này khá kén người uống.

Cũng giống như với món bơ sở trường của mình, Nagare vô cùng hạnh phúc khi thấy các vị khách yêu thích hương vị cà phê anh pha. Những lúc như thế, đôi mắt vốn nhỏ như sợi chỉ của anh sẽ híp lại.

“… Nhắc đến mới nhớ.”

Đang thưởng thức hương vị cà phê, Koutake chợt nhận ra điều gì đó.

“Cả hôm qua và hôm nay, Hirai… đều nghỉ bán thì phải nhỉ. Anh có biết gì không?”

Hirai, cô gái quấn ống lô, có mở một quán bán đồ ăn nhẹ cách quán cà phê này khoảng mười mét. Đó là một quán nhỏ, chỉ có sáu ghế ngồi quầy nhưng lại rất đông khách. Thời gian mở cửa còn tùy vào tâm trạng của Hirai, nhưng quán sẽ bán quanh năm và không ngày nghỉ. Từ ngày mở quán đến nay, đúng là cô chưa nghỉ ngày nào thật. Ngay từ lúc chạng vạng, vài vị khách quen sẽ đến trước xếp hàng. Thỉnh thoảng trong quán còn có hơn mười vị khách cùng đến. Tất nhiên, từ vị khách thứ bảy trở đi sẽ phải đứng.

Những vị khách của quán không chỉ có đàn ông, mà còn có cả phụ nữ. Hirai cũng rất được các cô gái yêu thích. Với một người thẳng tính, bộc trực như Hirai thì thỉnh thoảng cô cũng vô tình chọc đúng chỗ đau của người khác, nhưng những lời cô nói cũng chẳng có gì là châm chọc hay giễu cợt, thế nên mấy vị khách bị nói cũng cảm thấy rất đỗi bình thường. Có lẽ đó là cái bản tính trời sinh của cô cũng nên. Cái tính mà dù có nói gì thì cũng sẽ được người ta bỏ qua cho. Từ đầu tóc đến trang phục, cô chẳng bao giờ để ý đến cách nhìn của người khác. Nhưng cô lại rất chú trọng đến lễ nghĩa. Nói cho đúng thì dù ai nói gì cô cũng sẽ chăm chú lắng nghe, nhưng nếu cô cho đó là sai thì dù là chỉ à, ừ vài tiếng theo phép lịch sự cô cũng không làm. Trong số những khách đến quán, cũng có những người vô cùng giàu có, nhưng bình thường ngoài tiền rượu, thức ăn, cô chưa lấy thêm một đồng tiền nào cả. Hay có người định tặng cô những món xa xỉ, đắt tiền để lấy lòng nhưng Hirai cũng chưa nhận một lần nào. Trong số đó có người thậm chí còn từng mua nhà, chung cư, Benz, Ferrari hay cả đá quý tặng cô, nhưng cô cũng chỉ đáp lại đúng một câu: “Không có hứng”.

Ấy thế mà, hai ngày nay cái quán ấy lại đóng cửa suốt. Chẳng ai biết vì sao, Koutake cũng thấy lo lắng nhưng cũng chẳng biết làm thế nào.

Nói đến Hirai, đột nhiên Nagare thay đổi nét mặt.

“Ớ? Anh nói cái gì?”

Koutake ngạc nhiên, còn Nagare vẫn tiếp tục thì thào:

“Em gái cô ấy… tai nạn giao thông…”

“Hả?”

“Thế nên, cô ấy về nhà…”

“… Vậy sao?”

Koutake lại nhìn vào tách cà phê đen như đang nhìn vào một khoảng không u tối nào đó.

Koutake cũng biết Hirai Kumi, em gái của Hirai. Cô ấy vẫn hay đến đây thăm Hirai và thuyết phục cô về nhà. Một, hai năm lại đây, Hirai bắt đầu thấy khó chịu và thường không chịu gặp cô ấy, nhưng mỗi tháng một lần, cô ấy nhất định sẽ lên Tokyo để gặp Hirai.

Ba ngày trước, Kumi cũng mới vừa đến đây xong. Thời điểm tai nạn xảy ra, cô ấy đang trên đường về nhà. Lúc đó, một tài xế lái chiếc ô tô tải đi ngược chiều do ngủ gật đã lái xe chệch làn đường và đâm chính diện vào ô tô của Kumi. Ngay sau đó, Kumi đã được chuyển lên xe cứu thương và đưa đến bệnh viện, nhưng trước khi đến nơi thì cô ấy đã trút hơi thở cuối cùng.

“Thật đáng thương…”

Tách cà phê của Koutake vẫn còn nguyên, nhưng hơi nước bốc lên thì hầu như đã không còn nữa. Nagare khoanh tay trước ngực, im lặng cúi đầu.

Nagare là người nhận được tin nhắn thông báo của Hirai. Kei không có điện thoại, thế nên chắc Hirai đã liên lạc với Nagare. Nội dung tin nhắn rất ngắn gọn, kể sơ qua về tai nạn và vì thế quán sẽ nghỉ vài hôm, đơn giản như thể cô ấy đang nói về chuyện của người khác vậy. Sau khi nghe chuyện, Kei đã mượn điện thoại của Nagare để nhắn tin hỏi thăm, nhưng đến giờ cô ấy vẫn không trả lời.

Nhà của Hirai đã kinh doanh lữ quán qua nhiều thế hệ, đến nay đã được một trăm tám mươi năm. Lữ quán đó tên là “Takakura”, nằm ở Aoba, thành phố Sendai, tỉnh Miyagi. Tên chữ Hán của lữ quán này là “Bảo Khố”.

Nhắc đến Sendai, nơi này rất nổi tiếng với lễ hội Thất tịch Tanabata vô cùng tráng lệ hàng năm. Đặc trưng của lễ hội Tanabata nơi đây là có cây tre trang trí dài đến hơn mười mét, và những dải cầu giấy trang trí đủ năm màu. Ngoài ra, trong thời gian diễn ra lễ hội, các hàng quán bán bảy món đồ trang trí trong lễ hội như giấy cầu nguyện, áo giấy, hạc giấy… cũng rất nhộn nhịp. Và tất nhiên trong số đó cũng không thiếu những vật phẩm nho nhỏ để cầu nguyện cho mọi người vô bệnh vô tai.

Bất kể là thứ mấy, mỗi năm lễ hội Tanabata ở Sendai đều được tổ chức từ mùng sáu đến mùng tám tháng tám. Bắt đầu từ mấy ngày trước lễ hội, các khu phố mua sắm quanh nhà Sendai đã bắt đầu trang trí cành tre trước cửa. Người ta thống kê được rằng mỗi năm, trong ba ngày lễ hội nơi đây thu hút đến hơn hai triệu lượt du khách tham quan, và lễ hội này cũng trở thành lễ hội lớn nhất vào mùa hè ở Nhật Bản.

Tất nhiên, với vị trí chỉ cách nhà ga Sendai, nơi tổ chức lễ hội Tanabata có mười phút đi taxi thì thời điểm này cũng là thời điểm bận rộn nhất năm của Takakura.

Leng keng.

“Xin chào quý khách!”

Nagare lên tiếng chào với giọng vô cùng vang dội, rất không phù hợp với tính cách bình thường của anh. Nhưng dù sao đây cũng vừa đúng là dịp để thay đổi bầu không khí buồn bã trong quán.

Nghe thấy tiếng chuông cửa, Koutake cũng bình tĩnh trở lại. Cô với tay lấy tách cà phê, nhưng nó đã chẳng còn chút hơi nóng nào nữa.

“Xin chào quý khách!”

Cũng nghe thấy tiếng chuông cửa, Kei từ trong phòng đi ra với một chiếc tạp dề của nhân viên phục vụ.

Thế nhưng, chẳng có ai bước vào cả.

Cửa vào của quán cà phê có cấu trúc hơi khác lạ. Quán ở dưới tầng hầm, thế nên khi bước xuống cầu thang, khách sẽ thấy có một cánh cửa gỗ lớn cao đến hai mét chắn trước mặt. Trên cánh cửa được chạm khắc các họa tiết trang trí của châu Âu, các họa tiết được chạm khắc tinh xảo trông sống động như thật.

Sau khi bước qua cánh cửa đó còn phải đi thêm một đoạn, vượt qua một khoảng khá rộng mới đến được lối vào của quán. Thế nên mặc dù chuông cửa đã kêu nhưng mọi người trong quán vẫn không biết là ai đã đến.

“…?”

Chẳng có ai đến cả. Nagare đang tự hỏi thì một giọng nói quen thuộc vọng vào.

“Anh chủ quán! Kei ơi! Muối! Mang muối lại đây cho tôi!”

“Chị Hirai?”

Dù chị ấy có thức thâu đêm để hoàn thành đám tang cho em gái thì cũng không thể quay lại nhanh thế chứ. Kei mở to mắt nghi hoặc nhìn Nagare.

Nagare cũng ngây người. Anh với Koutake còn đang buồn rầu về chuyện của Hirai, thế mà đột nhiên cô ấy lại đến, giọng nói vẫn cao vút như mọi khi.

Lúc nãy cô ấy còn nói cần muối trừ tà, thế mà nghe giọng cô ấy lại vui vẻ như thể một người mẹ đang chuẩn bị cơm tối trong bếp lớn tiếng gọi bọn trẻ ở bên ngoài vậy.

“Nhanh lên…”

Đã thế lúc này giọng cô ấy còn có vẻ nũng nịu nữa chứ.

“A, vâng. Có ngay, có ngay.”

Cuối cùng thì Nagare đã lấy lại ý thức. Anh chạy vào bếp, lấy muối ăn cho vào cái lọ nhỏ rồi chạy ra phía cửa.

Đứng trước cửa ra vào vẫn là Hirai với vẻ hào nhoáng, bóng bẩy như mọi ngày.

Koutake bất chợt nghĩ: Chẳng lẽ tin em gái cô ấy mất là nói đùa à?

Thậm chí đến cả Kei cũng có suy nghĩ ấy trong đầu. Hai người quay ra nhìn nhau một lúc.

“Aa, mệt quá đi!”

Cùng với câu nói ấy, Hirai lững thững đi vào quán. Cái dáng đi ấy vẫn giống như mọi khi, nhưng trang phục lại không phải là mấy bộ hồng hồng đỏ đỏ nữa, mà hôm nay cô ấy lại mặc tang phục. Rồi kiểu tóc quấn ống lô đầy đầu cũng đổi thành búi gọn gàng. Bất cứ ai nhìn vào cũng thấy Hirai đã biến thành người khác hẳn.

Trong bộ tang phục ấy, Hirai bước vào quán, ngồi xuống chiếc ghế ở giữa và vẫy tay phải.

“Xin lỗi, cho tôi một ly nước với.” Cô nói với Kei.

“A, vâng.”

Thực ra Kei không cần phải vội vàng làm gì cả, nhưng cô vẫn cứ tất tả chạy vào bếp lấy nước.

“Phù!”

Hirai ngồi trên ghế, dang rộng cả hai chân, hai tay tạo thành hình chữ đại. Chiếc túi đen còn lủng lẳng trên tay phải của cô.

Nagare vẫn giữ nguyên cái lọ nhỏ đựng muối, Koutake thì vẫn ngồi trên quầy, họ nhìn Hirai với ánh mắt lạ lùng.

Kei rót nước vào một ly thủy tinh và mang ra.

“Cảm ơn cô.”

Hirai để túi xách lên bàn, sau đó nhanh chóng đón lấy cái ly và tu hết.

“Hàa!”

Hirai thở ra một hơi.

“Cho tôi xin ly nữa.” Nói rồi cô đưa chiếc ly không cho Kei. Kei nhận lại chiếc ly và lại chạy biến vào trong bếp.

Hirai vội dùng tay lau qua mồ hôi trên trán, cô lại thở phù một hơi.

Nhìn thấy như vậy, Nagare nói: “Chị Hirai.”

“Chuyện gì?”

“Cái đó…”

“Ừm?”

“Không, nói sao nhỉ… thực ra…”

“?”

“Xin chia buồn cùng chị và gia đình.”

Nét mặt của Hirai vẫn rất bình thường, thế nên lời chia buồn của Nagare lại chẳng khác gì một lời dò hỏi.

Koutake cũng cảm thấy nghi hoặc, nhưng cô vẫn cúi đầu.

“Chuyện em gái tôi?”

“À vâng.”

“Nói thế nào nhỉ, mọi chuyện xảy ra nhanh quá…” Hirai nhún nhún vai.

Lúc này Kei đã mang ly nước thứ hai ra, cô hơi nghi hoặc trước thái độ của Hirai. Nhưng cuối cùng Kei cũng không nói gì, đưa nước cho Hirai và trầm mặc cúi đầu.

“Tệ quá nhỉ?”

Hirai lại tu hết một hơi tách nước.

“Con bé… đúng là xấu số mà.” Hirai vẫn nói chuyện với giọng nhẹ hẫng như thể là đang nói về chuyện của người khác vậy.

Koutake hơi nhăn mày hỏi: “Hôm nay có phải không?”

“Cái gì cơ?”

“Thì đám tang chứ còn gì nữa.” Koutake cảm thấy hơi khó chịu với thái độ của Hirai.

“Đúng thế. Nhìn này…” Nói rồi Hirai đứng dậy, vuốt vuốt bộ tang phục.

“Thấy có hợp với tôi không? Trông tôi có điềm đạm hơn chút nào không?”

Hirai tỏ vẻ thích thú khi tạo dáng như thể cô sắp được lên trang bìa tạp chí người mẫu vậy.

Người mới mất là em gái của Hirai. Nếu đúng là như vậy thì thái độ này của Hirai thực sự là không thể chấp nhận được.

Koutake thể hiện sự chán ghét ra mặt, giọng điệu cũng sắc bén hơn hẳn.

“Dù có chuyện gì thì cũng không nhất thiết phải quay lại sớm thế này đâu…”

Nói đến đây, Koutake bỗng im bặt, nhưng nét đau buồn trên gương mặt cô như muốn nói: “Như thế này thì làm sao em gái cô có thể yên tâm nhắm mắt cho được.”

Hirai dừng tạo dáng, cô lại trượt xuống ghế, vung vẩy hai tay.

“Cũng không thể nói thế được… Dù sao tôi vẫn còn cửa hàng phải trông nom nữa mà.”

Có lẽ Hirai cũng hiểu được ý Koutake muốn nói.

“Nhưng…”

“Được rồi, được rồi.” Hirai với tay lấy cái túi xách và rút một điếu thuốc lá.

“Mọi chuyện vẫn ổn chứ?”

Nagare vẫn cầm lọ muối nhỏ bằng cả hai tay hỏi.

“Chuyện gì?” Vẫn giọng điệu lạnh tanh như cũ, Hirai ngậm điếu thuốc, vừa lục tìm bật lửa trong túi vừa nói.

Có lẽ do không tìm thấy bật lửa, đôi lông mày nhăn tít lại.

“…”

Nagare lấy chiếc bật lửa trong túi ra đưa cho cô.

“Bố mẹ chị, có lẽ họ đang rất đau buồn trước sự ra đi của em gái chị. Chị nên ở cạnh họ một thời gian…”

Hirai nhận lấy chiếc bật lửa và châm điếu thuốc. “Ừm, nếu là bình thường thì tôi cũng sẽ làm thế cũng nên…”

Nói rồi cô hít một hơi. Đầu thuốc dần biến thành tàn lửa. Khói thuốc lá lượn lờ trên không trung rồi biến mất.

Hirai vừa nhìn theo khói thuốc lá vừa nói: “Nhưng không có chỗ cho tôi ở đó.”

Đột nhiên nghe thấy một câu như vậy, cả Nagare và Koutake đều ngây ra, không hiểu Hirai đang nói gì.

Hirai nhìn hai người: “Tôi không có chỗ ở đó.”

Cô nói, rồi lại tiếp tục hút thuốc.

“Chị không có chỗ ở?” Kei lo lắng hỏi.

Hirai trả lời nhẹ hẫng: “Thì có phải là em gái tôi lên đây để gặp tôi, sau đó khi nó về thì bị tai nạn còn gì. Giờ thì bố mẹ tôi nhìn tôi như thể tất cả đều là lỗi của tôi vậy.”

“Chuyện đó…”

Hirai nhả một hơi, rồi ngắt luôn ba tiếng “không có đâu” mà Kei đang định nói.

“Thì đúng là như thế mà.” Cô lẩm bẩm.

“Lần nào nó cũng đến tận đây, nhưng lần nào cũng bị đuổi về…”

Ba ngày trước, Kei còn giúp Hirai tránh mặt Kumi, thế nên giờ cô cảm thấy vô cùng ân hận.

Hirai cũng chẳng để ý đến thái độ của Kei: “Bố mẹ tôi cũng chẳng nói chuyện với tôi nữa…”

Nói đến đây, nụ cười trên mặt Hirai vụt tắt.

“Dù chỉ một câu…”

Người báo tin buồn cho Hirai là một nữ nhân viên đã làm việc lâu năm trong lữ quán. Trong ngần ấy năm cô rời nhà, đừng nói là điện thoại của bố mẹ, đến cả điện thoại của những người làm việc trong lữ quán cô đều không nhận.

Thế nhưng, giống như có một linh cảm gì đó vậy. Sáng sớm hai ngày trước, khi nhìn thấy điện thoại hiển thị số của người trong lữ quán, đột nhiên cô thấy nóng ruột và đã bắt máy.

Sau tiếng khóc nghẹn ngào ở đầu bên kia điện thoại, Hirai chỉ nói “Vậy à?” Cô cúp điện thoại, vơ lấy ví, lên taxi và chạy về nhà.

Tài xế taxi đó là một nghệ sĩ hài đã về hưu, mặc dù không được yêu cầu gì nhưng trên suốt đường đi, anh kể hết chuyện cười này đến chuyện cười khác cho cô nghe. Bất ngờ là chuyện cười của anh ta đều rất thú vị, mỗi lần nghe xong, Hirai đều cười lăn lộn trên ghế, cười đến mức nước mắt trào ra lúc nào không hay.

Cứ như thế, taxi đưa cô đến trước lữ quán Takakura, nơi chôn nhau cắt rốn của cô.

Lúc đó mới là năm giờ sáng, tiền taxi là hơn một trăm năm mươi nghìn yên và Hirai rút tiền mặt ra trả. Nhưng người tài xế tốt bụng bảo “Không cần lấy số lẻ”, sau đó nhận tiền và lái xe đi.

Sau khi xuống taxi, điều đầu tiên Hirai nhận ra là mình vẫn đang đi đôi dép trong nhà, trên đầu vẫn còn quấn ống lô, và cô cũng chỉ mặc một chiếc áo hai dây.

Đứng dưới ánh mặt trời buổi sáng, mồ hôi vã như mưa, nhưng lúc này cô cũng chẳng có lấy một chiếc khăn tay. Hirai đi theo con đường đá cuội dẫn từ lữ quán đến nhà trong.

Nhà của Hirai chính là mặt sau của lữ quán. Từ sau khi được xây dựng cùng với lữ quán này đến nay, ngôi nhà vẫn chưa sửa lại lần nào, vẫn mang dáng vẻ của một ngôi nhà Nhật truyền thống từ thời xa xưa.

Bước qua cánh cổng, cô tiến vào hiên nhà. Đã gần mười ba năm cô chưa về đây, nhưng cho đến nay trong nhà vẫn chưa thay đổi một chút nào, cứ như thể thời gian đã ngưng lại trong suốt mười ba năm qua.

Cô để tay lên cửa kéo, cửa không khóa. Soạt, soạt, soạt, tiếng chân cô giẫm lên chiếu. Đi xuyên qua hành lang, cô từ từ tiến vào trong nhà. Mặc dù đang là ban ngày nhưng trong nhà vẫn tối om. Các căn nhà cổ của Nhật vẫn hơi tối như vậy, nhưng hôm nay Hirai lại thấy bóng tối ấy dường như đã phủ hết ngôi nhà này và kéo dài cho đến vô tận.

Lặng lẽ quay lại hành lang, cả không gian tĩnh lặng chỉ còn lại có tiếng bước chân của cô. Phật đường trong nhà Hirai nằm ở cuối hành lang, tách biệt với tất cả các phòng khác.

Liếc vào trong Phật đường, Hirai nhìn thấy bóng lưng hơi còng của bố mình, ông Yasuo, đang đứng ở cửa sau nhìn chằm chằm vào khu vườn xanh mướt sau nhà.

Còn Kumi, con bé đang nằm tĩnh lặng trước mắt cô. Bên ngoài bộ yukata trắng mặc thêm một lớp kimono màu hồng đào, bộ đồ truyền thống của bà chủ Takakura bao đời nay. Hẳn ông Yasuo vừa mới đứng cạnh Kumi, tay ông còn nắm chặt tấm vải trắng dùng để che mặt cho người đã khuất. Mẹ cô, bà Michiko không thấy ở đây.

Hirai quỳ xuống, ngắm nhìn gương mặt của Kumi. Cho đến tận bây giờ, gương mặt ấy trông vẫn rất yên bình, và Hirai dường như còn cảm thấy Kumi chỉ như đang say ngủ.

Vừa nhìn gương mặt của Kumi, Hirai thầm nghĩ: “Thật may quá.”

Tùy theo tình trạng của tai nạn, có khi gương mặt của nạn nhân bị tổn thương nghiêm trọng nên sẽ bị quấn băng trông như xác ướp. Cô nghe nói chiếc xe tải đã đâm chính diện vào xe của Kumi, nhưng giờ nhìn thấy gương mặt đẹp hoàn hảo thế này, cô cũng thầm cảm thấy thật may mắn.

Bố của cô, ông Yasuo vẫn đứng nguyên như thế.

“Bố…” Hirai nhìn theo bóng lưng của bố và cất giọng nghẹn ngào. Đây là lời đầu tiên cô nói với bố sau mười ba năm xa nhà.

“…”

Thế nhưng, ông Yasuo vẫn không quay lại, ông cũng chẳng nói gì cả. Cô chỉ nghe thấy tiếng hít hít mũi nho nhỏ.

Hirai nhìn gương mặt của Kumi một lúc lâu, sau đó cô từ từ đứng dậy và lặng lẽ đi ra khỏi phòng.

Đường phố lúc này đã bắt đầu nhộn nhịp bởi mọi người đang chuẩn bị cho lễ hội Tanabata. Hirai vẫn lặng lẽ bước đi trên phố với áo hai dây, đầu quấn lô và dép lê đi trong nhà. Giữa đường, cô ghé vào một cửa tiệm, mua một bộ tang phục và thuê khách sạn.

Ngày đưa tang. Cô nhìn thấy mẹ mình, bà Michiko cố giữ tinh thần, trong khi bên cạnh, bố cô, ông Yasuo đã khóc đến ngất đi. Hirai không ngồi ở vị trí của người nhà mà cô lại đi vào chỗ của những người đến viếng. Mẹ cô, bà Michiko có liếc mắt sang cô một lần, nhưng bà cũng chẳng nói câu nào cả. Đám tang được tổ chức rất suôn sẻ, còn cô cũng chỉ đến thắp hương và sau đó, chẳng chào hỏi ai mà đi luôn.

Một điếu thuốc lá dài giờ biến thành tàn tro rơi xuống đất. Chợt để ý đến điếu thuốc, Hirai bỗng nói: “… Thế là hết.”

Rồi cô dụi tàn thuốc.

Nagare vẫn cúi mặt xuống, Koutake thì giữ chặt tách cà phê trong tay. Cả hai đều ngồi im như thế. Còn Kei, cô lo lắng nhìn Hirai chằm chằm.

Hirai nhìn ba người một lượt rồi thở dài một hơi.

“Này, tôi không chịu nổi bầu không khí trầm lắng thế này đâu.” Cô nói bâng quơ.

“Chị Hirai…”

Kei còn định nói điều gì đó, nhưng Hirai đã xua tay.

“Thế nên mọi người cũng đừng trưng cái vẻ ủ dột đấy ra hay hỏi tôi có sao không mãi thế nhé.”

Thấy Kei dường như còn điều muốn nói, Hirai nhẹ nhàng nói như đang dỗ một đứa bé khóc nhè vậy.

“Tôi đã đủ buồn lắm rồi… Mà thôi, giờ có nói gì thì chuyện cũng đã rồi.”

Cô ấy cũng thật quá mạnh mẽ đi. Nếu là Kei, chắc Kei sẽ phải khóc đủ ba ngày ba đêm mất. Còn nếu là Koutake, chắc cô ấy sẽ chìm trong nỗi đau buồn về cái chết của người quá cố mà chẳng buồn làm gì cả. Tất nhiên, Hirai không phải là Kei, càng không phải là Koutake.

“Tôi có cách đau buồn của riêng tôi.”

Nói rồi, Hirai đứng dậy, cầm lấy túi xách lễ phục: “Được rồi, mọi chuyện đến đây thôi nhé.”

Nói rồi cô lách qua người Nagare và bước ra phía cửa.

“Thế tại sao chị lại đến đây thế?”

Nagare nói nhỏ như thể đang tự lẩm bẩm với chính mình. Hirai lúc này đã bước đến gần lối ra rồi, nhưng cô lại dừng bước chân.

Nagare nhìn theo bóng lưng Hirai và hỏi lại: “Tại sao chị không về thẳng nhà mà còn đến đây?”

Hirai im lặng một lúc rồi thở dài: “Tôi muốn nhìn lại…”

Nói rồi, cô lại quay người và tiến về phía chiếc ghế lúc nãy đã ngồi.

Nagare không để ý Hirai mà nhìn chằm chằm vào lọ muối nhỏ trên tay.

Hirai quay lại chiếc ghế ấy và ngồi xuống.

“Chị Hirai…” Vừa nói, Kei vừa đưa một tờ giấy ra.

“Đây là…”

Kei hơi ái ngại.

“Cô chưa vứt đi sao?” Hirai vẫn nhớ bức thư ấy. Không sai, đây là bức thư ba ngày trước Kumi đã nhờ Kei gửi cho cô khi đến đây. Lúc đó Hirai đã bảo Kei vứt nó đi, thậm chí cô còn chẳng đọc lướt qua lấy một lần.

“…”

Hirai run rẩy nhận lấy lá thư trước mặt. Đây là lá thư cuối cùng Kumi để lại cho cô.

“Tôi không nghĩ sẽ đưa nó cho cô trong tình huống như thế này.” Kei nói, rồi cô cúi đầu xuống tỏ vẻ xin lỗi.

“Không sao… Cảm ơn cô.”

Nói rồi cô mở bức thư được gấp làm đôi ra. Nội dung đúng như những gì cô đã dự đoán ngày đó, vẫn là những lời cô đã nghe đến phát chán trong mấy năm nay. Nhưng giờ, cô lại rơi nước mắt.

“… Chỉ vì tôi tránh mặt con bé nên mới thế này đúng không?”

Hirai hít hít mũi: “Chỉ có con bé là hết lần này đến lần khác đến đón tôi về, nó chưa một lần từ bỏ.”

Kumi lần đầu lên Tokyo thăm Hirai là khi Hirai hai mươi tư tuổi và Kumi mười tám. Lúc đó, với Hirai, Kumi chỉ đơn thuần là một “cô em gái dễ thương” mà thôi nên thỉnh thoảng cô vẫn giấu bố mẹ liên lạc với em.

Kumi là một cô gái chăm chỉ và ngoan ngoãn. Khi đó, cô mới chỉ là học sinh cấp ba, nhưng hễ có ngày nghỉ là cô lại giúp bố mẹ công việc trong lữ quán. Thời điểm Hirai bỏ nhà đi, bố mẹ cô đã dồn hết kỳ vọng vào Kumi, và không phụ kỳ vọng của hai người, trước khi Kumi được hai mươi tuổi, cô đã trở thành bà chủ trẻ của lữ quán Takakura.

Từ lúc đó, Kumi cũng bắt đầu lên Tokyo để thuyết phục Hirai trở về nhà. Là một bà chủ trẻ tuổi, Kumi cực kỳ bận rộn, thế nhưng cứ hai tháng một lần, dù có thu xếp được ngày nghỉ hay không thì nhất định cô cũng sẽ lên Tokyo gặp Hirai. Ban đầu, với cô em gái dễ thương này, Hirai vẫn còn gặp mặt và nói chuyện bình thường. Nhưng không biết từ bao giờ, cô bắt đầu cảm thấy thật mệt mỏi, phiền phức và thế là trong một, hai năm gần đây cô bắt đầu tránh mặt Kumi.

Thậm chí lần cuối cùng, ngay tại quán cà phê này, cô còn trốn Kumi và đến cả bức thư Kumi để lại cô cũng định vứt đi nữa.

Hirai nhét phong thư vào trong bao và nói: “Tôi hiểu rồi. Dù có nói gì hay làm gì thì hiện thực cũng không thay đổi đúng không?”

“…”

“Hãy cho tôi quay lại ngày hôm đó.”

“…”

“Làm ơn!”

Hirai cúi đầu thật thấp, nói chuyện với vẻ nghiêm túc nhất từ trước tới giờ.

Nagare híp tịt đôi mắt lại và nhìn chằm chằm vào Hirai vẫn đang cúi đầu.

“Ngày hôm đó” mà Hirai nói chính là ba ngày trước, khi Kumi đến quán này, ngay trước khi tai nạn xảy ra.

Tất nhiên, Nagare cũng hiểu là Hirai muốn được đưa về quá khứ để gặp lại Kumi, cô em gái đã mất của cô.

Cả Kei và Koutake đều nín thở chờ câu trả lời của Nagare. Bầu không khí trong quán đột nhiên tĩnh lặng đến đáng sợ. Chỉ có cô gái mặc đầm trắng là vẫn đang đọc tiểu thuyết như thể chẳng liên quan gì.

Prev
Next

Có thể bạn muốn đọc thêm

khi-loi-thuoc-ve-nhung-vi-sao-john-green
Khi Lỗi Thuộc Về Những Vì Sao – John Green
April 3, 2023
nguoi-dua-dieu-khaled-hosseini
Người Đua Diều – Khaled Hosseini
November 14, 2022
cha-va-con-tony-parsons
Cha Và Con – Tony Parsons
June 18, 2023
nam-centimet-tren-giay-shinkai-makoto
Năm Centimet Trên Giây – Shinkai Makoto
August 31, 2023

ThuVienOnline © 2026